1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan triet hoc HADTB VHU

28 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 480,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.PHẦN MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiPhật giáo đã cùng dân tộc Việt nam trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, góp phần xoa dịu những nỗi đau trong đời sống tâm linh của con người.Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt là sự xuống cấp lối sống, suy đồi về mặt đạo đức và tinh thần.Trong sự nghiệp giáo dục thì giáo dục về đạo đức cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ quan trong để ngăn chặn sự tha hóa, xói mòn về mặt đạo đức trước những tác động của kinh tế thị trường và sực tác động của văn hóa các quốc gia khác.Trong đời sống của con người thì tôn giáo luôn đóng vai trò quan trọng, nó là một hệ tư tưởng ảnh hướng không nhỏ đến tinh thần, đến hành vi của con người. Ở Việt Nam đã có những giai đoạn lịch sử mà mà Phật giáo góp phần tạo nên niềm tin của một dân tộc, làm nên sự hưng thịnh của quốc gia (thời nhà Lý, nhà Trần…). Hiện nay, trong cuộc đấu tranh niềm tin, thì tôn giáo là một hiện trang đáng chú ý.Dân tộc Việt Nam đã tiếp nhận, kế thừa có chọn lọc và phát huy tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó có nền văn hóa Phật giáo. Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới. Phật giáo mang trong mình những quan điểm triết học rất tinh tế nhằm giúp con người ngày càng tiến lại gần hơn với chân, thiện, mỹ.Với tất cả lý do đó, tôi nhận thấy rằng nghiên cứu đề tài “Nội dung cơ bản của triết học phật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần người Việt Nam” là cấp thiết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN

-

ĐINH THỊ BÍCH HÀ

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM

Tiểu luận Triết học Chương trình Cao học và Nghiên cứu sinh không thuộc

chuyên ngành Triết học

TP HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN

-

ĐINH THỊ BÍCH HÀ

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM

Tiểu luận Triết học Chương trình Cao học và Nghiên cứu sinh không thuộc

chuyên ngành Triết học

ĐINH THỊ BÍCH HÀ Học viên tự do

MSHV: 156A030023

TP HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 3

MỤC LỤC

A.PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 2

4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

5.Đóng góp mới của đề tài 3

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3

7.Kết cấu của đề tài 4

B.PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1 5

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 5

1.1.Sự ra đời của triết học Phật giáo 5

1.2.Tư tưởng triết học Phật giáo 7

1.2.1.Tư tưởng thế giới quan của Phật giáo 7

1.2.2.Nhân sinh quan của Phật giáo 10

1.3.Các trường phái triết học Phật giáo 15

Chương 2 20

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM 20

2.1.Về thế giới quan 21

2.2.Về nhân sinh quan 21

2.3.Về tư tưởng nghiệp báo 21

C.PHẦN KẾT LUẬN 24

D.PHẦN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo đã cùng dân tộc Việt nam trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, góp phần xoa dịu những nỗi đau trong đời sống tâm linh của con người

Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nền kinh tế thị trường cũng bộc

lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt là sự xuống cấp lối sống, suy đồi về mặt đạo đức và tinh thần

Trong sự nghiệp giáo dục thì giáo dục về đạo đức cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ quan trong để ngăn chặn sự tha hóa, xói mòn về mặt đạo đức trước những tác động của kinh tế thị trường và sực tác động của văn hóa các quốc gia khác

Trong đời sống của con người thì tôn giáo luôn đóng vai trò quan trọng, nó là một hệ tư tưởng ảnh hướng không nhỏ đến tinh thần, đến hành vi của con người Ở Việt Nam đã có những giai đoạn lịch sử mà mà Phật giáo góp phần tạo nên niềm tin của một dân tộc, làm nên sự hưng thịnh của quốc gia (thời nhà Lý, nhà Trần…) Hiện nay, trong cuộc đấu tranh niềm tin, thì tôn giáo là một hiện trang đáng chú ý

Dân tộc Việt Nam đã tiếp nhận, kế thừa có chọn lọc và phát huy tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác nhau trong đó có nền văn hóa Phật giáo Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới Phật giáo mang trong mình những quan điểm triết học rất tinh tế nhằm giúp con người ngày càng tiến lại gần hơn với chân, thiện, mỹ

Với tất cả lý do đó, tôi nhận thấy rằng nghiên cứu đề tài “Nội dung cơ bản của triết học phật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần người Việt Nam” là cấp thiết

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo tôi được biết thì ngoài những tư tiệu khổng lồ và quý giá như Kinh, Luật, Luận của Phật giáo được tích lũy hơn 2.500 năm nay thì còn rất nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo và sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng này lên đời sống của con người nói chung và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Việt Nam nói riêng Tôi xin liệt kê ra đây vài công trình tiêu biểu:

 Tham luận của nhiều tác giả trong cuốn “Đạo đức học Phật giáo” do

Hòa thượng Tiến sỹ Thích Minh Châu giới thiệu và Viện Nghiên cứu Phật học VIệt Nam ấn hành năm 1995 Nội dung của các bài tham luận này các tác giả đã đưa ra nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo, làm rõ các nội dung của thiện, ác, hạnh…

 Cuốn “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam”, tập 1 của PGS.TS

Nguyễn Hùng Hậu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2002 Tác giả đã khái quát cơ bản về quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của Phật giáo với dân tộc và con người Việt Nam

Các công trình nghiên cứu mà tôi tham khảo là các công trình có sự đầu tư nghiêm túc, có hàm lượng khoa học cao và có ý nghĩa trong thực tiễn Tuy nhiên, do góc nhìn khác nhau và mục tiêu khác nhau nên chưa có một công trình nào là hoàn thiện Vì vậy, tôi muốn góp thêm những nhận định và đánh giá của mình để góp phần làm phong phú và đầy đủ hơn các góc nhìn khác nhau của sự ảnh hưởng Triết học Phật giáo trong đời sống người Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích là tìm ra sự ảnh hưởng của Triết học Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Việt Nam

Từ mục đích đó thì nhiệm vụ trọng tâm của tiểu luận là nghiên cứu và tiếp cận hệ thống các phạm trù cơ bản và những tư tưởng phổ quát của Triết lý Phật giáo, đồng thời cũng tiếp cận và tìm hiểu lối sống, đạo đức và tinh thân của một nhóm đại diện của người dân Việt Nam Qua đó, lý giải,

Trang 6

nhận định các ảnh hưởng của triết học Phật giáo với đời sống tinh thần của người Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận chủ yếu là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, Phương pháp phân tích tổng hợp, Phương pháp so sánh, Lịch sử và Lôgic

5 Đóng góp mới của đề tài

Triết học phương Đông ra đời từ rất sớm, từ thế kỷ thứ VI – V trước công nguyên, ngay từ khi ra đời nó đã mang đậm màu sắc tôn giáo Ví như ở Ấn

Độ, giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt, tư tưởng triết học ẩn giấu phía sau các lễ nghi tôn giáo huyền bí Mác từng nói: Lịch sử phương Đông là lịch

sử tôn giáo, Việt Nam cũng gần như vậy Tìm hiểu nền triết học và văn hóa phương Đông cũng như nền triết học và văn hóa nước nhà giúp chúng ta biết

rõ hơn về đời sống tinh thần người Việt Nam, đặc biệt là để bảo vệ, khẳng định, phát huy, gìn giữ di sản, văn hóa, truyền thống của cha ông để lại trong quá trình đổi mới và giao lưu văn hóa với các nước trên thế giới

Thông qua việc giải quyết nhiệm vụ để đạt được mục đích như trên đã đề

ra thì tiểu luận còn góp phần khái quát vai trò của Phật giáo trong việc giáo dục lối sống, đạo đức và tinh thần của người Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đây là một đề tài mang tính thời đại trong xu thế mở cửa và hội nhập Nó giúp cho bản thân tôi hiểu thêm tư tưởng triết học trong Phật giáo, đồng thời góp phần nhỏ vào việc xây dựng con người Việt Nam mới, mà trong gần như suốt chiều dài lịch sử dân tộc đều thấm đậm “chất nhân văn” của triết học Phật giáo

Trang 7

Tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, là loại hình thái ý thức xã hội vô cùng phong phú và phức tạp Mà sự hiểu biết của bản thân về nó thì lại còn những hạn chế, do vậy tôi thực hiện đề tài này với mong muốn làm một tài liệu để các tác giả khác nghiên cứu và tham khảo trong quá trình thực hiện các nghiên cứu của mình sau này

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài bao gồm 4 phần:

A Phần mở đầu:

B Phần nội dung

 Chương 1: Nội dung cơ bản của triết học Phật giáo

 Chương 2: Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần người Việt Nam

C Phần kết luận

D Phần danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

B PHẦN NỘI DUNG Chương 1

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1.1 Sự ra đời của triết học Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế

kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía nam dãy Himalaya, vùng biên giới Ấn Độ và Nê-pan bây giờ Phật giáo (Buddhism) ra đời trong làn sóng phản đối lại đạo Bàlamôn, phản đối kinh Vêda, phản đối sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã của xã hội Ấn Độ cổ đại, Phật giáo lý giải căn nguyên của nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người ra khỏi nỗi khổ

Theo cách phân chia truyền thống của Ấn Độ lúc bấy giờ thì Phật giáo xếp vào hệ thống triết học không chính thống (hệ thống “tà giáo”) vì Phật giáo có kinh điển riêng, phủ nhận uy thế của kinh Vêda và đạo Bàlamôn

Người sáng lập ra Phật giáo là thái tử Siddhàrta (Trung Quốc dịch là Tất Đạt Đa), nghĩa là “người thực hiện mục đích”), họ là Gautama (Cù Đàm), dòng họ Sakya, con vua Suddhodana (Tịnh Phạn), một vương quốc nhỏ miền đông bắc Ấn Độ xưa nay thuộc lãnh thổ Nê-pan, có kinh đô là thành Kapilavatthu (Ca-tì-la-vệ), vợ là công chúa Yasodhara (Da Du Đà La), con trai là Ruhula (La Hầu La) Tương truyền, Siddhàrta sinh ngày 8 tháng 4 năm

563 trước Công nguyên, mất năm 483 trước Công nguyên Nhận thấy nỗi bất công của chế độ phân biệt đẳng cấp và chứng kiến những khổ đau mà con người phải chịu, vào năm 29 tuổi, thái tử Siddhàrta đã từ bỏ gia đình, từ bỏ cuộc đời vương giả đi tu luyện với mong muốn tìm ra con đường diệt trừ nỗi khổ của chúng sinh Thái tử đã đi khắp nơi học đạo, Ngài lần lượt học hết các đạo nhưng nhận thấy không đạo nào giúp ngài chứng ngộ được chân lý cao thượng Ngài tự mình vào ở trong rừng sâu tu luyện ép xác cùng đạo sĩ thuộc nhóm Kiều Trần Như đến kiệt sức nhưng vẫn không tìm ra chánh đạo Trải qua 6 năm liền tu luyện, thái tử nhận ra rằng tu khổ hạnh chỉ làm suy giảm tinh thần và trí tuệ, còn lối sống lợi dưỡng vật chất chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ

Trang 9

của đạo đức và tâm trí Sau 49 ngày nhập định, Siddhàrta đã giác ngộ, tìm ra chân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, thái tử Siddharta được gọi là Sakya-muni (Thích Ca Mâu Ni), nghĩa là “nhà hiền triết xứ Sakya” Sau khi ngộ đạo, Ngài đã đi nhiều nơi để giáo hóa chúng sinh, với mong muốn chúng

sinh có thể “giác ngộ” như mình: “Mọi vật trên đời này không có gì quý giá,

thân thể này rồi sẽ tan ra, chỉ có chánh pháp của Như Lai là đáng quý, là vĩnh hằng Song chánh pháp cũng chỉ là chiếc bè đưa các người sang sông Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi! Hãy tinh tấn lên để giải thoát! Ta là Phật đã thành, chúng sinh là những vị Phật sẽ thành…” Các tín đồ của Phật

đủ mọi thành phần, không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, từ vua chúa, vương hầu, trưởng giả đến nông phu, thợ thuyền, từ các hoàng hậu, công chúa đến các cô gái thôn quê, kỹ nữ

Khi còn tại thế, Phật Thích Ca chỉ truyền dạy cho các đệ tử bằng lời, sau khi Ngài nhập Niết bàn, các môn đệ cao tăng tụ họp, nhớ lại lời Phật Thích Ca dạy và ghi thành kinh Kinh điển Phật giáo hiện nay rất đồ sộ, gọi là Tripitaka (Tam Tạng) gồm ba bộ phận:

1 Tạng kinh (Sutra – pitaka): Ghi những lời Phật dạy Có các bộ kinh

như: Kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng già, kinh Bát nhã, kinh Pháp hoa, kinh

Trường bộ, kinh Trung bộ, kinh Tăng chi bộ, kinh Tạp bộ, kinh Tiểu bộ,

kinh Trường A Hàm, kinh Trung A Hàm, kinh Tạp A Hàm

2 Tạng luật (Vinaya – pitaka): gồm các giới luật của đạo Luật Ví dụ: Tứ

phần luật của Thượng tọa bộ, Maha tăng kỳ luật của Đại chúng bộ

3 Tạng luận (Abhidharma – pitaka): Bao gồm các bài kinh, các tác phẩm

luận giải và bình chú về giáo pháp của các vị cao tăng, học giả về sau

Tạng luận gồm có các bộ như: Dhamma sangani, Vabhanga, Puggala

pânnatti, Dhatu vibhanga, Yamaka, Kathavatthu, Patthana, Jnâna pnasthanasàatra, Vijnanakàyapada, Pranakanapàda, Dhàtukàyapàda

Trang 10

1.2 Tư tưởng triết học Phật giáo

1.2.1 Tư tưởng thế giới quan của Phật giáo

1.2.1.1 Quan niệm về thế giới, về vũ trụ

Quan niệm về thế giới, về vũ trụ của Phật giáo đúc kết ở thuyết Duyên

khởi Trái với quan điểm của kinh Vêda, Upanishad, đạo Bàlamôn và các môn

phái triết học đương thời ở Ấn Độ lúc bấy giờ, Phật giáo không thừa nhận

Brahman, Purusha, tức là không thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu

nhiên tối cao, sáng tạo ra vũ trụ, chi phối vũ trụ Đạo Phật cho rằng vũ trụ

khởi đầu từ nhân duyên (vạn pháp do nhân duyên di khởi), nhân duyên là bản

nguyên của vũ trụ, vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong thế giới chỉ là

dòng biến hóa vô thường, vô định không do một vị thần nào sáng tạo nên, từ

đó đưa đến quan niệm “vô tạo giả” tức là không người sáng tạo Quan niệm

này của Phật giáo chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng, có tính chất

vô thần

1.2.1.2 Tư tưởng vô ngã

Đạo Phật bác bỏ Atman, tức là bác bỏ cái tôi Cái tôi chỉ là sự nhóm họp

của Sắc (vật chất) và Danh (tinh thần) tạm thời, Danh và Sắc được chia làm

năm yếu tố gọi là Ngũ uẩn:

1 Sắc (rupa) gồm đại, thủy, hỏa, phong Sắc (vật chất) là cái có thể cảm

giác được

2 Thụ (vedana) cảm thụ về khổ hay lạc đưa đến sự lãnh hội với

thân hay tâm

3 Tưởng (samjna) tức suy nghĩ, tư tưởng

4 Hành (samskara) ý muốn thúc đẩy hành động, tạo tác

5 Thức (vijnana) nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lí, phân biệt ta là ta

Do nhân duyên mà Danh-Sắc hợp thành Nếu Danh và Sắc hợp thì là ta,

nếu Danh và Sắc tan thì không còn là ta, tức là ta bị diệt nhưng không mất đi

mà quay về với ngũ uẩn

Danh (tinh

thần) là cái

chỉ có tên gọi mà không có hình chất

Trang 11

Phật giáo còn coi con người là do Lục đại (sáu yếu tố) tạo nên là:

1 Địa (đất, các khoáng chất)

2 Thủy (nước, các chất lỏng)

3 Hỏa (lửa, nhiệt) Sắc (vật chất)

4 Phong (gió, không khí, thở)

5 Không (khoảng trống)

6 Thứ (ý thức, tư duy) Danh (tinh thần)

Nhưng Danh và Sắc chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy “không có cái tôi”, tức là “vô ngã” (anatman)

1.2.1.3 Tư tưởng vô thường

Theo Phật giáo, vạn vật cũng như con người luôn luôn biến hóa, vụt mất, vụt còn, có rồi lại mất, mất rồi có, không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi, không có cái tôi thường định Cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay

Sự biến hóa, trôi chảy không ngừng do nhân duyên mà ra, gọi là vô thường (nhân như diện ảnh hữu hoàn vô) Trong kinh “Tăng Nhất A Hàm” viết:

“Pháp pháp tự sinh, pháp pháp tự diệt, pháp pháp tự động, pháp pháp tự nghĩ…pháp pháp có thể sinh ra pháp…Như thế hết thảy cái đó đều về cái không: không ta, không người, không mệnh, không sĩ, không phu, không hình, không tướng, không nam, không nữ”

Thế giới sự vật và hiện tượng luôn luôn biến hiện theo chu trình: dị-diệt hoặc thành-trụ-hoại-không, như gió lùa khóm trúc, gió đi trúc chẳng lưu hình, nhạn qua bờ đầm, nhạn mất, đầm không giữ bóng, việc đến bản tánh ứng tiếp, việc đi tánh vẫn hằng không Vạn sự có rồi mất, mất rồi có, không

sinh-trụ-cố định, luôn biến đổi (“sắc tức thị không, không tức thị sắc”) Đây là một trong những tư tưởng thể hiện phép biện chứng của Phật giáo

Trang 12

1.2.1.4 Tư tưởng về Duyên

Theo triết học của Phật giáo, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn đều không thể thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Trong “Duyên khởi

luận” của nhà Phật có nói: “Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái

kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt Ví dụ do duyên vô minh, các hành sinh khởi Do duyên hành, thức sinh khởi…Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi” Cái nhân nhờ có duyên mới sinh ra được mà thành quả, quả lại do

duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành quả mới…Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hóa hóa mãi Theo quan điểm Phật giáo, “Duyên” vừa là kết quả của quá trình cũ, vừa là nguyên nhân của quá trình mới Tư tưởng này của Phật giáo mang tính chất khoa học, triết học biện chứng

1.2.1.5 Tư tưởng nhân quả tương tục

Tư tưởng nhân quả tương tục của Phật giáo có hai nội dung:

+ Nhân quả tương tục vô gián đoạn: Nghĩa là chuỗi nhân quả liên

tục, không có đầu, không có kết thúc, tư tưởng này là tiến bộ, gần với tư tưởng triết học Mac - Lênin đó là không có hiện tượng nào lại không có nguyên nhân, nó phải là kết quả của nguyên nhân này hay nguyên nhân khác Không có một hiện tượng nào được coi là nguyên nhân đầu tiên và cũng không có một kết quả nào được xen là kết quả cuối cùng Trong mối quan hệ này nó là nguyên nhân nhưng trong mối quan hệ khác nó lại là kết quả

+ Nhân quả tương tục vô tạp loạn: Theo quan điểm Phật giáo, chuỗi

nhân quả là tất yếu, không có sự tạp loạn; nhân nào-quả nấy, ác giả-ác báo, chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu, không thể xảy ra trường hợp gieo nhân lành lại gặp quả dữ, hay ngược lại Đây là một tư tưởng chứa đựng tinh thần phép biện chứng sâu sắc

Khác với các tôn giáo khác, Phật giáo không thừa nhận sự sắp đặt những sướng-khổ, giàu-nghèo, vui-buồn…từ Thượng đế Theo triết lý Phật giáo thì tất cả đều có nguyên nhân của nó, không có sự an bài hay hên xui may rủi:

Trang 13

Dục chi tiền thế nhân

Kim sanh thọ giả thị

Dục tri hậu thế quả

Kim sanh tác giả thị

(Muốn biết nhân đời trước,

Hãy nhìn quả đời này mình hưởng

Muốn biết quả đời sau,

Hãy nhìn nhân đời này mình tạo)

Tóm lại, theo quan điểm của Phật giáo, đã tạo nghiệp, đã gieo nhân tất phải gặp quả, có thể ở lúc này, nơi này hay lúc khác, nơi khác, ở kiếp hiện tại hay trong tương lai Kinh Samyutta Nikàya viết:

“Đã gieo giống nào,

1.2.2 Nhân sinh quan của Phật giáo

Theo Phật giáo, vì không nhận thức được cái biến ảo, vô thường, vô định của vạn vật mới là thường hằng và chân thực, có đó rồi mất đó, không nhận thức được cái tôi có mà không, không mà có, nên người ta lầm tưởng rằng ta tồn tại mãi, cái gì cũng thường định, cũng trường tồn, cái gì cũng của ta, là ta,

do ta nên con người cứ tham dục, khát ái, tìm cách chiếm đoạt cho mình, nhằm thỏa mãn những ham muốn và dục vọng bản thân, từ đó tạo ra những kết quả, gây nên nghiệp báo, mắc vào bể khổ triền miên không dứt, trầm luân không kiếp luân hồi, chịu sự chi phối của luật nhân duyên và phải chịu nghiệp báo do mình gây ra Đó là cách lí giải về căn nguyên nỗi khổ của con người theo quan điểm của đạo Phật

Trang 14

Mục đích cuối cùng của Phật là tìm ra con đường giải thoát chúng sinh

khỏi mọi nỗi khổ của nghiệp báo và kiếp luân hồi, Phật nói: “Này các đệ tử,

ta nói cho mà biết, nước ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy đây cũng chỉ có một vị là giải thoát” Vì vậy, đạo Phật còn được mệnh danh

là đạo giải thoát Để đi đến giải thoát, Phật đã đưa ra thuyết “Tứ diệu đế”

(Catvary Arya Satya) và “Thập nhị nhân duyên” Đây là tư tưởng triết lý

nhân sinh chủ yếu của đạo Phật

“Tứ diệu đế” (Tứ thánh đế): nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng

mà mọi người phải nhận thức được

1 Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ, nước mắt trong bốn bể không

nhiều bằng nước mắt chúng sinh Theo Phật giáo có tám thứ khổ chính:

- Sinh khổ: con người khi mới sinh ra đã khổ, cảm nhận được sự khổ mà con

người đã khóc khi chào đời

- Lão khổ: Khổ vì già

- Bệnh khổ: Khổ vì bệnh

- Tử khổ: Khổ vì có sinh thì có chết

- Thụ biệt ly: Thương yêu nhau mà phải chia lìa

- Oán tăng hội: Ghét nhau mà phải tụ hội với nhau

- Sở cầu bất đắc: Muốn mà không được

- Thủ ngũ uẩn: Khổ vì có sự tồn tại của thân và tâm

2 Tập đế (Nhân đế): Là nguyên nhân gây ra khổ, có 12 nhân duyên gây ra

khổ (“thập nhị nhân duyên”)

- Trước hết, con người do vô minh mà khổ Vô minh tức là không sáng suốt,

không nhận ra vạn vật chỉ do duyên mà hợp thành, duyên không còn thì sự vật cũng không còn, con người không nhận thức được thế giới, sự vật, hiện tượng đều là ảo, là giả cho đó là thật mà bon chen, so đo hơn thiệt, đam mê dục vọng mà khổ

- Duyên hành: nghĩa là hành động, việc làm của con người tạo ra nghiệp nên

phải chịu nghiệp báo mà khổ

Ngày đăng: 08/04/2016, 01:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w