Qua nghiên cứu cho thấy, ở Hải Phòng bệnh Streptococcosis trên cá rô phi nuôi thường bùng phát vào mùa hè hoặc hè thu khi nhiệt độ nước ≥ 30o C. Bệnh này thường xảy ra ở giai đoạn cá có kích thước từ 100 – 300g/con, với tỷ lệ cá chết từ 10 đến hơn 60%. Chủng vi khuẩn S. agalactiae có độ mẫn cảm cao với kháng sinh Doxycyline và Erythromycin.
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TÌNH HÌNH BỆNH STREPTOCOCCOSIS TRÊN CÁ RƠ PHI NUƠI
TẠI HẢI PHỊNG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TRONG ĐIỀU KIỆN PHỊNG THÍ NGHIỆM
STREPTOCOCCOSIS IN CULTURED TILAPIA IN HAI PHONG
AND TREAMENT EXPERIMENT
Nguyễn Thị Thúy Hằng 1 , Đỗ Thị Hồ 2
Ngày nhận bài: 04/5/2015; Ngày phản bi ện thơng qua: 08/7/2015; Ngày duyệt đăng: 15/12/2015
TĨM TẮT
Streptococcosis là một bệnh thường gặp trong hệ thống nuơi cá thâm canh và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuơi Trong những năm gần đây, nuơi cá rơ phi nuơi thâm canh ở Hải Phịng thường xuất hiện bệnh Streptococcosis do vi khuẩn Streptococcus agalactiae gây ra Qua nghiên cứu cho thấy, ở Hải Phịng bệnh Streptococcosis trên cá rơ phi nuơi thường bùng phát vào mùa hè hoặc hè thu khi nhiệt độ nước ≥ 30 o C Bệnh này thường xảy ra ở giai đoạn cá cĩ kích thước từ 100 – 300g/con, với tỷ lệ cá chết từ 10 đến hơn 60% Chủng
vi khuẩn S agalactiae cĩ độ mẫn cảm cao với kháng sinh Doxycyline và Erythromycin Kết quả điều trị bệnh Streptococcosis do vi khuẩn S agalactiae gây ra trên cá rơ phi nuơi với kích cỡ 100 – 150g/con bằng kháng sinh Doxycyline với liều lượng 0,25g, 0,5g, và 1g/kg cá/ ngày liên tục trong 7 ở các nghiệm thức NT1, NT2 và NT4 (tương ứng với mật độ cảm nhiễm vi khuẩn 10 2 , 10 3 và 10 5 tế bào/ml) cho thấy tỷ lệ chết của cá thấp (20,
30 và 40%)) trong khi đĩ ở nghiệm thức đối chứng dương (NT3=10 4 tế bào vi khuẩn/ml) tỷ lệ này là 90% Vậy, kháng sinh Doxycyline cĩ hiệu quả cao trong điều trị bệnh Streptococcosis do vi khuẩn S agalactiae gây ra trên cá rơ phi nuơi
Từ khĩa: Streptococcosis, cá rơ phi, Hải Phịng, Streptococcus agalactiae
ABSTRACT
Streptococcosis is common fi sh disease in intensive aquaculture systems and causing high economic losses Recently, Streptococcosis caused by Streptococcus agalactiae have occurred in intensive tilapia farming
in Hai Phong The result of this research showed that Streptococcosis in tilapia farmed in Hai Phong, usually have occured in summer or summer-autumn with water temperature around ≥ 30 o C This disease caused mortality rates from 10 to over 60% in cultured tilapia at size of 100 – 300g/fi sh S agalactiae strain has highly sensitized with Doxycyline and Erythromycin For treating Streptococcosis, the experiment of using Doxycyline with dose of 0,25g, 0,5g and 1g/kg fi sh/day during 7 days for S agalactiae infected tilapia at size
of 100 – 150g/fi sh was conducted in NT1, NT2, and NT4 treatment with bacterial concentration at 10 2 , 10 3
and 10 5 cell/ml, respectively The experimental results indicated that low mortality rate (20, 30, and 40%) in
3 treatment sections (NT1, NT2, and NT4), respectivily while the fi sh death rate in positive control treatment (NT3 with bacterial concentration of 10 4 cell/ml) was 90% Thus, Doxycyline could be effective on treatment against Streptococcosis caused by by S agalactiae in cultured tilapia
Keywords: streptococcosis, tilapia, Hai Phong, streptococcus agalactiae
1 Nguyễn Thị Thúy Hằng: Cao học Nuơi trồng thủy sản năm 2012 – Trường Đại học Nha Trang
2 PGS.TS Đỗ Thị Hồ: Trường Đại học Nha Trang
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá rô phi là đối tượng được nuôi phổ biến
ở nhiều quốc gia với các hình thức nuôi khác
nhau Trong đó hình thức nuôi thâm canh với
mật độ cao, sản lượng lớn là phổ biến nhất
nhưng lại có nguy cơ cao gây bùng phát
dịch bệnh do chất lượng nước suy giảm
Shoemaker (2008) thông báo rằng, cá rô phi
nuôi thường bị nhiễm một số tác nhân gây
bệnh như vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng Trong
số các loài vi khuẩn đã được xác nhận từng
gây bệnh trên cá rô phi có Streptococcus
agalactiae và S iniae (Klesius &ctv, 2000)
Theo thông báo của Perera (1994) rằng,
trong thực tế có nhiều tác nhân có thể gây
chết cá rô phi nuôi, trong đó liên cầu khuẩn
Streptococcus spp là tác nhân thường gặp, đặc
biệt hay xuất hiện trong các trang trại nuôi cá
rô phi thâm canh với mật độ cao nhưng quản
lý kém Liên cầu khuẩn gram (+) Streptococcus
spp được xác định là tác nhân gây cảm nhiễm
hệ thống và gây viêm não ở cá rô phi và cá hồi
nuôi tại Isreal vào năm 1986 Sau đó bệnh này
nhanh chóng lan rộng ra các quốc gia khác và
gây tổn thất lớn về kinh tế cho nghề nuôi cá
rô phi ở các nước này (Buller, 2004) Kết quả
từ các nghiên cứu đầu tiên về bệnh viêm não
ở các rô phi đã xác định tác nhân gây ra bệnh
này là loài cầu khuẩn Streptococcus agalactiae
và S iniae (Evans & Shoemmaker, 2006) Hai
loài vi khuẩn này đã gây ra bệnh trên cá rô phi
nuôi tại các quốc gia khác nhau như Malaysia,
Thái Lan và Indonesia (L.G Pretto-Giordano &
ctv, 2010; Yuasa, 2005; Plumb, 1999)
Việt Nam là một quốc gia có nghề nuôi
cá rô phi khá phát triển, sản lượng nuôi trong
năm 2005 đã đạt 54.486 tấn, chiếm 0.08%
sản lượng cá nuôi và dự kiến năm 2015 sẽ
là 200.000 tấn để phục vụ cho xuất khẩu và
tiêu thụ nội địa tại Việt Nam (Phạm Anh Tuấn,
2006) Tuy nhiên, năm 2009-2010, đã xảy ra
dịch bệnh gây chết hàng loạt cá rô phi nuôi
thương phẩm (tới 90-100% cá trong ao), tại
một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như Hà Nội, Hải
Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh và
Hà Giang Đây được coi là đợt dịch lớn nhất
từ trước đến nay đối với nghề nuôi cá rô phi
ở nước ta và nghiên cứu bước đầu đã xác
định được đây là bệnh Streptococcosis do liên cầu khuẩn Gram (+) Streptococcus spp gây ra
(Nguyễn Viết Khuê & ctv, 2009) Ngoài ra, tác giả Đồng Thanh Hà và ctv (2010) đã nghiên cứu sâu hơn về bệnh này và đã xác định được
liên cầu khuẩn Streptococcus agalactiae là tác nhân gây ra bệnh Streptococcosis trên cá
rô phi nuôi Tác giả Đặng Hoàng Oanh và ctv
(2012) cũng đã phân lập được Streptococcus
agalactiae từ những mẫu cá điêu hồng (Oreochromis sp) bị bệnh đục, lồi mắt, xuất
huyết thu từ những bè nuôi cá thâm canh ở Tiền Giang Năm 2013, Phạm Hồng Quân và ctv đã công bố về bệnh xuất huyết của cá rô phi tại
4 tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh với kết quả đã phân lập được 5 loài vi
khuẩn trong đó loài Streptococcus agalactiae
có tần xuất bắt gặp cao nhất 86% (52/60) mẫu
cá nghiên cứu Qua các nghiên cứu trên đã cho
thấy được bệnh Streptococosis trên cá rô phi
nuôi là một bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế của nhiều hộ nuôi, vì vậy việc nghiên cứu sâu về bệnh này và đề ra giải pháp điều trị bệnh hiệu quả là một vấn đề cấp thiết
để làm giảm thiểu tác hại của bệnh trên cá rô phi nuôi
II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp điều tra tình hình bệnh Sreptococcosis
trên cá rô phi nuôi tại Hải Phòng
Thu thập các thông tin về vùng nuôi, diện tích và sản lượng nuôi cá rô phi tại địa phương, mùa vụ và tình hình bệnh ở cá rô phi nuôi tại Hải Phòng thông qua các báo cáo tổng kết của các cơ quan quản lý địa phương như trung tâm khuyến ngư, chi cục thú y, phòng Nông nghiệp các huyện Căn cứ vào các thông tin trên, chọn ngẫu nhiên 50 hộ nuôi tại 3 huyện thuộc thành phố Hải Phòng để phỏng vấn điều tra, bao gồm: Kiến Thụy (20 phiếu điều tra/48 hộ nuôi cá), Thủy Nguyên (15/29), Vĩnh Bảo (15/29)
Trang 32 Phân lập vi khuẩn S agalactiae từ cá rô phi
Cá rô phi bị bệnh có các dấu hiệu đặc trưng
như bơi lội lờ đờ, mất phương hướng, trướng
bụng, mắt lồi, xuất huyết được thu thập từ các
ao nuôi tại 3 huyện Kiến Thụy, Thủy Nguyên,
Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Các cơ quan
như mắt, não, gan, thận, lách giải phẫu từ cá bị
bệnh được dùng để phân lập vi khuẩn trên môi
trường BHIA (Brain Heart Infusion Agar,Merck,
Đức) và định danh bằng kit API 20Strep tại
phòng thí nghiệm của trung tâm thú y vùng II, Hải
Phòng Sau đó, chủng vi khuẩn S agalactiae
được lưu giữ trong môi trường TSB
(Tryptic Soy Broth) bổ sung 20% Glycerol ở nhiệt
độ -80oC
3 Chuẩn bị chủng vi khuẩn cho các thí nghiệm
Sau khi lấy ra khỏi tủ đông sâu, chủng vi
khuẩn được để ở nhiệt độ phòng trong thời
gian 1h, sau đó cấy lên môi trường BHIA (Brain
Heart Infusion Agar), (Merck, Đức), ủ ở nhiệt
độ 30oC, 24 – 48h Sau đó các khuẩn lạc được
thu và khuấy đều trong tube chứa nước muối
sinh lý tiệt trùng (0,85%) tạo nên dịch huyền
phù được đo bằng máy McFland, điều chỉnh
đạt mức OD là 0,56 tương ứng với mật độ vi
khuẩn là 108 tế bào/ml
- Thí nghiệm 1: kiểm tra khả năng gây bệnh
của chủng vi khuẩn S agalactiae trên cá rô phi:
Những cá thể cá khỏe mạnh, có khối lượng từ
100 – 150g/con được vận chuyển về phòng
thí nghiệm bằng phương pháp vận chuyển
kín, thuần dưỡng trong 5 – 7 ngày trước khi
phân chia ngẫu nhiên vào 5 bể có thể tích 200
lít, chứa 150 lít nước sạch, thả 10 con cá/bể,
thí nghiệm được lặp lại 2 lần Các nghiệm
thức NT1, NT2, NT3, NT4 cá được tiêm vào
gốc vây bụng với thể tích 0,1ml dịch vi khuẩn
S agalactiae với mật độ 102, 103, 104 và 105
tế bào/ml Nghiệm thức 5 (NT5) được coi là
nghiệm thức đối chứng, cá được tiêm 0,1 ml
nước muối sinh lý Các dấu hiệu bất thường và
số lượng cá chết được quan sát và ghi nhận
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 29/7/2014 – 08/8/2014
- Thí nghiệm 2: kiểm tra độ mẫn cảm với
kháng sinh của chủng vi khuẩn S agalactiae:
kiểm tra bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch (Kirby Bauer) và độ nhạy của kháng sinh được đánh giá dựa vào độ lớn của đường kính vòng vô khuẩn so với bảng quy định về
độ nhạy chuẩn của Hội đồng quốc gia Hoa
Kỳ (National committee of clinical laboratory standards – NCCLS, 1999) Dịch huyền phù
vi khuẩn S agalactiae với mật độ 108 tế bào/
ml được cấy trang trên môi trường thạch BHIA dùng để thử độ nhạy của vi khuẩn với
8 loại kháng sinh (Trimethoprim, Gentamicin, Neomicin, Erythromycin, Clindamycin, Nofl oxacin, Ciprofl oxacine, Doxycyline) trong vòng 24h và 48h
- Thí nghiệm 3: điều trị bệnh cho cá rô phi trong điều kiện thí nghiệm: Bố trí thí nghiệm giống thí nghiệm 2 nhưng khi cá trong các nghiệm thức bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu bệnh là tiến hành dùng thuốc để trị bệnh cho
cá Loại kháng sinh dùng trong thí nghiệm trị bệnh là kháng sinh có độ nhạy cao trong thí nghiệm kiểm tra độ nhạy kháng sinh, đó là Doxycyline (Công ty Hanvet), với liều lượng 0,25g, 0,5g và 1,0 g/kg cá/ ngày bằng phương pháp trộn vào thức ăn Cho cá ở các nghiệm thức NT1, NT2, NT4 ăn thức ăn có trộn kháng sinh 2 lần/ ngày vào lúc 8:00-9:0 giờ và 15:00-16:00 giờ Riêng cá ở nghiệm thức NT3 (được xem là nghiệm thức đối chứng dương) và nghiệm thức NT5 (Tiêm nước muối sinh lý được xem là nghiệm thức đối chứng âm) cho
ăn thức ăn bình thường không trộn kháng sinh Ghi nhân các dấu hiệu bệnh và số lượng cá chết hàng ngày để xác định tỷ lệ sống ở các nghiệm thức và qua đó đánh giá hiệu quả điều trị bệnh của kháng sinh ở các liều lượng khác nhau Thí nghiệm bắt đầu từ ngày 13/8/2014
và kéo dài 10 ngày sau đó
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Tình hình bệnh S agalactia trên cá rô
phi nuôi tại Hải Phòng trong giai đoạn
2011 - 2013
Từ các số liệu đã được theo dõi, ghi chép
và tổng hợp của phòng khuyến nông các huyện
Kiến Thụy, Thủy Nguyên và Vĩnh Bảo, các thiệt
hại do bệnh streptococcosis ở cá rô phi nuôi
tại 3 huyện nuôi cá nước ngọt chủ yếu của Hải
Phòng được thể hiện tại bảng 1 Kết quả thể
hiện rằng, bệnh Streptococosis vẫn thường
xuyên xảy ra trong các ao nuôi cá rô phi tại
Hải Phòng trong vài năm gần đây, với tần suất
từ 10,0 đến 33,3% , đã gây thất thu hàng chục tấn cá mỗi năm cho các huyện ở địa phương Đặc biệt, số liệu ở bảng 1 cũng chỉ ra rằng, tần
suất xuất hiện của bệnh streptococcosis năm
sau có xu hướng tăng cao hơn so với năm trước, nếu năm 2011 có 10,0% hộ nuôi ở Vĩnh Bảo, 18,3% ở Thủy Nguyên và 20,5% ở Kiến Thụy gặp bệnh này thì đến năm 2013, tần suất xuất hiện bệnh ở các huyện này lần lượt là: 24,1%, 25% và 33% Số liệu mà các cơ quan quản lý ghi nhận được đều thể hiện bệnh này thường xuất hiện vào mùa hè hoặc hè thu khi nhiệt độ nước cao
Bảng 1 Thông tin về bệnh Streptococcosis ở cá rô phi nuôi tại Hải Phòng
Huyện Mùa bệnh Số hộ nuôi cá rô phi % hộ nuôi cá gặp bệnh Thiệt hại ước tính (tấn)
Huyện Kiến Thụy
Huyện Thủy Nguyên
Huyện Vĩnh Bảo
Nguồn: Phòng Nông nghiệp các huyện Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo
Kết quả điều tra bệnh Streptococcosis xảy
ra trong 5 năm gần đây (2009-2013) tại 50
hộ nuôi đơn canh cá rô phi ở 3 huyện Kiến
Thụy, Thủy Nguyên và Vĩnh Bảo thuộc tỉnh
Hải Phòng cho thấy bệnh Streptococcosis khá
phổ biến tại vùng nuôi cá rô phi ở địa phương
Khoảng 82% số hộ được phỏng vấn trả lời
rằng đã có ít nhất 1 lần bệnh này xảy ra trong
ao cá rô phi nuôi của họ trong 5 năm gần đây
Kết quả điều tra về mùa vụ xuất hiện bệnh, cỡ
cá thường bị bệnh và tác hại lên cá nuôi được
thể hiện trong bảng 2 Kết quả trong bảng
2 thể hiện bệnh streptococcosis bùng phát
chủ yếu vào mùa hè, khi nhiệt độ nước cao
(chiếm 92,68%), bệnh cũng xảy ra ở một số
hộ nuôi vào mùa thu (24,39%) nhưng hoàn toàn không xuất hiện vào mùa có nhiệt độ thấp trong năm (mùa xuân và đông) Kết quả này cũng phù hợp với số liệu tổng hợp của các cán
bộ quản lý địa phương (bảng 1) và công bố của
Đồng Thanh Hà và ctv (2010), rằng vi khuẩn S
agalactiae gây bệnh ở cá rô phi có thể phát
triển tốt ở cả nhiệt độ 37oC Thông tin điều tra,
cũng thể hiện bệnh streptococcosis thường
xảy ra ở cỡ cá từ 100 - 300g, cá nhỏ < 100g
và > 300g ít chịu tác hại của bệnh Kết quả này mâu thuẫn với của kết quả của Intervet (2006),
theo Intervet bệnh streptococcosis thường
Trang 5gây bệnh trên cá rô phi có khối lượng từ 100g –
1kg Bệnh streptococcosis gây chết rải rác
tới hàng loạt cá rô phi nuôi tại Hải Phòng, kết
quả trong bảng 2 cho thấy có 9,75% hộ nuôi
cho biết bệnh này chỉ gây chết rải rác và tỷ lệ
chết tích lũy chỉ <10%, trong khi đó có 14,63%
hộ nuôi cho biết bệnh streptococcosis có thể
gây chết cá rô phi nuôi khá cao >40 – 60%
Một số chủ hộ nuôi khác (7,63%) lại cho biết bệnh này có thể gây chết cao ở cá rô phi, tỷ lệ chết có thể > 60% Tuy nhiên, đa số hộ nuôi (68,27%) đều cho rằng khi bệnh này xảy ra có thể gây chết từ 10 – 40% cá trong ao Tóm lại,
streptococcosis là một bệnh khá phổ biến trên
cá rô phi nuôi, có tác lại lớn và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi
Bảng 2 Mùa vụ, kích cỡ cá thường bị bệnh và tác hại
của bệnh Streptococcosis ở cá rô phi (n=41)
Yếu tố điều tra Tần xuất gặp ở các vùng điều tra Tổng số (n=41)
Kiến Thụy (18) Thủy Nguyên (12) Vĩnh Bảo (11) Tần số %
Mùa vụ
Kích cỡ
Tỷ lệ
chết (%)
2 Điều trị bệnh streptococcosis trong điều
kiện phòng thí nghiệm
Trong thí nghiệm 1, các dấu hiệu bệnh
lý đầu tiên xuất hiện ở cá sau 24h tiêm cảm
nhiễm vi khuẩn S agalactiae, cá bắt đầu chết
từ ngày thứ 2 ở các nghiệm thức tiêm với mật
độ cao 103, 104 và 105 tế bào/ml (NT2, NT3,
NT4) và chết từ ngày thứ 3 ở nghiệm thức
1 (102 tế bào/ml) Tỷ lệ chết của cá ở các
nghiệm thức lần lượt là: 40, 60, 90 và 100%
sau 8 ngày với các dấu hiệu bệnh bệnh như
bơi lội lờ đờ trên mặt nước, phản ứng chậm
với tiếng động, bắt mồi kém, mắt đục và lồi, có
hiện tượng xuất huyết ở các gốc vây hay trên
toàn bộ bề mặt cơ thể, giải phẫu xoang bụng
thấy có chứa nhiều dịch, gan, thận nhợt nhạt,
nhũn Các dấu hiệu này tương tự như bệnh
Streptococcosis ở các rô phi bị bệnh trong ao
nuôi tại Hải Phòng cũng như mô tả của Đặng
Thụy Mai Thy và Đặng Hoàng Oanh (2011)
khi cảm nhiễm vi khuẩn S agalactiae ở cá điêu hồng (Oreochromis sp), Suanyuk & ctv
(2005) cũng cảm nhiễm bằng phương pháp
tiêm vi khuẩn S agalactiae với các mật độ
vi khuẩn 101 – 108 CFU/ml trên cá rô phi vằn
(Oreochromis niloticus) đã gây chết từ 20
– 90% cá trong vòng 10 ngày sau khi cảm nhiễm Kết quả này chứng tỏ rằng vi khuẩn
S agalactiae là tác nhân gây bệnh streptococcosis ở cá rô phi nuôi tại địa phương.
Kết quả thí nghiệm 2 cho thấy Doxycyline
và Erythromycin là 2 kháng sinh có độ nhạy cao với đường kính vòng kháng khuẩn trung bình sau 24h, 48h là (23, 24mm) và (21, 22mm) Tuy nhiên, Erythromycin là kháng sinh nằm trong danh mục hạn chế sử dụng (Thông tư số 15/2009/TT-BNN), vì vậy Doxycyline là kháng sinh có độ nhạy cao nhất và có thể sử dụng
Trang 6trong điều trị bệnh Streptococcosis do vi khuẩn
S agalactiae gây ra ở cá rô phi nuôi Kết quả
này cũng trùng hợp với kết quả nghiên cứu của
Phạm Hồng Quân & ctv (2013) và Nguyễn Viết
Khuê & ctv (2009) khi kiểm tra độ nhạy kháng
sinh của vi khuẩn S agalactiae gây bệnh ở cá
rô phi nuôi thương phẩm tại một số tỉnh miền
Bắc Việt Nam
Kết quả của thí nghiệm 3 về trị bệnh
Streptococcosis cho cá rô phi trong điều kiện
thí nghiệm được trình bày ở hình 1, sau khi
cho cá ăn thức ăn trộn kháng sinh Doxycyline
với liều lượng 0,25, 0,5 và 1,0g/kg cá/ngày
tương ứng với NT1, NT2 và NT4 liên tục trong
7 ngày, tỷ lệ chết tích lũy của cá ở các nghiệm
thức này là 20, 30 và 40%, trong khi đó cá
ở NT3 (NT đối chứng dương) chết tới 90%
sau 10 ngày cảm nhiễm Trong khi đó, cá ở nghiệm thức đối chứng âm hoàn toàn không
bị chết trong suốt thời gian thí nghiệm, khi kết thúc thí nghiệm, tỷ lệ sống ở nghiệm thức này đạt 100% So với kết quả từ thí nghiệm 1
(chỉ cảm nhiễm vi khuẩn S agalactiae, không
điều trị bằng kháng sinh) cho thấy tỷ lệ chết tích lũy của cá trong thí nghiệm điều trị bệnh giảm từ 50% trở lên ở các nghiệm thức có
sử dụng kháng sinh Qua kết quả điều trị đã chứng minh rằng, khi cá rô phi vằn bị nhiễm
liên cầu khuẩn S agalactiae có thể trị bằng
kháng sinh ở giai đoạn sớm của bệnh, khi
cá bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu bệnh đầu tiên Loại kháng sinh nên dùng là Doxycyline với liều dùng thích hợp nằm trong khoảng 0,25 – 0,5g/kg cá/ ngày
Hình 1 Tỷ lệ chết tích lũy của cá rô phi vằn sau khi cảm nhiễm và trị bệnh
-Dùng Doxycyline ở NT1, NT2 và NT4 với liều tương tương ứng: 0,25, 0,5 và 1,0g/kg cá/ngày
- Cảm nhiễm vi khuẩn vào cá ở ngày đầu tiên (1); Bệnh lý xuất hiện sớm nhất vào 24h sau cảm nhiễm (2); Dùng thức ăn có trộn kháng sinh từ đầu ngày thứ 3 sau cảm nhiễm ở các nghiệm thức NT1, NT2 và NT4, Nghiệm thức NT3 không trị bệnh.
IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Ở Hải Phòng, bệnh Streptococcosis ở cá
rô phi thường bùng phát vào mùa hè hoặc
hè thu, khi nhiệt độ nước ≥ 30oC Bệnh này
thường gây tác hại ở cá có kích cỡ từ 100 -
300g/con, có thể gây chết cá từ rải rác tới hàng
loạt, ở những ao cá bị bệnh nặng tỷ lệ chết có
thể lê tới > 60% nếu không áp dụng các biện
pháp chữa trị kịp thời Kết quả từ thí nghiệm
kiểm tra độ mẫn cảm với kháng sinh của
chủng vi khuẩn S agalactiae cho thấy vi
khuẩn này có độ nhạy cao với 2 loại kháng sinh là Doxycyline và Erythromycin Qua kết
quả điều trị bệnh streptococcosis trong điều
kiện phòng thí nghiệm đã chứng minh được bệnh này có thể điều trị được bằng kháng sinh Doxycyline với liều lượng thích hợp là 0,25 – 0,5g/kg cá/ ngày bằng phương pháp
Trang 7trộn vào thức ăn và cho ăn liên tục trong 7
ngày vào giai đoạn sớm của bệnh (cá còn
khả năng bắt mồi) Ngoài ra, kết quả này có
thể được dùng làm cơ sở để áp dụng cho
việc điều trị ngoài ao nuôi thực tế kết hợp với
việc dùng hóa chất/ thuốc sát trùng để diệt vi
khuẩn ngoài môi trường để việc điều trị bệnh đạt hiệu quả cao Ngoài ra, sau khi cá đã khỏi bệnh, người nuôi có thể dử dụng thêm chế phẩm vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột của cá cũng như ngoài môi trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1 Đồng Thanh Hà, Nguyễn Viết Khuê và Nguyễn Thị Hạnh (2010) Một số đặc điểm của Streptococcus agalactiae
tác nhân gây bệnh streptococcosis trên cá rô phi ở miền Bắc Việt Nam Trung tâm nghiên cứu quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản miền Bắc – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I
2 Nguyễn Viết Khuê, Trương Thị Mỹ Hạnh, Đồng Thanh Hà, Nguyễn Thị Hà, Phạm Thành Đô, Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Hải Xuân, Phạm Thái Giang và Nguyễn Thị Thu Hà, (2009) Xác định nguyên nhân gây chết hàng loạt cá rô phi nuôi thương phẩm tại một số tỉnh miền Bắc Báo cáo khoa học Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I
3 Đặng Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương (2012) Phân lập và xác định đặc điểm của vi khuẩn Streptococcus agalactiae từ cá diêu hồng (Oreochromis sp) bệnh mù mắt và xuất huyết Tạp chí Khoa học 2012, Trường Đại học Cần Thơ, 22, tr 203-212
4 Phạm Anh Tuấn (2006) Báo cáo qui hoạch phát triển cá rô phi giai đoạn 2006 – 2015
5 Phạm Hồng Quân, Hồ Thu Thủy, Nguyễn Hữu Vũ, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Khoa (2013) Một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Streptococcus spp Gây bệnh xuất huyết ở cá rô phi nuôi tại một số tỉnh miền bắc Việt Nam Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tập 11, số 4, tr 506 – 513
6 Thông tư số 15/2009/TT-BNN (2009) Danh mục hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản http://www.moit.gov.vn/vn/pages/VanBanDieuHanh.aspx?TypeVB=1&vID=10681
Tiếng Anh
7 Buller, N.B (2004) Bacteria from fi sh and other aquatic animals: a practice identifi cation manual, 361pp
8 Evans, J., Klesius, P.H and Shoemmaker, C.A (2006) Streptococcus in warm- water fi sh Aquaculture Health Internationl, p 10 – 14
9 Intervet, R (2006) Diseases of Tilapia – An Introduction
10 Klesius, P.H., Shoemaker, C.A., Evans, J.J (2000) Effi cacy of single and combined Streptococcus inniae isolates vaccine administered by intraperitoneal and intramuscular routes in tilapia (Oreochromis niloticus) Aquaculte, 188 (3-4), p 246- 327
11 L.G Pretto-Giordano, E.E Müller, J.C Freitas, and V.G Silva (2010) Evaluation on the Pathogenesis of Streptococcus agalactiae in Nile Tilapia (Oreochromis niloticus) Brazilian Arch Biol Technol., 53, p 87- 92
12 Perera, R.P., Collins, M.D and Lewis, D.H, (1994) Streptococcus iniae Associated with Mortality of Tilapia niloticus & T.aurea Hybrids Journal of Aquatic Animal Health, 10, p 294- 299
13 Plumb, J.A (1999) Health Maintenance and Principal Microbial Diseases of Cultured Fishes Iowa State University Press, Ames
14 Pretto – Giordano, LG., Muller, E.E., de Frritas, J.C and da Silva, V.G (2010) Evaluation on the Pathogenesis
of Streptococcus agalactiae in Nile Tilapia (Oreochromis niloticus) Brazilian Arch Biol Technol., 53, p 87- 92
15 Shoemaker, C.A., Xu, D., Klesius, P.H and Evans, J.J, (2008) Concurrent infections (Parasitism and bacterial diesease) in Tilapia, The 8th Internationl Symposium on Tilapia in Aquaculture, Cairo, Egypt, p 1365 – 1375
16 Yuasa, Kamaishi, Hatai, Bahnnan and Borisuthpeth (2005) Two case of Streptococal infections of cultured tilapia
in Asia In Sixth Symposium on Disease in Asian Aquaculture (ed Bondad-Reantaso MG, Mohan, C.V., Crumlish,
M and Subasinghe, R.P.) Fish Health Section, Asian Fisheries Society, Colombo-Srilanka, pp 259-268