1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất giống lúa thuần đh11 tại an lão hải phòng

89 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VŨ QUANG VIỆN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA THUẦN ĐH11 TẠI AN LÃO – HẢI PHÒNG Chuyên ngành:

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ QUANG VIỆN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN BÓN

VÀ MẬT ĐỘ CẤY ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA THUẦN ĐH11 TẠI AN LÃO – HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Quang

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Quang Viện

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới thày PGS.TS Trần Văn Quang đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Di truyền và chọn giống cây trồng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Quang Viện

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình, sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về phân bón cho cây lúa 4

2.1.1 Đặc điểm dinh dưỡng của cây lúa 4

2.1.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây lúa 7

2.2 Cơ sở khoa học và những nghiên cứu về mật độ gieo, cây lúa 22

2.2.1 Cơ sở khoa học của mật độ gieo cây lúa 22

2.2.2 Nghiên cứu mật độ gieo cấy lúa 22

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

3.2 Thời gian nghiên cứu 27

3.3 Vật liệu nghiên cứu 27

3.4 Nội dung nghiên cứu 27

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27

3.6 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.6.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 30

3.6.2 Đặc điểm nông sinh học 30

Trang 5

3.6.3 Đặc điểm hình thái 32

3.6.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 32

3.6.5 Mức độ nhiễm sâu bệnh 33

3.7 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 34

3.8 Phương pháp xử lý số liệu 34

Phần 4 Kết quả và thảo luận 35

4.1 Điều kiện khí hậu và đất đai huyện An Lão 35

4.1.1 Điều kiện khí hậu huyện An Lão, Hải Phòng 35

4.1.2 Đặc điểm đất trồng lúa ở An Lão 35

4.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của giống lúa ĐH11 ở An Lão - Hải Phòng 36

4.2.1 Giai đoạn mạ 36

4.2.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa ĐH11 37

4.2.3 Động thái tăng trưởng của giống lúa thuần ĐH11 tại huyện An Lão - Hải Phòng 40

4.2.4 Một số đặc điểm nông sinh học của giống ĐH11 khi cấy tại huyện An Lão, Hải Phòng 49

4.2.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón đến sự xuất hiện sâu bệnh hại trên giống lúa ĐH11 ở An Lão Hải Phòng 56

4.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa ĐH-11 ở An Lão, Hải Phòng 59

4.3.1 Kết quả đánh giá năng suất trong vụ Xuân 2015 60

4.3.2 Kết quả đánh giá năng suất trong vụ Mùa 2015 62

4.3.3 So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức 64

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 65

5.1 Kết luận 65

5.2 Kiến nghị 65

Tài liệu tham khảo 66

Phụ lục 71

Trang 6

: Hệ số biến động : Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05 : Đạm urê

: Lân super : Kali

: Ngân hàng thế giới (World Bank)

: Hiệp hội phân bón quốc tế (International Fertilizer Industry Association) : Tổ chức nông lương liên hợp quốc

(Food and Agriculture Organization of the United Nations) : Viện lúa quốc tế

(International Rice Research Institute) : Ủy ban lúa gạo Quốc tế

(International Rice Commission) : Chỉ số đánh giá hàm lượng diệp lục (Soil and Plant Analyzer Development) : Ađênôzin Triphotphat

: Nicotinamit adenozin đinuclêôtit photphat : Quản lý dinh dưỡng theo vùng đặc thù (site-specific nutrient management)

: Quản lý dinh dưỡng tổng hợp (Integeted Nutrient Management) : Chỉ số diện tích lá (Leaf area index), : Trọng lượng chất khô (Dry Matter) : Tốc độ tích lũy chất khô (Crop growth rate)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Đặc điểm khí hậu huyện An Lão, Hải Phòng 35 Bảng 4.2 Đặc điểm đất nơi triển khai thí nghiệm 36 Bảng 4.3 Đặc điểm giai đoạn mạ của giống ĐH11 trong năm 2015 tại huyện

An Lão - Thành phố Hải Phòng 37 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến thời gian qua các giai đoạn

sinh trưởng của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 38 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến thời gian qua các giai đoạn

sinh trưởng của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Mùa năm 2015 39 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng chiều

cao cây của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 40 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng chiều

cao cây của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Mùa năm 2015 41 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số lá

của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Xuân 2015 44 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số lá

của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Mùa năm 2015 45 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số

nhánh của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Xuân 2015 46 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số

nhánh của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Mùa năm 2015 48 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến một số tính trạng số lượng của

giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 51 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến một số tính trạng của giống

lúa thuần ĐH 11 trong vụ Mùa năm 2015 52 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến một số đặc điểm hình thái của

giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 53 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến một số đặc điểm hình thái của

giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Mùa năm 2015 54 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến cấu trúc bông của giống lúa

thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 55 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến cấu trúc bông của giống lúa

thuần ĐH11 trong vụ Mùa ùa năm 2015 56

Trang 8

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh của

giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 57 Bảng 4.19 Ảnh hưởng của mật độ phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh của

giống lúa thuần ĐH11 trong vụ mùa năm 2015 58 Bảng 4.20 Ảnh hưởng của mật độ phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 61 Bảng 4.21 Ảnh hưởng của mật độ phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Mùa năm 2015 63 Bảng 4.22: Hoạch toán cho các công thức 64

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 4.1 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng chiều

cao cây của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Xuân năm 2015 41 Hình 4.2 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng chiều

cao cây của giống lúa thuần ĐH11 trong vụ Mùa năm 2015 42 Hình 4.3 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số lá của

giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Xuân 2015 được thể hiện trên đồ thị sau 44 Hình 4.4 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số lá của

giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Mùa năm 2015 45 Hình 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số nhánh

của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Xuân 2015 47 Hình 4.6 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến động thái tăng trưởng số nhánh

của giống lúa thuần ĐH 11 trong vụ Mùa năm 2015 48

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Vũ Quang Viện

Tên Luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến

sinh trưởng và năng suất giống lúa thuần ĐH11 tại An Lão – Hải Phòng”

- Đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa ĐH11 ở các mật độ cấy, mức phân bón khác nhau trong vụ Xuân và Mùa 2015 tại huyện An Lão, Thành phố Hải Phòng

Phương pháp nghiên cứu

Đánh giá đặc điểm nông sinh học, hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh, năng suất theo tiêu chuẩn đánh giá cây lúa của Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI (2002)

Bố trí thí nghiệm theo phương pháp của Gomez K.A and Gomez A.A (1984) Phương pháp xử lý số liệu theo chương trình IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel 2003

Thí nghiệm được bố trí ở vụ Xuân và vụ Mùa năm 2015

Để giống lúa thuần ĐH11 đạt năng suất cao trên đất vàn cao của huyện An Lão, Hải Phòng nên cấy với mật độ 35 khóm/m2 và bón phân với lượng 120 kg

N + 60 kg P205 + 90 kg K20/ha áp dụng cho vụ Xuân và vụ Mùa

Trang 11

THESIS ABSTRACT Master cadidate: Vu Quang Vien

Thesis title: “Effect of fertilizer application and planting density on growth and yield of the inbred rice variety DH11 in An Lao dictrict, Hai Phong city”

Major: Crop Science Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research objectives:

To determine the appropriate amount of fertilizer and planting density for the inbred rice DH11 to achieve the highest yield and economic profit on the bare feet of

An Lao District, Hai Phong city

Meterials and methods:

Evaluating agro-biologicaland morphological characteristics, rate of pest and disease infection, and yield of the inbred rice variety DH11withindifferent patterns of planting density and fertilizer application in spring andsummer-autumn season in 2015

in An Lao Hai Phong City

Assessment of agro-biological and morphological characteristics, pest and disease infection rate and yield followed Evaluation System of Rice (IRRI, 2002)

Experiment design followed the method of Gomez K.A and Gomez A.A (1984) Data analysis followed IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel 2003

The study was conducted in spring and summer-autumn seasonin 2015

Main findings and conlusions:

The climatic and soil conditions in An Lao district, Hai Phong city were suitable for production of the high quality inbred rice

Changes in planting density and fertilizer had small influence on expression of agro-biological characteristics; withthe fertilization treatment of P4 and planting density from M1-M4, number of panicles per square meter tended to decreased from 261.9 (P4M1) to 237.4 (P4M4)

Changes in planting density and fertilizer amount caused small effect on duration of growth of the variety The duration varied from 125 days (P1M2) to 129 days (P1M1, P2M2) in the spring season, and from 106 days (P1M4) to 110 days (P4M3) in the summer-autumn season

The study suggested that applying planting density 35 hills/m2 and fertilizer amount

120 kg N + 60 kg P 2 0 5 + 90 kg K 2 0/hecta was the most suitable for the inbred rice variety DH11 in spring and summer-autumn season in An Lao district, Hai Phong city

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu

trên thế giới: Lúa gạo, Lúa mỳ và ngô Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, là nhân tố quyết định đảm bảo an ninh lương thực, quyết định các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững

Để đảm bảo cho cuộc sống con người trước tiên phải ổn định an ninh lương thực là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia Song vấn đề đặt ra hiện nay là trong khi dân số thế giới và Việt Nam tiếp tục tăng nhưng diện tích đất dành cho việc trồng lúa lại ngày một thu hẹp, do ảnh hưởng của khí hậu, thiên tai Mặt khác tốc

độ đô thị hóa, đất trồng lúa đã nhường chỗ cho các công trình phúc lợi xã hội, như đường giao thông, khu công nghiệp và đất ở Kéo theo làm mất tính đồng

bộ của hệ thống thủy lợi tưới, tiêu đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và sản lượng lúa Trong bối cảnh đó vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe dọa đến an ninh và ổn định lương thực của thế giới trong tương lai

Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã chuyển từ một nước sản xuất tự cung

tự cấp, thiếu đói sang một nước đảm bảo an ninh lương thực và vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới với sản lượng xuất khẩu hàng năm từ 5 - 6 triệu tấn gạo Tuy nhiên, trong tương lai nhu cầu về lương thực của Việt Nam vẫn phải tăng theo mức độ tăng của dân số

Dân số Việt Nam đã tăng 73% trong giai đoạn 1960 - 1990 và dự kiến tăng 62% trong ba thập kỷ tới Theo dự báo của ngân hàng thế giới (WB) đến năm

2025 dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 116 triệu người và tiếp tục tăng với tốc độ 1,1% năm, lúc đó Việt Nam sẽ cần khoảng 33,6 triệu tấn lương thực quy thóc để đảm bảo nhu cầu trong nước thêm vào đó là 4 - 5 triệu tấn gạo phục vụ cho xuất khẩu hàng năm Không những đòi hỏi về năng suất đồng thời áp lực về chất lượng gạo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cũng là vấn đề thách thức rất lớn cho ngành nông nghiệp nước ta

Huyện An Lão nằm về phía Tây Nam thành phố Hải Phòng Diện tích tự nhiên là 11458,45 ha chiếm 7,4% diện tích Hải Phòng Huyện có 15 xã và 2 Thị trấn, dân số huyện là 136.000 người Diện tích đất cấy lúa 5000 ha nằm sen kẽ giữa các khu dân cư và chủ yếu ven các dòng sông Văn Úc, Lạch Tray và Đa Độ

Trang 13

Là huyện thuần nông, sản xuất độc canh cây lúa Năng suất lúa của Huyện luôn đứng hàng đầu trong những huyện trồng lúa của Thành phố Hải Phòng Những năm gần đây các giống lúa chủ lực được gieo cấy trên địa bàn Hải Phòng

và An Lão chủ yếu nhập nội từ Trung Quốc như Khang dân 18, Q4, Q5 Năng suất cao, ổn định, dễ chăm sóc và thích ứng rộng nhưng chất lượng kém không phù hợp với nhu cầu hiện nay Xuất phát từ nhu cầu trên, Hải Phòng đã và đang đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tiếp nhận và khảo nghiệm nhiều giống lúa thuần

có năng suất, chất lượng gạo ngon, đáp ứng được nhu cầu thị trường

Hiện nay một số giống lúa thuần có nguồn gốc trong nước đã và đang sản xuất trên địa bàn tỏ ra có ưu thế về nhiều mặt như: năng suất cao, ổn định, chất lượng cao, dễ sản xuất và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, thời gian sinh trưởng ngắn thuận lợi cho việc bố trí cơ cầu giống cây trồng ba vụ Một số giống như BC15, RVT, Thiên ưu 8 đang được nông dân ưa chuộng thể hiện ổn định

và phù hợp nhiều vùng sinh thái đã đáp ứng được một phần nhu cầu của người dân Song với những ưu việt nổi bật trên thì các gống lúa thuần trên địa bàn Hải Phòng còn một số hạn chế sau:

Số lượng giống đưa ra sản xuất đại trà ít, độ bền vững của giống so với giống nhập nội chưa cao, nghiên cứu giống riêng cho từng vùng sinh thái khác nhau còn hạn chế Mặt khác công tác nghiên cứu về kỹ thuật cụ thể như mật độ, phân bón, sâu bệnh cho từng vùng, từng chất đất Chưa được chú trọng và chủ yếu theo tập quán cũ Do vậy dẫn đến năng suất, chất lượng chưa ổn định, phát sinh nhiều chi phí, đầu vào cao và hiệu quả thấp

Vì vậy việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh lúa thuần thương phẩm mới có năng suất và chất lượng tốt phù hợp với vùng sản xuất của huyện

An Lão là hướng đi hết sức đúng đắn và cần thiết

Giống lúa thuần ĐH11 được Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo Giống đã được khảo nghiệm quốc gia và khảo nghiệm sản xuất tại một số tỉnh phía Bắc Tại Hải Phòng, giống ĐH11 đã được khảo nghiệm sản xuất từ vụ Xuân 2015 ở các huyện: An Lão, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng Tại các huyện trên, giống ĐH11 có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất khá cao, chất lượng tốt nên được nông dân ưa chuộng

Từ bối cảnh nêu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh

trưởng và năng suất giống lúa thuần ĐH11 tại An Lão- Hải Phòng”

Trang 14

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định được lượng phân bón và mật độ cấy phù hợp nhất để giống lúa thuần ĐH11 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trên chân đất vàn cao của Huyện An Lão Hải Phòng

Đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa ĐH11 ở các mật độ cấy, mức phân bón khác nhau trong vụ Xuân và Mùa 2015 tại huyện An Lão Thành phố Hải Phòng

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống lúa thuần ĐH11 tại An Lão - Hải Phòng Đồng thời đánh giá một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa ĐH11 ở các mật độ cấy, mức phân bón khác nhau trong vụ Xuân và Mùa 2015 tại huyện An Lão Thành phố Hải Phòng

1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống lúa thuần ĐH11 tại An Lão- Hải Phòng

- Kết quả nghiên cứu sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học về thâm canh lúa

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc xây dựng quy trình

kỹ thuật trồng và chăm sóc cây lúa

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN CHO CÂY LÚA

2.1.1 Đặc điểm dinh dưỡng của cây lúa

2.1.1.1 Dinh dưỡng đạm của cây lúa

Trong sản xuất lúa, năng suất và chất lượng của giống lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, kỹ thuật canh tác, thời tiết Trong đó, kỹ thuật canh tác phù hợp với vai trò quan trọng Năng suất lúa không chỉ dựa vào năng suất

mà còn dựa vào năng suất của một quần thể trên một đơn vị diện tích Mật độ quần thể ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây lúa Mật độ cùng với tỷ lệ đẻ nhánh quyết định yếu tố cấu thành năng suất cơ bản nhất đó là số bông/m2 và số hạt chắc/bông

Trong kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất lúa, phân bón là yếu tố có vai trò rất quan trọng Việc sử dụng hợp lý phân bón có thể làm tăng năng suất lúa lên 50-70% Tuy nhiên nếu bón phân quá nhiều và không cân đối cũng có thể làm giảm năng suất và chất lượng nông sản Việc bón phân mất cân đối làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp bền vững, làm cho dinh dưỡng đất bị kiệt quệ, môi trường sinh thái bị ô nhiễm Vì vậy tìm hiểu về nhu cầu dinh dưỡng

là cơ sở triển khai hiệu quả các biện pháp kỹ thuật

Để cây lúa sinh trưởng tốt và cho năng suất cao cần phải xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp, nhằm khai thác tối đa tiềm năng lợi thế các điều kiện về đất đai dinh dưỡng, thời vụ, đặc điểm của giống nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây lúa có thể phát huy hết tiềm năng về năng suất và chất lượng mang lại hiệu quả kinh tế cao

Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 – 6% đạm tổng số (Hoàng Minh Tấn 2006), hàm lượng đạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, thúc đẩy quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá

Trang 16

của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa Do vậy đạm góp phần thúc đẩy sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc và tăng hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa Đạm ảnh hưởng lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng nghìn hạt

Theo Đỗ Thị Thọ (2004) và Lê Văn Tiềm (1986), lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Ở giai đoạn đẻ nhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít dẫn đến số bông ít Khi bón không đủ đạm sẽ làm thấp cây

đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ lá có thể biến thành màu vàng, bông nhỏ từ đó làm cho năng suất lúa giảm Nhưng nếu bón thừa đạm làm cho cây lúa có lá to dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh ngoài ra chiều cao cây phát triển mạnh, dễ bị đổ, nhánh vô hiệu nhiều trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng Theo Bùi Huy Đáp (1980), đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy tác dụng

Lúa lai có đặc tính đẻ nhiều và đẻ tập trung hơn lúa thuần Do đó yêu cầu dinh dưỡng đạm của lúa lai nhiều hơn lúa thuần Khả năng hút đạm của lúa lai ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau Theo Phạm Văn Cường và cs (2005), trong giai đoạn từ đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, hàm lượng đạm trong thân lá luôn cao sau đó giảm dần như vậy, cần bón đạm tập trung vào giai đoạn này Tuy nhiên thời kỳ hút đạm mạnh nhất của lúa lai là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng Mỗi ngày lúa lai hút 3,52 kg N/ha chiếm 34,69% tổng lượng hút Tiếp đến là từ giai đoạn đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, mỗi ngày hút 2,74kgN/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút Do đó bón lót và bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh là rất cần thiết

2.1.1.2 Dinh dưỡng lân cho cây lúa

Lân (P) là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ 2 sau đạm, tham gia cấu tạo nên nucleoproteit - là thành phần của nhân tế bào Lân còn tham gia vào thành phần của phosphatit, cấu tạo nên các enzim tham gia vào quá trình trao đổi chất, là thành phần của các hợp chất giàu năng lượng: ATP, NADP P có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protein và sự di chuyển tinh bột Theo Võ Đình Quang (1999), trong vật chất khô của cây chứa hàm lượng lân từ 0,1-0,5%

Trang 17

Vai trò chủ yếu của lân thể hiện ở các mặt sau:

Xúc tiến sự phát triển của bộ rễ lúa, đặc biệt là rễ bên và lông hút

Làm tăng số nhánh và tốc độ đẻ nhánh của lúa sớm đạt số nhánh cực đại tạo thuận lợi cho việc tăng số nhánh hữu hiệu, dẫn đến làm tăng năng suất lúa

Thúc đẩy việc ra hoa hình thành quả tăng nhanh quá trình trỗ, chín của lúa

và ảnh hưởng tích cực đến chất lượng hạt

Tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại

Thúc đẩy phân chia tế bào, tạo thành các hợp chất béo và protein

Ngoài ra lân còn có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protein và sự vận chuyển tinh bột

Khi thiếu lân lá lúa có màu xanh đậm, bản lá nhỏ, hẹp và mềm yếu mép lá

có màu vàng tía, đẻ nhánh kém kéo dài thời kỳ chỗ, chín Nếu thiếu lân ở thời kỳ làm đòng sẽ ảnh hưởng rất rõ đến năng suất lúa, cụ thể là làm giảm năng suất lúa Khi cây lúa được cung cấp lân đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng, phát triển, thúc đẩy

sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa (Lê Văn Tiềm,1996)

Hiệu suất bón phân lân ở các giai đoạn đầu cao hơn ở các giai đoạn cuối Nếu các giai đoạn đầu hút đủ lân thì sớm phân bổ các cơ quan sinh trưởng Vì vậy bón lót đủ lân là biện pháp quan trọng để tăng năng suất lúa, đặc biệt trong những năm rét và trên các loại đất thiếu lân như đất phèn, đất kiềm

Theo Nguyễn Như Hà (2006), lân có vai trò quan trọng trong thời gian sinh trưởng đầu của cây lúa, xúc tiến sự phát triển của bộ rễ và số dảnh lúa Lân còn làm cho lúa trổ bông đều, chín sớm hơn, tăng năng suất và phẩm chất hạt Để tạo ra một tấn thóc cây lúa cần hút khoảng 7,1 kg P2O5 trong đó tích lũy chủ yếu về hạt

Theo Nguyễn Xuân Thành và cs (2010), bón phân lân sớm trước khi cấy

10 ngày ruộng lúa sinh trưởng tốt hơn và cho năng suất cao hơn so với trường hợp bón phân lân ngay khi cấy

Cây hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Võ Đình Quang (1999), trong điều kiện chất dinh dưỡng được cung cấp liên tục thì cây lúa hút đạm, lân, kali nhiều nhất vào thời kỳ làm đòng Nếu nhìn về cường độ hút chất dinh dưỡng thì cây lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh Nhiều tác giả đều nhận thấy: Hàm lượng lân trong cây lúa cao nhất vào lúc đẻ nhánh rồi giảm dần xuống

Trang 18

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây con rất mẫn cảm với việc thiếu lân Thiếu lân trong thời kỳ cây con cho hiệu quả rất xấu, sau này dù bón nhiều lân thì cây trỗ không đều hoặc không thoát, tỷ lệ lép nhiều Do vậy cần bón đủ lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân cho hiệu quả cao nhất

2.1.1.3 Dinh dưỡng kali cho cây lúa

Kali có ảnh hưởng rõ đến sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước nên có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa Kali có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, tổng hợp các chất gluxit và protein ở trong cây lúa Ngoài ra kali còn ảnh hưởng tốt tới các yếu tố cấu thành năng suất: Số hạt, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1.000 hạt Vì vậy kali là yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng rõ tới năng suất và chất lượng lúa Kali còn thúc đẩy hình thành lignin, xenlulo làm cho cây cứng cáp chống đổ, chống chịu được sâu bệnh

Cây lúa hút kali nhiều ở thời kỳ đầu sinh trưởng, nhu cầu cao nhất vào thời

kỳ đẻ nhánh và làm đòng Do lúa cần lượng kali lớn nên cần bón kali bổ sung đến giai đoạn trổ đặc biệt giai đoạn hình thành hạt là rất cần thiết Lượng kali cây hút để tạo ra 1 tấn thóc là 31,6 kg K2O trong đó tích lũy trong rơm rạ là chủ yếu Cây lúa hút kali tận cuối thời gia sinh trưởng Trong đó tỷ lệ kali cây hút tại thời

kỳ cấy – đẻ nhánh: 20-21,9%, phân hóa đòng – trỗ: 51,8-61,9% Vào chắc – chín 16,2-27,7% nhưng chỉ khoảng 20% kali cây hút được vận chuyển về bông (Nguyễn Như Hà, 2006)

Thiếu kali cây lúa lùn, thấp, là hẹp, màu xanh tối, hàm lượng diệp lục giảm lá mềm yếu và rủ xuống Lúa thiếu kali còn dễ bị lốp, đổ dễ bị sâu bệnh tấn công, nhất là khi được cung cấp nhiều đạm Cây lúa thiếu kali ở thời kỳ làm đòng làm các gié thoái hóa nhiều, số hạt ít hàm lượng tinh bột giảm, hàm lượng đạm tăng

2.1.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây lúa

2.1.2.1 Nghiên cứu về phân bón cho cây lúa trên thế giới

Trong lịch sử phát triển nông nghiệp, phân bón luôn được xem là yếu tố quan trọng trong hệ thống canh tác để tăng năng suất cây trồng Theo Viện khoa học Nông nghiệp Rumani “Không có cách nào hiệu lực hơn để nâng cao năng suất bằng phân bón” (Nguyễn Như Hà, 2006) Tại Ấn Độ phân bón đã góp phần quan trọng trong việc tăng sản lượng ngũ cốc của nước này từ 1% năm 1950 lên đến 58% năm 1995 Theo đánh giá của M.Velayutham, mức đóng góp vào sản

lượng lương thực gia tăng của phân bón là 60% (Arvind, 2004)

Trang 19

Hiệp hội phân bón quốc tế (IFA) đã tiến hành nghiên cứu tại các nước phát triển trong những năm 1970 chỉ rõ: Nếu không sử dụng phân bón thì sản lượng lương thực ở các nước này chắc chắn sẽ giảm 40-50% (Lê Văn Căn, 1978) Đánh giá của FAO (1984) cho thấy 50% sản lượng nông nghiệp tăng ở các nước đang phát triển trong thập kỷ 70 là do sử dụng phân bón Viện lúa quốc tế (IRRI), Ủy ban lúa gạo Quốc tế (IRC), Viện nghiên cứu nông hóa Mỹ đã khẳng định 50% năng suất là do tác dụng của phân bón còn hơn 50% còn lại là do các yếu tố khác như giống, nước, chăm sóc (Nguyễn Như Hà, 2006) Nhờ kỹ thuật canh tác cải tiến trong đó chủ yếu là nhờ tăng cường sử dụng phân bón mà trong 2 thập kỷ, tổng sản lượng lương thực toàn thể Châu Âu tăng gấp 3 lần

Theo Puri (1991), ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, từ năm 1979-1989 sản lượng ngũ cốc tăng, trong đó 75% là sử dụng phân bón (Duy, 2004) Theo số liệu của Nga thì trên đất xấu phân bón quyết định 60-70% năng suất còn đất tốt chỉ từ 45 - 50% Theo Patrick và cộng sự (1968), Kobayashi (1995), khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame về phản ứng với điều kiện phân bón khác nhau cho thấy cây lúa có tính thích ứng cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khỏe (Hokuriki52) sẽ gây ảnh hưởng nhiều cho giống cạnh tranh yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón

Theo Shi et al (2011) cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt động quang hợp Kết quả nghiên cứu các giống lúa Japonica, nhưng lại phản ứng yếu

hơn khi hàm lượng phân bón tăng Khi bàn về năng suất tác giả cho biết: Năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón và biện pháp kỹ

thuật Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất cao vì nó phản ứng

tốt với phân bón

a Nghiên cứu về đạm cho lúa trên thế giới

Tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa Iruka (1963) cho thấy: Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là lúc bón vào lúc đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ và trước trổ 10 ngày có hiệu quả cao

(Yang et al 1999) Theo Schunuttz and Hartman (1994) tại Đức, nếu giảm một

nửa lượng phân đạm trong trồng trọt thì năng suất cây trồng sẽ giảm 22%, trong thời gian ngắn: 25-30% trong thời gian dài, thu nhập trang trại giảm 12%, lợi nhuận của các trang trại giảm 40%, tổng sản lượng hoa màu giảm 10%

Trang 20

(Doberman, 2005, Koyama,1981) Kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989) cũng

chia ra rằng hiệu suất phân đạm cho lúa rất khác nhau, 1kgN cho từ 3,1-23kg thóc

Broadlent (1979) cho thấy lượng đạm cây hút ở kỳ đẻ nhánh quyết định tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cây đẻ nhánh khỏe và tập trung, tăng số bông/m2, số hạt/bông, nhưng trọng lượng 1000 hạt ít thay đổi Mặt khác tác giả lại cho rằng ở các nước nhiệt đới lượng chất dinh dưỡng (N,P,K) cần để tạo ra 1 tấn thóc trung bình là 20,5 kg N; 5,1 kg P2O5 và 4,4 kg K2O Theo Takahasi (1987) cho biết giữa đẻ nhánh ở cây lúa và tỷ lệ đạm tích lũy trong lá lúa liên quan mật thiết với nhau Theo Yang (1999), ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất Như Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á Trong thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng dùng để bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng Thí nghiệm của Ying(1998) cho thấy sự tích lũy đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích lũy tiếp ở các giai đoạn tiếp theo của cây

Theo Weon Tai Jeon (2012) khi nghiên cứu ảnh hưởng của các mức đạm khác nhau (0,50; 70;90; 110; 130 và 150kg N/ha) đối với sinh trưởng, năng suất

và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Goami2 cho thấy giá trị chỉ số SPAD và hàm lượng N trong cây đều tăng sau 29 ngày gieo nhưng sau lại giảm sau 93 ngày gieo Kết quả nghiên cứu xác định mức 70kgN/ha thích hợp cho giống Goami2 đạt năng suất và tỷ lệ gạo xát cao nhất

Songyikhang suthor et al (2014) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của 5

công thức phân đạm (0,30; 60;90 và 120 kg/ha) trên 6 giống lúa cạn là Makhinsoung, Nok, Non, IR55423-1, B6144F-MR-6 và IR60080-46A Kết quả cho thấy mức đạm 30kg/ha làm tăng năng suất giống cải tiến và mức 50kg/ha làm tăng năng suất của các giống lúa địa phương Các công thức bón có năng suất cao công thức đối chứng (không bón) từ 29-36% đối với giống cải tiến và tăng 25-34% đối với giống địa phương

Theo Sarwa et al (2011) sức sống của mạ và tuổi mạ khi cấy có vai trò hết

sức quan trọng trong thâm canh lúa Ảnh hưởng của mật độ, lượng đạm bón và tuổi mạ được tác giả đánh giá sau khi cấy 10, 20,30,40 ngày kết quả cho thấy năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giảm khi cấy ở các tuổi mạ cao, mật

độ cấy dầy hơn và không bón phân

Trang 21

Theo Kawasaki et al (2011), kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến

năng suất của giống lúa nếp RD6 tại tỉnh Khon Kean, Thái lan cho thấy với lượng 75kg N/ha cho năng suất cao nhất trong cả mùa khô và mùa mưa

Mazarire et al (2013), nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến một số giống lúa

cạn (Nerica1, Nerica3, Nerica7 và Mhara1) ở Zimbabwe cho thấy lượng đạm khác nhau có ảnh hưởng đến chiều cao cây, chiều dài bông, tỷ lệ hạt chắc và năng suất giảm ở mức 1 (0kgN/ha) nhưng ở mức 2 (39,5 kgN/ha) mức 3 (64,5 kgN/ha)và mức 4 (89,5 kgN/ha) 39,5kgN/ha là thích hợp nhất cho 4 giống lúa cạn trên

Theo Chandel et al (2010) hàm lượng protein và ion kim loại (Fe,Zn) trong

gạo chịu ảnh hưởng của môi trường rất lớn Khi phân tích ảnh hưởng của đạm đến hàm lượng Protein Fe và Zn của 32 giống lúa được trồng ở 3 địa phương khác nhau và bón phân ở lượng 80 và 120kgN/ha Kết quả cho thấy hàm lượng Protein tăng từ 1,1 đến 7% ở mức đạm 120kgN/ha nhưng hàm lượng sắt và kẽm không thay đổi nhiều ở các mức đạm khác nhau

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của đạm và mật độ cấy tới năng suất của giống lúa lai Liangyoupei9, Chen (2014) cho thấy với mật độ 21x104 khóm/ha và bón phân với lượng 180kgN cho năng suất cao nhất

b Nghiên cứu về lân cho lúa trên thế giới

Theo nhận xét của Tanaka: Bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ đầu đồng thời có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng mà đặc biệt là

những vùng lạnh thì hiệu quả đó càng rõ (Cuong Pham Van et al., 2004) Buba

(1960) cho biết lúa nước là cây trồng cần ít lân do đó khả năng hút lân từ đất mạnh hơn cây trồng cạn Nghiên cứu của Brady và Nylec (1985) cho thấy hầu hết các loại cây trồng hút không quá 10-13% lượng lân bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây lúa có khả năng hút lân khi hàm lượng lân trong đất khoảng 0,2ppm hoặc thấp hơn một chút là có thể cho năng suất tối đa Tuy vậy cần bón lân

kết hợp với các loại phân khác như đạm, kali mới nâng cao được hiệu quả của nó

Các công trình nghiên cứu của De Datta (1989), Koyama (1981), Sinclair (1989) và Vlek (1986) nghiên cứu về đặc điểm bón phân cho các giống lúa đã đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhiều nhất là lân, cao hơn giống

cũ Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali, là cơ sở để tăng năng suất cây trồng Để đánh giá khả năng cung cấp lân của đất cho cây trồng, người ta dựa vào

Trang 22

hàm lượng lân dễ tiêu, phân lân bón cho lúa có hiệu quả đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp ở những đất nghèo dinh dưỡng thì lân làm tăng năng suất nhiều hơn đạm Tuy nhiên bón phân lân cùng với đạm là điều kiện tốt

để phát huy hiệu quả cao của phân lân Khi cây bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp thường bị cuộn lại sức đẻ nhánh giảm và đẻ muộn giai đoạn đẻ nhánh kéo dài Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình phân lân có ảnh hưởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lượng của phần trên mặt đất của cây lúa tăng khá hơn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng của trọng lượng thân cây giảm Ở những chân đất tương đối phì nhiêu hiệu quả của phân lân đối với năng suất lúa không lớn Bón lân làm

cho lúa cứng cây và tăng khả năng chống đổ (Đào Thế Tuấn,1984; De Datta.et

al.,1989; Biradar.,2006; Koyama.,1981;Vlek et al.,1986)

Theo Sarker (2002) khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối với lúa cho thấy: Hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh trưởng Do

đó phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa

Zhang et al.(2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của lân đến 2 giống lúa

Japonica (1 giống lúa cạn Zhonghan 3 và 1 lúa nước Yangfujing8) ở 2 phương thức cấy khác nhau (cả 2 giống cấy trên cạn và dưới nước) với 3 mức lân khác nhau (mức thấp nhất 45kg P2O5/ha; mức trung bình 90kg P2O5/ha và mức cao 135kgP2O5/ha) khi mức lân tăng thì năng suất tăng của cả giống lúa cạn và nước đều tăng ở điều kiện cạn nhưng không có sự sai khác về năng suất giữa mức lân cao và trung bình đối với cả hai giống, cụ thể năng suất của giống lúa cạn tăng nhẹ còn lúa nước giảm nhẹ Ở cả điều kiện khô hạn và có tưới ở mức lân thấp cả hai giống lúa đều có tỷ lệ gạo nguyên cao hơn, chất lượng nấu nướng và ăn tốt hơn ở mức lân cao và trung bình

Theo Zhang Y et al (2008), lúa cạn và lúa nước trồng trong điều kiện khô

hạn được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở Trung Quốc Tuy nhiên các nghiên cứu về ảnh hưởng phương thức gieo cấy và hiệu suất sử dụng lân đối với lúa cạn và lúa nước còn hạn chế Trong nghiên cứu này tác giả đã đánh giá sự

khác nhau giữa lúa cạn Zhonghan3 (Japonica) và lúa nước Wuxiangjing 99-8 (Japonica) ở ba phương thức gieo cấy là cấy ruộng có nước tưới (MC, đối

chứng), gieo dưới điều kiện phủ nilon (PFMC) và gieo ruộng khô bình thường (BC) Đối với giống lúa trồng cạn ở điều kiện có tưới năng suất thấp hơn điều kiện phủ nilon nhưng không có sự sai khác đối với giống lúa nước và có dấu hiệu

Trang 23

giảm năng suất ở điều kiện gieo khô bình thường đối với cả giống lúa cạn và giống lúa nước Nồng độ và lượng lân hấp thụ trong điều kiện có tưới và phủ nilon đều thấp hơn đặc biệt đều giảm ở giai đoạn trổ đến chín khi phủ nilon và gieo khô bình thường Tỷ lệ lân ở lá thấp hơn ở thân cây và vỏ hạt đối với lúa cạn, cao hơn ở điều kiện phủ nilon đều thấp hơn ở điều kiện gieo khô bình thường đối với lúa nước Hiệu suất sử dụng lân ở điều kiện khô hạn có dấu hiệu tăng hơn ở điều kiện có tưới vào giai đọa sau trổ, thấp hơn ở điều kiện phủ nilon

và cao hơn ở điều kiện có tưới và gieo khô So sánh với giống Wuxiangjing 99-8 thì Zhonghan3 có nồng độ lân giảm chậm hơn, tích lũy lân trong cây ít hơn ở những giai đoạn sinh trưởng sau nhưng cao hơn ở lá và hạt Qua kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng điều kiện khô hạn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng lân nên cần có biện pháp gieo cấy phù hợp để có năng suất cao

Theo Zhang et al (2012) lúa là cây trồng chính ở trung quốc chiếm 34% về

diện tích và 47% về sản lượng cây lương thực Thâm canh lúa đạt được những thành công vượt bậc nhờ sử dụng phân bón hóa học, điều khiển cỏ dại, dịch hại, năng suất lúa tăng gấp 3,2 lần từ năm 1961 đến 2009 Tuy nhiên đến tận những năm 90, việc canh tác lúa chưa quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng phân bón, đặc biệt là đạm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Hiệu quả sử

dụng đạm của lúa chỉ đạt 30-35% (Zhu,1998) đến 28,3% (Zhang et al., 2008),

thấp hơn công bố trung bình thế giới (40-60%) Hiệu suất sử dụng đạm có thể thấp hơn ở một số vùng ví dụ tỉnh Jiangsu chỉ đạt 19,9% (Li,2000)

Theo Yoshida (1981) hiệu suất sử dụng đạm khoảng 15-25kg thóc /1kgN ở

vùng nhiệt đới Cassman et al (1996) cho rằng hiệu suất đạt 15-18kg thóc/1kgN

ở mùa khô của Philippines Ở Trung Quốc hiệu suất đạt 15-20 kg thóc/1kgN từ

năm 1958 đến 1963 và chỉ đạt 10,4kgthóc/1kgN vào những năm 2000 (Zhang et al.,2008) Hiệu suất sử dụng đạm thấp do sử dụng quá nhiều phân bón, thời gian

và cách bón không phù hợp Ví dụ lượng phân đạm trung bình bón cho lúa là 150 kgN/ha là cao hơn trung bình của thế giới 67% nhưng hiện tại đang bón với

lượng từ 150-250kgN/ha thậm chí có vùng bón đến 300kgN/ha (Peng et al., 2010; Roelcke et al.,2004; Cui et al., 2014) Dựa trên kết quả khảo sát ở vùng trồng lúa Li et al, (2010) cho thấy việc sử dụng đạm tăng từ 217kgN/ha năm

2000 lên 231 kgN/ha năm 2007

Tổng hợp kết quả nghiên cứu của 21 tác giả về sử dụng phân bón cho thấy, việc sử dụng phân bón thường không dựa trên nhu cầu dinh dưỡng thực sự của

Trang 24

cây hoặc bón phân theo vùng chuyên biệt (SSNM-site-specific nutrient management) Ví dụ, trong hệ thống sản xuất lúa phần lớn nông dân bón đạm

thành 2 đợt (bón lót và bón thúc) ở giai đoạn 10 ngày sau gieo (Fan et al., 2007)

Phần lớn lượng phân đạm bón lót không sử dụng do cây lúa đang giai đoạn phát triển rễ Như vậy lượng đạm thừa gây ô nhiễm nước ngầm và nước bề mặt Quản

lý dinh dưỡng tổng hợp (INM) đối với cây lúa được quan tâm ở Trung Quốc từ năm 2002 Chiến lược quản lý dinh dưỡng được tập trung vào tỷ lệ và thời gian bón đạm kết hợp với sử dụng P và K Tổng lượng đạm được tính toán dựa trên nhu cầu của cây và khả năng cung cấp của đất (Doberman and Fairhurst,2000) trung bình cây lúa có tưới cần hấp thụ 17,5kgN + 3kg P2O5 + 17kg K2O để sản xuất 1 tấn thóc

c Nghiên cứu về kali cho lúa trên thế giới

Ở Đức người ta tính lượng kali bón cho cây theo năng suất và lượng kali có trong đất Theo U.C Koporgov (1975) để đạt năng suất 3-10 tấn/ha thì lượng kali được khuyến cáo từ 85-310 kg K2O/ha Kết quả nghiên cứu của trại thí nghiệm Cuban (Liên Xô cũ) cho biết để thu được 4 tấn thóc /ha thì cần bón 35-50kg

K2O/ha, trung bình là 44kg K2O/ha ( Lê Văn Căn,1996) Các thí nghiệm của Patrick (1968) đều cho thấy kali có vai trò quan trọng trong giai đọan trước và sau làm đòng thiếu kali ở giai đọan này năng suất lúa giảm mạnh (Patrick.,1968)

Trên thế giới, vai trò của Kali cho cây lúa đã được nghiên cứu và khẳng định Cường độ quang hợp càng mạnh thì hàm lượng kali trong tế bào càng lớn Song muốn có cường độ quang hợp cần phải có đủ ánh sáng Khi thiếu kali thì nồng độ sắt trong tế bào hạ thấp, quá trình tổng hợp tinh bột, protein chậm (Johnson,1997; Broadlent,1979)

Theo Shuichi Yoshida (1985) cho biết khoảng 20% tổng lượng kali cây hút

là được vận chuyển vào hạt lượng còn lại tích lũy trong các bộ phận khác của cây (trích theo Mai văn Quyền,1985) Smit-Xui(1962) thấy giữa việc hút đạm và kali

có mối tương quan thuận, tỷ lệ K2O/N thường là 1,26 Theo nhiều tác giả khác cho biết tỷ lệ K2O/N rất quan trọng, nếu cây hút nhiều đạm thì dễ thiếu kali, do

đó thường phải bón kali ở những ruộng lúa bón nhiều đạm Vì vậy trên đất nghèo kali bón cân đối đạm – kali có ý nghĩa rất quan trọng

Theo quan điểm của Koyama (1981), kali xúc tiến tổng hợp đạm trong cây

Trang 25

Thiếu kali cây lúa dễ bị bệnh tiêm lửa, đạo ôn, thối rễ, bạc lá, thân cây yếu dễ bị

đổ Lúa được bón đầy đủ kali, lá chuyển sang màu xanh vàng, lá dài hơn và trỗ sớm hơn 2-3 ngày Kali có tác dụng làm tăng số nhánh hữu hiệu tăng chiều cao cây, bông dài hơn và phẩm chất hạt tốt hơn Kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989) cho thấy lúa hút kali vào thời kỳ đẻ nhánh sẽ có tác dụng làm tăng số bông, số hạt, ở thời kỳ làm đòng làm tăng số hạt và tăng trọng lượng nghìn hạt

Vì vậy, thiếu kali ở giai đoạn này làm năng suất giảm mạnh Đây cũng là cơ sở cho biện pháp bón kali hợp lý

Thí nghiệm của Kobayashi (1995) chỉ ra rằng khi bón đủ kali giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến phân hóa đòng có tốc độ hút kali cao nhất sau đó giảm Bón kali khi lúa phân hóa đòng có thể làm tăng số hạt trên bông Theo Ying (1998), khi nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, kỹ thuật bón phân cho lúa lai năng suất cao ở Bắc Kinh cho thấy: Đối với lúa ngắn ngày, giai đoạn trổ cây lúa hút 43,1%lượng kali và tổng lượng kali cần để đạt năng suất cao là 217,7kg/ha Còn đối với lúa dài ngày, cây hút lượng kali tương đối đều ở các giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn lúa trổ bông hút 31,9% và tổng lượng cần là 263,75 kg/ha Tác giả cho thấy, bón kali ở giai đoạn khác nhau cũng cho hiệu quả khác nhau

Theo Yang (1999) kali đẩy mạnh sự đồng hóa cac bon của cây lúa xúc tiến việc chuyển hóa và vận chuyển sản phẩm quang hợp Thiếu kali hoạt động của sắt bị ảnh hưởng do đó ảnh hưởng tới quang hợp dẫn đến lá bị vàng Bón đủ kali diệp lục và các sắc tố đều tăng (tuy nhiên kali không phải là thành phần của sắc tố) việc hình thành gluxit được đẩy mạnh, trọng lượng lá tăng, kali tham gia vào quá trình chuyển hóa đường thành gluco Khi đủ kali thì tỉ lệ saccarozavà tinh bột đều cao Nghiên cứu về vai trò của kali nhiều tác giả cho biết ở đất trũng ít khi thiếu kali Hàm lượng kali thấp hoặc thiếu kali thường đi kèm với ngộ độc sắt trong đất đỏ, chua, phèn (Hargopal.,1988; Slaton.,2001; Singh.,2009)

Theo kết quả nghiên cứu của Sarker (2002) từ khi cây lúa bắt đầu bén rễ đến cuối đẻ nhánh, đối với vụ sớm và vụ muộn đều hút một lượng kali tương đương nhau Từ khi phân hóa đòng đến lúc bắt đầu trỗ, cây lúa hút kali nhiều nhất và sau đó lại giảm nhưng từ khi trổ đến khi hạt chắc và chín thì tỉ lệ hút kali

ở vụ muộn lại cao hơn vụ sớm Ở giai đoạn đầu hiệu suất của kali cao sau đó giảm dần và đến giai đoạn cuối lại cao Do lúa cần lượng kali lớn nên cần bón kali bổ sung đến giai đoạn trổ, đặc biệt ở giai đoạn hình thành hạt là rất cần thiết

Trang 26

2.1.2.2 Nghiên cứu về phân bón cho cây lúa ở Việt Nam

Phân bón được người nông dân ở Việt Nam sử dụng từ rất lâu đời cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp Con người đã biết sử dụng phân bón để nâng cao năng suất cây trồng từ rất sớm nhưng chủ yếu sử dụng phân hữu cơ

Từ trước công nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ (Bùi Đình Dinh, 1999)

Theo Bùi Đình Dinh (1995), tổng lượng N, P, K được bón cho 1ha canh tác năm 1993 tăng gấp 3,5 lần so với năm 1981 là nhân tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng tăng đáng kể so với chỉ bón N, P Năng suất lúa tăng được 49% trên đất dốc tụ, tăng 53% trên đất bạc màu, tăng 21% trên đất sám bạc màu

a Nghiên cứu về đạm cho cây lúa ở Việt Nam

Trong các nguyên tố dinh dưỡng đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Cây lúa cần đạm trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn đẻ nhánh lúa cần nhiều đạm nhất (Nguyễn Văn Hoan, 2003) Cung cấp đủ đạm và đúng lúc làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung tạo nhiều nhánh hữu hiệu Đạm thúc đẩy hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác như số hạt trên/bông, trọng lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc Vì vậy bón đạm ở giai đoạn làm đòng ảnh hưởng quyết định đến năng suất Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng protein nên ảnh hưởng đến chất lượng gạo Đạm cũng ảnh hưởng tới đặc tính vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại lúa Thừa hoặc thiếu đạm đều làm lúa dễ bị sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trổ kém, số hạt/bông ít, lép nhiều, năng suất thấp Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trổ muộn, cây cao, lốp đổ non ảnh hướng sấu đến năng suất và phẩm chất lúa Trong quá trình sinh trưởng cây lúa có nhu cầu đạm tăng từ thời kỳ đẻ nhánh tới trỗ và giảm sau trỗ Lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17-25 kgN, trung bình 22,2 kg N (Nguyễn Như Hà, 2006; Nguyễn Thị Lẫm, 1994)

Phạm Văn Cường (2005) cho biết khi tăng lượng đạm bón thì chỉ số diện tích lá (LAI), Trọng lượng chất khô (DM) và tốc độ tích lũy chất khô (Crop growth rate –CGR) của lúa lai vượt trội so với lúa thuần, đặc biệt ở giai đoạn sau cấy 4 tuần, năng suất của các giống lúa đều tăng, tuy nhiên năng suất lúa lai tăng nhiều hơn năng suất lúa thuần Năng suất hạt của các giống lúa thí nghiệm ở các mức phân bón có tương quan thuận ở mức ý nghĩa với LAI và CGR ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, số bông/m2 và số hạt/bông

Trang 27

Trong giai đoạn sinh trưởng thì bắt đầu từ đẻ nhánh đến đẻ rộ hàm lượng đạm trong thân luôn cao sau đó giảm dần Như vậy cần tập trung bón đạm vào giai đoạn này Tuy nhiên thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở lúa lai là từ

đẻ rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3520g N/ha chiếm 34,68% tổng lượng hút, tiếp đến mới là giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ rộ mỗi ngày cây hút 2737g N/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút Vì lý do này mà bón lót và bón thúc thật tập trung là rất cần thiết nhằm cung cấp đủ đạm cho lúa lai Ở giai đoạn cuối tuy lúa lai hút đạm không mạnh như ở 2 giai đoạn đầu song giữ một tỷ lệ N cao

và sức hút N mạnh rất có lợi cho quang hợp tích lũy chất khô và hạt Vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn cuối (khoảng 20 ngày trước khi lúa trỗ (Nguyễn Văn Hoan, 2003)

Theo Nguyễn Văn Bộ và cs (2003), Nguyễn Vi (1982), kết luận rằng: Hiệu suất sử dụng đạm phụ thuộc vào giống lúa, thường các giống lúa lai có hiệu suất

sử dụng đạm cao hơn, đạt từ 10 -14 kg thóc/kgN được bón, trong khi lúa thuần chỉ đạt 7-8 kg thóc/kgN Trên đất phù sa sông hồng bón đạm làm tăng năng suất lúa lai tăng 22,3 - 40,1%

Cây lúa yêu cầu dinh dưỡng đạm trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của chúng Tỷ lệ đạm trong cây so với lượng chất khô ở các thời kỳ như sau: Thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3,06%, cuối làm đòng 1,95%, trổ bông 1,17%,và chín 0,4% (Phạm Văn Cường và cs., 2005)

Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân mới cho năng suất cao Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1964) và Trần Thúc Sơn (1996), sự tích lũy đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời kỳ trổ mà còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây Tuy nhiên từ khi cây bắt đầu đẻ nhánh đến làm đòng cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N,

K2O ở mức độ cao

Theo Đào Thế Tuấn (1970), trong thí nghiệm 3 vụ lúa ở đất phù sa sông Hồng đã rút ra kết luận: Vụ chiêm cũng như vụ mùa chia đạm ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều nhưng số nhánh vô hiệu cũng tăng nhiều và thiếu dinh dưỡng Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả 2 mặt Trong trường hợp đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ

Trang 28

Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón từ 100-120kg N/ha Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón cho lúa Nếu chỉ bón đơn độc đạm cho cây lúa thì cây sinh trưởng quá mạnh và chỉ đạt năng suất khá trong vài vụ đầu, dần dần năng suất sẽ giảm, nếu bón kết hợp với lân và kali thì cây lúa sinh trưởng cân đối, cho năng suất cao ổn định Trong bón phân, phương pháp bón cũng rất quan trọng Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong khi bón phân thì mới thì hiệu quả mới cao, cây lúa mới hút được dinh dưỡng tối đa (Stevens., 2008)

Để nâng cao hiệu quả phân bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản đạm hóa (Gros., 1977; Trần Thúc Sơn, 1996) Vì vậy, khi bón đạm cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tàng đất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều

Việc sử dụng phân bón đặc biệt là phân đạm trong sản xuất lúa là rất cần thiết nhưng phải bón đủ, hợp lý, cân đối, đúng cách Nếu bón phân không cân đối và hợp lý sẽ giảm 20-50% năng suất (Nguyễn Văn Bộ, 1999) Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần bón phải cao hơn nhiều so với nhu cầu Hiện nay để hạn chế việc bón thừa phân đạm người ta sử dụng bảng so màu lá lúa Kỹ thuật này hiện đang được áp dụng phổ biến rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm thiệt hại sâu bệnh, Tăng năng suất hạn chế lưu tồn Nitrat trong đất và trong nước do bón thừa đạm

Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất lúa là lượng phân bón và phương pháp bón Về lượng phân bón muốn đạt năng suất 50 tạ/ha trở lên thì cần lượng đạm nguyên chất là 110-120kg/ha Về cách bón phân thì đối với lúa cấy cần bón lót đạm sâu, bón tập trung vào thời gian đầu có hiệu quả nhất, bón sâu đạm được giữ lại trong đất và xúc tiến quá trình hoạt động của

bộ rễ, thúc đẩy quá trình đẻ nhánh sớm, tập trung Còn đối với lúa gieo vãi để đạt được năng suất cao phải đảm bảo số bông trên đơn vị diện tích Việc phân bổ các cây trên mặt đất tăng khả năng quang hợp đồng thời trong đất với hệ thống rễ dày đặc đòi hỏi việc cung cấp hút dinh dưỡng liên tục qua các thời kỳ sinh trưởng cây Với ruộng lúa gieo vãi không nên bón lót toàn bộ lượng đạm như lúa cấy Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, một phần phân kali bón trước khi bừa để

Trang 29

vùi sâu Với phân đạm theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Lữ và cs (1976), bón lót 1/3, thúc thời kỳ 3-4 lá 1/3 và thúc đòng 1/3 tổng lượng phân đạm bón cho cả vụ thì đạt hiệu quả cao nhất Việc bón thúc đạm cho lúa gieo vãi lúc cấy 3-4 lá vì lúc này là thời kỳ cây lúa chuyển từ dinh dưỡng từ hạt sang lấy dinh dưỡng từ đất Đồng thời lúa ở thời kỳ này sinh trưởng than lá chưa nhiều, điều kiện dinh dưỡng, ánh sáng, nhiệt độ trong quần thể ruộng lúa còn thích hợp, cần thúc đẩy cho cây lúa phát triển mạnh, tranh thủ đẻ nhánh để chóng kín đất, lấn át

cỏ dại Đến giai đoạn cây lúa phân hóa đòng lúc này mật độ cây dày, cây thiếu dinh dưỡng, cần bón đạm và kali hiệu quả khá cao Việc bón rải phân đạm nhiều đợt với lúa cấy dễ làm cho lúa bị nhiễm sâu bệnh nhất là bệnh bạc lá, nhưng với lúa gieo vãi hiện tượng lá xanh đậm thừa đạm không phổ biến và tỉ lệ bệnh giảm

có thể do số cây trên ruộng nhiều nên quá trình hút dinh dưỡng hạn chế hơn so với lúa cấy

Theo Nguyễn Như Hà (2006), lượng đạm bón giao động từ 60-160kg N/ha Tuy nhiên trên đất có độ phì trung bình, để đạt được năng suất 6 tấn/ha cần bón 160kg Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt năng suất 7 tấn/ha cần bón 180-200kg N/ha

b Nghiên cứu về lân cho cây lúa Việt nam

Ở Việt Nam trên đất phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 50kgN/ha, nếu bón lân cây trồng sẽ hút 120-130kg N/ha (Nguyễn Hữu Nghĩa,1995) Do vậy để đảm bảo đất không bị suy thoái, về nguyên tắc phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi Tuy nhiên việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ dựa hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng

40-dự trữ trong đất và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây (Lê Văn Căn, 1964) Lân có tác dụng kích thích ra rễ mạnh, thúc đẩy quá trình trổ và chín sớm tăng cường đẻ nhánh giúp cây phục hồi nhanh sau khi gặp những điều kiện bất lợi Thiếu lân cây lúa thấp, khả năng đẻ nhánh kém bản lá hẹp, ngắn, thẳng, có màu xanh đậm tới ám khói (Suichi Yoshida, 1985) Hiệu suất của lân đối với hạt ở các giai đoạn đầu cao hơn các giai đoạn cuối do lân cần thiết cho đẻ nhánh và nhu cầu của lân tổng số ít hơn đạm Vì thế trong sản xuất cần bón lân rất sớm, có thể bón lót để cây lúa hút đủ lân tạo điều kiện thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo

Trang 30

Theo Mai Thanh Phụng (1996), trên đất phèn nặng muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: Sử dụng nước ngọt để rửa phèn, kế đến là bón phân liều lượng cao trong những năm đầu để tích lũy lân Trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long bón lân có hiệu quả rất rõ, vụ Đông Xuân có bón 20kg P2O5/ha

đã tăng năng suất được 20% so với công thức không bón phân Tuy nhiên, bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ Vì vậy trong ruộng thâm canh thường được khuyến cáo bón phối hợp từ 20 -30 kg P2O5 là đủ Trong vụ hè thu nhận thấy nhu cầu phân lân có cao hơn và có hiệu quả rõ hơn vụ xuân, bón 20 kg P2O5 đã bội thu được 43,7% so với không bón phân lân, bón 40

kg nội thu 62% năng suất (Nguyễn Văn Luật, 2001)

Lân cũng làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ bên và lông hút Phân tích hàm lượng lân trong lá thì ở giai đoạn đẻ rộ thấy cao nhất Ở giai đoạn chín hàm lượng lân trong thân lá lúa lai cao hơn hẳn lúa thường Giai đoạn

từ đẻ rộ đến phân hóa đòng lúa lai hút tới 84,27% tổng lượng lân Vì thế muốn để lúa lai đạt năng suất cao thì tổng lượng lân cần được cung cấp đủ trước khi làm đòng (Nguyễn Văn Hoan, 2003)

Theo Bùi Huy Đáp (1980), lân được hút chậm hơn đạm trong thời kỳ dinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hóa đòng đến lúa vươn lóng Phần lớn lân tích lũy trong thân và lá trước khi trổ rồi chuyển về bông vì sau đó khi trổ lúa thường không hút nhiều lân nữa Khi bón quá nhiều lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xảy ra hiện tượng thừa lân Ruộng lúa ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng vì vậy có thể bón lót hết lượng lân dành cho cả vụ Như vậy khi cây lúa được cung cấp lân đầy đủ nó sẽ tạo điều liện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo điều kiện cho sinh trưởng, phát triển tốt thúc đẩy sự chín của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân Thiếu lân trong thời ký cây non cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều lân thì cây cũng trỗ không đều hoặc không thoát Do vậy cần bón đủ lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả Ở mỗi thời kỳ lúa hút lân với lượng khác nhau, trong đó có hai thời kỳ hút mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Tuy nhiên xét về mức độ thì lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ

đẻ nhánh (Lê Văn Căn, 1978) Trung bình để tạo ra 1 tấn thóc, thì cây lúa hút khoảng 7,1 kg P2O5 Lân trong đất là rất ít, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp, do

đó cần phải bón lân với liều lượng tương đối khá Để nâng cao hiệu quả của việc

Trang 31

bón lân cho cây lúa ngắn ngày trong điều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90-120 kg N/ha và 60 kg K2O/ha) nên bón lân với lượng 80 - 90kg

P2O5/ha và tập trung bón lót (Nguyễn Văn Bộ và cs., 2003)

c Nghiên cứu về kali cho cây lúa Việt Nam

Kali có tác dụng xúc tiến quá trình quang hợp, đẩy mạnh sự di chuyển sản phẩm quang hợp từ lá sang bộ phận khác, tăng cường đẻ nhánh và giúp cây trồng chịu được các điều kiện bất lợi Thiếu kali cây thấp, lá ngắn rũ xuống có màu xanh đậm các lá phía dưới, bắt đầu từ đỉnh xuống biến vàng giữa các gan lá, có lúc khô chuyển sang màu nâu nhạt Trong các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây yêu cầu về kali khác nhau nhưng cây lúa cần kali nhất vào thời kỳ làm hạt để tăng khả năng vận chuyển dinh dưỡng vào hạt Vì vậy bón kali kéo dài đến lúc trổ bông, lúc dai đoạn hình thành sản lượng là điều rất cần thiết (Suichi Yosihida, 1985)

Từ giai đoạn đẻ nhánh đến khi trổ, lúa lai hút kali với cường độ tương tự lúa thường Tuy nhiên từ sau khi trổ thì lúa thường hút rất ít kali, trong khi lúa lai vẫn duy trì sức hút kali mạnh, mỗi ngày vẫn hút 0,67 kg/ha chiếm 8,7% tổng lượng hút Như vậy trong suốt thời kỳ sinh trưởng cường độ hút kali của lúa lai luôn cao Đây là đặc điểm rất đặc trưng về hút các chất dinh dưỡng của lúa lai

Từ đặc điểm này có thể kết luận: Để có năng suất cao cần coi trọng bón phân kali cho lúa lai (Nguyễn Văn Hoan, 2003)

Theo Đinh Dĩnh (1970), cây lúa hút kali trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của chúng Nhưng nhu cầu kali thể hiện rõ nhất ở hai thời kỳ đẻ nhánh

và làm đòng Nếu thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh thì ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng Thiếu kali lá lúa bị xám nâu, cây phát triển chậm và còi cọc thân yếu và dễ bị đổ, hạt nhỏ Thiếu kali làm cây lúa dễ bị nấm bệnh, vi khuẩn

Theo Nguyễn Vi (1982), với các giống lúa hiện nay, tỷ lệ hat chắc từ 30 57% do bón kali và trọng lượng hạt cũng tăng từ 12 - 30% Bùi Đình Dinh (1995) cho biết: Tỷ lệ kali cây lúa hút trong thời kỳ sinh trưởng phụ thuộc vào giống lúa, giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh là 20 - 21,9%: Từ phân hóa đòng đến trổ là 51,8 - 61,9% và từ vào chắc đến chín là 16,9 - 27,7%

-Theo Đào Thế Tuấn (1970), lượng kali của cây lúa hút và năng suất lúa có mối tương quan thuận với nhau Vào những năm thập kỷ 60 - 70, hiệu lực phân

Trang 32

kali bón cho lúa rất thấp ở hầu hết các loại đất đã nghiên cứu: Ở đồng bằng Sông Hồng, hiệu quả chỉ đạt 0,3 - 0,8 kg thóc/1kg kali Hiện nay hiệu lực của phân kali bón cao hơn trước, với lúa trên đất bạc màu hiệu quả cao nhất đạt 8,1 - 21kg thóc/1kg kali Trên đất bạc màu trữ lượng kali trong đất ít, do vậy cần phải đầy

đủ phân kali để đảm bảo nhu cầu của cây trồng, đồng thời cây lúa cũng hút các yếu tố dinh dưỡng khác dễ dàng hơn Hiệu suất của phân kali trên đất phù sa sông Hồng chỉ đạt 1,0 - 2,5 kg thóc/1kg phân kali (KCl), trong khi đó nếu trên đất bạc màu hay đất cát ven biển có thể đạt 5 - 7kg thóc/1kg KCl Vì vậy trên đất nghèo kali, bón cân đối đạm – kali có ý nghĩa rất quan trọng

Nghiên cứu của Vũ Hữu Yêm (1995) cho thấy hiệu suất phân kali cao nhất trên đất bạc màu với mức bón 30 kg K2O/ha Bón đến 120 kg K2O/ha thì hiệu suất kali vẫn còn cho 4 - 6kg thóc/1kg K2O Theo Lê Hữu Cần (2010) trong điều kiện vụ Xuân và vụ Mùa tại huyệnVĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá với 3 giống HD3, HD5, và HD9 thì mức bón phân 100 kg N, 75 kg K2O, 75 kg P2O5 là thích hợp nhất

Ở Việt Nam các nghiên cứu về vai trò của đạm cho lúa trên đất phù sa sông Hồng cho thấy: trong điều kiện bón (6 tấn phân chuồng + 60 kg K2O, 90 kg

P2O5)/ha, lượng bón 160 kg N/ha cho năng suất cao nhất Nhưng bón tới 240 kg N/ha năng suất chỉ còn tương đương mức bón 80 kg N/ha (Võ Minh Kha, 1995) Theo Nguyễn Thuỷ Trọng (2000), khi bón 120 kg N + 60 kg K2O + 60 kg

P2O5)/ha trên nền 10 tấn phân chuồng/ha cho lúa Khang dân 18 ở Lâm Thao, Phú Thọ cho năng suất cao nhất

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hoà (2006) tại xã Quang Minh huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang với giống lúa chịu hạn CH5 trong các vụ mùa từ

2002 đến 2005 cho thấy nên bón 120 kg N + 90 kg K2O + 90 kg P2O5)/ha trên nền 8 tấn phân chuồng ở mật độ cấy 55 khóm/m2

Theo Nguyễn Văn Dung (2010), đối với lúa gieo thẳng theo hàng bón phân nén NPK với mức 70 kg N/ha + 60 kg K2O/ha + 60 kg P2O5/ha năng suất đạt 6.74 - 7.33 tấn /ha tiết kiệm được từ 20 - 30 kg N/ha so với bón phân vãi

Theo Đỗ Khắc Thịnh và cs (2011), công thức bón phân phù hợp cho lúa gieo sạ ở vụ Hè Thu: 60 - 90 N+ 50 kg K2O + 60 kg P2O5, Đông Xuân 90 - 120

N + 50 kg K2O + 60 kg P2O5 kg/ha cho Bình Phước Ở vụ Hè Thu 120 N+ 50 kg

K2O + 60 kg P2O5 kg/ha vụ Đông Xuân cho Đắc Nông Theo Nguyễn Như Hà

Trang 33

(2006), lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 - 100 kg P2O5 thường bón 60

kg P2O5 /ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 - 90 kg P2O5/ha đất phèn là

90 - 150kg P2O5/ha Lượng kali bón cho lúa thâm canh trung bình 30 - 90 kg

K2O/ha và lúa thâm canh cao là 100 - 150 kg K2O/ha Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 - 10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30 - 90 kg K2O/ha, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO, CÂY LÚA

2.2.1 Cơ sở khoa học của mật độ gieo cây lúa

Trong quần thể ruộng lúa mật độ gieo cấy, và số dảnh cấy có liên quan đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất Nếu gieo cấy quá dày hoặc nhiều dảnh/khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và cuối cùng năng suất sẽ giảm Vì vậy muốn đạt được năng suất cao thì người sản xuất phải biết điều khiển cho quần thể ruộng lúa có số lượng bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi Căn

cứ vào tiềm năng năng suất của giống, tiềm năng của đất đai, khả năng thâm canh của người sản xuất và vụ gieo trồng để định ra số bông cần đạt một cách hợp lý Mật độ gieo phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng, năng suất lớn mật độ gieo cấy càng dầy và ngược lại giống lúa chịu thâm canh thấp, mật độ gieo cấy thưa hơn Những giống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật độ dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi

mạ càng ngắn (mạ non) khả năng đẻ cao, cấy thưa hơn mạ già, tuổi mạ cao Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm canh của hộ nông dân Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độ gieo cấy thưa hơn loại đất xấu khả năng thâm canh thấp Vụ Mùa thời tiết nắng nóng cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ sớm, đẻ nhiều cấy thưa hơn vụ Xuân nhiệt độ thấp cây lúa chậm đẻ, đẻ nhánh kém

2.2.2 Nghiên cứu mật độ gieo cấy lúa

2.2.2.1 Một số nghiên cứu về mật độ gieo cấy lúa trên thế giới

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật canh tác quan trọng, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Khi nghiên cứu vấn đề này Sasato (1996) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác lúa mọc tốt thì nên cấy

Trang 34

mật độ thưa, ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dầy hơn so với vùng nóng

ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm

Suichi Yoshida (1985) đã khẳng định: Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20 x 30cm đến 30 x 30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính là cho bông Năng suất tăng khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242 dảnh/m2 Số bông trên đợn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông Mật độ gieo cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì cây lúa đẻ nhánh nhiều, cấy dày thì đẻ nhánh ít Trong phạm vi khoảng cách cấy từ 50 x 50cm đến

10 x 10cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Ông thấy rằng, năng suất hạt của giống IR-154-451 (một giống có khả năng đẻ nhánh ít) tăng lên với việc giảm khoảng cách cấy 10 x 10 cm đối với giống có khả năng đẻ nhánh khỏe (IR8) năng suất đạt cực đại ở khoảng cách cấy 20 x 20 cm

Holiday (1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệ phi tuyến tính, tức là lúc đầu tăng mật độ thì năng suất tăng nhưng tăng mật độ quá thì năng suất lại giảm

2.2.2.2 Một số nghiên cứu về mật độ gieo, cây lúa ở Việt Nam

Theo Phạm Văn Cường và cs (2006) kết luận mật độ cấy ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá của lúa lai và lúa thuần khác nhau Lúa lai có chỉ số diện tích lá cực đại sớm hơn và giảm chậm, còn lúa thuần thì ngược lại cực đại đạt muộn hơn

và giảm nhanh hơn Lúa thuần với mật độ 30 cây dày (70 khóm/m2 có tốc độ tích lũy chất khô (CGR) cao hơn so với mật độ cấy thưa tuy nhiên ở giai đoạn trổ và chín sáp (CGR khi cấy mật độ 50 khóm/m2 lại cao nhất

Nguyễn Như Hà (2006), kết luận tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh cấy trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dày 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa

ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh/khóm (vụ Xuân) và tăng lên 1,9 dảnh/khóm (vụ Mùa) Về dinh dưỡng, khi tăng lượng đạm bón ở mật độ cấy dày

có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tỷ lệ thuận với mật độ đến 65 khóm/m2 ở vụ Mùa và 75 khóm/m2 ở vụ Xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao khoảng 55 - 56 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu

Trang 35

Tác giả Nguyễn Văn Hoan (1999), cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Với loại mạ thâm canh, số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8 Trong điều kiện phân nhiều thì việc xác định mật độ cấy phải dựa vào khả năng đẻ nhánh, trái lại ở điều kiện phân ít thì phải dựa vào số thân chính.Theo Nguyễn Văn Luật (2001) trước năm 1967 người dân trồng lúa thường cấy thưa với mật độ 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có xu hướng cấy dầy 20 x 20 cm; 20 x 25 cm; 15 x 20 cm; 10 x 15 cm

Theo Trần Thúc Sơn (1995) thì mở rộng khoảng cách cấy 20 x 30 cm là con đường tốt nhất để giảm lượng gieo cần thiết cho 1ha (25kg) mà không làm giảm năng suất Theo Nguyễn Văn Hoan (2002) với các giống lúa lai nên cấy 2 - 3 dảnh với mật độ 50 - 55 khóm/m2 và cấy 3 - 4 dảnh với mật độ 40 - 45 khóm/m2 Phan Hữu Tôn (2002), lượng giống TN 13-5 cần cho 1 sào Bắc bộ từ 1,5 - 2

kg nên gieo mạ thưa, khoảng 8 - 10kg/sào Bắc Bộ để mạ to dảnh và cấy mật độ

50 khóm/m2 và cấy 1 - 2 dảnh/khóm, không cấy to dảnh để lúa nhanh bén rễ hồi xanh, đẻ khỏe và tập trung tỷ lệ bông hữu hiệu cao

Dương Hồng Hiên (1987), khi nghiên cứu về mật độ lúa gieo thẳng đã kết luận rằng: lượng giống gieo không nên quá cao Thường trong vụ Đông Xuân để đạt 700 bông/m2 chỉ cần 100 - 150kg hạt giống/ha trong điều kiện giống nảy mầm tốt, ruộng làm đất tốt và sạ ướt thóc đã nảy mầm Nếu điều kiện kém hơn thì cũng phải cần 180 - 200 kg/ha là cùng Vụ hè thu ở Nam Bộ chỉ có từ 400 -

500 bông/m2 thì phải rút bớt số lượng thóc giống, còn ở Duyên hải miền Trung thì vẫn sạ như vụ Đông Xuân để đạt khoảng 700 bông/m2

Kết quả một số nghiên cứu về mật độ gieo vãi ở Trường Đại Học Nông Nghiệp I trong vụ Xuân năm 1972, 1973 và vụ Mùa năm 1973 ở các mật độ gieo vãi từ 60, 80, 100, 120, 140 kg/ha đã cho thấy trong vụ Xuân gieo vãi với mật độ

100 - 120 kg/ha là cho năng suất cao nhất nhưng trong vụ Mùa chỉ nên gieo với mật độ 80 - 100kg/ha là cho năng suất cao nhất (Đinh Văn Lữ, 1976)

Theo kết luận của Dương Hồng Hiên (1987), vụ Xuân gieo dày hơn vụ Mùa

vì thời tiết rét, tỷ lệ mọc và sinh trưởng của cây kém hơn, mật độ gieo có thể biến động từ 80 - 120kg/ha tùy theo tình hình đất đai, phân bón và thời tiết khí hậu Kết quả nghiên cứu của Đỗ Khắc Thịnh và cs (2011), cho thấy tại Bình Phước lượng giống gieo sạ phù hợp ở vụ hè thu là 120 kg/ha và vụ Đông Xuân là 120 -150 kg/ha, Đắc Nông 90 – 120 kg/ha và 120 - 150kg/ha cho vụ Hè Thu và Đông Xuân

Trang 36

Việc xác định lượng giống cần thiết để giảm chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Nếu gieo quá dầy sẽ tăng chi phí thóc giống, đặc biệt

là giống lúa lai Mặt khác gieo cấy dày kéo theo tăng công dặm tỉa, chăm sóc dặc biệt là sâu bệnh hại tăng lên làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Dựa trên cơ sở của sức nảy mầm, khối lượng 1000 hạt, độ sạch của lô hạt giống

và mật độ cấy trên một đơn vị diện tích có thể đưa ra công thức tính lượng hạt giống cần gieo (Nguyễn Văn Hoan, 2004)

D – Lượng thóc giống cần gieo cho 1ha(kg)

- 64,6%, giảm tỷ lệ gạo nguyên từ 3,1 –11,3% và giảm trọng lượng 1000 hạt từ 3,7 - 5,1% Còn ở các tỉnh phía Bắc mật độ thấp hơn so với miền Nam chỉ từ 40 - 60kg/1000m2 Điều đó có thể được lý giải là do điều kiện canh tác, khí hậu của hai miền khác nhau Trong miền Nam điều kiện thời tiết, khí hậu thích hợp cho cây lúa phát triển quanh năm, đồng thời diện tích đất canh tác rộng nên nông dân

sử dụng lượng giống gieo cao để không mất công dặm tỉa và làm cỏ Ở miền Bắc chủ yếu chỉ sản xuất 2 vụ lúa/năm, diện tích đất canh tác nhỏ lẻ, người dân có điều kiện chăm sóc, tỉa dặm để phân bố đều các cây trên đơn vị diện tích, phát huy khả năng đẻ nhánh cây lúa Hiện nay trong sản xuất lúa áp dụng phương pháp sạ hàng giúp nông dân tiết kiệm được lượng giống sử dụng từ 100 - 150kg/ha và làm tăng năng suất từ 0,5 - 1,5 tấn/ha so với sạ lan đến 20% (Lê Trường Giang, 2005)

Trang 37

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuất và Phạm Đức Hùng (2010), lượng hạt giống lúa gieo hợp lý cho Chợ Mới, An Giang và Phù Cát, Bình Định

là từ 70 - 80 kg/ha cho cả hai phương thức gieo sạ lan và sạ hàng đều cho năng suất lúa cao hơn so với gieo 120 kg/ha

Phương pháp gieo theo hàng đã được nhiều địa phương áp dụng do giảm được giống và công dặm tỉa, chi phí thuốc bảo vệ thực vật Theo Nguyễn Văn Dung và cs (2010), mật độ gieo 50 kg giống/ha năng suất lúa dao động từ 6,74 -6,81 tấn/ha, khi tăng mật độ lên 80 kg/ha năng suất chỉ đạt 4,89 tấn/ha

Theo Nguyễn Trường Giang và Phạm Văn Phượng (2010) kết quả thí nghiệm cho thấy sạ hàng ở mật độ 50 - 100 kg giống/ha và sạ lan với lượng giống gieo 100 kg/ha (6,56; 6,79 và 6,08 tấn/ha) đều cho năng suất cao hơn sạ lan ở lượng giống gieo 200 kg/ha (5,67 tấn/ha) trong đó sạ hàng lượng giống gieo

100 kg/ha có năng suất cao nhất (6,79 tấn/ha) và tăng năng suất đến 19,75% so với thí nghiệm sạ lan 200 kg/ha Trong vụ hè thu sạ hàng lượng giống gieo 50 và

100 kg/ha đều có tác dụng tích cực trong việc hạn chế sự gây hại của rầy nâu, bệnh đạo ôn, chuột và chống đổ ngã cho cây lúa

Từ những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy:

Ở điều kiện khí hậu và đất trồng lúa ở huyện An Lão - Hải Phòng, khi muốn đưa một giống lúa mới vào sản xuất cần phải nghiên cứu sự thích ứng của giống, nghiên cứu kỹ thuật bón phân, lượng phân bón, nghiên cứu mật độ gieo trồng sao cho phù hợp nhất

Do giới hạn về thời gian và yêu cầu của một Luận văn thạc sỹ chúng tôi chọn hai vấn đề sau để nghiên cứu:

Một là, xác định lượng phân bón N, P, K phù hợp

Hai là, xác định mật độ cấy phù hợp

Các nghiên cứu trên được thực hiện ở 2 vụ Xuân và vụ Mùa

Trang 38

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành tại xã Quang Trung – huyện An Lão – Thành phố Hải Phòng

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2015 (2 vụ)

3.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Giống lúa thuần ĐH11 được sử dụng làm vật liệu cho thí nghiệm ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy

ĐH11 là giống lúa thuần do Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam nghiên cứu và chọn lọc Giống ĐH11 có thời gian sinh trưởng: Vụ Xuân: 125 – 128 ngày; Vụ Mùa: 105 – 115 ngày, chiều cao cây trung bình dao động từ 90 – 100cm, thân cứng, lá thẳng lòng mo, đẻ nhánh trung bình, năng suất: 6,7 - 7,5 tấn/ha/vụ, nhiều hạt, hạt dài xếp sít, khối lượng 1000 hạt 19 – 21gr ĐH11 có hạt gạo nhỏ, gạo trong, cơm mềm, đậm ĐH11 chịu rét khá, chống đổ tốt, kháng rầy trung bình, nhiễm nhẹ khô vằn, đạo ôn, chịu thâm canh

Phân bón: Urea: 46 %N, Supe lân: 16% P205 và Kali clorua: 60% K20

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Xác định mật độ cấy và lượng phân bón thích hợp cho lúa thuần ĐH11 trong điều kiện vụ Xuân và vụ Mùa tại An Lão, Hải Phòng

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Vụ Xuân 2015

Bố trí các thí nghiệm mật độ, phân bón cho giống lúa ĐH11 để xác định mật độ và lượng phân bón thích hợp cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất trong vụ Xuân Thí nghiệm gồm 2 nhân tố là phân bón (ô lớn) và mật độ (ô nhỏ) Phân bón (theo tỷ lệ N:P:K= 1:0,5:0,75), gồm 4 công thức sau (tính cho

01 ha):

Trang 39

P1= 100 kg N + 50 kg P205 + 75 kg K20 P2= 120 kg N + 60 kg P205 + 90 kg K20 P3= 140 kg N + 70 kg P205 + 105 kg K20 P4= 160 kg N + 80 kg P205 + 120 kg K20 Lượng bón: + Bón lót 30% đạm + 30% kali + 100% lân

+ Bón thúc đẻ nhánh 60% đạm + 60% kali

+ Bón đón đòng 10% đạm + 10% kali

Mật độ, khoảng cách cấy gồm 4 công thức: M1=30 khóm/m2, (khoảng cách: 20 x 16 cm) M2 = 35 khóm/m2, ((khoảng cách: 20 x 14 cm) M3 = 40 khóm/m2, ((khoảng cách: 20 x 12 cm) M4 = 45 khóm/m2, ((khoảng cách: 20

Trang 40

Sơ đồ 1 Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau

Ngày đăng: 20/11/2018, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w