Khái quát chung về thị trường sức lao động ở Việt Nam Nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề, trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng l
Trang 2I Lý luận về hàng hoá sức lao động
1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
Sức lao động trở thành hàng hoá trong những điều kiện sau:
- Người lao động phải được tự do về thân thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hoá
- Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi t liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản”, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản
2 Thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác–Lênin, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính sau đây:
2.1 Giá trị
Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian xã hội cân thiết để sản xuất và tái sản xất sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất ra năng lực đó người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định về ăn, mặc, ở,… Ngoài ra người lao động còn phải thoả mãn những nhu cầu của gia đình và con cái họ nữa chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ra một cách liên tục Lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau hợp thành:
- Giá trị tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân
- Phí tổn đào tạo người công nhân
- Giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
Trang 32.2 Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động Chỉ thể hiện trongg quá trình tiêu dùng sức lao động của người công nhân Nhưng việc tiêu dùng hay sử dụng hàng hoá sức lao động khác với các hàng hoá khác là nó tạo thêm ra một loạt các hàng hoá nào đó, đồng thời tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt
II Thị trường sức lao động ở Việt Nam
1 Khái quát chung về thị trường sức lao động ở Việt Nam
Nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề, trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta đang xây dựng là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần Chính sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, chính yêu cầu phát triển đồng bộ các loại thị trường khác nhau đã góp phần phân bổ hợp lý, nhanh chóng, có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế đã tạo điều kiện cho hàng hoá sức lao động và thị trường lao động Về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đang chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá XHCN, trong
đó có vận dụng những thành tựu của sản xuất hàng hoá TBCN Yếu tố cơ bản để phân biệt sản xuất hàng hoá TBCN với sản xuất hàng hoá theo định hướng XHCN là khả năng phát huy vai trò tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân của hàng hoá sức lao động Đây là vấn đề then chốt trong việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác để có thể xây dựng một quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tốt đẹp hơn quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường TBCN
Nền kinh tế thị trường ở nước ta vận động và phát triển gắn liền với quá trình CNH, HĐH Vì vậy, khi vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao động cần phải quan tâm giải quyết vấn đề nguồn cung lao
Trang 4động chất lượng cao cho quá trình CNH, HĐH Mặt khác, trong xu thế hội nhập quốc tếnền kinh tế thị trường ở các nước phát triển là hướng đến nền kinh tế tri thức Đây là nền kinh tế đòi hỏi lao động trí tuệ cao, vì vậy, người lao động phải biết nắm bắt và xử lý thông tin nhanh nhạy, đặc biệt là trong những ngành công nghệ mới Xu thế này của nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vẫn còn những giới hạn nhất định, chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong tiến trình toàn cầu hoá kinh tế, cụ thể như: về giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động còn thấp làm hạn chế phần nào sự cạnh tranh của nước ta trên thị trường thế giới, giá trị hàng hoá sức lao động còn bất cập, chưa bao hàm hết những yếu tốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao động cho một bộ phận lớn những người làm công ăn lương Hệ thống thông tin lao động, việc làm chưa được quản lý chặt chẽ Hệ thống giáo dục - đào tạo chưa đủ khả năng cung ứng nguồn lao động chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
2 Những mặt tích cực và tồn tại trong thị trường sức lao động ở Việt Nam
2.1 Các mặt tích cực
Xét một cách tổng quát, có thể nhận thấy rõ thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay có các mặt tích cực sau đây:
- Quy mô dân số lớn Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 85 triệu dân với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao Đây là một lợi thế rất lớn trong khi các nước phát triển như Nhật Bản hay Úc đang gặp vấn đề khó khăn với tỷ lệ dân số già rất cao
- Trình độ dân trí, trình độ học vấn và tay nghề ngày càng được nâng cao Theo chính sách phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước, người dân được chăm lo phát triển về học vấn và nghề nghiệp Tỷ lệ trẻ em đến trường và thanh niên được đào tạo nghề tăng cao trong những năm gần đây
Trang 5- Cầu về lao động tăng mạnh Sự đầu tư mạnh mẽ của các công ty nước ngoài và
sự phát triển của các công ty tư nhân trong nước tạo ra cầu về lao động lớn Sự luân chuyển trong thị trường lao động cũng tạo ra nhiều việc làm cho các tầng lớp lao động
- Công tác xuất khẩu lao động càng ngày càng mạnh Nhu cầu về nguồn lao động kỹ thuật cao và lao động phổ thông ở nước ngoài đối với nguồn lao động đến từ các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đã tạo ra xu hướng xuất khẩu lao động mạnh trong khoảng 10 năm gần đây
- Hệ thống thị trường giao dịch lao động tương đối đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung Công tác tuyển dụng lao động ngày càng chuyên nghiệp Người lao động được đào tạo bài bản, phù hợp với vị trí công tác Sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng như Internet, báo,… cũng kéo theo xu hướng tuyển dụng mở của các doanh nghiệp, giúp người lao động dễ dàng hơn
để tìm được công việc phù hợp với khả năng của mình
2.2 Những tồn tại
Thị trường lao động Việt Nam vẫn mang đặc điểm của một thị trường còn nhiều yếu kém Đó là: lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp, khu vực phi kết cấu, năng suất thấp, nhiều rủi ro, tình trạng chia sẻ công việc, chia sẻ việc làm còn phổ biến; về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân
bố chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế; cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỷ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuất, khu vực làm công ăn lương phát triển chậm; tuy tỷ lệ thất nghiệp khá thấp, tỷ lệ thiếu việc làm vẫn còn khá nghiêm trọng và 2/3 đến 3/4 số việc làm là không bền vững, nguy cơ có việc làm mà vẫn nghèo cao; hệ thống luật pháp về thị trường lao động chưa đầy đủ; cơ sở hạ tầng của thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ dẫn đến khả năng kết nối cung cầu lao động kém; có sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động,
Trang 6mặc dù thiếu việc làm chiếm tỷ lệ lớn, nhưng một số ngành nghề, địa phương… không tuyển được lao động; thiếu chính sách phù hợp để quản lý di chuyển lao động trong nước và quốc tế; chưa thiết lập hệ thống quan hệ lao động hiện đại dựa vào cơ chế đối thoại, thương lượng hiệu quả giữa các đối tác xã hội; hệ thống giáo dục, hướng nghiệp và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là đối với lao động yêu cầu kỹ năng cao; một bộ phận lớn người lao động chưa được bảo vệ trong thị trường; thị trường lao động bị phân mảng, có sự phân cách lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng động lực phát triển kinh tế-vùng kém phát triển, lao động không có kỹ năng-có kỹ năng
Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trên là do: chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, chức năng và lộ trình phát triển của thị trường lao động; khung khổ pháp
lý cho phát triển doanh nghiệp và thị trường lao động chậm đổi mới tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, phân bổ nguồn nhân lực, thu nhập và chia sẻ rủi ro; các điều kiện để phát triển đồng bộ cung, cầu lao động và gắn kết cung-cầu lao động yếu kém; các thể chế quan hệ lao động và quản trị thị trường lao động còn yếu; huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho phát triển thị trường lao động chưa hợp lý và kém kiệu quả
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay thì chúng ta tiếp tục có các cơ hội
và gặp nhiều thách thức đối với sự phát triển thị trường lao động Quá trình phân công sản xuất trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu sẽ kéo theo sự tái phân bố lao động và sự phụ thuộc lẫn nhau của thị trường lao động các quốc gia Các công ty xuyên quốc gia không chỉ là tác nhân giúp các nước và lãnh thổ kinh tế tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất toàn cầu, mà còn có vai trò là người sử dụng lao động đa quốc gia, sẽ đặt ra những tiêu chuẩn lao động mới, thách thức các khuôn khổ tiêu chuẩn và luật pháp lao động quốc gia Cạnh tranh quốc tế trong phân công lao động sẽ thúc đẩy cạnh tranh và phân công lao động trong nước, năng lực cạnh tranh quốc gia sẽ phụ thuộc vào mức độ thành công của tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam (chuyển từ chiến lược dựa vào các ngành sử dụng nhiều
Trang 7vốn, khai thác tài nguyên thô, lao động giá rẻ sang các ngành sản xuất công nghệ cao cho năng suất cao) Trong khi đó bối cảnh trong nước cũng có nhiều thuận lợi đan xen với những khó khăn mới Đó là: nền kinh tế tiếp tục mở cửa tạo điều kiện phát huy tốt hơn những thế mạnh trong nước nhưng cần khắc phục những hạn chế kìm hãm nhu cầu nội địa và cho xuất khẩu, các tiêu chuẩn hàng hóa sản
xuất và tiêu chuẩn lao động trở thành các ràng buộc cạnh tranh, kinh tế tăng
trưởng liên tục với tốc độ cao là điều kiện cơ bản để giải quyết việc làm nhưng yêu cầu phải bền vững, thể chế thị trường lao động tiếp tục cần hoàn thiện để phù hợp với thông lệ quốc tế
III Vận dụng lí luận về hàng hoá sức lao động để phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam
Trước các vấn đề trên, có thể đưa ra một số giải pháp cơ bản vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động để đảm bảo nguồn nhân lực cho thị trường lao động trong thời kỳ hội nhập quốc tế như sau:
Thứ nhất, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nền kinh tế thị trường sự định hướng xã hội chủ nghĩa.
Lợi ích của người sử dụng lao động và lợi ích của người lao động phải có sự hài hoà Quan hệ lao động ở các doanh nghiệp cần được được luật hoá, theo đó, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động không phải là quan hệ đối kháng, lợi ích tư nhân của người sử dụng lao động và lợi ích cá nhân của người lao động không mâu thuẫn gay gắt với nhau mà được chuyển hoá để kết hợp thành một thể thống nhất, tạo hợp lực chung vì sự phát triển của xã hội, sự gắn kết hài hoà giữa các lợi ích là yếu tố cơ bản để tạo lập mối quan hệ lao động thân thiện giữa người sử dụng lao động
Thứ hai, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức Điều đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải chủ động xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cả
Trang 8về số lượng và chất lượng, nhất là về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, về phẩm chất, năng lực thì mới có thể tiếp cận được nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc
tế
Thứ ba, tôn trọng nhân cách, phát huy vai trò làm chủ, năng động sáng tạo, tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của người lao động Nhân cách của người
lao động được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tự giác và cộng đồng trách nhiệm trong mọi công việc được giao Do đó, tôn trọng nhân cách là làm cho những tố chất đó không hề bị vi phạm, ngược lại, nó được phát huy một cách mạnh mẽ trong lao động sản xuất, khiến cho người lao động toàn tâm, toàn ý, đem hết tài năng, sức lực của mình để đóng góp cho xã hội, cho doanh nghiệp vì lợi ích chung
Thứ tư, vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động phải gắn liền với việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ và cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điều đó có nghĩa là phải xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Đó
là những người biết nắm bắt và sử dụng có hiệu quả những phương tiện kỹ thuật hiện đại; những người có năng lực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, trong quản lý vĩ mô và vi mô; là những người ứng xử có văn hoá cũng như có đạo đức nghề nghiệp Đi đôi với đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật cho người lao động, cần quan tâm giáo dục phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, cho dù người lao động đó làm việc trong bất cứ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào
Thứ năm, thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động Có thể thưc hiện
bằng các hình thức như: phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, tăng cường quản lý Nhà nước, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động; hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động, hoàn
Trang 9thiện bộ máy quản lý và vận hành có hiệu quả thị trường lao động, nâng cao hơn nữa vai trò của các tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức đại diện cho chủ sử dụng lao động, tiếp tục hoàn thiện các chính sách thị trường lao động, chính sách tiền lương
Thứ sáu, phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật cho người lao động Đây là giải pháp cơ bản, lâu dài, nhằm
phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng cung – cầu lao động; quy hoạch, kế hoạch và tiêu chuẩn hóa hệ thống trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề trong cả nước, đầu tư tập trung vào hệ thống dạy nghề kỹ thuật thực hành, xây dựng 40 trường dạy nghề trọng điểm quốc gia, trong đó có 15 trường đạt chuẩn khu vực; phát triển mạnh hệ thống dạy nghề với 3 cấp trình độ và liên thông giữa các cấp trình độ; đào tạo gắn với cầu lao động Giảm sức ép về cung lao động bằng việc tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình hạn chế gia tăng dân số, giảm sức ép về cung lao động Đồng thời giáo dục nâng cao đạo đức, kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp đối với người lao động nhất là lao động trẻ Có giải pháp bảo đảm tính linh hoạt của thị trường lao động như tạo thuận lợi cho di chuyển lao động, đặc biệt là di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và vào các khu công nghiệp, khu chế xuất
Thứ bảy, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế là tiền đề để phát triển thị trường lao động, tạo nhiều việc làm mới và cân bằng cung – cầu lao động Phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội cho người lao động có việc làm Khuyến khích phát triển doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ có chính sách ưu đãi để tạo
ra nhiều chỗ làm mới, thu hút nhiều lao động Hỗ trợ các hoạt động tạo việc làm
ở khu vực phi chính thức và những người lao động tự tạo việc làm thông qua chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Phát triển kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn, các ngành tiểu thủ công nghiệp, khôi phục phát triển các ngành nghề
Trang 10hồi đất nông nghiệp Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tham gia tích cực vào thị trường lao động khu vực và quốc tế, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia
Thứ tám, thúc đẩy phát triển trên thị trường Phát triển hệ thống trung tâm
giới thiệu việc làm Chuyển từ hình thức đầu tư dàn tải sang đầu tư có trọng điểm, tập trung đầu tư cho 3 vùng trung tâm trọng điểm vùng và trung tâm thuộc các địa phương ở 3 vùng kinh tế trọng điểm, các tỉnh lân cận để thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động cấp quốc gia Tiến tới thiết lập các sàn giao dịch thường xuyên mang tính định kỳ tại các trung tâm thay cho việc tổ chức các hội chợ việc làm Phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trườn lao động Đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chinhs ách của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường lao động Tăng cường quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra các hoạt động và thực hiện các quy định của Nhà nước đối với trung tâm giới thị việc làm, các doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động
Thứ chín, hợp lý hoá giá cả sức lao động Cải cách hệ thống tiền lương,
tiền công Đồng thời thực hiện thống nhất chính sách chế độ đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các ngành nghề khác nhau Giải pháp về hoàn thiện hệ thống thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp lý, bảo đảm bình đẳng hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích chung Hoàn thiện đồng bộ, kịp thời hệ thống pháp luật về thị trường lao động, các văn bản pháp quy như trình sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu; hướng dẫn Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có hợp đồng, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động Phê chuẩn các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan đến thị trường lao động như Công ước số 122
về chính sách việc làm, Công ước số 131 về ấn định tiền lương tối thiểu đặc biệt đối với các nước đang phát triển, Công ước số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm, Công ước 142 về hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực,