1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và vai trò của công tác xã hội tại xã châu khê huyện con cuông tỉnh nghệ an

106 378 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài : “ Thực trạng công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và vai trò của CTXH tại xã Châu Khê- Huyện Con Cuông- Tỉnh Nghệ A

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ LOAN

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ TRẺ EM NGHÈO CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN

VÀ VAI TRÕ CỦA CTXH TẠI XÃ CHÂU KHÊ- HUYỆN CON CUÔNG- TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

Lời cảm ơn!

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài : “ Thực trạng công tác bảo vệ

trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và vai trò của CTXH tại xã Châu Khê- Huyện Con Cuông- Tỉnh Nghệ An”, cùng với sự nỗi lực của bản thân, tôi đã

nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của nhiều thầy cô trong khoa XHH,bạn bè, người thân, cán bộ, nhân viên tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, các cô,chú,các em trong trung tâm nuôi dưỡng và một số cơ quan , người dân tại địa bàn nghiên cứu…

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo:

PGS.TS Nguyễn An Lịch- đã tận tâm theo dõi chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong

suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn thầy, cô trong khoa Xã hội học- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQGHN đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên công tác tại UBND xã Châu Khê đã tạo điều kiện cho tôi thâm nhập khảo sát thực tế,thu thập thông tin phục vụ đề tài nghiên cứu

Kiến thức và kinh nghiệm của tôi còn hạn chế nên nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn đọc , để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

VÀ VAI TRÕ CỦA CTXH TẠI XÃ CHÂU KHÊ- HUYỆN CON CUÔNG- TỈNH NGHỆ AN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn An Lịch

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong luận văn của mình

Trang 5

Biểu đồ 2.3 : Điều kiện nhà ở của TE trong giai đoạn có chính sách xã hội.53

Bảng 2.5: Đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng mà Chính sách XH đem lại năm 2015 54 Bảng 2.6: Đánh giá về điều kiện giáo dục hiện nay so với trước 56

Trang 6

MỤC LỤC

LờI CảM ƠN!

LỜI CAM ĐOAN

MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG-BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

2.1 Nghiên cứu ngoài nước 2

2.1 Nghiên cứu trong nước 4

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 6

3.1 Ý nghĩa lý luận 6

4 MụC ĐÍCH, NHIệM Vụ NGHIÊN CứU 7

4.1 Mục đích nghiên cứu 7

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

5.1 Đối tượng nghiên cứu 8

5.2 Khách thể nghiên cứu 8

5.3 Phạm vi nghiên cứu 8

5.3.1 Phạm vi không gian 8

5.3.2 Phạm vi thời gian 8

53.3 Phạm vi nội dung 8

6 Câu hỏi nghiên cứu 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Phương pháp nghiên cứu 9

8.1 Phương pháp luận 9

Trang 7

8.2 Phương pháp chuyên ngành 9

8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu 9

8.2.2.1 Phương pháp quan sát 10

8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 10

NỘI DUNG CHÍNH 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu 12

1.1.1 Lý thuyết hệ thống- sinh thái ( Ecological systems theory) 12

1.1.2 Lý thuyết nhu cầu 13

1.1.3 Lý thuyết vai trò 14

1.2 Khái niệm công cụ của đề tài 15

1.2.1 Công tác xã hội 15

1.2.2 Vai trò của Công tác xã hội 16

1.2.3 Trẻ em 16

1.2.4 Trẻ em trong hoàn cảnh nghèo 17

1.2.5 Mô hình công tác xã hội 17

1.3 Một số văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 18

1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 19

1.4.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 19

Chương 2: THỰC TRẠNG TRẺ EM NGHÈO CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI XÃ CHÂU KHÊ 20

2.1 Tổng quan trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại

Việt Nam 20

2.2 Trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại địa bàn xã

Châu Khê 25

2.2.1 Cơ chế quản lý , hệ thống chính sách 35

Trang 8

2.2.2.Triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ cho trẻ em nghèo có hoàn

cảnh đặc biệt khó khăn 37

2.2.3 Dịch vụ Công tác xã hội 38

Tiểu kết chương 2 40

Chương 3: VAI TRÕ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ TRẺ EM NGHÈO CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI XÃ CHÂU KHÊ 41

3.1 Vai trò của Công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại xã Châu Khê 41

3.1.1 Kết nối với trung tâm bảo trợ tỉnh Nghệ An 41

3.1.2 Tiếp cận trong dịch vụ công tác xã hội với trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 46

3.1.3 Các mô hình chăm sóc dành cho trẻ em đặc biệt khó khăn 48

3.2 Nguồn hỗ trợ về tài chính cho hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 50

3.2.2 Kết quả hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại xã Châu Khê 52

3.2 Sự cần thiết của Công tác xã hội đối với công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 59

3.2.1 Phương pháp công tác xã hội đối với nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 60

Tiểu kết chương 3 62

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC: 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hòan cảnh đặc biệt khó khăn luôn cần sự quan tâm, góp sức của tòan thể xã hội Sự quan tâm đến trẻ em được thể hiện đầy đủ và toàn diện hơn, sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ

em năm 20/02/1990 Đó là sự cam kết mạnh mẽ của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghiã Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đảm bảo cho mọi trẻ em được đối xử bình đẳng, có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển thể chất

và trí tuệ, bảo đảm được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, nhằm làm cho mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản Trong những năm qua Việt Nam

đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, cũng như pháp luật, chính sách liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói riêng

Không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang ngày càng tăng lên.Những nghiên cứu thống kê ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy các con số về trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK cũng rất khác nhau Một nghiên cứu của Bloomberg (2003) ước tính có khoảng 22,000 trẻ

em đường phố tại Việt Nam, chủ yếu phân bố tại Hà Nội và TP HCM Một số tổ chức khác lại cho rằng, con số này cao hơn nhiều (50,000 TELT vào năm 1993 và 200,000 vào năm 1997) Báo cáo thống kê từ 63 tỉnh/tp của Bộ LĐTBXH cho thấy trong năm 2008 là 28,528 em Theo báo cáo mới nhất của Cục Bảo vệ chăm sóc Trẻ

em (BVCSTE)– Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (LĐ-TBXH) năm 2013 có

15.062 em, đã giảm hẳn so với năm 2008 Trong những năm gần đây chính sách giảm nghèo của Việt Nam đã tác động tích cực đến đời sống của nhân dân, tỷ lệ nghèo đã giảm đáng kể Vào năm 1993, tỷ lệ nghèo đói là 58% đến năm 1998 tỷ lệ này chỉ còn 37,4% và đến năm 2002 chỉ còn 28,9% (Tổng cục thống kê 1999-2004) Năm 2010 là 14,2% và hiện nay tỷ lệ này chỉ còn 5,97% (theo chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH năm 2014) Số lượng trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK đã giảm và không thể lên tới 200.000 em, nhưng cao hơn 15.062 như báo cáo của Bộ LĐTBXH

Trang 11

Thông qua các nghiên cứu cho thấy phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tại khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã nghèo Trong đóChâu Khêlà xã đặc trưng của miền núi, vùng cao, biên giới, đời sống đồng bào dân tộc thiểu có nhiều khó khăn trong sản xuất, sinh hoạt,việc tiếp cận về chính sách, quyền trẻ em cũng như những vấn đề tiếp cận các chính sách, dịch vụ xã hội còn rất hạn chế Để khắc phục tình trạng trên dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, chính quyền xã đã huy động triển khai các đường lối chủ trương , chính sách nhằm giảm thiểu số lượng trẻ

em có hoàn cảnh khó khăn và giúp các em và gia đình ổn định, phát triển cuộc sống.Tuy nhiên do còn nhiều hạn chế từ điều kiện kinh tế xã hội nên quá trình thực hiện công tác bảo vệ trẻ em tại xã vẫn còn nhiều bất cập.Bên cạnh đó vai trò của CTXH trong công tác bảo vệ trẻ em vẫn chưa được phát huy hiệu quả một số mô

hình đãđược triển khai như “Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cấp xã”, “ Mô hình gia đình thay thế”… với mục đích huy động sức

mạnh cộng đồng , sự tham gia của người dân vào công tác bảo vệ trẻ em Đồng thời giáo dục và nâng cao nhận thức của các bậc phụ huynh trong bảo vệ và chăm sóc trẻ.Cũng đã được quan tâm tuy nhiên để mô hình phát huy đạt hiệu quả cần có sự tham gia hơn nữa của CTXH

Nhận thấy vấn đề trên, bản thân là người học về CTXH, với mong muốn đóng góp một phần khả năng vào nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ trẻ em, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho thế hệ tương lai đất nước Do vậy luận văn thực hiện đề tài:

“ Thực trạng công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và vai trò của CTXH tại xã Châu Khê- Huyện Con Cuông- Tỉnh Nghệ An”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Thống kê toàn cầu mới nhất của ILO– theo Báo cáo toàn cầu về Lao động trẻ

em 2013 – cho thấy có 78 triệu trẻ em bị lao động cưỡng bức ở Châu Á và Vùng Thái Bình Dương, tức là chiếm gần phân nửa số trẻ lao động trên toàn thế giới Báo cáo toàn cầu đã quan sát thấy một sự giảm thiểu so với con số trước đây đối với khu vực này, vào năm 2000 con số đó là 114 triệu trẻ lao động Số lượng rõ ràng là chưa

Trang 12

giảm bớt nhanh chóng và ta cần nỗ lực nhiều hơn để có thể giải quyết hết vấn nạn lao động trẻ em Tham gia hoạt động làm thuê rất dễ dẫn đến việc sức lao động của trẻ em bị lạm dụng Vì vậy, vấn đề lao động trẻ em cần được quan tâm hơn nữa nhằm tránh những tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em Tháng 5 - 2002, tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về trẻ em đã đưa ra một cam kết: “ Xoá nghèo, đầu tư vào trẻ em: chúng ta khẳng định quyết tâm phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói trong một thế hệ cùng liên kết khẳng định rằng đầu tư vào trẻ em và thực hiện quyền trẻ em là những cách hữu hiệu nhất để xoá nghèo” (Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: tr.34)

Nghiên cứu của tổ chức ActionAid quốc tế tại Việt Nam (AAV ) và Ofam mô hình giảm nghèo ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp tại Hà Giang , Nghệ An , ĐắcNông ) Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ dự án “ theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia” do AVV và Ofam thực hiện từ năm 2007 đến 2013, Nghiên cứu này chủ yếu đi sâu vào việc phân tích làm rõ các mô hình giảm nghèo hiệu quả từ đó khuyến nghị đến cấp chính quyền nhằm nhân rộng mô hình đến đồng bào các dân tộc thiểu số để cải thiên đời sống của người dân Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận “điểm sáng” trong phân tích các “mô hình giảm nghèo”nhằm tìm hiểu những yếu tố dẫn đến những hộ gia đình và đồng bào dân tộc thiểu số điển hình có kết quả giảm nghèo,cải thiện đời sống tốt hơn các hộ gia đình và cộng đồng khác trong cùng bối cảnh.Qua khảo sát cho thấy các mô hình giảm nghèo của dân tộc thiểu số đặc trưng cho từng thôn bản

rõ rệt , thực tế không có “mô hình lý tưởng” các mô hình tự vận động theo từng bối cảnh do đó bản chất của nhân rộng mô hình giảm nghèo đó là nhân rộng cách tiếp cận, phương pháp, quy trình dựa trên sự tôn trọng đa dạng văn hóa và phát huy tính chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số ở mỗi thôn bản

Dự án“ Tăng cường khả năng hòa nhập của trẻ em nhập cư” của UNICEF

Kết quả nghiên cứu mới nhất được UNICEF công bố ngày: 21.10.2010 cho thấy khả năng hòa nhập xã hội của trẻ em và thanh niên các gia đình nhập cư là một

Trang 13

trong những vấn đề mẫu chốt đối với các nước phát triển trong suốt những năm sắp tới

2.1 Nghiên cứu trong nước

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội.Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình, đề tài , bài báo trên nhiều lĩnh vực khác nhau hướng đến đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là lĩnh vực khoa học xã hội

“ Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” do Bộ

Lao Động Thương Binh Xã hội Việt Nam được sự hỗ trợ của UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009 Bài báo cáo đã nêu ra tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt , trẻ dễ bị tổn thương trên thế giới và ở Việt Nam Đồng thời bản báo cáo còn cho chúng ta thấy các hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em như trẻ em mồ côi, trẻ

em bị bỏ rơi, trẻ em bị lạm dụng và bóc lột tình dục, trẻ em đường phố….dựa trên luật pháp, chính sách của Việt Nam

“ Dương Kim Hồng và Kenichi Ohno Trẻ đường phố Việt Nam những nguyên nhân truyền thống và nguyên nhân mới, mối quan hệ giữa các nguyên nhân ngày trong nền kinh tế đang phát triền Diễn đàn phát triển Việt Nam tháng 7 năm 2005.” Bài viết đã nêu lên khái niệm trẻ em đường phố Từ đó, tác giả đã phân loại

trẻ em đường phố Bên cạnh đó, tác giả còn điểm lại những hoạt động nghiên cứu

về trẻ em đường phố tại hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh Qua bài viết, tác giả đã cho chúng ta thấy được tình hình chung của trẻ em đường phố ở Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Đồng thời , đề tài đã cung cấp khá cụ thể các

định nghĩa về trẻ em đường phố của các tổ chức quốc tế Nghiên cứu “ Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng – những cơ sở xã hội và thách thức” của Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhật Minh, công trình đã góp

phần tìm hiểu những cơ sở xã hội phải đối mặt trong quá trình chăm sóc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào nguồn lực từ cộng đồng

Trang 14

“ Nghiên cứu về trẻ em đường phố ở Tp Hồ Chí Minh” NXB chính trị Quốc

Gia Hà Nội 2004 công trình đã khảo sát và phân loại trẻ em đường phố, hoàn cảnh trẻ em đường phố… Đề tài đã giúp chúng ta biết được tình hình trẻ em đường phố

ở Tp Hồ Chí Minh Thông qua đề tài ,tìm hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sống và những nguy cơ mà trẻ đường phố phải đối mặt trong cuộc sống của trẻ Tuy nhiên, đề tài chưa tìm hiểu mong muốn của trẻ đối với cộng đồng xã hội Vì vậy , đề tài chưa đưa

ra được những giải pháp hỗ trợ cho trẻ để khắc phục những khó khăn trong cuộc sống hiện tại

“ Vai trò của nhân viên xã hội trong việc giúp trẻ em đường phố tái hòa nhập cộng đồng”do Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội Tp Hồ Chí Minh thực hiện

Bài viết cho chúng ta thấy được thực trạng trẻ em đường phố Từ những khó khăn

đó, chúng ta thấy được vai trò của nhân viên xã hội trong việc giúp các em đường phố hòa nhập cộng đồng đặc biệt bài viết giúp chúng tôi nhận thấy được vai trò của CTXH khi làm việc với trẻ em đường phố Từ đó chúng tôi có thể đưa ra những hoạt động phù hợp để hỗ trợ trẻ đường phố nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung trước khi hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên đây chỉ là bài viết ngắn, chưa lột tả được hết vai trò của CTXH chuyên nhiên cứu trong việc giúp đỡ trẻ em đường phố

Nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc bảo vệ trẻ em Việt Nam” tác giả Đỗ Văn

Bình đã chỉ rõ thực trạng chăm sóc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam giai đoạn 2008, nguyên nhân của thực trạng và đề xuất giải pháp ưu tiên về chăm sóc và bảo vệ trẻ em

Bài trích “Trang bị kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” Quỹ Bảo trợ trẻ em Hà Nội Giúp các em có kỹ năng sống cơ bản để các em tự tin, chủ động

vượt qua những khó khăn cũng như những tình huống bất lợi xảy ra trong cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm

Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm 2020” của tác giả Lê Thu Hà, đã phản ánh thực trạng trẻ em nghèo có hoàn cảnh

ĐBKK ở Việt Nam đến năm 2010, cơ hội thách thức và các dự báo đến năm 2020 Qua đó, có thể thấy nhóm trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK đang cần rất nhiều hỗ

Trang 15

trợ để hòa nhập cộng đồng Xã hội cần ý thức việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ

em để hạn chế gia tăng số lượng của nhóm chủ thể này trong giai đoạn mới

Chuyên đề “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng-những cơ sở xã hội và thách thức”củatác giảNguyễn Hồng Thái.Chăm sóc

thay thế trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng-chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang cách tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em

Nguyễn Thu Trang ( 2011) Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh

đặc biệt khó khăn cấp xã, nền tảng triết lý và những bài học rút ra, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn,là một mô hình chăm sóc thay thế cho trẻ em dựa vào cộng đồng theo xu hướng tiến bộ của thế giới Mô hình này được xây dựng dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc và thể hiện những ưu, nhược điểm riêng biệt của mình trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam

Nhìn chung các nghiên cứu trên đã bước đầu tiếp cận các vấn đề bức thiết của thực tiễn đặt ra, cung cấp được các luận cứ làm cơ sở cho việc rà soát, đánh giá thực trạng trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đồng thời còn có nhiều công trình khoa học khác nghiên cứu vấn đề trẻ em ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể khẳng định , các công trình nghiên cứu về trẻ em ở nước ta là rất phong phú Nhiều

mô hình CTXH khẳng định tính ưu việt, thừa nhận những thành tựu nhất định về chủ trương của Đảng và Nhà nước mang lại cho đối tượng song cũng còn không ít ý kiến nhận thấy hiệu quả của mô hình còn rất hạn chế, thiếu tính bền vững

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài luận văn đã góp phần kiểm chứng và làm phong phú thêm khi vận dụng một số lý thuyết như: Lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết nhu cầu…vào thực tiễn bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK tại một xã miền Trung tại Việt Nam Qua

đó đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu một số khía cạnh khác của các lý thuyết này.Bên cạnh đó luận văn hoàn thành được xem là nguồn tài liệu thực tiễn đối với các thế hệ sinh viên ngành CTXH và những đối tựng quan tâm đến lĩnh vực này

Trang 16

3.2 Ýnghĩa thực tiễn

Thông qua các kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần giúp các nhà quản lý, các cấp, các ban ngành, các tổ chức có cái nhìn tổng thể, đúng đắn về các hoạt động và giải pháp đang được triển khai tại địa phương trong công tác bảo vệ trẻ em đặc biệt khó khăn tại địa phương

Ngoài ra thông qua nghiên cứu,luận văn vận dụng vai trò của CTXH trong công tác bảo vệ trẻ em đặc biệt khó khăn và đề xuất mô hình hỗ trợ phù hợp với thực trạng tại xã

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về thực trạng tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại

xã cũng như công tác bảo vệ trẻ em tại đây Qua đó làm rõ vai trò và mô hình hoạt động CTXH trong việc bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK tại xã Châu Khê, tạo điều kiện cho sự phát trển bền vững

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề thực hiện nghiên cứu này luận văn đã tiến hành các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu các văn bản pháp luật quy định có liên quan đến công tác bảo vệ trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

- Tìm hiểu một số lý thuyết, khái niệm về CTXH ,công cụ được sử dụng trong

- Dựa vào các cơ sở lý luận và thực tiễn,luận văn đề xuất mô hình CTXH trong

hỗ trợ bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt tại đây

Trang 17

5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng công tác bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn & vai trò của CTXH

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK tại

xã Châu Khê thực hiện như thế nào?

- Vai trò công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong quá trình bảo vệ quyền trẻ em?

- Có những mô hình bảo vệ trẻ emnào được triển khai trên địa bàn xã? Mô hình nào hiệu quả nhất?

- Hoạt động chính sách dành cho trẻ em đặc biệt khó khăn tại địa phương đã đạt được kết quả như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK

đã và đang triển tại xã Châu Khê có tính chất thiết yếu, góp phần nâng cao đời sống trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK tuy nhiên những hoạt động ấy chưa thực sự mang lại hiệu quả bền vững với đặc thù ở xã Châu Khê

Trang 18

Giả thuyết 2: CTXH đóng góp vai trò quan trọng góp phần cải thiện đời sống

cho trẻ em miền núi có hoàn cảnh ĐBKK tuy nhiên để phát huy hiệu quả hơn nữa thì cần sự ủng hộ mọi mặt của chính quyền địa phương

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ

sở phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng

có mối liên hệ và ràng buộc, tác động lẫn nhau Điều đó đòi hỏi khi phân tích, đánh giá thực trạng công tác bảo vệ trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK cũng như mô hình hoạt động công tác tại UBND xã Châu Khê trong thế giới khách quan không được tách rời với những mối liên hệ của nó trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Mặt khác chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng các sự vật hiện tượng quá trình cũng như sự phản ánh của chúng luôn biến đổi phát triển không ngừng ngừng

Vì thế phải đánh giá mô hình theo quá trình vận động và phát triển của nó

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật hiện tượng, các vấn đề xã hội có tính lịch sử của nó Việc nghiên cứu cần phải được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà nó hình thành tồn tại và hoạt động

8.2 Phương pháp chuyên ngành

8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn đã sử dụng và phân tích nhiều nguồn tài liệu khác nhau: Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu trong quá trình thực tập và nghiên cứu khóa Luận Văn tốt nghiệp tại địa phương, các tài liệu để phân tích trong đợt thực hành : Các chính sách, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm

vụ và phát triển kinh tế-xã hội từ năm 2013 đến năm 2016 Xã Châu Khê- huyện Con Cuông Phương pháp phân thích hệ thống cho phép đi sâu tìm hiểu những mặt

ưu điểm và hạn chế của các chính sách từ nội dung văn bản chính sách đến quá trình tổ chức triển khai chính sách

Trang 19

8.2.2.1 Phương pháp quan sát

Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát được sử dụng chủ yếu trong quá trình hoạt động của luận văn Luận văn sử dụng phương pháp này nhằm quan sát đánh giá sơ bộ về hoàn cảnh của trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ngoài ra tiến hành quan sát các hoạt động được triển khai tại xã và vai trò của những người cán bộ trong công tác bảo vệ trẻ em,…

8.2.2 Phương phỏng vấn bằng bảng hỏi

Trong quá trình nghiên cứu luận văn tiến hành phỏng vấn bảng hỏi đối với những đối tượng sau đây:

- Trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Khoảng 70 trẻ em

- Gia đình trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: 30 hộ gia đình

- Người dân tại địa bàn xã : Khoảng 20 người

- Cán bộ chính sách: 5 người

- Giáo viên : 3 người

Thực hiện phỏng vấn bảng hỏi với các đối tượng trên nhằm tìm hiểu tình hình đáp ứng nhu cầu cho trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại xã và phân tích các hoạt động được triển khai trong bảo vệ trẻ em tại xã,…

Trang 20

- Nội dung phỏng vấn:

Thực hiện 32 cuộc phỏng vấn sâu, nhằm tìm hiểu luận văn thực hiện tại địa phương, cũng như rà soát lại các chính sách đã thực hiện cho trẻ em nghèo trong thời gian qua

+ Phỏng vấn 03 cán bộ xã: Cán bộ chính sách Lao động thương binh xã hội, cán bộ thôn trực tiếp thực hiện công tác bảo vệ trẻ em tại địa phương nhằm tìm hiểu những khó khăn, vứơng mắc mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện công tác tại địa phương

+ Phỏng vấn 9 đối tượng trẻ em có hoàn cảnh nghèo ở các dạng khác nhau, như: Trẻ em nghèo không nơi nương tựa, trẻ em phải lao động trong môi trường đọc hại, trẻ em bị khuyết tật,Trẻ em vi phạm pháp luật,Trẻ em bị xâm hại tình dục,Trẻ em bị bạo lực Nhằm tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, nhu cầu cơ bản của các

em và các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của các em,…

+ Phỏng vấn 03 giáo viên giảng dạy nhằm theo dõi quá trình học tập và đánh giá kết quả học tập của trẻ em nghèo…

+ Phỏng vấn sâu 11 gia đình trẻ em nhằm tìm hiểu điều kiện kinh tế của gia đình cũng như quá trình chăm sóc trẻ của các bậc phụ huynh,…

+ Phỏng vấn sâu 6 cán bộ tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Nghệ An nhằm tìm hiểu điều kiện vật chất, cũng như tinh thần hỗ trợ cho trẻ em tại trung tâm quá trình chăm sóc trẻ,…

Trang 21

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết hệ thống- sinh thái ( Ecological systems theory)

Các quan điểm hệ thống trong CTXH có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Đây là một lý thuyết sinh học cho rằng: “mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn” Sau này, lý thuyết

hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson (1995), Mancoske (1981) Siporin (1980) [16]

Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus và Anna Minakan Các nhà hệ thống sinh thái cho rằng: Cá nhân là 1 hệ thống nhỏ trong các hệ thống lớn và là hệ thống lớn trong các tiểu hệ thống quan hệ, và các thể chế xã hội, các tổ chức chính sách có ảnh hưởng tới cá nhân

Con người đó chịu sự tác động nhất định của các hệ thống (tích cực hoặc tiêu cực) Vì vậy khi xem xét vấn đề của cá nhân, nhóm cần phải xem xét các mối quan

hệ, tác động qua lại của các hệ thống đối với cá nhân hoặc nhóm đó để chúng ta có thể khai thác những tác động tích cực của hệ thống đối với cá nhân, nhóm Đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ hệ các thống này đến cá nhân, nhóm

Mục đích của CTXH là thúc đẩy công bằng xã hội để con người mở rộng các cơ hội tạo ra chỗ đứng cho mình trong xã hội Lý thuyết hệ thống đặt cá nhân vào vị trí tương tác liên tục với những người khác và với những hệ thống khác trong môi trường và những con người, những hệ thống khác nhau này tác động tương hỗ với nhau Như vậy lý thuyết hệ thống giúp cho nhân viên CTXH phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trong các hệ thống xã hội và hình dung những tương tác này ảnh

Trang 22

hưởng ra sao tới hành vi con người, từ đó nhân viên CTXH đưa ra những giải pháp trợ giúp tốt nhất cho thân chủ Có ba loại hệ thống có thể giúp con người:

Hệ thống thân tình, tự nhiên: gia đình, bạn bè, anh chị em họ hàng…

Hệ thống chính quy: các nhóm cộng đồng, công đoàn…

Hệ thống tập trung của tổ chức xã hội: bệnh viện hay trường học

Trong CTXH với trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK , lý thuyết hệ thống chỉ ra

sự tác động mà các nhóm trong xã hội, gia đình, môi trường ảnh hưởng lên trẻ em nghèo Lý thuyết hệ thống cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ em nghèo và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xungquanh

Trên cơ sở của lý thuyết hệ thống, khi tiến hành can thiệp sớm cho trẻ em nghèo cần đặt trẻ vào trong hệ thống, môi trường xã hội đang sinh sống để từ đó có thể tìm

ra được những nguồn lực cũng như rào cản của các yếu tố tác động bên ngoài nhằm

hỗ trợ thân chủ giải quyết được vấn đề của mình một cách tốt nhất

1.1.2 Lý thuyết nhu cầu

Theo lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow thì con người có 5 nhu cầu cơ bản đó là:

Nhu cầu cơ bản (Basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất

Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được

Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi đã được đảm bảo đáp

ứng nhu cầu sinh lý, tức là để sống được, con người lại vươn tới đòi hỏi về sự tồn

Trang 23

tại an toàn, với môi trường ổn định, không có những yếu tố đe doạ, nguy hiểm, bạo lực hoặc những tình huống có độ bất định cao

Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong

muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, … Mặc

dù, Maslow xếp nhu cầu này sau 2 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh

Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu

cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): đây chính là nhu cầu được

sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội [5;18-19]

Ứng dụng thuyết nhu cầu nhằm đánh giá nhu cầu của trẻ em trong mối tương quan với môi trường để cá nhân có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Đánh giá và tìm hiểu hệ thống thứ bậc nhu cầu của trẻ Từ những đánh giá đó CTXH có thể tìm ra nhu cầu bức thiết nhất cần được giải quyết của trẻ,lên kế hoạch hỗ trợ trẻ em

1.1.3 Lý thuyết vai trò

Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một kỳ vọng riêng của họ

Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát

mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực

Trang 24

hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó

Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò

mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không

Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học “đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm

gì, làm thế nào, làm choai

Vận dụng lý thuyết vai trò vào luận văn, người nghiên cứu nhận thấy mỗi một thành phần gồm: Cán bộ,nhân viên CTXH,giáo viên, gia đình, NVCTXH…đều có những vai trò của CTXH trong việc bảo vệ quyền trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK

1.2 Khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Công tác xã hội

“CTXH là một chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ

và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy” [4, tr.13]

Theo định nghĩa này, có thể thấy, Công tác xã hội là một hoạt động trợ giúp, một dịch vụ xã hội và là một chuyên ngành hướng đến sự phát triển con người và

công bằng xã hội: "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn

đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý

Trang 25

thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề" [4, tr.14]

1.2.2 Vai trò của Công tác xã hội

Mục đích của Công tác xã hội được thể hiện rất rõ qua những định nghĩa, khái niệm về ngành này Hiểu một cách chung nhất là vì con người, trong đó hướng tới

việc “Giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu

từ đó thúc đẩy sự thay đổi xã hội”.Vai trò là hành vi xã hội được mong đợi tương

ứng với vị thế xã hội Nói cách khác vai trò là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ và đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực

hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó

Khái niệm vai trò được nêu trong bài nghiên cứu với mục đích xác định các hành vi tương thích với vị trí của người nhân viên Công tác xã hôị trong dịch vụ cung cấp dịch vụ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Xã Châu Khê Vai trò của người cán bộ trong cơ cấu tổ chức là những người lãnh đạo, giám sát, đánh giá quá trình lao động của các đối tượng trong hoạt động về thực hiện chính sách Vai trò của đối tượng hưởng chính sách trẻ em nghèo là người thực hiện các hoạt động nằm trong chính sách hưởng thụ

Vai trò lao động của đối tượng trẻ em nghèo là hoạt động tiếp cận các dịch vụ

xã hội để vươn lên trong cuộc sống, nhận thức được giá trị của bản thân để có những hành vi phù hợp để cố gắng thay đổi hoàn cảnh của bản thân

1.2.3 Trẻ em

Trẻ em- Theo công ước quốc tế: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn” Theo luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em Việt Nam 1991: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Theo định nghĩa sinh học: “ Trẻ em là con người ở giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước tới tuổi trưởng thành” Nhìn theo góc độ xã hội học: Trẻ em là giai đoạn con người đang học cách tiếp cận những chuẩn mực của xã hội và đóng

Trang 26

vai trò xã hội của mình, đây là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người

Là thành viên trong xã hội nhưng khác với người lớn, trẻ em đang phát triển và cần có được điều kiện tối ưu để phát triển Điều kiện này thay đổi theo mỗi hoàn cảnh có mặt mạnh, mặt yếu, mặt mạnh về giảm bớt thiệt hại do mặt yếu gây ra : Ví

dụ Con nhà nghèo không được cha mẹ thương yêu quan tâm, trẻ em mồ côi nhưng được cha mẹ nuôi hết lòng yêu thương chăm sóc, trẻ em khuyết tật nhưng được nhà nước, cộng đồng và gia đình kết hợp tốt nên cuộc sống được an ủi thoải mái

1.2.4 Trẻ em trong hoàn cảnh nghèo

Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Theo điều 40 chương IV Luật bảo vệ, chăm sóc

và Giáo dục trẻ em “Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn bao gồm: Trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bở rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ là nạn nhân chất độc hóa học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc trong môi trường nguy hiểm; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật”

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng ( Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em)

1.2.5 Mô hình công tác xã hội

- Mô hình

Theo từ điển Tiếng việt: “ Mô hình là công cụ thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình… nào đó, phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người”

Mô hình hoạt động đã có tại các nước phương Tây từ lâu Đó là các mô hình cho những người cùng chung lợi ích, cùng chung sự quan tâm tập hợp nhau lại để giải quyết những vấn đề chung thường trên cùng một vùng lãnh thổ nhất định Những mô hình này có thể thuộc nhiều lĩnh vực khoa học như khoa học phát triển chứ không hoàn toàn là những mô hình riêng của CTXH Chính từ các mô hình cộng đồng này mà một số lý thuyết phát triển cộng đồng và phát triển xã hội được hình thành Và từ các mô hình cộng đồng này, CTXH cộng đồng cũng phát triển

Trang 27

- Mô hình CTXH

Trong mô hình về công tác xã hội với các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, dễ

bị tổn thương, mô hình công tác xã hội với người khuyết tật , trẻ em bị bạo lực, người yếu thế luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt ở các quốc gia phát triển, nơi công tác xã hội có quá trình phát triển lâu dài và có nền tảng phúc lợi vững chắc là cách tiếp cận đến các hoạt động công tác xã hội theo định hướng hòa nhập, hiện đang được triển khai và áp dụng ở các quốc gia phát triển như Úc, Canada, các nước bắc Âu, Mỹ…

1.3 Một số văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Những nguyên tắc, vai trò và trách nhiệm cơ bản của hệ thống bảo vệ trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua năm 1991 và sửa đổi năm 2004

Một số các chương trình đã được xây dựng và triển khai nhằm giúp đỡ một số đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó phải kể đến Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002 (được phê duyệt bởi Quyết định

số 134/1999/ QĐ-TTg, ngày 31/5/1999), Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (được phê duyệt bởi

Quyết định 19/2004/QĐ-TTg, ngày 12/02/2004)

Chương trình hành động quốc gia đấu tranh phòng, chống mại dâm giai đoạn

2006-2010; Chương trình Hành động quốc gia về phòng, chống buôn bán người; Quyết định 312/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các đề

án thuộc Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em

từ năm 2005 đến năm 2010

Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về, và Kế hoạch Quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn 2005-2010 (bao gồm các điều khoản về các hành vi phạm tội do trẻ em thực hiện và tội phạm chống lại trẻ em)

Trang 28

Quyết định 65/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề

án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS

Một số văn bản pháp lý trên đây là cơ sở rõ, quan điểm là căn cứ pháp lý để vận dụng phân tích quá trình thực hiện luận văn

1.4 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

- Vị trí địa lý

Châu Khê là xã miền núi vùng cao biên giới của huyện Con Cuông Trung tâm

xã cách trung tâm huyện Con Cuông 15km ; Cụm dân cư xa nhất cách trung tâm xã trên 40km về phía thượng nguồn

Xã có hơn 40km đường Quốc lộ 7A đi qua và hơn 30km đường liên thông, liên bản

- Phía đông giáp với xã Chi Khê, Yên Khê, Lục Dạ; Môn Sơn

- Phía bắc giáp với xã Cam Lâm

- Phía tây bắc giáp với xã Lạng Khê và huyện Tương Dương

- Phía nam giáp nước CHDCND Lào ( có 23,5 km đường biên giới)

- Diện tích tự nhiên

Tổng diện tích tự nhiên là 43.881,13ha Trong đó có 78% diện tích rừng nguyên sinh năm trong khu vực rừng quốc gia Pù Mát,rất thuận lợi cho việc phát triển nguồn tài nguyên rừng , trồng rừng và du lịch

Chủ yếu đất đồi núi chiếm hầu hết diện tích tự nhiên của xã, thích hợp cho trồng rừng, trồng cây ăn quả lâu năm

- Dân số, văn hóa

Tính đến hết tháng 10 năm 2015 toàn xã có : 1273 hộ ; 5.525 nhân khẩu ; có 04 dân tộc cùng chung sống : Dân tộc Kinh, Dân tộc Thái, Dân tộc Đai Lai

Trang 29

Chương 2: THỰC TRẠNG TRẺ EM NGHÈO CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC

BIỆT KHÓ KHĂN TẠI XÃ CHÂU KHÊ 2.1 Tổng quan trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Việt Nam

Trẻ em nghèo là những em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người Theo các chuyên gia UNICEF, nếu sử dụng phương pháp đa chiều trong đánh giá tình hình ở Việt Nam thì người ta thấy có tới 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi, tức khoảng 7 triệu em thuộc diện nghèo Dưới đây là biểu đồ tổng quan về trẻ em nghèo trong các vùng của cả nước:

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước năm 2011-2012

Nguồn:( - http://www.molisa.gov.vn ) Nghèo về dinh dưỡng ở Việt Nam đứng vị trí số 1 : Theo số liệu Điều tra đánh

giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2006 (MICS), để ước tính số trẻ

em không được đáp ứng 7 loại nhu cầu cơ bản của con người, thì nghèo về dinh dưỡng là vấn đề lớn nhất, (dù không có trong Bảng 2.1 nói trên) với tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng lên tới 35,8% (chỉ tiêu suy dinh dưỡng tính theo chiều cao, mức độ vừa) Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Việt Nam, năm 2007, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng tính theo cân nặng là 21,2%; tính theo chiều cao

là 33,9% ; tính theo cân nặng và chiều cao là 7,1%, cụ thể còn 1,6 triệu trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân và 2,6 triệu em bị suy dinh dưỡng thấp còi

Trang 30

Với con số này, thì vấn đề nghèo về dinh dưỡng đứng ở vị trí số 1 trong tất cả các lĩnh vực thiếu thốn nhu cầu cơ bản và nước ta đang phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến năm 2010 còn 20% và năm 2015 xuống còn 15%.Nghèo về nơi ở

và thường đi kèm theo đó là thiếu các công trình vệ sinh cơ bản đứng ở vị trí thứ 2

và thứ 3 về mức độ nghiêm trọng, với tỷ lệ 20 – 30% số trẻ em đang chịu những thiếu thốn.Thiếu các phương tiện truyền thông dẫn đến thiếu thông tin tuy đứng ở vị trí thứ 4 về xếp hạng tỷ lệ trẻ phải chịu tình cảnh thiếu thốn, song đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu, vì thông tin không những là phương tiện tạo cơ hội phát triển năng lực cho cuộc sống tương lai của trẻ, mà còn là phương tiện giải trí.Con số 8,7% trẻ em thiếu nước sạch có thể quá thấp Theo số liệu của Chương trình Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 –

2010, thì tỷ lệ hộ nông dân có nước sạch mới đạt 62% vào cuối năm 2005

Tỷ lệ trẻ em nghèo về giáo dục, không đi học có tỷ lệ thấp, khoảng 1,6% Trẻ em nghèo về chăm sóc sức khoẻ, thiếu sự chăm sóc y tế đầy đủ (trong nghiên cứu này

là những em không được tiêm chủng, phòng ngừa các bệnh, không được chữa trị khi viêm nhiễm đường hô hấp cấp hoặc tiêu chảy) cũng có tỷ lệ tương đối thấp, khoảng 1,9% Xem xét các yếu tố tác động đến tình trạng thiếu thốn của trẻ em đối với những nhu cầu cơ bản, có thể thấy mức độ ảnh hưởng khác nhau của từng loại yếu tố Có sự khác biệt rõ rệt về mức độ thiếu các dịch vụ cơ bản giữa trẻ em ở khu vực đô thị và nông thôn Trong khi ở đô thị, tỷ lệ trẻ em thiếu các dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản rất thấp (trừ nhà ở có tỷ lệ 9,1%), thì ở nông thôn các en còn rất thiếu thốn về cơ sở vật chất:

Nhà ở: 33,5%; công trình vệ sinh: 24,9%; nước sạch: 10,7%; thông tin: 16,5%

Về yếu tố vùng, đặc điểm nổi bật là trẻ em miền núi như Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ thiếu cả cơ sở vật chất (nhà ở, công trình vệ sinh, nước sạch)

và thông tin, trong khi hai vùng đồng bằng và Đông Nam bộ có tỷ lệ trẻ em nghèo

về các lĩnh vực này thấp.Về yếu tố dân tộc, những dân tộc ít người, sống phân tán ở vùng cao, điển hình là người Mông trong mẫu điều tra, có tỷ lệ trẻ em nghèo cao về

Trang 31

tất cả các lĩnh vực Trẻ em thuộc các dân tộc có dân số đông, sống tập trung và ở vùng núi thấp, vùng đồng bằng như Tày, Nùng, Mường, Thái… thì mức độ nghèo

về thông tin là điều đáng chú ý Như vậy, cách đo lường tình trạng nghèo của trẻ em dựa trên cách tiếp cận đa chiều về sự thiếu thốn các nhu cầu cơ bản cho thấy những nét rõ ràng hơn về đặc điểm nghèo của trẻ em Việt Nam.Tỷ lệ trẻ em tuy phải trải qua tình cảnh thiếu thốn nhưng ít nghiêm trọng cao hơn so với tỷ lệ phải trải qua sự thiếu thốn nghiêm trọng, với thứ tự lần lượt của tình trạng thiếu các lĩnh vực theo Bảng 1 là: 33%, 27%, 13%, 11%, 14% và 27%

Các yếu tố tương quan với tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng của trẻ em

Về yếu tố tuổi và giới tính, nhìn chung, trẻ em ở độ tuổi nhỏ có xu hướng trải qua nhiều thiếu thốn nghiêm trọng hơn so với trẻ em lớn tuổi hơn Điều này phù hợp với

cả trẻ em trai và trẻ em gái Chẳng hạn, trong khi trẻ em trai từ 0-9 tuổi có từ 40 – 47% trải qua ít nhất một thiếu thốn nghiêm trọng thì đối với trẻ em từ 10-17 tuổi tỷ

lệ này là 36 – 37% Tương tự như mối tương quan giữa qui mô gia đình với tỷ lệ nghèo của trẻ em Tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản cao hơn ở các gia đình có số thành viên đông hơn, đặc biệt đối với gia đình có 7 thành viên trở lên, cụ thể theo kết quả điều tra 55% trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản trong các gia đình có 7 thành viên trở lên, trong khi tỷ lệ này ở gia đình dưới 3 người là 46%, trong gia đình 3-4 người là 29% và 5-6 người là 41%; Tỷ lệ trẻ thiếu nghiêm trọng

ít nhất 2 nhu cầu cơ bản cũng thể hiện sự chênh lệch tương tự giữa qui mô gia đình

có nhiều thành viên và ít thành viên Về mối tương quan của tỷ lệ trẻ em nghèo với học vấn của chủ hộ, thì tỷ lệ trẻ em thiếu nghiêm trọng ít nhất một nhu cầu cơ bản cao nhất ở các gia đình có chủ hộ thất học (77%), cao gấp 7 lần so với những gia đình có chủ hộ học xong PTTH trở lên và gần 3 lần so với những gia đình có chủ hộ học xong THCS.Về giới tính của chủ hộ: Trẻ em trong các gia đình có phụ nữ làm chủ hộ có tỷ lệ trải qua một thiếu thốn nghiêm trọng thấp hơn so với trẻ em trong các gia đình có nam giới làm chủ hộ (31% so với 41%).Về mức sống, trẻ em trong các gia đình thuộc nhóm 1 (20% nghèo nhất) có tỷ lệ rất cao thiếu ít nhất 1 hoặc 2 thiếu thốn nghiêm trọng (92% và 61%) và khác biệt đáng kể so với các nhóm khác

Trang 32

Chẳng hạn, đối với nhóm 2 là 64% và 18%, nhóm 3 là 28% và 3% và nhóm 4 là 11% và 1%, nhóm giàu nhất chỉ là 5% và 0%.Yếu tố dân tộc cũng thể hiện rất rõ trong mối tương quan với tỷ lệ cao thấp về tình trạng thiếu thốn của trẻ em Một số dân tộc thiểu số có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu cơ bản cao hơn rõ rệt so với trẻ em dân tộc Kinh Chẳng hạn, có 32% trẻ em dân tộc Kinh thiếu ít nhất một nhu cầu so với 99% trẻ em dân tộc Mông và 78% trẻ em dân tộc Thái Tương tự, tỷ

lệ trẻ em thiếu ít nhất 2 nhu cầu ở dân tộc Kinh là 2% so với 98% trẻ em dân tộc Mông và 37% trẻ em dân tộc Thái Ở các gia đình có trẻ em phải lao động, tỷ lệ trẻ

em thiếu nghiêm trọng ít nhất 1 nhu cầu cơ bản cũng cao hơn: 50% so với 36% Tỷ

lệ này đối với những em trải qua 2 thiếu thốn nghiêm trọng là 21% so với 15% Điều này cũng có thể hiểu là các gia đình mà trẻ em thường phải đóng góp sức lao động để tạo thu nhập thường là những gia đình nghèo, thiếu nhiều loại nhu cầu cơ bản Mặt khác, những gia đình “khuyết thiếu” cũng có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất 1 nhu cầu cơ bản cao hơn (43% so với 39%) Tương tự, những trẻ mồ côi thiếu nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản cũng có tỷ lệ cao hơn Sự khác biệt cũng thể hiện đặc biệt rõ ràng giữa những gia đình có tỷ lệ trẻ em phụ thuộc cao (4 em trở lên) với

số gia đình còn lại: 84% so với 39% Yếu tố vùng miền có mối liên hệ rõ ràng với

tỷ lệ trẻ em trải qua những thiếu thốn nghiêm trọng Nơi có tỷ lệ thấp nhất về trẻ em thiếu ít nhất một nhu cầu là vùng đồng bằng sông Hồng (12%) và nơi có tỷ lệ cao nhất là vùng Tây Bắc (74%) Vùng Đông Bắc có tỷ lệ trẻ em thiếu ít nhất một loại nhu cầu cũng khá cao (59%) và đứng thứ 2 Đáng ngạc nhiên là vùng đồng bằng sông Cửu Long lại có tỷ lệ cao thứ ba (54%) Sự khác biệt ở đô thị - nông thôn khá

rõ nét Tỷ lệ trẻ em trải qua ít nhất một thiếu thốn nghiêm trọng ở nông thôn cao gấp 3 lần so với đô thị (45% so với 16%), và đối với số trẻ em thiếu thốn 2 loại nhu cầu trở lên thì cao gấp 6 lần (19% so với 3%) Điều này thể hiện sự bất bình đẳng rất lớn giữa thành thị và nông thôn Nói cách khác, trẻ em nông thôn phải chịu nhiều thiệt thòi và bất bình đẳng hơn so với trẻ em đô thị

Sự khác biệt của trẻ em thiếu nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản ở các vùng miền

Mức độ khác biệt về tỷ lệ thiếu thốn nghiêm trọng theo từng nhu cầu cũng nhất

Trang 33

quán với sự khác biệt chung giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn Tuy nhiên, có một số thay đổi tuỳ theo đặc điểm của từng vùng Ví dụ, về mặt nhà ở, tỷ lệ thiếu nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cao thứ 3 (37%) sau vùng miền núi Tây Bắc (64%) và Đông Bắc (43%), thậm chí cao hơn ở vùng Tây Nguyên (33%) Kết quả này có thể liên quan đến tập quán sinh sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà người dân vốn không quan tâm lắm đến việc xây dựng nhà cửa

Tỷ lệ trẻ em thiếu nghiêm trọng nhu cầu vệ sinh môi trường cao nhất là ởtây Bắc và Nam Trung bộ (đều là 34%), tiếp đến là Đông Bắc (33%) và Tây Nguyên (27%).Điều này phù hợp với tỷ lệ nghèo cao ở những vùng này

Vùng Tây Bắc, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cũng có tỷ lệ trẻ em trải qua sự thiếu thốn nghiêm trọng về nhu cầu nước sạch, thông tin, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục

Tỷ lệ trẻ em trải qua các thiếu thốn nghiêm trọng về các nhu cầu cơ bản có sự khác biệt lớn giữa nông thôn và đô thị, rõ ràng nhất là tỷ lệ trẻ em ở nông thôn thiếu nước sạch cao gấp 10 lần, thiếu thốn về nhu cầu vệ sinh môi trường cao gấp gấn 5 lần, thiếu thông tin cao hơn 4 lần, thiếu nhà ở cao hơn 3 lần và cuối cùng thiếu thốn

về nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cao hơn 2 lần so với khu vực đô thị

Từ cách tiếp cận thu nhập/chi tiêu và sự thiếu thốn các nhu cầu của trẻ em, sự phân tích các số liệu của cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu, mức sống hộ gia đình và điều tra MICS cho thấy một bộ phận đáng kể trẻ em đang phải sống trong sự nghèo khổ Có mối liên hệ đáng kể giữa thực trạng nghèo của trẻ em với các đặc điểm cá nhân và hộ gia đình như: Tuổi, giới tính, qui mô gia đình, cấu trúc gia đình, học vấn của chủ hộ, số các thành viên phụ thuộc trong gia đình cũng như các yếu tố về địa lý và dân tộc Xác suất trẻ em bị rơi vào nghèo đói cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố về cá nhân

và gia đình của các em, cũng như các yếu tố vùng miền và dân tộc Đặc biệt, khi nước

ta hội nhập kinh tế quốc tế thì những chính sách tự do hoá kinh tế có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình mà trẻ em đang sinh sống Chính vì vậy, Nhà nước cần có các chính sách an sinh xã hội kịp thời để tạo cơ hội cho trẻ em nghèo phát triển

( Theo TS.BS Hoàng Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em)

Trang 34

2.2 Trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại địa bàn xã Châu Khê

Huyện miền biên giới Con Cuông (Nghệ An) có trên 17.000 hộ với trên 70.000 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc Thái, Kinh, tộc người Đan Lai, Tày, Nùng, Hoa, Khơ

Mú, Ê Đê Châu Khê là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Đây là vùng điều kiện

tự nhiên không mấy thuận lợi, diện tích tự nhiên rộng lớn, địa hình núi cao, chia cắt , thiên tai lũ lụt thường xuyên xẩy ra Điều này kéo theo việc đáp ứng nhu cầu đầu

tư cơ sở hạ tầng cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe còn hạn chế Nhiều hộ gia đình

đã phải bắt con lao động sớm Tình trạng bị bạo lực và vi phạm pháp luật ngày càng tăng lên Châu Khê hiện có 61 % trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Trẻ em

mồ côi cha, mẹ chiếm 5% trẻ em,ngoài ra có trẻ em lao động nặng nhọc, nguy

hiểm như: khuân vác, phụ hồ, làm mướn, trẻ em bị bạo lực ( Theo thống kê báo cáo hàng năm, năm 2016 tại xã Châu Khê)

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lao động trẻ em, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do đói nghèo Nhiều hộgia đình nghèo không thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho con em mình nên phảilao động sớm để tạo ra nguồn thu nhập, góp phần trang trải cho gia đình và bản thân các em Mặt khác, bản thân không còn nơi nương tựa như gia đình tan vỡ do ly hôn, mồ côi cha mẹ, gia đình thiếu trách nhiệm với con cái; một số khác do học kém nên không thể tiếp tục theo học hoặc ảnh hưởng của lối sống buông thả, tự do nên đã bỏ học để đi tìm việc làm kiếm sống Bên cạnh đó, một bộ phận trẻ em buộc phải di cư theo gia đình đến các thành phố tìm kiếm việc làm, các em này thường sống cảnh thiếu sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ và thường rơi vào các gia đình nghèo

Quan điểm của phụ huynh trên địa bàn xã Châu Khê về lao động trẻ em có sự khác biệt đáng kể đối với từng nhóm trẻ tham gia lao động, về mức độ và loại hình tham gia Có người cho rằng, trẻ em không nên làm những việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nhưng vẫn khuyến khích trẻ tham gia làm việc cùng gia đình để cha mẹ

có điều kiện quản lý, dạy bảo các em Số người khác lại cho rằng lao động là cần thiết với trẻ đã thôi học, vấn đề là ở mức độ lao động phải phù hợp với lứa tuổi và khả năng của trẻ Đa số những người lớn, những người có trách nhiệm cho rằng trẻ

Trang 35

nên tham gia lao động để giúp nâng cao thu nhập cho gia đình, đồng thời qua đó sẽ phát triển về thể chất và hình thành nhân cách, ý thức trong cuộc sống Trong khi

đó, tình trạng trẻ em tham gia lao động sớm, dù ở nhóm nào và tham gia ở mức độ nào thì cũng đều có những nguy cơ rủi ro về thể chất, tâm lý, ảnh hưởng đến học tập Hơn nữa, nếu may mắn hơn, nhiều em làm việc tại địa bàn sinh sống, làm việc cùng cha mẹ, người thân thì ít nguy cơ bị lạm dụng, bốc lột, không bị bắt làm những việc phi pháp; còn ngược lại, các em sẽ dễ bị lôi kéo vào những hành vi vi phạm pháp luật, các tệ nạn xã hội, dễ bị tổn thương và có nguy cơ cao bị lạm dụng, bóc lột

Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay trong việc quản lý, phòng ngừa và giải quyết vấn đề lao động trẻ em đó là chưa có một cuộc điều tra khảo sát ở quy mô phù hợp để nắm bắt đầy đủ và toàn diện về số lượng, mức độ tham gia cũng như các vấn đề liên quan khác đến lao động trẻ em Hệ thống tổ chức và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác Bảo vệ và chăm sóc trẻ em còn thiếu và yếu Sự phối hợp giữa các ban ngành, cơ quan, tổ chức trong việc quản lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động trẻ em còn chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ…

Trong đó tại xã Châu Khê qua như quá trình điều tra, nghiên cứu tỉ lệ các nhân khẩu, hộ nghèo được thể hiện rõ qua bảng 2.1 dưới đây:

Trang 36

Bảng 2.1: Biểu kê tình hình đời sống trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK tại xã

Châu Khê năm 2015

TT Các chỉ tiêu Đơn vị tính Toàn xã

Trong từng thôn bản Khe

Bu

Khe

Nà Diêm Bản Bản Xát Bủng Bản Châu Định Châu Sơn

Khe Choan

g

Thôn 2/9

Bản gạo

( Nguồn chính sách xã Châu Khê )

Qua bảng trên cho chúng ta thấy tỉ lệ hộ nghèo, khẩu nghèo trên địa bàn xã Châu Khê- huyện Con Cuông chiếm tỷ lệ rất, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu, nên

về việc trình độ cũng như nhận thức sẽ hạn chế về mọi mặt, về sự bình đẳng nam,

Trang 37

nữ Việc đó dẫn theo, nhận thức về quyền trẻ em cũng như quan niệm, cách chăm sóc trẻ em không được chú trọng, đời sống trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK cũng gặp nhều vấn đề như bỏ học sớm, tảo hôn , hay lao động sớm Do đó cần hỗ trợ hơn nữa về mặt chính sách cũng như việc áp dụng các mô hình vào thực tiễn để đồng bào XĐNG phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống, nhu cầu sự phát triển của trẻ trong giai đoạn trưởng thành

Biểu đồ2.2: Nguyên nhân dẫn đến trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK theo báo

cáo hàng năm của xã Châu Khê, năm 2015

Từ biểu đồ 2.2: Nguyên nhân dẫn đến trẻ có hoàn cảnh ĐBKK qua đây chúng ta

thấy được: Khó khăn về mặt kinh tế là nguyên nhân khiến trẻ rơi vào tình trạng ĐBKK chiếm tỉ lệ cao nhất 43%, khó khăn về mặt kinh tế thường dẫn đến nhận thức của phụ huynh về việc hướng tới tương lai cho trẻ em ở miền núi là điều khó khăn đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu sổ Từ những nguyên nhân chủ yếu nêu trên thường dẫn đến hậu quả khiến trẻ rơi vào tình trạng, hậu quả như:

- Trẻ em bỏ học sớm

Riêng tộc người Đan Lai có trên 1.000 hộ với trên 3.000 khẩu sống rải rác ở đầu các con khe ngọn suối ở khu vực Vườn quốc gia Pù Mát, một phần ở xã Thạch Ngàn, Môn Sơn Do giao thông cách trở, tập quán dựng vợ, gả chồng quá sớm, có người mới 25-26 tuổi đã lên chức bà ngoại, nên việc học hành thường bị lỡ dở.Theo

Trang 38

tiền lệ cứ vào đầu năm học các thầy cô giáo phải lặn lội vào tận từng nhà để vận động các em dân tộc Đan Lai đến trường học Năm học 2015-2016, đến ngày khai giảng năm học toàn xã vẫn còn 53/173 em học sinh Đan Lai bậc học Trung học cơ

sở (THCS) chưa đến trường nhập học Phòng giáo dục - Đào tạo huyện Con Cuông tiếp tục lập các đoàn công tác phối hợp với 2 Đồn biên phòng Môn Sơn và Châu Khê đến tận từng gia đình đểtuyên truyền vận động các em học sinh đi học Để đảm bảo kế hoạch năm học 2016-2017, nhất là giảm thiểu tình trạng học sinh Đan Lai bậc THCS bỏ học Bắt đầu từ đầu tháng 8, chính quyền địa phương giao cho các đoàn thể phối hợp với Phòng Giáo dục - Đào tạo và các trường Trung học cơ sở Môn Sơn, Châu Khê, Lục Dạ, Thạch Ngàn tổ chức nhiều đợt tuyên truyền vận động học sinh đến trường Các thầy, cô giáo phải đến tận các nương rẫy để vận động, thuyết phục các gia đình cho các em đến trường kịp học Thậm chí có những đêm trắng vào tận các bản để gặp gỡ học sinh, gặp gỡ phụ huynh để vận động các

em tới trường.Hiện nay, các trường đã bắt đầu tuần học đầutiên của năm học mới nhưng vẫn còn 30 em học sinh trung học cơ sở chưa đến lớp,trong đó có 25 em ở bản Cò Phát, Cò Nghịu, xã Môn Sơn; 5 em ở Khe Nóng, xã Châu Khê Được biết trong số 30 em chưa đến nhập học, khả năng đến lớp rất thấp vì trong dịp nghỉ hè có

em đã làm mẹ, làm vợ, có em đã theo anh, theo chị đi làm ăn xa

- Trẻ em lao động sớm

Trên địa bàn Huyện Con Cuông theo ước tính toàn huyện có khoảng 2300 trẻ em,

và có khoảng 7% trong đó rơi vào tình trạng lao động sớm Tại điạ bàn nghiên cứu thuộc xã Châu Khê huyện Con Cuông có tổng số trẻ em là 175 em, trong đó có 65

em độ tuổi từ 10 – 15 tuổi, 50 em từ 16 – 18 tuổi Theo thống kê của phòng Chính sách và Xã hội xã, thì có 12% số trẻ em phải đi làm kiếm sống Em N.V.T (15 tuổi) hiện đang làm thợ phụ tại xưởng sản xuất đồ gỗ (nằm trên địa bàn xã) Tâm sự với chúng tôi, T kể lấy lý do nhà ở gần xưởng ông chủ thường bắt T phải đến sớm dọn dẹp lại xưởng, làm những việc lặt vặt nhưng không kém phần nặng nhọc

Ông chủ còn nói những việc đó mới phù hợp với số tiền lương 700.000 đ/tháng Theo điều tra tìm hiểu tôi được biết đây không phải là trường hợp duy nhất mà còn

Trang 39

rất nhiều những đứa trẻ làm việc trong xưởng tư nhân này, các em chủ yếu là con

em của những gia đình trong vùng và những vùng lân cận Hàng ngày các em phải làm việc từ 5 giờ sáng, đến tận 7 giờ tối thì được nghỉ, hôm nào nhiều hàng thì phải tăng ca nhưng lại không được tăng lương Công việc thường không được định trước

mà do chủ giao việc gì thì làm việc đó, lúc thì vận chuyển hàng, giao hàng cho khách, có khi các em phải mang những thanh gỗ nặng gấp mấy lần cơ thể mình trên vai T chăm chỉ làm việc ở đây là vì đã được ông chủ hứa dạy nghề cho, nhưng 3 năm trôi qua em vẫn chỉ là một thợi phụ, chân sai vặt của chủ với đồng lương ít ỏi

Em H.T Q (14 tuổi) nhà ở khối Bản Gạo, đã làm thuê cho một nhà hàng hơn 1 năm nay Ngày nào cũng như ngày nào em phải thức khuya dậy sớm dọn dẹp, rửa bát, quạt than, bưng bê cho khách và hàng trăm việc lặt vặt khác Làm việc vất vả là thế nhưng tiền lương mỗi tháng chỉ được hơn 600.000đ, em lại hầu như chẳng được tham gia bất cứ hoạt động nào của một đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi chơi Khi được hỏi

lý do vì sao em lại chấp nhận đi làm thuê mà không đi học em chỉ trả lời: “tại nhà

em nghèo quá, em lại là chị cả, sau em còn có 2 em nữa” Trong những trẻ em lao động sớm, phải kể đến trẻ em lang thang trên các đường phố của Hà Nội, TP.HCM,

Đà Nẵng, TP.Vinh…Dù đang tuổi đến trường nhưng các em phải lê bước khắp đầu đường xó chợ bán vé số, ăn xin…Khi được hỏi các em làm việc tại xưởng gỗ, và quán ăn trên địa bàn xã đều nói muốn được đi học, vui chơi như các bạn cùng trang lứa nhưng vì nghèo đói mà phải bươn chải sớm, mưu sinh phụ giúp gia đình không thực hiện được những quyền cơ bản của mình Những con số thống kê ở trên, mặc

dù nó không hoàn toàn thể hiện được thực trạng của số trẻ em lao động sớm của cả nước nhưng đó cũng phản ánh được thực trạng trẻ em lao động sớm, đòi hỏi các cơ quan, các ban nghành lãnh đạo cần có những biện pháp phù hợp để hạn chế và tính đến việc giải quyết triệt để tình trạng này Việc trẻ em phải từ bỏ tuổi thơ của mình,

xa quê để ra thành phố kiếm sống là một điều hoàn toàn thiệt thòi cho các em khi

mà ở lứa tuổi này các em đang có những ước mơ, hoài bão, đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện Nhìn chung lại, tình trạng

Trang 40

này không phải dửng dưng mà có, nó được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau

Những vấn đề mà trẻ gặp phải Trẻ lao động sớm không được đảm bảo công việc phù hợp với lứa tuổi, điều kiện lao động độc hại, thời gian lao động kéo dài, đồng lương thấp Vì phải làm việc xa nhà, các em dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, dễ bị lợi dụng, lừa gạt vào các hoạt động mại dâm, mua bán qua biên giới…

Dễ bị chấn thương do dụng cụ lao động; Không được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe xứng đáng; Không được vui chơi giải trí,ăn uống thiếu thốn, trình độ văn hóa thấp; Khi phải tham gia lao động sớm thì các em không còn thời gian và sức lực

để giành cho việc học vậy nên một tất yếu là bỏ học đi kiếm sống ; Thiếu thốn tình cảm gia đình, không có giấy tờ tùy thân, thường xuyên đau ốm, không có chỗ ở ổn định: - Các em khi tham gia lao động sớm các em có thể phải va chạm với cuộc sống đầy phức tạp,các em sẽ rất dễ bị nhiễm các thói hư tật xấu của xã hội Với độ tuổi và kiến thức của các em không đủ để tránh khỏi việc không bị mắc phải Ma túy, mại dâm, HIV/AIDS, trộm cắp, đâm thuê chém mướn… đang ngày càng dẫn sâu vào cuộc sống của trẻ lao động sớm Tất cả trẻ lao động sớm có thể là đối tượng tấn công của bất kì một loại tệ nạn nào Một thực tế cho thấy đó là hiện tượng trẻ

em vi phạm pháp luật là rất cao, mà tập trung chủ yếu ở trẻ em lang thang Ban ngày đi làm tối về thì tụ tập ở các bến xe, quán nét, các tụ điểm đen và muốn khẳng định mình, các em đã bị cuốn vào các trò vô bổ và các lối sống không lành mạnh, điều đó đã làm hỏng nhân cách của những đứa trẻ mới lớn - Do cuộc sống quá khó khăn nên khi đang ở tuổi chơi các em đã phải đi kiếm sống Bên cạnh việc bị dính vào các tệ bạn xã hội thì một mặt trái nữa đó là: Các em bị đối xử thậm tệ,tra tấn và bóc lột sức lao động Một thực tế hiện nay cho thấy là số lượng trẻ bị bạo hành rất lớn Các em vì kiếm sống nên đã chịu đựng để cho chủ bóc lột sức lao động mà không hề có một sự phản kháng nào Qua phương tiện thông tin đại chúng chúng ta biết được rằng các em vừa bị bóc lột vừa bị tra tấn dã man, cũng chỉ vì muốn kiếm sống Tuổi của các em là tuổi đi học tuổi vui chơi, nhưng các em phải bươn chải khắp thành phố để kiếm sống, phải làm việc trong môi trường độc hại như: hóa

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w