CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH .... Nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn với phụ nữ bị bạo l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG LIÊN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI VĂN PHÒNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN – TRUNG TÂM
CSAGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60 90 01 01
Hà Nội - 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 12
3.1 Ý nghĩa lý luận 12
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4.1 Mục đích nghiên cứu 12
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13
5.1 Đối tượng nghiên cứu 13
5.2 Khách thể nghiên cứu 13
6 Phạm vi nghiên cứu 14
6.1 Nội dung 14
6.2 Thời gian nghiên cứu 14
6.3 Không gian nghiên cứu (địa điểm) 14
7 Câu hỏi nghiên cứu 14
8 Giả thuyết nghiên cứu 15
9 Phương pháp nghiên cứu 15
9.1 Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu 15
9.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 16
9.3 Phương pháp quan sát 16
10 Kết cấu của luận văn 16
NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 17
1.1 Các khái niệm công cụ 17
1.1.1 Khái niệm gia đình 17
1.1.2 Khái niệm bạo lực gia đình và các khái niệm liên quan 18
1.1.2.1 Khái niệm bạo lực/ bạo lực gia đình 18
1.1.2.2 Bạo lực với phụ nữ 20
1.1.3 Bình đẳng giới 21
1.1.4 Khái niệm vai trò 22
Trang 31.1.5.1 Định nghĩa 23
1.1.5.2 Phân loại tham vấn 25
1.1.5.3 Quy trình tham vấn 27
1.1.6 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 29
1.1.6.1 Thuyết Nhu cầu 29
1.1.6.2 Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm Carl Rogers 32
1.1.6.3 Thuyết Hệ Thống 34
1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
1.2.1 Tổng quan về Trung tâm CSAGA 35
1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trung tâm CSAGA 37
1.2.2.1 Cơ cấu đối tượng trợ giúp 37
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự, quản lý 38
1.3 Một số văn bản pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình 39
1.3.1 Một số văn bản pháp lý quốc tế về phòng chống bạo lực gia đình 39
1.3.2 Khung pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam 39
1.3.2.1 Luật pháp 39
1.3.2.2 Chính sách và chiến lược 40
Tiểu kết chương 1: 42
CHƯƠNG 2 NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI VĂN PHÒNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIỚI - TRUNG TÂM CSAGA 43
2.1 Thực trạng hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình của nhân viên công tác xã hội tại Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân - Trung tâm CSAGA 43
2.1.1 Quy trình tham vấn 43
2.1.1.1 Giai đoạn 1: Tạo lập mối quan hệ và lòng tin 45
2.1.1.2 Giai đoạn 2: Xác định vấn đề, giúp thân chủ phát hiện vấn đề họ đang tồn tại 48
2.1.1.3 Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp 50
2.1.1.4 Giai đoạn 4: Triển khai giải quyết vấn đề 52
2.1.1.5 Giai đoạn 5: Kết thúc 53
2.1.1.6 Giai đoạn 6: Theo dõi 54
2.1.2 Hình thức tham vấn với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân - Trung tâm CSAGA 55
2.1.3 Nội dung tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại văn phòng hỗ trợ nạn nhân trung tâm CSAGA 59
2.1.3.1 Tham vấn về tâm lý xã hội 61
2.1.3.2 Tham vấn về mặt pháp lý 63
Trang 42.1.3.3 Tham vấn về sức khỏe 64
2.1.3.4 Tham vấn về các kỹ năng sống 66
2.2 Nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng Hỗ trợ nạn nhân - Trung tâm CSAGA 68
2.2.1 Vai trò tư vấn 70
2.2.2 Vai trò tham vấn 71
2.2.3 Vai trò vận động/ kết nối nguồn lực 76
2.2.4 Vai trò người giáo dục 80
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân tại Trung tâm CSAGA 83
2.2.5.1 Các yếu tố từ nhân viên công tác xã hội làm công tác tham vấn 84
2.2.5.2 Các yếu tố khách quan 86
2.2.5.3 Sự hợp tác của người phụ nữ bị bạo lực gia đính 87
Tiểu kết chương 2: 90
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 91
3.1 Kết luận 91
3.2 Khuyến nghị 92
3.2.1 Về Trung Tâm CSAGA 92
3.2.2 Về bản thân nhân viên công tác xã hội 93
PHỤ LỤC 95
I PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO THAM VẤN VIÊN 95
II PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
I Tài liệu tiếng Việt 99
II Tài liệu tiếng Anh 101
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tổ ấm, là nơi thoả mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất của các thành viên, bảo vệ họ trước những căng thẳng của cuộc sống, là nơi chúng ta yêu thương và được yêu đương Thế nhưng có phải gia đình nào cũng là thiên đường không khi mà bạo lực gia đình đang là vấn đề mang tính chất toàn cầu, nó xảy ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo số liệu điều tra của Liên đoàn Phụ nữ toàn quốc bạo lực gia đình đang đe doạ cuộc sống của 30% trong tổng số 270 triệu gia đình sống trên lục địa (Theo tạp chí Khoa học về phụ nữ,) Cùng với số liệu trong Báo cáo điều tra về gia đìnhViệt Nam
do Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới cho biết rằngcó khoảng 37% cặp vợ chồng trong độ tuổi từ
18 đến 60 được hỏi cho rằng vợ chồng họ đã từng có mâu thuẫn và cứ 1000
vụ mâu thuẫn thì có 101 vụ xảy ra bạo lực, nạn nhân là phụ nữ chiếm hơn 90
% Quả thực, đó là một con số không nhỏ
Ở Việt Nam bạo lực gia đình chống lại phụ nữ không phải là một chủ đề mới, trong những năm gần đây, BLGĐ đã được đề cập trên phương tiện thông tin đại chúng và đã có nhiều báo cáo nghiên cứu về bạo lực gia đình được thực hiện và đã có các mô hình phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được áp dụng tại các địa phương Sự mất bình đẳng giữa đàn ông và phụ nữ
đã có từ lâu trong lịch sử và văn hóa của nhiều quốc gia theo chế độ phụ hệ trong đó có Việt Nam đã làm nên những thái độ và niềm tin chắc chắn của xã hội về vị trí, vai trò và trách nhiệm hơn hẳn một bậc của người đàn ông so với người phụ nữ
Bạo lực không còn là việc nội bộ tự giải quyết trong mỗi gia đình, mà đã trở thành một tệ nạn cần có sự quan tâm của toàn xã hội Năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành luật phòng, chống bạo lực gia đình Theo Luật phòng, chống
Trang 6bạo lực gia đình là hành vi bị nghiêm cấm cần được loại trừ, nhất là đây không còn là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (CEDAW) và chương trình hành động Bắc Kinh Điều này cho thấy được sự quân tâm của Nhà nước và Chính Phủ trong việc xoá bỏ nạn bạo lực chống lại phụ nữ
Mặc dù đã có những cảnh báo của nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng trước mắt cũng như lâu dài của bạo lực đối với đời sống tinh thần và thể xác của người phụ nữ nhưng cho đến thời gian rất gần đây ở Việt Nam, những nghiên cứu về bạo lực phụ nữ vẫn còn ở mức hạn chế về quy mô và tính nghiêm túc, hoặc ít ra cũng không ở mức độ phổ biến Các kiến nghị hiếm hoi của những nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ cũng vẫn còn chưa được các nhà chính sách xã hội sử dụng hoặc sử dụng rất ít ỏi Đặc biệt là chưa có nhiều nghiên cứu về bạo lực gia đình chống lại phụ nữ dưới góc nhìn công tác xã hội Trước những tác động của BLGĐ, NVCTXH có vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ xã hội, tư vấn pháp luật, trị liệu tâm lý, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi người dân Cụ thể, NVCTXH sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần thông qua các đối tác cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp Kết nối những cơ sở
y tế miễn phí để các nạn nhân bị bạo lực được khám và điều trị bệnh, tiếp cận các trung tâm giám định y tế để giám định về tỷ lệ thương tật, tiếp cận các văn phòng trợ giúp pháp lý, luật sư và cơ quan tư pháp, lập kế hoạch trợ giúp cho nạn nhân và điều phối các dịch vụ hỗ trợ dựa trên nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của nạn nhân nhằm đảm bảo quyền lợi Những trường hợp có vấn đề về tâm lý quá lớn, nhân viên CTXH không đủ khả năng giải quyết, họ
sẽ hỗ trợ các nạn nhân được kết nối đến các cơ quan và tổ chức có khả năng,
đủ thẩm quyền Song song với các hoạt động hỗ trợ, nhân viên CTXH cũng sẽ
Trang 7góp phần trang bị các kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm, tiếp cận với nhà tuyển dụng, phối hợp với các cơ quan đơn vị giới thiệu việc làm, tổ chức nhân đạo từ thiện để tạo việc làm cho nạn nhân
Trong rất nhiều những vai trò của NVCTXH trong trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ nêu trên, như vai trò là người kết nối, vai trò là người giáo dục, vai trò tham vấn, vai trò tư vấn thì vai trò tham vấn là một vai trò hữu hiệu trợ giúp những phụ nữ bị bạo lực gia đình tự tin vượt qua những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về tâm lý Ở trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới – Gia đình – Phụ Nữ và Vị thành niên (gọi tắt là CSAGA), phòng Hỗ trợ Nạn nhân luôn dành một quỹ thời gian tương đối lớn cho hoạt động tham vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình Do vậy, công việc tham vấn được xem là công việc chính trong hoạt động hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới của CSAGA và vai trò tham vấn của NVCTXH trong trợ giúp PN bị BLGĐ càng được quan tâm, chú trọng
Từ những lý do được phân tích ở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân - Trung Tâm CSAGA” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một hiện tượng xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử của thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Trong thế giới đương đại bạo lực gia đình, mà đối tượng chính của nó là phụ nữ và trẻ em, vẫn tồn tại và đang có xu hướng gia tăng Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng
BLGĐ là một hiện tượng mang tính toàn cầu: “Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình” [39]
Trang 8Bà Radhika Coomaraswamy, cựu Báo cáo viên đặc biệt của Ủy ban Nhân quyền LHQ về nạn bạo hành phụ nữ, nói rằng đối với đại đa số phụ nữ, vấn đề này là “điều cấm kỵ, phải che giấu, và là một thực trạng đáng xấu hổ” Theo thống kê của một tổ chức ở Hà Lan nghiên cứu về nạn nhân cho biết, có đến 23% phụ nữ ở một nước Nam Mỹ, tức là cứ trong 4 người thì gần như có
1 người, bị bạo hành trong gia đình Cuốn sách: “Violence, Silence and Anger
- Women’s Writing as Transgression” do Deirdre Lashgari chủ biên tạo cơ sở
cho các nhà nữ quyền trình bày các tư tưởng về sự im lặng, tức giận và nhu
cầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực [32]
Năm 2004, các tác giả Margaret Brome Janet Saul Karen Lang Rebeca Lee-Pethel Neil Rainford Jocelyn Wheaton đã đề cập đến các vấn đề như làm
thế nào để “phòng ngừa” bạo lực tình dục, trong tài liệu CDC, Sexual violence prevention: beginning the dialogue, các tác giả đã xây dựng các khái niệm,
phương pháp hành động dựa trên cơ sở y tế công cộng nhằm phòng ngừa và bảo vệ các nạn nhân bạo lực tình dục Từ “Thảo luận ban đầu này của y tế công cộng’ đã đặt nền tảng cho các cuộc đối thoại trong tương lai về cách chương trình phòng chống bạo lực tình dục cá nhân và tập thể từ đó xác định chiến lược và các cơ hội để tối đa hóa hiệu quả của các chương trình can
thiệp [40, Tr 20]
Năm 2008, tác giả Trần Đình Tuấn có bản dịch: “Code of Ethic of the National Association of Social Worker” viết tắt là NASW, các quy điều đạo
đức sẽ là sự cụ thể hóa các giá trị, mục tiêu và nguyên tắc của nghề công tác
xã hội, các chế định đạo đức của công tác xã hội bao gồm một hệ thống các giá trị, nguyên tắc và một tập hợp các chuẩn mực hành vi [42]
Những nghiên cứu về bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam được bắt đầu từ những 1990, và ngày càng nhiều và phong phú hơn, thu hút được sự quan tâm của xã hội Các góc cạnh của vấn đề được tìm tòi, phát hiện
Trang 9và công bố trên nhiều ấn phẩm thuộc chuyên ngành và những lĩnh vực khác nhau
Ở Việt Nam tác giả Lê Thị Quý đã in bài viết đầu tiên về “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên tạp chí khoa học Phụ nữ Đây là bài viết đầu tiên về
BLGĐ, cung cấp những thông tin và cái nhìn toàn cảnh về BLGĐ ở Việt Nam [9]
Năm 1996, trong tác phẩm “Nỗi đau thời đại” tác giả Lê Thị Quý đã đi
sâu phân tích về vấn đề BLGĐ dưới hai dạng “ Bạo lực không nhìn thấy được” và “Bạo lực nhìn thấy được” Từ đó giúp cho người đọc có thể dễ dàng nắm bắt được những biểu hiện và xu hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình có liên quan đến người phụ nữ [10]
Nghiên cứu của UNFPA phối hợp với CSAGA cũng chỉ ra khoảng cách giữa luật pháp và thực tiễn triển khai trong đó có giải pháp can thiệp về hình thành các cơ sở tham vấn cũng như cải thiện chất lượng tham vấn, hòa giải tại địa phương [26]
Theo kết quả nghiên cứu "Ước tính thiệt hại kinh tế do bạo lực gia đình gây ra với phụ nữ tại Việt Nam" thì tổng thiệt hại về năng suất lao động chiếm tới 1,78% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2012 của Việt Nam Bạo lực là nguyên nhân dẫn tới kìm hãm tăng trưởng kinh tế và gia tăng đói nghèo ở các quốc gia Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần [30]
Trang 102.2 Nghiên cứu liên quan đến tham vấn và tham vấn cho phụ nữ bị bạo
lực gia đình ở trong nước
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, nên việc tìm kiếm các nguồn tư liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề tham vấn cho phụ nữ bị BLGĐ
ở Việt Nam không nhiều vì vậy trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu gặp phải một số khó khăn Dưới đây chúng tôi xin nêu ra một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề Tham vấn cho phụ nữ bị BLGĐ
Trước năm 1945 ở một số bệnh viện như bệnh viện Bạch Mai đã có mặt của một số cán bộ xã hội và họ đã sử dụng kỹ năng tham vấn vào quá trình trợ giúp cho bệnh nhân chữa trị tại bệnh viện Ở Miền nam trước những năm
1975 đã có những khóa đào tạo tham vấn được đề cập trong các khóa đào tạo cán sự xã hội do thạc sỹ Nguyễn Thị Oanh, TS Trần Thị Giồng tiến hành và sau đó là mô hình tham vấn học đường cũng được đề cập và phát triển ở miền nam vào những năm 90 của thế kỷ XX
Nghiên cứu của UNPA và Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch năm 2010
để đưa ra hướng dẫn thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình cũng đề cập đến những dịch vụ cần phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, trong đó
có nhà tạm lánh, địa chỉ tin cậy cũng như tham vấn hôn nhân gia đình, bao gồm cả tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm đối với các đối tượng liên quan như phụ nữ bị bạo lực gia đình, người gây ra bạo lực gia đình và trách nhiệm tham vấn, tư vấn với cộng đồng [28]
Nghiên cứu của Lê Thị Quý năm (2007) về bạo lực gia đình cũng cho thấy hiện nay bạo lực gia đình đối với phụ nữ xảy ra nhiều hình thức khác nhau đối với phụ nữ, việc xây dựng các mô hình, câu lạc bộ tại địa phương cũng có tác động phần nào, tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra thực trạng tư vấn, hòa giải vấn đề bạo lực gia đình còn có những bất cập [11]
Trang 11Nghiên cứu các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em của Bùi Thị Xuân Mai đã chỉ ra sự thiếu hụt các dịch vụ trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình trong đó đặc biệt là dịch vụ tham vấn [2]
Bên cạnh những nghiên cứu điều tra , đã có môṭ số cuốn giáo trình của tác giả Bùi Th ị Xuân Mai đã chỉ ra tham vấn là môt ̣ nghề ứng d ụng và có tính chuyên môn cao [1] Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Đức thường tập trung vào các khía cạnh như nhu cầu tham vấn và những sai phạm về đạo đức khi tham vấn và sự cần thiết phải có giám sát tham vấn ở một số cơ sở hoạt động nghề tham vấn Trong cuốn giáo trình “Tham vấn tâm lý” tác giả
đã đề cập khá sâu về khái niệm tham vấn, lịch sử hình thành và phát triển nghề tham vấn , các lý thuyết tiếp c ận trong tham vấn đồng thời đề c ập tới các quy tắc đ ạo đức, kỹ năng quy trình tham vấn tâm lý , đặc biệt đưa ra các bài tập luyện thực hành tham vấn tâ m lý Đây thưc ̣ sự là cuốn sách quý báu cho những sinh viên và người làm việc trong lĩnh vực tham vấn [23]
Hoạt động tham vấn cho các chị em phụ nữ bị BLGĐ thường xuyên được tiến hành bởi các chi hội phụ nữ, các thành viên tổ hòa giải của cụm dân cư hoặc tổ dân phố Tuy nhiên đang tồn tại một thực trạng đó là các cán
bộ hội phụ nữ, các cán bộ hòa giải cơ sở làm công tác Tham vấn cho các chị
em phụ nữ bị BLGĐ chưa mang lại hiệu quả cao Đa số họ mới chỉ dừng lại
ở việc đưa ra những lời khuyên cho cho thân chủ chứ chưa thực sự Tham vấn cho chị em hội viên phụ nữ của mình bị BLGĐ hoặc mới chỉ bằng kinh nghiệm và niềm say mê nghề nghiệp chứ chưa được qua đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp Chính vì lý do đó nên cũng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ cho các nạn nhân là phụ nữ bị BLGĐ
Từ tổng quan nghiên cứu có thể nhận thấy rằng hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về phụ nữ bị BLGĐ tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị
Trang 12BLGĐ Do vậy, luận văn “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân - Trung Tâm CSAGA” là đề tài mới và không trùng tên với các
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có tính thực tiễn cao, giúp cho NVCTXH hệ thống lại cơ sở lý luận khi tham vấn cho PN bị BLGĐ Giúp NVCTXH có điều kiện ứng dụng các kiến thức kỹ năng và nâng cao trình độ nghề nghiệp khi tham vấn cho PN bị BLGĐ Kết quả nghiên cứu cũng góp phần bổ sung nguồn học liệu, làm tài liệu tham khảo cho sinh viên nghành công tác xã hội về những vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình nói chung và bạo lực chống lại phụ nữ trong hôn nhân nói riêng Là tài liệu tham khảo cho các trung tâm đang làm việc với phụ nữ bị bạo hành gia đình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua thực trạng hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình
ở VPHTNN -Trung tâm CSAGA và những kết quả đạt được từ hoạt động tham vấn để tìm hiểu “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động
Trang 13Trung Tâm CSAGA” Trên cơ sở đó, đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình nói chung và phụ nữ
bị bạo lực gia đình là khách hàng của CSAGA và nhân rộng mô hình tham vấn của Trung tâm ra địa bàn khác
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá những lý thuyết, xác định trình bày được các khái niệm công cụ như bạo lực, bạo lực gia đình, tham vấn trong CTXH, vai trò của NVXH, nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm hành vi của phụ nữ bị bạo lực gia đình, các lý thuyết nền tảng ảnh hưởng đến quá trình tham vấn của
NVXH đối với phụ nữ bị bạo hành gia đình
Thông qua điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu để làm rõ thực trạng hoạt động tham vấn của NVCTX với phụ nữ bị BLGĐ tại VPHTNN -Trung tâm
5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn với phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại Văn phòng hỗ trợ nạn nhân – Trung Tâm CSAGA
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ quản lý, nhân viên công tác xã hội đang trực tiếp tham gia quản
lý, hỗ trợ tại văn phòng hỗ trợ nạn nhân - trung tâm CSAGA
- Khách hàng tham vấn thường xuyên tại CSAGA là phụ nữ đã có gia
đình bị bạo lực về thể chất, tinh thần, tình dục… trong gia đình
Trang 146 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung
Khi làm việc với PN bị BLGĐ, nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp một hay nhiều dịch vụ xã hội để hỗ trợ PN bị BLGĐ như: nâng cao năng lực tâm lý xã hội (phục hồi tâm lý sau sang chấn, kỹ năng sống và giá trị sống,…) và năng lực kinh tế (kỹ năng nghề và cơ hội việc làm)… Cùng với việc hỗ trợ nhiều hoạt động như thế, NVCTXH sẽ đóng nhiều vai trò khác nhau chẳng hạn như: Vai trò là người vận động nguồn lực, vai trò là người kết nối, vai trò là người biện hộ, vai trò là người vận động/hoạt động xã hội, vai trò là người giáo dục, vai trò là người tư vấn, vai trò là người tham vấn, vai trò người tạo sự thay đổi…
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tôi sẽ chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động tham vấn của NVCTXH, trong rất nhiều vai trò kể trên, luận văn sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các vai trò tiêu biểu của NVCTXH trong hoạt động
TV như: Vai trò là người kết nguồn lực, vai trò tư vấn, vai trò tham vấn, vai trò là người giáo dục và vai trò là người tạo sự thay đổi
6.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03/2015 đến tháng 09/ 2015
6.3 Không gian nghiên cứu (địa điểm)
Văn phòng hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới– Trung tâm CSAGA
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động tham vấn cho PN bị BLGĐ tại VPHTNN – trung
tâm CSAGA như thế nào?
- Nhân viên Công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc trợ giúp
phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Trung tâm CSAGA?
Trang 15- Nhân tố nào là cơ bản ảnh hưởng tới việc thực hiện các vai trò của
NVCTXH trong quá trình tham vấn cho PN bị BLGĐ
8 Giả thuyết nghiên cứu
Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, tác giả đã đi đến những giả thuyết nghiên cứu sau:
- Hoạt động tham vấn cho PN bị BLGĐ tại VPHTNN – trung tâm
CSAGA cchủ yếu là tham vấn cá nhân, tham vấn gián tiếp Hình thức tham vấn ở CSAGA đã tiến hành theo hướng chuyên nghiệp, tuân theo
quy trình tham vấn cá nhân trong CTXH và các quy tắc nghề nghiệp
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn đối với
phụ nữ bị BLGĐ đang là khách hàng ở CSAGA như sau: vai trò giáo
dục, vai trò tư vấn, vai trò tham vấn, vai trò kết nối nguồn lực…
- Năng lực, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của NVCTXH, NVCTXH
làm công tác kiêm nhiệm, cơ sở vật chất hay sự hợp tác của PN bị BLGĐ khi được tham vấn là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc
thực hiện vai trò của NVXH trong khi tham vấn cho PN bị BLGĐ
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu
Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí, các bài đánh giá, bài viết
và kỷ yếu hội thảo của một số tổ chức làm việc về vấn đề bạo lực gia đình, bạo lực tình dục như CWD, CCHIP… Các bài viết số liệu, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí Xã hội học, báo Gia đình và Xã hội, các website trong và ngoài nước
Các báo cáo như: Báo cáo nghiên cứu về bạo lực gia đình năm 2006, báo cáo kết quả từ Nghiên cứuquốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam 2010, báo cáo hàng năm của trung tâm CSAGA, các tài liệu, bài viết được lưu ở Thư viện Giới của CSAGA
Trang 16Các văn pháp pháp lý như Công Ước CEDAW, Hiến pháp năm 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2004, Luật Bình đẳng giới năm 2007, Nghị Định 08/2009/ NĐ - CP, ngày 04 tháng 02 năm 2009 của Chính Phủ quy định chi tiết về việc thi hành một số điều luật phòng chống bạo lực gia đình
10 Kết cấu của luận văn
Luận văn này ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục, gồm có 2 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của NVCTXH trong hoạt động TV với phụ nữ bị BLGĐ
Chương 2 Nhân viên công tác xã hội và hoạt động tham vấn cho phụ nữ
bị bạo lực gia đình tại Văn phòng Hỗ trợ nạn - Trung tâm CSAGA
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm gia đình
Có rất nhiều định nghĩa về gia đình, nhưng nhìn chung, các nhà khoa học đều thống nhất rằng gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên hai mối quan hệ
cơ bản là hôn nhân (chồng-vợ) và huyết thống (cha-mẹ-con)
Chương 1- Điều 8- Khoản 10- Những qui định chung của Luật Hôn nhân
và Gia đình Việt Nam định nghĩa: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này [12]
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy,
có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người
Từ những định nghĩa này, ta có thể tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm XH, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của
Trang 18mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng Gia đình có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể
1.1.2 Khái niệm bạo lực gia đình và các khái niệm liên quan
1.1.2.1 Khái niệm bạo lực/ bạo lực gia đình
- Khái niệm bạo lực
Theo báo cáo của tổ chức WHO: “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát” [33]
- Khái niệm BLGĐ
Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến bạo lực/ bạo hành trong gia đình cụ thể
như sau:
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về bạo lực gia đình
như sau: “Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” [26]
Ở Việt Nam, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về giải thích
thuật ngữ “Bạo lực/ bạo hành gia đình” tại Điều 1 Khoản 2: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” [13]
Trang 19Nói tóm lại, bạo lực gia đình: Bạo lực trong gia đình là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực và bạo lực trong cả một quá trình để thực hiện hành vi làm cho thành viên khác trong gia đình đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó Mặt khác, bạo lực gia đình là hành
vi cố ý Mục đích của nó là để thiết lập và duy trì quyền lực và sự kiểm soát đối với người khác Bạo lực được dùng để đe dọa, hạ nhục hoặc khiến nạn nhân sợ hãi
- Các loại hình bạo lực gia đình
Phân loại các loại hình BLGĐ là một vấn đề phức tạp, tuy nhiên lại là hết sức quan trọng bởi nó cho phép mô tả đa diện thực trạng vấn đề để tìm ra phương cách hữu hiệu cho phép khắc phục thực trạng vấn đề Dựa theo kết quả Nghiên cứu Quốc gia về BLGĐ đối với Phụ nữ có thể nói đến các loại hình cơ bản sau của BLGĐ [16]
Theo phương cách ứng xử: có sử dụng vũ lực hay không bằng vũ lực có thể phân BLGĐ thành hai loại hình chính: bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần
Bạo lực thể chất: là loại hình bạo lực có sử dụng vũ lực, tác động trực tiếp
lên thân thể nạn nhân như đánh đập; nhục hình; tước đoạt tuỳ tiện về tiền của, tài sản; cưỡng bức tình dục; …
Bạo lực tinh thần: Bạo hành tinh thần là bất kỳ hành vi cố ý nào làm tổn
thương tinh thần của đối phương, ví dụ làm cho đối phương lo lắng, buồn khổ, suy nghĩ căng thẳng, tinh thần suy sụp,nghĩ đến cái chết v.v.Trong loại hình bạo lực này đáng chú ý là loại bạo hành ngôn ngữ
Các hành vi bạo hành về tinh thần bao gồm:
Trang 20 Dùng lời nói chửi bới, mắng nhiếc, đay nghiến nhằm hạ thấp hay xúc phạm đối phương
Có lời nói hay hành vi đe dọa, xúc phạm nhân phẩm, tống tiền, tống tình đối phương
Kiểm soát hay không cho đối phương tự do giao tiếp xã hội
Kiểm soát về kinh tế, không cho đối phương được tham gia bàn bạc, thảo luận hay ra quyết định về kinh tế
Cố ý lạnh nhạt (gây chiến tranh lạnh) nhằm gây áp lực, làm đối phương căng thẳng và phải chấp nhận điều gì đó mà họ không muốn
Không cho hoặc dọa không cho gặp mặt, nuôi dưỡng con
Dùng lời nói hay hành động đe dọa, ngăn cản không cho ly hôn, hoặc không cho kết hôn theo mong muốn chính đáng
Và nhiều hành vi tương tự khác
Theo quan hệ của các đối tượng BLGĐ có thể phân chia thành một số loại hình BLGD: bạo lực giữa vợ chồng với nhau (bạo hành hôn nhân); bạo lực giữa các thành viên lớn tuổi; bạo lực của người lớn đối với trẻ em; bạo lực ngược – người nhỏ tuổi với người lớn tuổi hơn
Phân loại theo giới là cách tiếp cận thường gặp trong các nghiên cứu về
BLGĐ
Theo cách này người ta nói đến nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, và ít thường xuyên hơn, nạn bạo hành ngược – phụ nữ bạo hành nam giới Trong mỗi tiểu loại này lại có thể thấy sự có mặt các loại hình BLGĐ đã nói ở trên
Từ những cách tiếp cận nêu trên, trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm bạo lực giữa vợ chồng với nhau (BLGĐ)
1.1.2.2 Bạo lực với phụ nữ
Theo Tuyên ngôn của đại hội đồng Liên hiệp Quốc về việc loại bỏ bạo
lực đối với phụ nữ: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực dựa
Trang 21trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý hay những khổ đau của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay cưỡng đoạt một cách tùy tiện sự tự do dù nó có xảy ra trong cuộc sống riêng tư hay ở nơi công cộng”
Theo Điều 5, Luật Bình đẳng giới, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam,
năm 2006: “Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [11]
Một trong những nguyên nhân dẫn đến BLGĐ đó là sự mất bình đẳng và nhận thức kém về bình đẳng giới Bình đẳng giới là một trong những giá trị mang tính toàn cầu Mục tiêu cơ bản của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế -
xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Nhận biết về bình đẳng giới đúng đắn sẽ làm giảm tình trạng bạo lực gia đình trong xã hội nói chung và đối với nghề nghiệp CTXH nói riêng sẽ giúp
Trang 22nhân viên công tác xã hội có cái nhìn đa chiều đúng đắn khi xử lý các trường hợp
1.1.4 Khái niệm vai trò
Vai trò của cá nhân như là một vai diễn là một hoặc nhiều chức năng mà
cá nhân ấy phải đảm trách trước xã hội Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định
Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng
Các nhà Xã hội học đã vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả các vai trò xã hội Vai trò xã hội không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời Những hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội Địa vị và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách
Địa vị xã hội và vai trò luôn gắn bó mật thiết với nhau Không thể nói tới địa vị mà không nói tới vai trò và ngược lại Vai trò và địa vị là hai mặt của
Trang 23một vấn đề Địa vị của cá nhân được xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: người đó là ai? Và vai trò của các nhân được xác định bằng cách trả lời câu hỏi: người đó phải làm gì? Vai trò phụ thuộc vào địa vị (địa vị nào vai trò ấy) Một địa vị có thể có nhiều vai trò Trong mối quan hệ giữa địa vị và vai trò thì địa vị thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì biến động hơn Thông thường thì sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến đổi của địa vị Địa vị biến đổi thì vai trò cũng biến đổi
1.1.5 Tham vấn
1.1.5.1 Định nghĩa
Hiện nay, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ tham vấn Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn cho trẻ em - Tài liệu thực tiễn về Bảo vệ trẻ em cho các tổ chức Bảo vệ trẻ em làm việc tại cộng đồng của UNICEF thì tham vấn không giống như một cuộc nói chuyện
Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình trong đó NVCTXH giúp thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa, cảm giác và hành vi của họ NVCTXH không giải quyết vấn đề cho thân chủ Cụ thể là NVCTXH giúp đỡ thân chủ cải thiện “trạng thái tâm lý của họ” Việc này được xem như một quá trình giúp thân chủ “nghĩ, cảm giác và hành động khác với trước và để từ đó họ có thể đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống của họ một cách có hiệu quả
hơn”
Theo Rogers Jenny trong cuốn Caring for people cho rằng, tham vấn là
hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ, hoạt động này giúp đối tượng (người cần được tham vấn) nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống [45]
Trang 24Trần Thị Minh Đức định nghĩa tham vấn là “một quá trình tương tác giữa NVCTXH - người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn - với thân chủ (còn được gọi là khách hàng) - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ Thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình”
[22]
Từ những khái niệm trên, có thể kết luận rằng: Tham vấn là quá trình tương tác giữa NVCTXH (người có chuyên môn, kĩ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình, tăng cường khả năng ứng phó và phục hồi chức năng tâm lý xã hội của thân chủ trong tương lai
Mục đích tổng quát của tham vấn là giúp thân chủ tăng cường khả năng
tự ứng phó với hoàn cảnh khó khăn không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai
tăng cường các động cơ tích cực
họ bằng cách cung cấp cho họ những thông tin có giá trị thích hợp, những giải thích có cơ sở
đó giúp họ lựa chọn giải pháp thích hợp nhất đối với hoàn cảnh và khả năng của họ
Trang 25 Giúp thân chủ đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông tin
mà nhân viên xã hội cung cấp, dựa trên khả năng của đối tượng cũng như tiềm năng hỗ trợ từ các nguồn lực bên ngoài
đang mắc phải
1.1.5.2 Phân loại tham vấn
Căn cứ vào hình thức tham vấn: chia thành 2 loại tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp:
trực tiếp, NVCTXH dùng các kĩ năng của mình giúp thân chủ hiểu, nhìn nhận lại sự kiện một cách tích cực hơn, các nguyên nhân dẫn đến sự kiện
đó khơi dậy những tiềm năng của thân chủ, để họ tự lựa chọn các giải pháp giải quyết vấn đề của chính mình
thường thông qua khâu trung gian như qua báo chí, qua đài, qua điện thoại, qua internet
Căn cứ vào các phương tiện thông tin
Hiện nay có 7 loại hình tham vấn: Tham vấn qua điện thoại, qua đài, qua truyền hình, qua Internet, chat room, qua báo, tại các trung tâm tham vấn
Căn cứ vào đối tượng tham vấn:
Tham vấn chia thành 3 loại: tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình và tham vấn nhóm:
Trang 26 Tham vấn cá nhân: là hình thức tham vấn diễn ra với 1 cá nhân, giúp cá nhân đó giải quyết vấn đề mà họ đang phải đối phó Mối quan hệ tương tác giữa NVCTXH với TC là mối quan hệ 1 -1
Theo E.D Neukrug, đề xuất quy trình TV cá nhân được chia thành 6 giai đoạn: Giai đoạn tạo lập mối quan hệ và lòng tin; Giai đoạn xác định vấn đề ban đầu, giúp TC phát hiện vấn đề đang tồn tại đối với họ; Giai đoạn lựa chọn giải pháp; Giai đoạn triển khai giải pháp; Giai đoạn kết thúc; Giai đoạn theo dõi [43]
hoặc nhiều thành viên trong gia đình giải quyết những vấn đề tâm lý xã hội của họ Loại hình TV này được diễn ra qua các buổi làm việc thảo luận giữa các thành viên trong gia đình, với sự điều phối của NVCTXH, gia đình và cá nhân đưa ra và thực hiện những giải pháp cho vấn đề liên quan tới gia đình và thành viên trong gia đình Quy trình TV trong gia đình thường có 3 giai đoạn: Giai đoạn tiếp xúc ban đầu - Tạo lập mối quan hệ; Giai đoạn trung gian; Giai đoạn kết thúc
nhân trong nhóm, nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề tâm lý xã hội của mỗi cá nhân, đồng thời hỗ trợ họ phát triển nhân cách cũng như các mối quan hệ XH tích cực Trong TV nhóm NVCTXH sử dụng kỹ năng điều phối nhóm để giúp các TV trong nhóm đáp ứng nhu cầu hoặc giải quyết những vấn đề của mình thông qua các buổi họp nhóm Tiến trình
TV nhóm: Giai đoạn thiết lập nhóm; Giai đoạn tiến hành hoạt động nhóm; Giai đoạn kết thúc
Trang 271.1.5.3 Quy trình tham vấn
Theo giáo trình Tham vấn Tâm lý cá nhân và Gia đình thì quá trình tham vấn tâm lý sẽ có 4 giai đoạn: [23]
Giai đoạn 1: Lượng định
Trong giai đoạn 1, nhà TV cần làm các bước sau:
- Tìm hiểu vấn nạn của TC: Lượng định là tìm hiểu cặn kẽ vấn nạ của
TC và các yếu tố liên quan đến vấn nạn đó Công việc này có thể bắt đầu từ trước buổi gặp TC đầu tiên
- Xác định ai là đối tượng cần thay đổi/ giúp đỡ: Trong những vấn đề có liên quan đến người khác ngoài TC, đối tượng cần được giúp đỡ có thể
là chính thân chủ, người kia hoặc cả hai
- Những cách giải quyết cũ: thông thường TC tìm đến tham vấn sau khi
đã thử nhiều biện pháp nhưng không đạt được hiệu quả mong muốn Nhà TV cần tìm hiểu, biện pháp ấy là gì? Tại sao biện pháp ấy lại không giải quyết được vấn đế?
- Những tài nguyên có thể huy động: tài nguyên là những thứ người ta có thể dựa vào để tạo ra sự thay đổi Tài nguyên có thể từ phía bản thân thân chủ như tiền bạc, sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, hàng xóm, ý chí vươn lên thay đổi hoàn cảnh
NVCTXH thu thập thông tin, phân tích thông tin để tìm ra thực chất vấn
đề là gì, nguyên nhân nằm ở đâu, xảy ra như thế nào NVCTXH và thân chủ cùng khám phá vấn đề của thân chủ: Vấn đề xuất hiện như thế nào? Khi nào?
ở đâu ? Vấn đề tồn tại bao lâu, ai liên quan đến vấn đề? Liên quan như thế nào? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề? Vấn đề đã giải quyết như thế nào? Vấn đề trước mắt muốn giải quyết là gì? TC cảm thấy như thế nào? Ngoài ra trong giai đoạn này, NVCTXH còn phải tìm hiểu thông tin về các nguồn tiềm
Trang 28năng của thân chủ và xã hội trong việc giải quyết vấn đề của thân chủ để phục
vụ cho việc xây dựng kế hoạch giúp đỡ đối tượng
Giai đoạn 2: Xác định phương pháp thiết lập kế hoạch và ấn định mục tiêu
Giúp đối tượng đưa ra những hướng giải pháp có thể và lựa chọn giải pháp tốt nhất, phù hợp nhất đối với hoàn cảnh của họ Khi một vấn đề đã được xác định và hiểu rõ được nguyên nhân gây ra thì NVCTXH giúp thân chủ tìm kiếm các giải pháp Sau đó trên cơ sở phân tích, NTV giúp TC nhận thức được nhu cầu tiềm năng để thực hiện và chọn giải pháp thích hợp
- Trước hết nên để thân chủ tự mình đưa ra những hướng giải quyết cụ thể
- Nếu đối tượng không thể tự ra được thì NTV gợi ý cho họ
- Hỗ trợ TC lựa chọn giải pháp thích hợp nhất bằng việc
Giai đoạn 3: Thi hành giải pháp
Trong giai đoạn này nhà TV và thân chủ soạn thảo các bước thi hành kế hoạch, thời gian, trình tự và các bước thực hiện các bước đó theo đúng kế hoạch đã đề ra Cũng như giải pháp, kế hoạch thi hành giải pháp cũng phải có tính uyển chuyển, nghĩa là có thể thay đổi khi cần thiết cho phù hợp với tình hình hiện tại của vấn đề Bên cạnh đó, Nhà TV kiểm tra tiến trình thực hiện công việc mà TC đã đề ra Nếu thân chủ không thực hiện cần sử dụng kỹ năng làm mẫu để TC trải nghiệm và làm theo, hoặc tìm kíêm các nguồn hỗ trợ bên ngoài cho thân chủ
Giai đoạn 4: Đánh giá và kết thúc
Đánh giá kết quả tham vấn cũng là công việc chung của TC và người làm công tác TV Qua đó, đôi bên nhận định được về những mục tiêu đã đạt được và không đạt được để quyết định kết thúc hay tiếp tục TV Lượng giá
Trang 29thường xuyên thực hiện trong suốt quá trình tham vấn nhằm giúp TC cảm nhận được mức độ tiến triển của sự việc và giúp NTV kịp thời điểu chỉnh và thay đổi phương cách nhằm trợ giúp có hiệu quả nhất cho TC Kết quả TV có thể giải quyết một vấn đề nào đó của TC
Theo dõi sau khi đóng hồ sơ: thường dưới hình thức gọi điện hỏi thăm hay lá thư ngắn để người TV biết được tình trạng của TC và nhắc cho TC biết được những nguồn lực để TC có thể sử dụng trong tương lai Đảm bảo rằng
TC đã tự đương đầu được với các vấn đề của họ trong cuộc sống Thời gian trung bình kéo dài từ vài tuần đến 6 tháng
1.1.6 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.6.1 Thuyết Nhu cầu
Abraham Maslow là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục
Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong
đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới
Trang 30Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ
Vận dụng thuyết nhu cầu vào hoạt động CTXH với phụ nữ bị bạo lực gia đình: NVCTXH đặc biệt phải chú ý đến nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình nhằm mục đích trị liệu những tổn thương cả về thể chất, tinh thần cũng như phục hồi năng lực của phụ nữ bị bạo lực gia đình bị mất đi do hậu quả của bạo lực để lại, ngăn chặn những hậu quả tiêu cực đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Về mặt thể chất, phụ nữ bị bạo lực thường có rất nhiều tổn thương trên
cơ thể, NVCTXH có thể liên hệ với những trung tâm y tế gần nhất để chăm sóc sức khỏe, điều trị vết thương cho phụ nữ bị bạo lực gia đình, đảm bảo cho phụ nữ bị bạo lực gia đình chỗ ở an toàn để hồi phục cả về sức khỏe thể chất
và tâm lý
Vể mặt tâm lý - xã hội, phụ nữ bị bạo lực gia đình có nhu cầu an toàn rất cao không chỉ về chăm sóc sức khỏe, nơi ở mà đó còn là an toàn về tình cảm, nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình về tình thương cũng rất lớn Phụ nữ bị bạo lực gia đình bị bạo lực gia đình thường có một hậu quả là nhút nhát khi tiếp xúc với những người bên ngoài, khả năng hòa nhập xã hội có phần hạn chế Tổn thương về tinh thần cũng là điều đáng chú ý, phụ nữ bị bạo lực lại là
do chính những người thân trong gia đình (chồng, mẹ chồng…) nên nhiều khi khái niệm niềm tin đối với những người xung quanh đã thay đổi, phụ nữ bị bạo lực gia đình luôn có sự lo lắng, sợ hãi cho sự an toàn của mình Phụ nữ bị bạo lực gia đình cần có một điểm tựa, một niềm tin
Trang 31Chính vì thế, song song với việc phục hồi về mặt thể chất thì NV CTXH giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình phục hồi tâm lý NV CTXH có thể sử dụng các phương pháp tư vấn, tham vấn tâm lý cho phụ nữ bị bạo lực gia đình, có thể là đối mặt với sự sợ hãi, giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình nói ra sự lo lắng Đồng thời, NV CTXH có thể liên hệ với những người thân, những địa chỉ (có thể là trung tâm bảo trợ xã hội hoặc các Trung tâm có Văn phòng Hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới như Trung tâm CSAGA) có thể yêu thương và chăm sóc phụ nữ bị bạo lực gia đình, đảm bảo sự an toàn cả về vật chất và tâm lý, tình yêu thương dành cho phụ nữ bị bạo lực gia đình Ngoài ra, có thể giúp phụ
nữ bị bạo lực gia đình tìm kiếm sự giúp đỡ cho chính bản thân mình : nói chuyện với ai đó mà bạn nghĩ rằng có thể giúp đỡ mình Như vậy, đối với phụ
nữ bị bạo lực gia đình, NV CTXH cần có những tiến trình công tác xã hội phù hợp, quan tâm, chăm sóc về sức khỏe và tư vấn, tham vấn tâm lý
Với những phụ nữ bị bạo lực gia đình thì nhu cầu thuộc về thể chất của
họ không được đáp ứng như việc họ bị bỏ đói, bị đuổi ra khỏi nhà…khi đến với NVCTXH họ đều rơi vào tình trạng nhu cầu về thể chất - điều kiện đầu tiên để tồn tại không được đáp ứng và theo lý thuyết nhu cầu nếu nhu cầu cần thiết nhất không được đáp ứng sẽ ảnh hưởng đến việc đáp ứng các nhu cầu tiếp theo
Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp NVCTXH xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của thân chủ, nhận
ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, NVCTXH đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,
Trang 321.1.6.2 Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm Carl Rogers
Bên cạnh lý thuyết nhu cầu của A.Maslow NVCTXH ngoài việc tìm hiểu và đáp ứng các nhu cầu của thân chủ không chưa đủ mà NVCTXH cần phải vận dụng lý thuyết lây thân chủ làm trọng tâm, bởi lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm là một trong những nền tảng lý luận rất lớn cho sự xây dựng và phát triển mối quan hệ tin tưởng giữa NVCTXH và thân chủ Bởi nếu không tạo lập và phát triển được mối quan hệ tốt của thân chủ chúng ta không thể
nào trợ giúp được cho thân chủ
Theo Carl Rogers mỗi các nhân đều có những tiềm năng riêng để họ có thể phát triển một cách tích cực Nếu như một các nhân nào đó gặp phải khó khăn về tâm lý, có những hành vi không phù hợp là do họ sống trong môi trường không lành mạnh, không có điều kiện để họ phát huy tiềm năng của
họ Lý thuyết này cho rằng các khó khăn của các cá nhân do họ tập nhiễm những cách ứng xử không phù hợp, họ cần được giúp đỡ để phát triển tiềm năng tâm lý một cách hiệu quả Nhiệm vụ của NVCTXH trong quá trình trợ giúp cho thân chủ đặc biệt là với những phụ nữ bị bạo lực gia đình là giúp họ tháo gỡ bỏ các rào cản trong môi trường xã hội, giúp họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân để đạt được trạng thái cân bằng
Khi tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình với một số trường hợp NVCTXH giúp thân chủ hiểu được chính hoàn cảnh của mình và đôi khi họ chấp nhận thực tế, chấp nhận cuộc sống hiện tại hay “sống chung với lũ” như
vậy thân chủ sẽ cảm thấy bớt căng thẳng và họ sẽ thoải mái hơn
Nhiệm vụ của NVCTXH là giúp cá nhân nhận biết được tiềm năng của chính họ, đồng thời giúp cho họ có được một môi trường thuận lợi cho sự thực hiện hoá những tiềm năng đó thông qua việc cải thiện môi trường xã hội
Trang 33Lý thuyết này nhấn mạnh giá trị nhân văn của con người đó là tình yêu,
tự trọng, tính sáng tạo và quyền tự do, tự quyết cuả con người Khi ở trong tình huống khó khăn con người thường bị mặc cảm, tự ti và trở nên lệ thuộc Nhiệm vụ của NVCTXH là giúp đối tượng nhìn nhận và chấp nhận phần thực tiễn của mình, khám phá ra những kinh nghiệm vốn có, những điểm mạnh của cá nhân cũng như nguồn lực có thể Điều này sẽ giúp họ trở nên mạnh mẽ hơn, sáng tạo hơn trong giải quyết vấn đề Với những phụ nữ bị bạo lực gia đình họ cũng có lòng tự trọng, tình yêu thương, tính sáng tạo, quyền
tự quyết của họ vì thế nên khi tham vấn cho họ NVCTXH nên giúp họ tự khám phá ra những điểm mạnh, những khả năng và tính sáng tạo của họ vào việc giải quyết vấn đề bạo lực gia đình của mình Trên thực tế nhiều trường hợp phụ nữ bị bạo lực gia đình thông qua mối quan hệ tương tác với NVCTXH họ đã tự nhìn nhận được vấn đề khó khăn của mình, khám phá ra tiềm năng, nguồn lực từ chính bản thân họ và tự tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề của mình
Như vậy trong quá trình tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình NVCTXH cần bắt đầu mọi vấn đề của thân chủ từ chính thân chủ, NVCTXH cần giúp thân chủ tháo bỏ rào cản từ môi trường xã hội Với những thân chủ
là nạn nhân bị bạo lực gia đình môi trường xã hội chính là gia đình Thân chủ
bị chồng bạo lực nên thân chủ bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ gia đình và những người thân trong gia đình Thân chủ đang sống trong môi trường thiếu an toàn
và bị đe dọa Thân chủ đang có những suy nghĩ tiêu cực về bản thân, thân chủ không được tôn trọng vì vậy NVCTXH cần phải chấp nhận thân chủ như một con người riêng biệt, có giá trị riêng và bằng một sự cảm thông sâu sắc và NVCTXH trở thành người bạn đồng hành cùng thân chủ trong suốt quá trình tìm kiếm và khám phả các giải pháp để giải quyết vấn đề của chính mình
Trang 34Nhiệm vụ của NVCTXH đồng thời phải tạo ra môi trường thuận lợi để giúp thân chủ gỡ bỏ những rào cản tâm lý Đặc biệt là khi tham vấn cho thân chủ là những phụ nữ bị bạo lực gia đình NVCTXH không được phán xét, thấu hiểu hơn về hoàn cảnh của thân chủ, chấp nhận thân chủ trên cơ sở giúp NVCTXH có cách giao tiếp phù hợp hơn với họ, đồng thời cho thân chủ thấy
rõ được vai trò trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vấn đề của mình
1.1.6.3 Thuyết Hệ Thống
Các quan điểm hệ thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ lí thuyết
hệ thống tổng quát của Bertalanffy Bertalanffy sinh ngày 19/09/1901 tại Vienna và mất 12/06/1972 tại Newyork- Mĩ Ông đã tốt nghiệp các trường đại học: Vienna(1948), London(1949), Montreal(1949) Ông là một nhà sinh học nổi tiếng Lí thuyết của ông là một lí thuyết sinh học cho rằng “ mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn
Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân
tử , mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn Lí thuyết này được áp dụng đối với các hệ thống xã hội cũng như những hệ thống sinh học Sau này, lí thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson(1995), Mancoske(1981), Siporin(1980)…và phát triển Người có công đưa lí thuyết
hệ thống áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội phải kể đến công lao của Pincus va Minahan cùng các đồng sự khác Tiếp đến là Germain và Giterman Những nhà khoa học trên đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành công tác xã hội trên toàn thế giới
Trong Công tác xã hội lý thuyết thống được phân biệt đó là lý thuyết hệ thống tổng quát và lý thuyết hệ thống sinh thái Lý thuyết hệ thống tổng quát: trọng tâm là hướng đến những cái tổng thể và nó mang tính hòa nhập trong
Trang 35thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do công tác xã hội nhấn mạnh đến các hệ thống tổng thể Hệ thống tổng thể gồm 3 hình thức đó là:
+ Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp…
+ Hệ thống chính thức: Các tổ chức công đoàn, các nhóm cộng đồng… + Hệ thống xã hội: Nhà nước, bệnh viện, cơ quan, trường học…
Tuy nhiên, sự phân biệt các hình thức trên chỉ mang tính tương đối vì các
hệ thống này có thể là hệ thống chính thức với các cá nhân này nhưng là hệ thống không chính thức với các cá nhân khác Thuyết hệ thống sinh thái được
sử dụng để tìm hiểu sự ảnh hưởng của các nhân tố cá nhân, hoàn cảnh và văn hoá xã hội với nguyên nhân của bạo lực, có thể nói bạo lực gia đình là do sự tác động lẫn nhau của các nhân tố ở các cấp độ khác nhau của môi trường xã hội
1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về Trung tâm CSAGA
Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ
nữ và Vị thành niên (CSAGA) là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận được sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cấp giấy phép hoạt động số 101/ĐK-KH&CN ngày 23 tháng 7 năm 2001 CSAGA là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận chuyên về lĩnh vực bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ
sở giới [6]
Tiền thân của trung tâm CSAGA là đường dây tư vấn tình cảm 1088 và được phát triển lên bởi Giám đốc – bà Nguyễn Vân Anh Các hoạt động của Trung tâm tập trung vào hai đối tượng chính là Phụ nữ và Trẻ em Cụ thể là các vấn đề: Giới và Bình đẳng giới, Phòng chống bạo lực trong gia đình,
Trang 36Chống trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em Các vấn đề trên được triển khai thông qua các hoạt động: Tư vấn, đào tạo, truyền thông và thực hiện các dự án can thiệp
- 1/1/1997: Thành lập đường dây tư vấn tâm lý tình cảm qua điện thoại
1088 Hà Nội
- 1/7/2001: Chuyển thành Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học
về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA)
Tháng 1/2008 đường dây Phòng tư vấn và cung cấp thông tin về chống bạo lực gia đình phối hợp giữa tổ chức phi lợi nhuận CSAGA và Linh Tâm chính thức vận hành Đây là một phần việc chính nằm trong khuôn khổ của
dự án "Xây dựng mạng lưới tự lực dành cho người bị BLGĐ tại Hà Nội" được
GFW tài trợ từ tháng 6/2008 đến 12/2010 Đầu năm 2011, khi mà (04)
37759339 đã trở thành một số điện thoại trợ giúp quen thuộc với rất nhiều nạn
nhân và những người quan tâm đến vấn đề BLGĐ thì rất đáng tiếc là ngân sách tài trợ cho hoạt động của dự án đã hết
Trong tình huống đó, Linh Tâm và CSAGA quyết định trích một phần ngân sách của tổ chức để có thể tiếp tục duy trì hoạt động của đường dây này với hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều cá nhân và tổ chức biết đến và cùng đồng hành trong việc đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hạn chế các ca bạo lực gia đình tại Việt Nam Đây là phòng tiền thân của Văn phòng Hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới hiện nay Với mong muốn hỗ trợ nạn ngân bạo lực giới ngày càng chuyên nghiệp, quy mô rộng lớn, từ tháng 5 năm 2012, Trung tâm nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình Phụ nữ và Vị thành niên (viết tắt là CSAGA) thành lập “VĂN PHÒNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN BẠO LỰC GIỚI”
Trang 37CSAGA ra đời nhằm thúc đẩy việc thực hiện quyền cho nhóm phụ nữ và trẻ em bị ảnh hưởng bởi kỳ thị và bạo lực tại Việt Nam bằng các phương pháp sáng tạo CSAGA là tổ chức phi chính phủ – phi lợi nhuận, hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và phòng chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em Qua hơn một thập kỷ hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ và trẻ em bị tổn thương bởi bạo lực và kỳ thị, CSAGA đã trợ giúp hàng nghìn người trên khắp Việt Nam vượt qua khủng hoảng, có thêm sức mạnh và các kỹ năng để họ kiểm soát vấn đề của mình, trở nên tự tin và hạnh phúc hơn trong cuộc sống
- Truyền thông và vận động chính sách
- Kết nối và huy động nguồn lực
- Thiết kế tiến trình tác động tâm lý
1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trung tâm CSAGA
1.2.2.1 Cơ cấu đối tượng trợ giúp
Hiện nay, trung tâm CSAGA đang hoạt động trong 5 lĩnh vực chủ yếu:
- Thúc đẩy Bình đẳng giới
- Phòng chống Bạo lực với phụ nữ
- Bảo vệ trẻ em
- Phòng chống Buôn bán người
- Thúc đẩy quyền của người đồng tính
Năm lĩnh vực này bao quát mọi dịch vụ mà Trung tâm đã và đang triển khai, cung cấp cho khách hàng Mục tiêu hoạt động của CSAGA là giúp bảo
vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm phụ nữ và trẻ em dễ bị tổn thương, mà cụ thể là nạn nhân BLGĐ, nạn nhân buôn bán người, trẻ em bị bắt nạt học đường, người đồng tính nữ, gái mại dâm…Điều này thể hiện rõ ở các dự án
đã, đang được triển khai tại CSAGA, đơn cử như:
Trang 38Dự án “Hỗ trợ việc thực thi luật Phòng chống BLGĐ và thúc đẩy việc bổ sung các chính sách có liên quan” từ năm 2011 – 2013 do Oxfam Novib là nhà tài trợ với các mục tiêu chính về việc thực thi Luật Phòng chống BLGĐ được giám sát định kỳ và kịp thời bổ sung những chính sách có liên quan; Truyền thông đại chúng phát huy sức mạnh trong việc thúc đẩy áp dụng Luật vào cuộc sống; Người trong cuộc trở thành nhân tố tích cực trong các hoạt động vận động chính sách có liên quan Hay gần đây là dự án “Hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới thông qua hoạt động của Văn phòng hỗ trợ nạn nhân” do GFW+ Quỹ Seatlle tài trợ giai đoạn 2012-2015 với mục tiêu hướng tới:
“Người bị bạo lực giới được cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý miễn phí, kết nối với các dịch vụ hỗ trợ toàn diện như trợ giúp pháp lý, nhà tạm lánh thông qua hoạt động của Văn phòng Hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới do CSAGA quản lý và vận hành” đã đang được triển khai đã mang lại những thay đổi tích cực đối với những người bị bạo lực, cộng đồng và xã hội
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự, quản lý
Bà Nguyễn Vân Anh là chủ tịch Hội đồng sáng lập đồng thời là giám đốc điều hành CSAGA Ngoài ra, trung tâm hiện có 20 cán bộ làm việc toàn thời gian tại 4 phòng ban:
- Phòng Hành chính: phụ trách các công việc hành chính của tổ chức, sắp xếp, tổ chức các sự kiện…
- Phòng Chương trình: Bao gồm các nhân viên CTXH làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho thân chủ
- Phòng Truyền thông – gây quỹ: Phụ trách mảng truyền thông cho tổ chức, gây quỹ cho các dự án xã hội của tổ chức
- Phòng kế toán: Đảm nhận việc báo cáo tài chính cho nhà tài trợ
Trang 391.3 Một số văn bản pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình
1.3.1 Một số văn bản pháp lý quốc tế về phòng chống bạo lực gia đình
Các hiệp ước, như hiệp định, công ước, luật, nghị định thư, có tính chất ràng buộc đối với những quốc gia tham gia, tức các quốc gia phê chuẩn những hiệp ước đó
Các văn bản“luật mềm”như các tuyên ngôn, nguyên tắc, chỉ dẫn, không
có hiệu lực pháp lý bắt buộc Các văn bản này được chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế và đại diện cho sự nhất trí rộng rãi đối với bộ quy tắc quy định chi tiết
và hướng dẫn cho các quốc gia
CEDAW là công ước toàn diện nhất về quyền con người của phụ nữ Nó quy định sự bình đẳng giữa nam và nữ về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế
và văn hóa [25]
Tuyên bố của Liên hợp quốc về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ Thừa nhận rằng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội là phổ biến và có ở mọi mức thu nhập, giai cấp, văn hóa và là “biểu hiện của mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng mang tính lịch sử giữa nam và nữ” Đưa ra một định nghĩa
rõ ràng và toàn diện về bạo lực đối với phụ nữ và những quyền cần được đảm bảo để xóa bỏ mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ [26]
1.3.2 Khung pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam
1.3.2.1 Luật pháp
- Hiến pháp Việt Nam năm 1992
- Bộ luật Dân sự năm 1995
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
- Bộ luật Hình sự năm 2003
- Luật Tố tụng dân sự năm 2004
Trang 40- Luật Bình đẳng giới năm 2006
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007
bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh)
- Thông tư 02/2010/TT-BVHTTDL-2010 về Luật Phòng chống BLGĐ (quy định chi tiết về thủ tục liên quan đến chuyên môn, dịch vụ cơ sở tư
- Chiến lược Quốc gia về gia đình, giai đoạn 2005-2010
Với khung pháp lý nêu trên đã cho thấy được sự quan tâm của Đảng,