uốc lào tại địa phương này có giá trị kinh tế cao, thuốc ngon có tiếng và từng mang danh thuốc lào tiến vua.[1] Ở Việt Nam hàng năm trồng khoảng 4.000-4.200 ha thuốc lào tập trung ở các
Trang 1uốc lào Hải Phòng va ca caovâcphe
Trang 2Mục lục
1.1 Lịch sử 1
1.2 Đặc điểm 2
1.2.1 ổ nhưỡng, khí hậu 2
1.2.2 Canh tác, thu hái và chế biến 2
1.2.3 y trình trồng, chăm sóc 2
1.2.4 Chế biến 3
1.3 Xây dựng thương hiệu 3
1.4 am khảo 4
1.5 Liên kết ngoài 4
1.6 Xem thêm 4
2 Cacao 5 2.1 Mô tả 5
2.2 Lịch sử trồng cây ca cao 5
2.3 Điều kiện sống 5
2.4 Lợi ích 5
2.5 Cây ca cao ở Việt Nam 5
2.6 Một vài hình ảnh về cacao 6
2.7 Kỹ thuật trồng Cacao 6
2.8 Chú thích 6
2.9 am khảo 6
3 Cà phê 7 3.1 Từ nguyên 7
3.2 Lịch sử 8
3.2.1 Truyền thuyết 8
3.2.2 Khởi nguồn lịch sử 8
3.2.3 Du nhập châu Âu 8
3.3 Sinh vật học 8
3.3.1 Lịch sử 9
3.3.2 Sản xuất 9
3.4 Phân loại 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
3.5 ưởng thức 10
3.6 Cách pha cà phê 10
3.7 Các cách thưởng thức cà phê trên thế giới 11
3.7.1 Ý 11
3.7.2 Đức 11
3.7.3 Áo 11
3.7.4 ụy Sĩ 12
3.7.5 Pháp 13
3.7.6 Tây Ban Nha 13
3.7.7 Bồ Đào Nha 13
3.7.8 Hy Lạp 13
3.7.9 Mỹ 13
3.7.10 Nam Mỹ 13
3.7.11 Việt Nam 13
3.8 Ý nghĩa kinh tế 15
3.8.1 Sản lượng cà phê của thế giới 15
3.9 Hiệu ứng sinh thái 15
3.10 Cà Phê trong tôn giáo và chính trị 15
3.11 Tiêu thụ 15
3.12 Ảnh hưởng của cà phê 16
3.13 Bã cà phê 17
3.14 Đồ mỹ nghệ từ cây và hạt cà phê 17
3.15 Chú thích 17
3.16 Liên kết ngoài 18
3.17 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 19
3.17.1 Văn bản 19
3.17.2 Hình ảnh 19
3.17.3 Giấy phép nội dung 21
Trang 4Chương 1
Thuốc lào Hải Phòng
uốc lào Hải Phòng là giốngthuốc làođược trồng,
chế biến tập trung ở hai huyệnTiên LãngvàVĩnh Bảo,
thành phốHải Phòng, Ngoài ra, ở xãAn ọ-An Lão
thuốc lào ngon số một uốc lào tại địa phương này có
giá trị kinh tế cao, thuốc ngon có tiếng và từng mang
danh thuốc lào tiến vua.[1]
Ở Việt Nam hàng năm trồng khoảng 4.000-4.200 ha
thuốc lào tập trung ở các tỉnh phía Bắc thì riêng
Hải Phòng chiếm 50% diện tích,[2] trong đó diện tích
gieo trồng tại huyện Tiên Lãng khoảng 1.200-1.300 ha
(chiếm 25-30% diện tích trồng thuốc lào của cả nước).[3]
“ủ phủ" của cây thuốc lào cả về diện tích lẫn chất
lượng thuộcxã Kiến iết(huyện Tiên Lãng) vàxã Lý
Học(huyện Vĩnh Bảo); hai xã này liền kề nhau và ngăn
cách bởi consông Hàn.[4]
1.1 Lịch sử
Điếu bát và điếu cày bằng sứ dùng để hút thuốc lào
Không ai biết huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo của Hải
Phòng trồng thuốc lào chính xác từ bao giờ và nổi tiếng
từ khi nào, nhưng canh tác, sản xuất, chế biến thuốc lào
tại đây đã lưu truyền từ đời nọ sang đời kia và trở thành
nghề truyền thống của hàng ngàn hộ dân Ban đầu cây
mọc hoang ở bên đường, bãi cỏ, lá xanh mùi hắc, khô
nhai thấy đắng, đốt thấy thơm, vê cuộn đốt hút khói
vào họng thấy say đê mê Sau nhiều người ưa chuộng
thành quen, và các sự tích về cây thuốc lào dần được
dân gian ca sự Bên bờ Sông Hàn giữa hai huyện VĩnhBảo và Tiên Lãng xưa từng lưu truyền câu chuyện vềđôi trai gái yêu nhau ra bờ sông hóng mát, thấy lá thuốclào cuộn hút rồi say ngủ quên để đến nỗi chết đuối khinước triều lên
Có giả thiết cho rằng thuốc lào được du nhập từẤn
Độ,Miến Điện, Ai Laoqua những khách buôn Sách
Tý (1660), niên hiệu Vĩnh ọ (1658-1662), đời vua Lê
ần Tông , người Ai Lao đem cây ấy đến, dân ta trồng.[1]
Một giả thuyết lưu truyền khác cho rằng chính ượngthư Bộ HộNhữ Văn Lan(1443-1523), ông ngoại TrạngTrìnhNguyễn Bỉnh Khiêm, là người đã có công trongviệc tiến loại thuốc lào ngon hảo hạng lên vua.[5]Tuynhiên, nếu những gì màniên biểu thuốc láđã công bố
là đúng thì tới khoảng năm 1556-1558 câyNicotiana
spp đầu tiên mới xuất hiện tại châu Âu (Pháp, TâyBan Nha, Bồ Đào Nha), và năm 1560 Jean Nicot deVillemainmới gửi những cây thuốc lào (N rustica) đầu
tiên về triều đình Pháp, tới khoảng những năm
1592-1598 người Triều Tiên mới biết đến hút thuốc chế từ
Nicotiana spp do người Nhật truyền sang, cũng như
những gìAlexandre de Rhodesđã viết trong Từ điển
Việt - Bồ - La (Dictionarium annamiticum lusitanicum,
et latinum…) xuất bản năm 1651 và Lê ý Đôn đãviết trongVân Đài loại ngữ, thì thuốc lào ở dạng thuốchút/hít có lẽ đã du nhập vào Việt Nam sau năm 1560 vàtrước năm 1651 - có lẽ vào cuối thế kỷ 16, ít nhất là saukhi Nhữ Văn Lan đã mất khoảng 40 năm, và người Việtchỉ biết cách trồng cây thuốc lào từ năm 1660 trở đi
Về câu chuyện “thuốc lào tiến vua”, sáchĐồng Khánh
thuộc loại ngon nhất thường để tiến vua Làng An Tử Hạ
thuộc tổng Hán Nam, huyện Tân Minh, phủ Nam Sách,trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử 1, xã Kiến iết,huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).[6] Nhiều cụcao niên ở Tiên Lãng, Hải Phòng còn cho biết thuốclào tiến vua là loại đặc biệt chỉ trồng riêng ở một khuruộng gọi là ruộng Chùa ở An Tử Giống cây thuốc lào ởđây lá nhỏ, dày và năng suất rất thấp, lại được trồng hếtsức cầu kỳ Hai ngày rẽ nhánh một lần, tức cấu những
lá và búp non để cây tập trung dưỡng chất nuôi một số
lá Nếu cây bị sâu bệnh thì phải dùng cơm nếp giã nhỏđắp lên chỗ sâu bệnh Khi thu hoạch lại phải để thuốc1
Trang 52 CHƯƠNG 1 THUỐC LÀO HẢI PHÒNG
lên trên, đốt rơm ở dưới để đượm khói, ra mùi thơm đặc
trưng uốc phơi được 2-3 nắng, gia chủ tiếp tục làm
bầu (dùng một dụng cụ giống như quả bầu) chắt nước
cháo và phun vào các phên thuốc để tạo mùi.[5]
Suốt thời phong kiến, chỉ có thuốc củatổng Hán Nam
khi bao gói được buộc bởilạt trenhuộm đỏ để phân
biệt.[7] Các nơi khác chỉ được buộc lạt tre trắng, nếu
phát hiện buộc lạt đỏ sẽ bị nhà chức trách phạt tiền rất
nặng, thậm chí có thể bị tịch thu Khi bán buôn thuốc
lào cho khách, đơn vị tính bằng “cong” uốc lào các
nơi khác đóng 23 bánh một cong, riêng ở tổng Hán Nam
được đóng 22 bánh một cong nhưng vẫn được tính giá
theo cong 23 bánh ương hiệu độc quyền này vẫn
được các nhà Đoan thời thuộc Pháp áp dụng cho đến
tậnCách mạng tháng Tám, 1945 mới chấm dứt.[8]
1.2 Đặc điểm
uốc lào sản xuất ở Tiên Lãng có hương vị đặc biệt; là
kết hợp của những yếu tố tự nhiên như thổ nhưỡng,
khí hậu phù hợp cho cây thuốc lào sinh trưởng và
phát triển, giống cây được lựa chọn kỹ lưỡng, quy trình
trồng và bí quyết chế biến tạo nên danh tiếng lâu đời,
được mang bán rộng khắp tại Việt Nam và được biết
đến tại một số nước trên thế giới.[9]
Về cảm quan, sản phẩm thuốc lào Tiên Lãng ở dạng
sợi có màu từ nâu vàng đến nâu đậm Điểm màu trung
bình là 3,17 - màu hạt cau (cao nhất 4,0 màu hạt cau
đậm, thấp nhất 2,0 màu nâu vàng) Sợi dẻo không bung
ra sau khi nắm chặt, độ dàu-dẻo điểm trung bình 7,29
(cao nhất 9,6; thấp nhất 5,6) Khi hút êm, dịu, không
sốc, không nóng, độ êm-sốc điểm trung bình 7,71 (cao
nhất 10,0; thấp nhất 6,6) Độ dịu–nóng điểm trung bình
7,66 (cao nhất 9,8; thấp nhất 5,2).[9]
Về chất lượng, thuốc lào Tiên Lãng có hàm lượng
nicotin(%) trung bình 6,45 (cao nhất 9,99; thấp nhất
3,48) Tỷ lệxenlulo/nicotin trung bình 3,27 (cao nhất
5,63; thấp nhất 1,76).[9]
1.2.1 Thổ nhưỡng, khí hậu
Vùng trồng thuốc lào có hệ thống sông ngòi đa dạng,
gồm bốn sông lớn là sông Văn Úc, sông ái Bình,
sông Míavà sông Mới Vùng này có lượng mưa vừa
phải 1.700 mm/năm, trên 2.000 giờ nắng, nhiệt độ bình
quân trên 23oC, gió đông nam và hàm lượng muối trong
gió đạt trên 30 mg/1000ml không khí Trong vụ trồng
thuốc lào nhiệt độ trung bình 21,95oC, tổnglượng mưa
là 366mm,độ ẩmtrung bình là 90,7%.[9] Đất trồng tại
địa phương bao gồm đất phù sa, đất phèn ít, mặn ít và
đất mặn trung bình, là các loại đất có thành phần cơ
giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, có độ chua từ 3,6–
6,88, hàm lượng chất hữu cơ trong đất từ 1,4-2,7%, có
hàm lượng lân, kali cao, hàm lượng đạm ở mức trung
bình từ 0,121-0,247%.[9]
1.2.2 Canh tác, thu hái và chế biến
Nông dân tại vùng có tập quán canh tác lâu đời, tự chọngiống đến chọn đất trồng, chăm sóc, thu hoạch và chếbiến Họ sử dụng giống có chất lượng thuốc ngon đó
là giống Ré đen, giống Báng, giống Có Tai và giống LáChống;[9]biết kỹ thuật chọn cây mẹ để làm giống chonăm sau là những cây ở đầu luống phía nam (hướnggió chính); chọn chân đất trồng thuốc phải có "độ phì"dinh dưỡng cao, làm đất nhỏ mịn nhưng luôn giữ ẩm
độ đất 70-75%; ứng dụng kỹ thuật diệt chồi (nên mới
có câu “một cây chỉ để ba cành”); kỹ thuật bón phân(nhất làkali) và phòng trừ dịch bệnh tổng hợp để cónăng suất cao chất lượng thuốc sợi ngon Đặc biệt kỹthuật thu hoạch chế biến từ chọn ngày thu hoạch, đến
ủ lên men, dãi sương và dùngchum,vạisành,lá chuốibảo quản là cả một nghệ thuật với những bí quyết và
kỹ năng truyền thống lâu đời tạo nên sản phẩm đặc sảnchỉ có ở địa phương này
1.2.3 Quy trình trồng, chăm sóc
Hàng năm, sau khi thu hoạchvụ mùaxong, những chânruộng trũng để cấy lúavụ chiêm, các chân ruộng caochọn trồng thuốc lào uốc lào trồng vụ đông xuân từtháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau theoâm lịch.Giai đoạn vườn ươm từ khoảng cuối tháng 11 đầu tháng
12 năm trước đến giữa (hay cuối) tháng 1 năm sau, giaiđoạn ra ruộng trồng từ cuối tháng 1 đến tháng 5 thì thuhoạch Vào khoảng tháng 11 làm đất tơi, trộnhạtvớitro bếp gieo, tưới ẩm Hạt thành cây trong khoảng 2-3tuần cho đến khi cây con có 2-3 lá dài khoảng 3–4 cm
là nhổ trồng được
Đất trồng phù hợp nhất là đất cao thoát nước, đảm bảotốt các tính chất lý hóa tính để có chất lượng tốt, đấtcàng rắn (đất thịt) thuốc càng ngon Đất cát, pha cátthuốc sẽ nhạt hoặc có vị nóng Trước khi trồng cần làmđất, cày ải để nỏ (phơi cho đất thật khô), bừa kỹ và đậptơi nhỏ Khâu làm đất rất quan trọng và vất vả Ngườidân dùng vồ gỗ đường kính 10–15 cm tra cán dài 1,2-1,8m đập đất ngày đêm bất kể thời tiết Trước khi đánhluống lại phải nhặt sạch cỏ dại hay gốc rạ để tránh sinhhóa ra sâu hại cây Luống được đánh thẳng hàng cao30–40 cm, rộng 70–80 cm (có tài liệu ghi luống cao 30–
60 cm[9]) đủ chỗ trồng hai hàng cây thuốc Các luốngthoải dần theo chiều thoát nước tốt vì thuốc lào khôngchịu được úng ngập, đọng nước cây sẽ chết
Mật độ trồng phù hợp 18.000-20.000 cây/ha (có tài liệughi 19.000-23.000 cây/ha[9])
Muốn thuốc lào đạt chất lượng tốt phải bón nhiềuphân
và phân bón phải tốt Ít phân cây không phát triểnđược, lá ít, nhỏ và mỏng; ngược lại đủ phân và phânbón đúng cách thì cây nhiều lá, lá to dày và chất lượngngon Lượng phân bón cho 1 ha 30 tấn phân chuồng,700–750 kg phân lân; 500–600 kg phân đạm; bón phânkali sun phát hoặc tro bếp uốc lào chuộngphân bắc
Trang 61.3 XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU 3
giàu dinh dưỡng, được ủ kỹ với tro và đất màu, đảo
tơi bón lót trong lòng luống Khi cây mới trồng cần
được tưới nước mỗi ngày một lần, đủ ẩm (duy trì ẩm
độ của đất sau trồng 80-85%) Khi cây bén rễ, phát triển
cần định kỳ tưới bằng phân chuồng ngâm ngấu, ban
đầu pha loãng và sau tăng dần độ đặc tùy mức độ phát
triển của cây, trực tiếp vào từng gốc cây khoảng 7-10
ngày/lần cho đến khi cây thuốc phát triển đủ lá cần
thiết thì dừng Khi cây phát triển "đến độ" chậm lại
người ta sẽ “cấm ngọn” (tức ngắt ngọn cây) chỉ lấy đủ
lượng lá cần thiết, 17-25 lá/cây tuỳ theo từng cây (cây
yếu lấy nhiều lá thì chất lượng kém, cây tốt mà lấy ít
lá thì thiệt sản lượng) Lúc này cần tập trung chăm sóc
để cây cho lá to và dày, tưới nướcphân chuồngngâm
vớiphân lân
Trong ruộng thuốc lào trước khi cấm ngọn cần giữ lại
một số cây tốt, không ngắt ngọn để cho cây ra hoa, đậu
hạt làm giống cho mùa sau
Chăm sóc, theo dõi hàng ngày cho cây như nhặt cỏ, bắt
sâu, diệt bọ rầy, đảm bảo thoát nước luống thật tốt
Sau trồng 5 tháng, vào khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5
(âm lịch) khi thời tiết bước vào những ngày hè oi nồng,
nóng nực, gió Nam thổi suốt ngày đêm, lá thuốc lào
dày cộm rất nhanh và cứng lại như tàumo cau, các cây
thuốc lào lá cụp, chuyển màu từ xanh đậm sang phớt
vàng Bằng cảm quan và kinh nghiệm, người trồng sẽ
xác định được đúng thời điểm lá thuốc “chín” già, tích
lũy đủ hương liệu để thu hoạch Nếu hái sớm, lá thuốc
còn xanh sẽ khiến thuốc có màu không sáng đẹp, chất
lượng kém Việc thu hái và vận chuyển luôn phải tránh
để lá thuốc bị ướt ường không thu hoạch vào ngày
mưa hoặc sau khi mưa mà chọn ngày nắng to, gió nam;
không thu hái vào buổi sáng mà chọn lúc trưa hoặc
chiều khi lá thuốc đã khô hết sương đêm.[4]
1.2.4 Chế biến
Lá thuốc lào được bẻ (hái) về, được rọc sống lá và cuống
lá cứng bằng một dụng cụ chuyên dụng bằng tre (kìm
tre) Khâu rọc lá cũng đòi hỏi sự khéo léo, nếu rọc
không có kỹ thuật lá thuốc sẽ bị rách nát, ảnh hưởng
đến chất lượng thuốc.[4]Sau khi rọc, lá thuốc được xếp
lớp, cuộn thành cuộn tròn đường kính từ 18–22 cm (có
tài liệu ghi 20–25 cm[4]), độ dài mỗi cuộn thuốc tầm
dài từ 1,8-2,3m (có tài liệu ghi 2,4-2,8m[4]), buộc lạt tre
như kiểu bógiò Công đoạn cuộn lá thuốc thành cuốn
cũng là một kỹ thuật khó đòi hỏi kinh nghiệm và sự
khéo léo để cuộn thuốc không quá mềm rỗng hoặc quá
cứng Cuộn thuốc mềm thì không khí bên trong cuộn
còn nhiều dễ gây thối hoặc héo lá; cứng quá thì thuốc
cũng dễ thối và lá thuốc không đủ độ “chín” khi thái.[4]
Cuộn thuốc được ủ 3-5 ngày tùy điều kiện khi thấy
cuộn thuốc vàng suộm thì tiến hành thái Khi chưa có
máy thái người dân thái thuốc bằng tay Sử dụng một
cái “cầu” bằng cây gỗ dốc 30%, đặt cuộn thuốc lên, kê hệ
thống con lăn để cuộn thuốc từ từ trôi xuống Người thợ
thái thuốc ngồi đầu cầu trên cái ghế con cầm con daochuyên dùng mảnh nhẹ nhưng rất sắc, thái nhẹ nhàng
và kỹ thuật Tuỳ theo số lượng cuộn thuốc nhiều hay
ít mà bố trí vài ba người thái sao cho đến khoảng 11h là phải xong để kịp phơi cơn nắng ban trưa cho sợithuốc đủ khô, tránh sợi thuốc bị xỉn màu vì không đủnắng Hiện nay, nhiều nơi đã sử dụng máy thái thuốckhiến giảm được công lao động và sợi thuốc nhờ đócũng nhỏ và đều hơn Tuy thuốc được thái bằng máynhưng người điều khiển máy vẫn đóng vai trò quantrọng, đôi bàn tay khéo léo của người thợ thái giúp chosợi thuốc đều, nhỏ và không bị đứt chỉ.[4]
10h-uốc thái xong dùng que phơi để rải đều sợi thuốc lênphên,nong,nia, đem ra sân và vườn để phơi tận dụngnắng Trường hợp gặp ngày mưa không thể phơi đượcthì phải đốt sấy bằng cách làm rạp kê phên thuốc lênrồi dùngrơm rạđốt ở dưới đến khi sợi thuốc khô mớithôi Có thể dùng kỹ thuậtủ menmột ngày sau thái kếthợp với hồ sợi sẽ cho chất lượng thuốc ngon hơn.Một bí quyết trong công đoạn phơi thuốc cũng thườngđược người dân Tiên Lãng áp dụng là phơi sương
uốc được phơi thông từ chiều đến 9-10 giờ tối làthời điểmsương muốixuống uốc được tưới sương
sẽ mềm, độ dầu dẻo cao và màu sắc đẹp hơn.[4]
uốc phải phơi đủ nắng khi nào sợi thuốc khô kiệt,chuyển màu nâu sẫm, nâu hạt cau hoặc vàng, có mùithơm là sẵn sàng được bao gói bảo quản và đưa vào sửdụng, tiêu thụ Tuy nhiên chỉ những sơ suất nhỏ nhưbao gói không kín, không kĩ, bị gió lùa, ẩm ướt cũng
có thể làm cho thuốcmốc, hỏng ời gian đóng góithường vào buổi chiều tối hoặc sáng, sau khi thuốc làođược ủ từ trưa (nếu đóng vào chiều tối) hoặc từ chiềuhôm trước (nếu đóng vào sáng hôm sau)[4] để thuốc
ỉu, lả, mềm, đỡ giòn.[9] Bảo quản thuốc tại các vùngnông thôn xưa có thể theo cách đóng vàochum, vạisành trên bịt lá chuối khô chống mốc và giữ mùi thơm.Nay thường được đóng gói bằng bao nilon, với sợi thuốcđóng gói được ép chặt, giảm tối đa lượng không khítrong các lớp thuốc.[9]
Trước khi đến tay người tiêu dùng, một số nhà sản xuấtcòn dùng các phương pháp hồ tẩm hương liệu để tạohương thơm, vị ngọt khi hút
1.3 Xây dựng thương hiệu
Cuối năm 2010, thuốc lào Tiên Lãng đã đượcCục Sởhữu trí tuệ-Bộ Khoa học và Công nghệ Việt NamcấpGiấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lýsố 00024[9]
cho sản phẩm thuốc lào Tiên Lãng Ủy ban nhân dânhuyện Tiên Lãng là cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý “TiênLãng”.[9] Khu vực địa lý trồng thuốc lào bao gồm xãVinh ang, xã ang Phục, xã Tiên Minh, xã ĐôngHưng, xã Đoàn Lập, xã Kiến iết, xã Cấp Tiến, xã Tiên
ắng, xã Toàn ắng.[9]Tại xã Kiến iết, năng suấttrồng thuốc lào có thể đạt 1,6 tấn/ha[4], hiệu quả kinh
Trang 74 CHƯƠNG 1 THUỐC LÀO HẢI PHÒNG
tế gấp 3-4 lần trồng lúa.[4]
uốc lào tại Vĩnh Bảo đang trong quá trình hoàn thiện
hồ sơ pháp lý để được cấp bằng bảo hộ.[10]
1.4 Tham khảo
[1] uốc lào tiến vuaSở Văn Hóa ể thao và Du lịch
-ành phố Hải Phòng
[2] Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh
trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng thuốc lào
trồng tại Hải PhòngBùi anh TùngHọc viện Nông
nghiệp Việt Nam2014
[3] Bảo vệ thương hiệu thuốc lào đất TiênCổng thông tin
điện tử thành phố Hải Phòng 09-12-2010 11:00
[4] Hải phòng rộn ràng mùa thuốc làoHân Minh Báo Nông
nghiệp Việt Nam 04/06/2015, 06:13 (GMT+7)
[5] Hải Phòng: thuốc lào Tiên Lãng có thể xuất khẩuĐăng
Hùng Báo Công an nhân dân 15:39 02/06/2011
[6] uốc lào Tiên LãngSở văn hóa, ể thao và Du lịch
Hải Phòng
[7] “Vui Tết cùng đặc sản quê hương” Báo Hải Phòng 16
tháng 2 năm 2015 Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016
[8] “Tìm hiểu về xứ thuốc lào Vĩnh Bảo-Hải Phòng nổi
tiếng” Khatvongvietnam2016 Truy cập ngày 4 tháng 11
năm 2016
[9] “BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “TIÊN LÃNG” CHO
THUỐC LÀO” Phòng Chỉ dẫn địa lý Ngày 22 tháng
12 năm 2010
[10] Hân Minh (ngày 20 tháng 1 năm 2015).“uốc lào Vĩnh
Bảo đăng ký chỉ dẫn địa lý” Báo An ninh Hải Phòng
1.5 Liên kết ngoài
• uốc làotạiTừ điển bách khoa Việt Nam
• Tiên LãngtạiTừ điển bách khoa Việt Nam
• Vĩnh BảotạiTừ điển bách khoa Việt Nam
• Huyện Tiên Lãng mở rộng diện tích trồng cây
thuốc lào UBND huyện Tiên Lãng 05/06/2014
-10:55
• Gian nan xây dựng thương hiệu cho làng nghề
truyền thống
• BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “VĨNH BẢO” CHO
SẢN PHẨM THUỐC LÀOCục Sở hữu trí tuệ
1.6 Xem thêm
• uốc lào
• Hải Phòng
Trang 8Chương 2
Cacao
Theobroma cacao
Cacao (danh pháp hai phần: eobroma cacao),
theo truyền thống được phân loại thuộc họ Trôm
(Sterculiaceae), còn theo phân loại củahệ thống APG
IIthì thuộc phân họ Bynerioideaecủa họ Cẩm quỳ
(Malvaceae) nghĩa rộng.
Cacao có nguồn gốc hoang dại trong các khu rừng nhiệt
đới Trung và Namchâu Mỹ
2.1 Mô tả
Là câythường xanhtầng trung, cao 4–8 m (15–26 ),
Ưa bóng rợp, có khả năng chịu bóng tốt nên thường
được trồng xen dưới tán cây khác như trong các vườn
dừa, cao su, vườn rừng… có sẵn để tăng hiệu quả sử
dụng đất
Ca cao cho hạt làm nguyên liệu sử dụng cho ngành
công nghiệp thực phẩm cụ thể là các sản phẩm cao cấp
như Sô cô la, Ca cao… nên cho giá trị kinh tế rất cao
Các loài ca cao được trồng rộng rãi trên thế giới là Crillo
và Forastero nhưng thường gặp nhất là Trinitario là loài
được lai tạo từ 2 loài trên
Giá ca cao thế giới trong những năm gần đây được đánh
giá là tương đối ổn định, dao động từ 1.300- 1.500 USD
/ tấn
2.2 Lịch sử trồng cây ca cao
Nguồn gốc của cây cacao là từ Trung Mĩ và Mexico,được những người Aztec và Maya bản xứ khám phá.Nhưng ngày nay hầu hết những nước nhiệt đới có thểtrồng cây này
2.3 Điều kiện sống
Cây thích hợp với những vùng có nhiệt độ trung bình25-28 độ, độ ẩm trung bình 85%, lượng mưa hàng năm1.500-2.000mm
Cây có ưu điểm 1 năm thu 2 vụ, nhu cầu nước khônglớn, ít phải tưới; không kén đất nhưng cũng không chịuđược các vùng quá khô hạn như đất cát hoàn toàn
2.4 Lợi ích
Hạt ca cao sử dụng làm nguyên liệu chế biến ra các sảnphẩm cao cấp như Sô cô la Ca cao còn là đồ uống thôngdụng vì có chất kích thích nhưng lượng caphein thấphơn cà phê rất nhiều
Vỏ trái sau khi lấy hạt có thể phơi khô xay làm thức ăncho gia súc
Cây không cạnh tranh về đất nhiều vì có thể trồng xentrong các vườn cây có sẵn giúp tăng hiệu quả sử dụngđất
2.5 Cây ca cao ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ca cao được du nhập vào rất sớm, theochân các nhà truyền giáo phương Tây Hiện tại, câyđược trồng rộng rãi ở nhiều nơi, vùngTây Nguyênvẫnđược đánh giá là có điều kiện lý tưởng nhất cho pháttriển cây ca cao Ở đây, theo nghiên cứu thống kê thìcây ra hoa cho quả quanh năm, sản lượng bình quânđạt 3 kg hạt khô / 1 cây 5 năm tuổi
Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam, cây ca cao chưa pháttriển rộng rãi do thu hoạch không tập trung, kỹ thuật5
Trang 96 CHƯƠNG 2 CACAO
xử lý sau thu hoạch cũng phức tạp, phải ủ lên men…
nên người dân ngại trồng
Trang 10Chương 3
Cà phê
Cà phê (gốc từ café trongtiếng Pháp) là một loạithức
uống được ủ từ hạt cà phêrang, lấy từquả của cây
cà phê Các giống cây cà phê được bắt nguồn từ vùng
nhiệt đới châu Phi và các vùngMadagascar,Comoros,
MauritiusvàRéuniontrên Ấn Độ Dương.[2]Giống cây
này được xuất khẩu từ châu Phi tới các nước trên thế
giới và hiện nay đã được trồng tại tổng cộnghơn 70
quốc gia, chủ yếu là các khu vực nằm gần đường xích
đạo thuộcchâu Mỹ,Đông Nam Á,Ấn Độvà châu Phi
Hai giống cà phê được trồng phổ biến nhất làcà phê
chè (arabica), vàcà phê vối (robusta) Sau khi chín, quả
cà phê sẽ được hái, chế biến và phơi khô Hạt cà phê
khô sẽ được rang trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác
nhau, tùy thuộc vào nhu cầu thị hiếu Hạt cà phê sau
khi rang sẽ được đem đi xay và ủ với nước sôi để tạo ra
cà phê dưới dạng thức uống
Cà phê có ít tính axit và có thể gây kích thích đối
với người sử dụng do có chứa hàm lượngcaffeine Cà
phê ngày nay là một trong những thức uống phổ biến
trên thế giới.[3] ức uống này có thể được chuẩn bị
và phục vụ theo nhiều dạng uống khác nhau (ví dụ
nhưespresso,cà phê bình,lae,…) Cà phê thường được
thưởng thức nóng, dùcà phê đácũng được nhiều người
ưa dùng Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy lượng cà
phê tiêu thụ trung bình là vừa đủ hoặc có lợi đối với
một người lớn khỏe mạnh Nhiều nhà nghiên cứu cũng
đặt câu hỏi về việc sử dụng cà phê lâu dài có thể hạn
chế chứngsuy giảm trí nhớvề già hoặc giảm thiểu khả
năng mắc các bệnhung thư.[4][5]
Bằng chứng sớm và đáng tin cậy nhất về việc sử dụng
cà phê được phát hiện vào thế kỷ 15 tại các lăng mộ
Sufi giáoởYemen.[6]Cũng tạibán đảo Ả Rập, các hạt
cà phê đầu tiên được rang và ủ theo cách tương tự như
phương pháp chúng ta vẫn làm ngày nay Hạt cà phê
ban đầu được xuất khẩu từ Đông Phi tới Yemen, do cây
cà phê arabica lúc đó được cho là có nguồn gốc từ người
bản địa.[7]Các thương nhân Yemen đã đem cà phê về
quê nhà và bắt đầu trồng các hạt giống Tới thế kỷ 16,
cà phê đã được đem tớiPersia,ổ Nhĩ KỳvàBắc Phi
Từ đây, cà phê được lan rộng khắp châu Âu và phần
còn lại của thế giới
Cà phê là một mặt hàng xuất khẩu lớn: đứng đầu trong
số các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp tại nhiều quốc
gia và là một trong những mặt hàng xuất khẩu nông
nghiệp hợp pháp lớn nhất trên thế giới.[3][8]Đây cũng
là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu nhất của các quốcgia đang phát triển Cà phê xanh (không rang) cũng làmột trong những mặt hàng nông nghiệp được buôn bánnhiều nhất trên thế giới.[9]Nhiều tranh luận đã xảy raxung quanh việc trồng cà phê, cách các quốc gia pháttriển trao đổi cà phê với các nước đang phát triển và tácđộng của việc trồng cà phê đối với môi trường sống, đikèm với vấn đề tạo đất trống để trồng và phê và sử dụngnước tưới Cũng nhờ vậy, thị trường cà phê thương mạicông bằng và cà phê hữu cơ ngày càng được mở rộng
3.1 Từ nguyên
Hạt cà phê
Từ đầu tiên nói về cà phê trong tiếng Anh là chaona,
được hiểu như một từ viết lỗi của chaoua, sử dụng
từ năm 1598, và chaova uật ngữ này cũng như từ
“coffee” đều có gốc từ từ kahvetrong tiếng ổ Nhĩ
Kỳ Ooman, và từ caffè trongtiếng Ý.[10]
Tuy nhiên, từ qahwah trongtiếng Ả Rậpcó thể là từ ngữkhởi nguồn.[11]Từ này ban đầu vốn được sử dụng để gọitên một loạirượuvới từ nguyên được các nhà từ điểnhọcngười Ả Rậptạo ra từ động từ qahiya ( ), nghĩa
là “chống đói”, theo tác dụng của loại đồ uống nàytrong việc giảm ham muốn thèm ăn Nhiều nguồn kháclại cho rằng thuật ngữ này được đặt theo tiếng Proto-Central Semitic q-h-h, có nghĩa là "đen”.[12] Ngoài ra,khát, một loại cây được sử dụng làm chất kích thích tại7
Trang 118 CHƯƠNG 3 CÀ PHÊ
YemenvàEthiopiatrước khi bị thay thế bởi cà phê cũng
có thể được coi như một nguồn gốc, hoặc là từ tiếng Ả
Rập quwwah' (nghĩa là “sức mạnh”).[13] Cách gọi này
cũng có thể tới từVương quốc Kaffatại vùng Đông Nam
Ethiopia, nơi cây cà phê arabica mọc hoang, tuy nhiên
cách hiểu này ít được chấp nhận hơn;[12] trong tiếng
Kaffa địa phương, cây cà phê được gọi là “bunno”.[14]
Từ “cà phê" trongtiếng Việtcó gốc từ chữ café củatiếng
Pháp uật ngữ “coffee pot” (“máy cà phê") được sử
dụng từ năm 1705.[10] Định nghĩa “coffee break” (“giờ
nghỉ để uống cà phê") được sử dụng lần đầu tiên vào
năm 1952.[10]
3.2 Lịch sử
3.2.1 Truyền thuyết
eo một truyền thuyết đã được ghi lại trên giấy vào
năm1671, nhữngngười chăn dêởKaffa(thuộcEthiopia
ngày nay) phát hiện ra một số condêtrong đàn sau khi
ăn một cành cây có hoa trắng và quả màu đỏ đã chạy
nhảy không mệt mỏi cho đến tận đêm khuya Họ bèn
đem chuyện này kể với các thầy tu tại một tu viện gần
đó Khi một người chăn dê trong số đó ăn thử loại quả
màu đỏ đó anh ta đã xác nhận công hiệu của nó Sau
đó các thầy tu đã đi xem xét lại khu vực ăn cỏ của bầy
dê và phát hiện ra một loại cây có lá xanh thẫm và quả
giống như quảanh đào Họ uống nước ép ra từ loại quả
đó và tỉnh táo cầu nguyện chuyện trò cho đến tận đêm
khuya Như vậy có thể coi rằng nhờ chính đàn dê này
con người đã biết được cây cà phê
3.2.2 Khởi nguồn lịch sử
Một quán cà phê cổ ở Palestine
Người ta tin rằng tỉnh Kaffa của Ethiopia chính là vùngđất khởi nguyên của cây cà phê Từthế kỉ thứ 9người ta
đã nói đến loại cây này ở đây Vàothế kỉ thứ 14nhữngngười buôn nô lệđã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng
Ả Rập Nhưng tới tận giữathế kỉ thứ 15người ta mớibiết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống.Vùng Ả Rập chính là nơi trồng cà phê độc quyền Trungtâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay cònđược gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộcYemenngày nay
Cách thức pha chế cà phê truyền thống của ngườiEthiopia có lẽ là cách thức cổ xưa nhất Hạt cà phê đượccho vào một cái chảo sắt to và rang lên, sau đó đượcnghiền vụn ra hoặc cho vào cối giã Chỗ hạt giã vụn đó
được trộn với đường trong một cái bình gọi là jebena
(một loại bình cổ thon có quai), nấu lên và đổ ra bát
3.2.3 Du nhập châu Âu
Với sự bành trướng củaĐế quốc Ooman(Đế quốcổNhĩ Kỳ) đồ uống này càng ngày càng được ưa chuộnghơn án cà phê đầu tiên được mở ởBa Tư Trongnhững quán nhỏ ở vùng tiểu Á,SyriavàAi Cậpngười
ta gặp nhau để thưởng thức loại đồ uống kì lạ Kể từnăm1532các quán cà phê luôn đông nghịt khách Vàothế kỉ 17cây cà phê được trồng phổ biến tại các thuộcđịa củaHà Lan, đưa nước này thống trị ngành thươngmại cà phê
Ở Constantinopolis (Istanbulngày nay) có lẽ cà phêđược biết đến lần đầu tiên vào năm1517(khi ông hoàngSelim Ichiếm lĩnh Ai Cập) Năm1554quán cà phê đầutiên ởchâu Âuđã được mở ở đây bất chấp sự phản đốicủa nhà thờ Vào năm1645quán cà phê đầu tiên củaÝđược mở ởVenezia Năm1650ởOxfordvà năm1652ởLondonlần lượt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên củaVương quốc Anh ỞPhápnhững quán đầu tiên đượckhai trương vào năm1659ở thành phố cảngMarseille,Paristheo sau vào năm1672 Vào năm1683 Wiencũng
có quán cà phê đầu tiên (do mộtngười Ba Lanthànhlập), sau khiÁogiành thắng lợi trướcổ Nhĩ Kỳ vàtịch thu được 500 bao cà phê chiến lợi phẩm ủ đôWien sau đó trở thành thành phố với những quán càphê nổi tiếng nhất Từ nước Pháp, cà phê du nhập vàoĐứcqua thành phố cảngBremenvào năm1673 Năm
1679quán cà phê đầu tiên của Đức được một người Anh
mở ởHamburg, sau đó làRegensburg(1686) vàLeipzig(1694)
3.3 Sinh vật học
Cây Coffea có nguồn gốc từ châu Phi cận nhiệt đới và
phía Nam châu Á Nó thuộc về giống 10 loại của nhữngcây hoa của họRubiaceae Nó là 1 cây bụi luôn xanhhoặc cây nhỏ có thể cao lên tới 5 m (16 ) khi chưađược tỉa bớt Lá của nó màu xanh đậm và bóng loáng,
Trang 123.4 PHÂN LOẠI 9
thường dài 10–15 cm (3.9-5.9 in) và rộng 6.0 cm (2.4 in)
Nó phát ra những bó thơm ngát, trong khi những bông
hoa trắng nở ra cùng một lúc
Trái của cây hình oval, dài khoảng 1.5 cm (0.6 in), và
có màu xanh lá khi chưa chín muồi, nhưng chín dần
thành màu vàng, sau đó đỏ thắm và trở thành đen lại
Mỗi trái thường có 2 hạt nhưng đến 5-10% trái chỉ có 1;
nó được gọi là peaberry Trái nở từ 7-9 tháng
3.3.1 Lịch sử
Loại cây này đầu tiên chỉ được trồng ởchâu PhivàẢ
Rập, nhưng sau được đem phân bố ở nhiều nơi khác
trên thế giới với điều kiện hợp phong thổ
Người Hà Lanđem phổ biến việc canh tác cà phê đến
các xứ thuộc địa của họ ống đốc Van Hoorn cho
trồng cà phê trên đảoTích Lan(Sri Lankangày nay)
vào năm1690(có tài liệu ghi là năm 1658), rồi sau du
nhập sang đảoJava(Indonesia) năm1696(hoặc 1699)
Năm1710thương gia Âu châu đem cây cà phê về và
trồng thử trong các khu vườn sinh vật ở Âu châu
Amsterdamlà nơi đầu tiên cây cà phê nảy mầm trên
lục địa châu Âu
Năm1718người Hà Lan mang cây cà phê tớiSurinam,
rồi năm 1725 thì người Pháp mang đem trồng ở
Cayenne,1720/1723vàMartinique v.v Sang cuốithế
kỷ 18cây cà phê đã được trồng ở khắp các xứ sở nhiệt
đới, chủ yếu do sự bành trướng thuộc địa của các đế
quốc Âu châu
Việt Nam
Đồn điềncà phê đầu tiên được lập ở Việt Nam là do
người Phápkhởi sự ở gầnKẻ Sở,Bắc Kỳvào năm1888
Giống cà phê arabica (tứccà phê chè) được trồng ở ven
sông Sau việc canh tác cà phê lan xuống vùngPhủ Lý,
Ninh Bình,anh Hóa,Nghệ An,Kon TumvàDi Linh
Năm 1937-1938 tổng cộng trên lãnh thổ Việt Nam có
13.000hacà phê, cung ứng 1.500 tấn.[15] Hiện tại,Việt
Nam có ba loại cà phê chính, đó làcà phê chè(arabica),
cà phê vối(robusta),cà phê mít(lyberica)
3.3.2 Sản xuất
Năm 2009,Brasillà nước sản xuất cà phê lớn nhất thế
giới, tiếp đó làViệt Nam,IndonesiavàColombia Vào
thời điểm năm 2016 sản lượng cà phê Việt Nam chiếm
16% tổng sản lượng thế giới, và Việt Nam tiếp tục giữ
địa vị thứ nhì sau Brasil.[19] Phần lớn cà phê Arabica
được trồng ởchâu Mỹ La tinh,Đông Phi,bán đảo Ả Rập
hay châu Á Trong khi đó cà phê Robusta được trồng
nhiều hơn ở Tây vàTrung Phi,Đông Nam Ávà Brasil
Hạt cà phê từ các quốc gia và khu vực khác nhau cóthể phân biệt được bằng sự khác biệt trong hương vị,mùi thơm, tính axit Sự khác biệt về vị không chỉ phụthuộc vào khu vực trồng cà phê mà còn phụ thuộc vàocác giống cà phê và cách chế biến Có vài loại cà phênổi tiếng với khu vực gieo trồng nhưcà phê Colombia,
cà phê Javavàcà phê Kona
3.4 Phân loại
Hạt cà phê
Cà phê chia ra nhiều loại tùy theo cách rang Rang càphê là để cho bớt độ ẩm trong hạt, dầu thơm tỏa ra.Chừng một thế kỷ trước, cà phê phải rang tại nhà bằng
lò than Hiện nay người ta rang bằng gas hay bằng điệnnhưng có nơi vẫn rang bằng than, cho rằng rang bằngthan ngon hơn
Trong kỹ nghệ, cà phê được rang với số lượng lớn dùngnhiệt độ cao trong một thời gian nhanh (khoảng 204đến 260 ℃ trong vòng 5 phút) rồi làm nguội bằng quạthơi hay rảy nước cho khỏi cháy khét Gần đây nhất, càphê được kiểm soát bằng máy tính qua mọi tiến trình
Cà phê nay được bán trong các tiệm bách hóa thườngrang và xay ngay tại chỗ cho thêm phần quyến rũ vàbảo đảm với khách hàng là sản phẩm còn tươi nguyênmới ra lò
Người ta có thể rang sơ sài còn được gọi dưới cái tênCinnamon roast (thời gian khoảng 7 phút), rang vừa(medium roast) còn gọi là full city hay brown (thời gian
từ 9 đến 11 phút) hay rang kỹ (full roast) tức là rang kiểuPháp thời gian từ 12 đến 13 phút Những cách rang kỹnhất đến cháy xém khiến cho hạt cà phê bóng nhẫy làkiểu rang của người Ý Ðại Lợi (espresso) thì phải từ 14phút trở lên cho đến khi bắt đầu cháy thành than
Cà phê cũng phân biệt theo cách xay, xay mịn hay tohạt tùy theo cách pha Trong khoảng một trăm nămtrở lại đây, người ta đã chế biến ra loại cà phê bột, chỉcần bỏ vào nước sôi là uống được Cà phê bột được điềuchế theo hai cách: làm khô bằng cách đông lạnh (freezedrying) hay làm khô bằng cách phun (spray drying) Cả