1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.

59 441 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với việc chăn nuôi phát triển thì dịch bệnh cũng nảy sinh nhiều, một trong những dịch bệnh xảy ra là bệnh phân trắng lợn con.. Vi khuẩn E.coli tiết ra độc tố nhiễm vào máu phá

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy

Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật

Khoa : Chăn nuôi Thú y

Khóa học : 2013- 2015

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Liên thông chính quy

Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật

Khóa học : 2013- 2015

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập lý thuyết tại trường và sau hơn 2 tháng thực tập tốt nghiệp tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú

y, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Quang đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp

Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo xã cùng toàn thể cán bộ xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại xã

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn

Văn Quang đã quan tâm giúp đỡ em nhiệt tình trong suốt quá trình thực tập cũng như hoàn thành chuyên đề thực tốt nghiệp

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên tạo mọi điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian em học tập và trong thời gian thực tập vừa qua

Nghệ An, ngày 0 8 tháng 9 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Thanh Trầm

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Sự cần thiết để tiến hành chuyên đề 1

1.3 Điều kiện để tiến hành chuyên đề 2

1.3.1 Điều kiện bản thân 2

1.3.2 Điều kiện của cơ sở 2

1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên 2

1.3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 4

1.3.3.1 Tình hình xã hội 4

1.3.3.2 Văn hóa xã hội, y tế, giáo dục và một số ngành nghề khác 5

1.3.4 Tình hình sản xuất 6

1.3.4.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 6

1.3.4.2 Ngành chăn nuôi 8

1.3.4.3 Công tác thú y 9

1.3.5 Nhận xét chung 10

1.4 Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc chuyên đề 11

1.5 Tổng quan tài liệu 12

1.5.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề 12

1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con theo mẹ 12

1.5.1.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con 15

1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

1.5.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26

1.5.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

Phần 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện 30

2.2 Nội dung thực hiện 30

Trang 6

2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 30

2.4 Phương pháp thực hiện 30

2.5 Một số công thức tính toán 31

Phần 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Công tác phục vụ sản xuất 32

3.1.1 Công tác chăn nuôi 32

3.1.2 Công tác thú y 32

3.1.2.1 Công tác tiêm phòng 32

3.1.2.2 Công tác chẩn đoán và điều trị 33

3.1.3 Công tác khác 35

3.2 Kết quả thực hiện chuyên đề 37

3.2.1 Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 37

3.2.2 Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 39

3.2.3 Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con qua các tháng tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 40

3.2.4 Tình hình lợn con chết do mắc bệnh phân trắng tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An 41

3.2.5 Biểu hiện lâm sàng bệnh phân trắng lợn con 42

3.2.6 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin 42

Phần 4: KẾT LẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 44

4.1 Kết luận 44

4.2 Tồn tại 44

4.3 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng lượng đàn gia súc, gia cầm của toàn xã Động Đạt 32

Bảng 3.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36

Bảng 3.3: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số xóm điều tra 37

Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi 39

Bảng 3.5: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con qua các tháng 41

Bảng 3.6 Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng 42

Bảng 3.7 Hiệu quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng hai loại thuốc Norfloxacin 5% và Colistin 43

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Lợn bị bại liệt 48

Hình 2: Gà bị hen 48

Hình 3: Lợn bị sưng phù đầu 48

Hình 4: Lợn bị viêm da 49

Hình 5: Những triệu chứng của bệnh phân trắng lợn con 50

Trang 9

được nhập vào nước ta để cải tạo giống nuôi trong nước Trong ngành chăn

nuôi thì chăn nuôi lợn phát triển hơn cả, ngày nay việc chăn nuôi lợn được tập trung đầu tư cả về số lượng và chất lượng đàn, giống

Song song với việc chăn nuôi phát triển thì dịch bệnh cũng nảy sinh nhiều, một trong những dịch bệnh xảy ra là bệnh phân trắng lợn con Bệnh phân trắng là bệnh khá phổ biến, xuất hiện từ lâu trên thế giới và ở Việt Nam, gây thiệt hại không nhỏ trong ngành chăn nuôi Bệnh chủ yếu do nhóm vi

khuẩn đường ruột E.coli gây ra Vi khuẩn E.coli tiết ra độc tố nhiễm vào máu

phá hủy nội mạc, thành mạch gây thẩm xuất, phù thũng làm cho lợn đi lại chậm chạp, tiêu chảy, phân lỏng màu trắng, lợn mất nước nhiều do tiêu chảy, khát nước dẫn đến rối loạn hấp thu và trao đổi chất trong cơ thể, làm lợn gầy yếu hốc hác Nếu không tác động kịp thời tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn, bởi vậy việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp phòng trị bệnh thích hợp để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi lợn là một vấn đề được nhiều người quan tâm

Xuất phát từ thực tế nói trên, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Tình

hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và sử dụng thuốc điều trị”

1.2 Sự cần thiết để tiến hành chuyên đề

- Nắm được tình hình dịch tễ của bệnh phân trắng ở lợn con, từ đó có

Trang 10

những biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả, làm giảm thiệt hại, nâng cao chất lượng lợn giống, tăng hiệu quả chăn nuôi

- Rèn luyện tay nghề, tác phong làm việc nghiêm túc, độc lập và sáng tạo

- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn, góp phần vào

sự phát triển chăn nuôi bền vững

1.3 Điều kiện để tiến hành chuyên đề

1.3.1 Điều kiện bản thân

Trong thời gian học tập tại trường, em đã được học các môn cơ sở, các môn học về chuyên ngành, với khối kiến thức đó, em có thể thử nghiệm trong thực tế sản xuất Cùng với sự chỉ bảo của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Quang, cùng với sự giúp đỡ của cơ sở thực tập, là cơ hội tốt để em vận dụng kiến thức đã được trang bị vào thực tiễn sản xuất, góp phần tích cực vào phát triển chăn nuôi ở địa phương

1.3.2 Điều kiện của cơ sở

1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Châu Khê là một xã miền núi thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An , nằm trên quốc lộ 7, cách thành phố Vinh 120km về phía Nam, tiếp giáp với các địa phương sau:

- Phía Bắc giáp với xã Cam Lâm, huyện Con Cuông

- Phía Nam giáp với nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

- Phía Đông giáp xã Cam Lâm, xã Chi Khê, Xã Yên Khê, xã Lục Dạ và

xã Môn Sơn huyện Con Cuông

- Phía Tây giáp xã Lạng Khê, huyện Con Cuông, giáp với huyện Tương Dương và Nước Lào

* Điều kiện địa hình, đất đai

- Địa hình:

Trang 11

Địa hình xã Châu Khê tương đối phức tạp, là xã bán sơn địa có địa hình

lòng chảo cao dần về hai phía Đông Bắc và Tây Nam có các đỉnh núi cao bao bọc xung quanh, cao nhất chưa đến 1000m, Thấp dần về phía Đông Địa hình

bị chia cắt phức tạp tạo thành nhiều khe sâu và dốc lớn

( Nguồn: Do xã Châu Khê cung cấp, 2014)

Qua số liệu trên ta thấy, xã Châu Khê có diện tích khá lớn tạo điều kiện cho phát triển chăn nuôi trồng trọt và lâm nghiệp

* Điều kiện khí hậu, thủy văn

Châu Khê là một xã miền núi của huyện nên khí hậu cũng chịu ảnh hưởng chung của tiểu khí hậu trong vùng Qua tham khảo về khí tượng thủy văn của xã diễn biến qua các tháng, thì xã Châu Khê nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia ra hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau

ẩm độ trung bình của xã là 80 % (biến động 45% - 80% )

Lượng mưa trung bình ở xã Châu Khê từ 11.700mm /năm, lượng mưa phân bố không đều trong năm:

- Mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80%-85% tổng lượng mưa

cả năm (tháng 8, 9 có lượng mưa lớn nhất: 220mm - 540mm/tháng)

Trang 12

- Mùa mưa chiếm 68% lượng mưa cả năm(tháng 6 và tháng 7 ít mưa nhất: khoảng 24 - 25mm/tháng cho nên dẽ gây hạn)

* Điều kiện giao thông, thủy lợi

- Giao thông:

Do địa hình miền núi phức tạp nên việc phát triển giao thông và một số xóm vùng sâu vùng xa rất khó khăn, phức tạp Vào mùa mưa lũ gây ảnh hưởng không nhỏ đến thông tin liên lạc, giao lưu văn hóa, mở mang dân trí, nhất là đưa khoa học kỹ thuật vào phát triển nông nghiệp

Dọc trung tâm xã có đường quốc lộ 7 chạy qua nên những xóm nằm dọc 2 bên trục đường có điều kiện phát triển hơn về mọi mặt

- Thủy lợi:

Châu Khê có diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dụng tương

đối lớn 111,65 ha Nguồn nước chủ yếu là do các khe suối, có suối lớn nhất là

suối Choăng có tổng chiều dài khoảng 35km Ngoài ra còn có một số hệ thống Khe suối như: Khe Nóng, Khe Bu, Khe Bát, Khe Luông…trên các khe suối

đã được xây dựng đập chứa nước phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt

1.3.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.3.1 Tình hình xã hội

Xã Châu Khê có 10 thôn bản gồm:

Trang 13

*Về dân cư:

Theo số liệu thống kê, điều tra cơ bản thì toàn xã có 5.710 nhân khẩu,

1240 hộ(2014) cư trú tại 10 thôn bản.Trên địa bàn xã có 03 dân tộc anh em sinh sống, với bản sắc dân tộc đa dạng, Kinh, Thái, Đan Lai

Theo kết quả điều tra dân số, tổng số lao động toàn xã là 2.530 lao

động chiếm 44,30% tổng số dân của xã trong đó lao động nông nghiệp chiếm

86,56%, lao động ở đây mang tính chất thời vụ, lao động chủ yếu theo mùa vụ

do đó thu nhập của người dân chỉ đạt mức 5,5 triệu đồng/người/năm

Do tính chất, vị trí địa lý nên sự phân bố dân cư trong xã không đồng

đều, các khu vực gần trung tâm xã dân cư sống tập trung hơn

1.3.3.2 Văn hóa xã hội, y tế, giáo dục và một số ngành nghề khác

* Về văn hóa:

Đời sống văn hóa hiện nay có mạng lưới thông tin từ huyện tới các xã,

từ xã tới các xóm, thông tin được tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mạng lưới bưu điện xã Châu Khê có bưu điện trung tâm đặt tại thôn Khe Choăng là trung tâm của xã để phát hành báo chí, cung cấp dịch vụ bưu chính công ích, cung cấp dịch vụ bưu chính quốc tế

Mặt khác là xã có bề dày truyền thống về hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, trong những năm qua văn hóa văn nghệ được nhân dân ủng

hộ và tham gia tích cực Phong trào xây dựng làng văn hóa và gia đình văn hóa thường xuyên được quan tâm Hiện nay xã có 0,43 ha đất văn hóa tại các thôn bản trong xã

* Về giáo dục:

Do tính chất của vị trí vùng miền núi, sự phát triển giao thông, thông tin văn hóa, giáo dục không đồng đều nên trình độ dân trí ở các khu vực gần trung tâm cao hơn vùng sâu vùng xa Và trên địa bàn xã Châu Khê đã có 1 trường mầm non, 2 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở

Trang 14

Những năm gần đây ngành giáo dục của xã nói riêng và của huyện Con Cuông nói chung tiếp tục phát triển cả về số lượng, chất lượng dạy và học các cấp học, bậc học, tỷ lệ huy động các cháu trong độ tuổi đến trường tăng, cơ sở vật chất từng bước được đầu tư nâng cấp, từ đó hoàn thành phổ cập trung học

cơ sở

* Về y tế:

Xã Châu Khê có một trạm y tế, cơ sở vật chất và phương tiện chữa bệnh còn thiếu thốn, thuốc thang chỉ được phục vụ cho đau ốm nhẹ, việc khám chữa bệnh cho nhân dân chủ yếu điều trị tại bệnh viện huyện Bên cạnh

đó cũng có các chương trình y tế triển khai tới các thôn bản, nên phần nào đã

ngăn ngừa được các dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân

* Về tập quán sản xuất:

Đa số các hộ nông dân xã Châu Khê vẫn sản xuất theo phương thức cổ

truyền trình độ thâm canh thấp ít có điều kiện tiếp xúc với trình độ khoa học

kỹ thuật Hiện nay mới có một số gia đình đã áp dụng mô hình VAC vào sản

xuất bước đầu đạt kết quả tốt

1.3.4 Tình hình sản xuất

1.3.4.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Trồng trọt là ngành sản xuất chính của nhân dân trong xã, với diện tích

đất đai và khí hậu phong phú là yếu tố cơ bản để xã phát triển ngành trồng

trọt Với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành từ xã đến cơ sở, kết hợp với các chính sách hỗ trợ các chỉ tiêu kế hoạch trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đều đạt và vượt kế hoạch đề ra

* Cây lương thực:

Tổng sản lượng lương thực năm 2013 là 678,8 tấn đạt 51,2% kế hoạch

Trang 15

ha đạt năng suất 14 tạ /ha

* Cây công nghiệp:

- Cây Mía: Cây Mía cũng là thế mạnh của xã, đem lại thu nhập chính cho người dân ở một số thôn như: Nông Trang, Bãi Gạo.Tổng diện tích Mía hiện có là 90 ha, năng suất đạt 700 tạ /ha, sản lượng đạt 6.300 tấn

* Cây lâm nghiệp:

Là một xã miền núi Châu Khê có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn (khoảng 42.563,81 ha), cây trồng chủ yếu là bạch đàn, keo, mỡ, quế,Xương

Lẻ và một số cây ăn quả Những năm gần đây, nhờ chương trình PAM và 327 một số diện tích đất trống đồi trọc đã được tiến hành trồng rừng, nhưng lượng lâm sản khai thác ngày càng lớn Hiện nay rừng của xã Châu Khê có:

- Đất rừng sản xuất là 8.031,51 ha

- Đất rừng phòng hộ là: 3.618,30 ha

- Đất rừng đặc dụng là: 30.910,80 ha

Để tiếp tục phát triển rừng, ngoài việc khoanh môi trường bảo vệ rừng,

năm 2013 hạt kiểm lâm đã tiến hành phát động phong trào ươm cây giống lâm nghiệp, mở các lớp tập huấn về kỹ thuật ươm và chăm sóc cây con cho nhân dân

Hiện nay, công tác trồng và quản lí rừng ngày càng được chú trọng Năm 2013 xã đã tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây, cấp 50 cây tầng cao gồm các giống Lát, Xương lẻ, Xà Cừ 5000 cây keo cho các xóm để phục vụ Tết trồng cây

Trang 16

1.3.4.2 Ngành chăn nuôi

Châu Khê là xã có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển ngành chăn nuôi lợn, trâu, bò

Ngành chăn nuôi của xã không ngừng phát triển qua các năm qua bởi:

- Có diện tích đất bãi tự nhiên khá rộng, có nguồn thức ăn phong phú

- Dân số sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng nên sản phẩm phụ của ngành trồng trọt tương đối lớn

* Chăn nuôi lợn

Lợn là loài gia súc được chăn nuôi chính, tổng đàn lợn của xã năm

2013 là 3500 con Tình hình chăn nuôi có sự phân hóa rõ rệt theo vùng

- Công tác giống: Trạm thú y kết hợp với trạm khuyến nông của huyện, nhận tinh lợn đực ngoại của trạm truyền giống gia súc Nghệ An về thụ tinh nhân tạo cho đàn lợn nái Móng Cái, Lang Hồng tạo ra con lai lớn nhanh,

đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Thức ăn: Vùng gần trung tâm xã, nhân dân đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nên cho hiệu quả kinh tế cao hơn, còn các xóm vùng sâu, vùng xa, do trình độ dân trí thấp chưa biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chăn nuôi theo cách cổ truyền, tận dụng thức ăn có sẵn nên hiệu quả chưa cao

- Chăm sóc: Đa số là chăn nuôi hộ gia đình nhỏ lẻ, chưa có sự đầu tư lớn về các mặt như: giống, thức ăn, chế độ chăm sóc

- Thú y: Xã luôn tổ chức hội nghị tăng cường công tác phòng, chống dịch; phân công địa bàn phụ trách cho từng thành viên của xóm đồng thời hướng dẫn các hộ chăn nuôi thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh

Trang 17

* Chăn nuôi trâu, bò

Trâu, bò là loại gia súc quan trọng được nuôi để cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt và cung cấp thực phẩm cho con người, trong những năm qua đàn trâu, bò không ngừng gia tăng Tổng đàn trâu của xã là 815 con, tổng

đàn bò là 1.690 con (số liệu tháng 7/2014) được nuôi phân tán trong các hộ

gia đình với quy mô nhỏ từ 2 – 3 con, có đàn lên tới vài chục con Hình thức chăn nuôi chủ yếu là tận dụng đồi bãi tự nhiên, chăn thả tự do thức ăn chủ yếu

là lá cây rừng, cỏ, rơm, rạ, thân cây ngô

Giống trâu, bò chủ yếu là giống địa phương Trong những năm gần

đây, Châu Khê đã tiến hành đưa bò Redsindhi vào lai với bò địa phương để

nâng cao sức cầy, kéo, sản lượng thịt, sữa

* Chăn nuôi dê

Con dê là loại gia súc được nuôi lâu đời ở xã nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhiều đồi núi cao thích hợp cho việc chăn thả tự nhiên Tổng đàn dê tại tháng 2 năm 2014 của xã là 45 con được nuôi ở các gia đình với qui mô

đàn từ 10 - 15 con

* Chăn nuôi gia cầm

Chăn nuôi gia cầm của xã Châu Khê chủ yếu là chăn nuôi gà, giống gà

đang nuôi ở xã là giống gà Ri, Tam Hoàng Phương thức chăn nuôi là chăn

thả tự nhiên vẫn còn tồn tại, song thêm vào đó là phương thức chăn nuôi công nghiệp có xu hướng được sử dụng ngày càng nhiều

Trang 18

diễn biến phức tạp, cũng như nhiều địa phương khác trong huyện, xã Châu Khê đang tích cực đẩy mạnh các hoạt động phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm

Từ đầu năm đến nay, xã kết hợp với phòng NN&PTNT huyện Con Cuông tích cực tuyên truyền, hướng dẫn các hộ chăn nuôi trên địa bàn thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh, tiêu độc, phòng chống dịch bệnh động vật Bên cạnh đó, công tác tiêm phòng gia súc, gia cầm đợt I năm 2014 cũng

được Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh động vật của địa phương quan tâm

thực hiện Trong đợt này, xã đã cấp được gần 9 nghìn liều vắc xin cho các xóm

để tiêm phòng trên đàn gia súc, gia cầm Hầu hết các loại vắc xin này đều được

chỉ định vào việc phòng chống dịch bệnh trên đàn lợn, tụ huyết trùng trâu bò, cúm gia cầm Thú y xã kết hợp với thú y viên của xóm tiến hành tiêm phòng tất

cả đàn trâu, bò, lợn, chó và đàn gia cầm ở các xóm trên địa bàn xã

Với trâu, bò tiêm vắc xin tụ huyết trùng, lở mồm long móng

Với lợn tiêm vắc xin tụ dấu và dịch tả, lở mồm long móng

Với chó tiêm vắc xin phòng dại

1.3.5 Nhận xét chung

Trong quá trình thực tập tốt nghiệp ở địa phương, qua điều tra đánh giá

về điều kiện tự nhiên và đánh giá về kinh tế xã hội trong năm vừa qua, em thấy

có một số thuận lợi và khó khăn đối với việc thực tập của mình như sau:

• Thuận lợi:

Xã Châu Khê là một xã miền núi của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

có diện tích tương đối rộng, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Đất đai phù hợp với nhiều cây trồng khác nhau, địa hình một số vùng có đồi núi thấp thuận lợi cho việc chăn nuôi trâu bò, dê

- Điều kiện tự nhiên, khí hậu phù hợp cho sự phát triển nông nghiệp

Trang 19

- Hệ thống thủy lợi tương đối tốt, đã đảm bảo nhu cầu về nước tưới cho

cả trồng trọt, chăn nuôi

- Có đường giao thông quốc lộ 7 chạy dọc theo xã tương đối thuận lợi cho giao lưu văn hóa và chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Hệ thống thú y cơ sở với những cán bộ đông đảo có trình độ khoa học

kỹ thuật, năng động, yêu nghề, nhiệt tình với công việc, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã góp phần phòng chống dịch bệnh giảm thiệt hại cho nhân dân trong xã

- Đặc biệt có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, trong đó có ngành chăn nuôi thú y

từ nơi này sang nơi khác

- Điều kiện kinh tế của các xóm và các hộ còn nghèo nên việc triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn

- Các trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn của thú y xã còn thiếu thốn, nên công tác chẩn đoán và điều trị còn gặp nhiều hạn chế

- Do địa hình phức tạp, dân sống không tập trung, điều này khó khăn cho công tác phòng và trị bệnh cho gia súc, gia cầm

1.4 Mục tiêu cần đạt được sau khi kết thúc chuyên đề

- Xác định tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng tại chăn nuôi hộ gia đình

- Rèn luyện tay nghề từ thực tế sản xuất

Trang 20

- Nâng cao những hiểu biết và kinh nghiệm thực hiện trong việc phòng chữa bệnh phân trắng lợn con

1.5 Tổng quan tài liệu

1.5.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề

1.5.1.1 Đặc điểm của lợn con theo mẹ

* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con

Lợn con từ khi sơ sinh có khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh Qua nghiên cứu, thí nghiệm và thực tế cho thấy khối lượng con cai sữa 2 tháng tuổi gấp 12 – 14 lần so với khối lượng lợn con sơ sinh, nếu đem so sánh với các loại gia súc khác thì tốc độ tăng trưởng của lợn con nhanh hơn như bê nghé chỉ tăng 3 – 4 lần So với lúc sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng 5 – 6 lần Lợn con sau khi sinh, sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không

đồng đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó

giảm, sự giảm tăng trưởng là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con giảm

Để hạn chế sự giảm tăng trưởng chúng ta cần tập ăn sớm cho lợn con và tiêm

bổ sung Dextran-Fe cho lợn con vào 3 ngày tuổi và 10 ngày tuổi

Do khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn diễn ra rất mạnh Ở lợn con 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 – 14 g protein/ 1kg khối lượng, nhưng lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 – 0,4 g protein/ 1kg khối lượng Qua đó ta thấy cường độ trao đổi chất ở lợn con và lợn trưởng thành chênh lệch nhau khá lớn Mặt khác ta biết lợn con trong giai đoạn này chỉ tích lũy nạc là chính, vì vậy tiêu tốn ít thức ăn hơn so với lợn trưởng thành

Trang 21

* Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7], dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ qua tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [11], cho rằng: lợn con trước 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày, cũng do dich vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do

có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7], vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh phân trắng lợn con, do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do

có thể tiết ra từ 14 ngày tuổi

Enzim trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzim,

sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức

Trang 22

ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh, hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn

dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn

và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh

đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở

lợn con mới sinh

* Đặc điểm của cơ năng điều tiết của lợn con

Lợn con dưới 1 tháng tuổi, cơ năng điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt lợn con chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng, khả năng điều tiết nhiệt còn kém do nhiều nguyên nhân:

Hệ thống thần kinh điều khiển của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con phát triển chưa đầy đủ cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu bên ngoài thay đổi

đột ngột

Lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Nói chung khả năng điều tiết của lợn con dưới 1 tháng tuổi còn kém

đặc biệt là tuần mới sinh, cho nên việc chăm sóc lợn con giai đoạn này rất

quan trọng Nếu nuôi lợn ở chuồng có nhiệt độ và độ ẩm không phù hợp thì thân nhiệt lợn con thay đổi nhanh Nhiệt độ chuồng nuôi càng thấp thì thân

Trang 23

nhiệt của lợn con giảm càng nhanh, tuổi của lợn con càng ít thì thân nhiệt hạ xuống càng nhiều

1.5.1.2 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con

* Nguyên nhân gây bệnh

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [1], bệnh lợn con phân trắng do

E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết hoặc

nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí chỉ

vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E.coli gây ra E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và sống

trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện chăm

sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường độc và

có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể vào ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy

Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh

chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không

hợp vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong

dịch vị thiếu HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con

Sử An Ninh và cs (1981) [6], cho biết: nguồn gốc sinh bệnh lợn con phân trắng có liên quan đến phản ứng thích nghi của cơ thể lợn với yếu tố stress, biểu hiện thông qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu: đường huyết, cholesteron, kẽm, kali, natri

Chăm sóc lợn mẹ (đặc biệt là thời gian mang thai) không đúng kỹ

Trang 24

thuật: Thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh, khẩu phần không đủ dinh dưỡng, thiếu các yếu tố đa, vi lượng làm cho lợn con sinh ra còi cọc, thiếu sắt, vitamin B12 khiến cơ thể lợn suy yếu do thiếu máu, khả năng chống đỡ với các môi trường kém nên dễ mắc bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [12], sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt cho

cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh

Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột, trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, la liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh

đường tiêu hóa

- Đặc điểm hình thái

E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, trong cơ

thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Trong canh trùng gà, vi khuẩn dài 4 - 8 µm

Phần lớn E.coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số

không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô

- Đặc tính nuôi cấy

E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở

phát triển được ở pH 5,5 - 8

E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:

- Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất

Trang 25

đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi

trường, môi trường có mùi phân thối

- Trên môi trường thạch thường: Sau 24h nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra

Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M

- Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi

- Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng

- Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh

- Môi trường EMB ( Eosin - Methylen - Blue ): Khuẩn lạc có màu đen tím

- Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc

- Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc

màu đỏ

- Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ

- Đặc tính sinh hóa

E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường Fructoze, Glucoze, Galactoze,

Lactoze, Mannit, Dextroze Lên men không chắc chắn các loại đường Dulcitol, Saccharose

trường Lysinedecacboxylase

- Cấu trúc kháng nguyên

Trang 26

Kháng nguyên của vi khuẩn E.coli rất phức tạp bao gồm các loại kháng

nguyên: O, H và K

Đây là thân của vi khuẩn và được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn,

kháng nguyên O được coi là một nội độc tố có thể tìm thấy ở màng ngoài vỏ bọc vi khuẩn và thường xuyên được giải phóng vào môi trường nuôi cấy Kháng nguyên O có đặc tính như sau: chịu được nhiệt độ (không bị phá huỷ

giờ, bị phá huỷ bởi formol 0,5%

- Độc tố

Vi trùng E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố

trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử

Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1986) [1], hiện nay việc chiết xuất ngoại độc

tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập

Trang 27

được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy

chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng

+ Nội độc tố: là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột

E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc

tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học hoặc chiết suất bằng Axittrichoxetic, Phenol dưới tác dụng của emzym

Trực khuẩn đường ruột không chịu đươc nhiệt độ cao bị tiêu diệt ở

E.coli sống được khoảng vài tháng, các chất sát trùng thông thường như axit Phenic, formol… có thể diệt E.coli trong 5 phút E.coli đề kháng với sự sấy

khô chúng có độ nhạy cảm cao với nhiều loại kháng sinh

Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1995) [13], khi nghiên cứu về tính mẫn

cảm và tính kháng thuốc của E.coli được phân lập từ các ổ lợn con bị bệnh

phân trắng ở nước ta đã cho biết, hiện nay những thuốc có tác dụng tốt trong

điều trị bệnh phân trắng lợn con do E.coli gây ra gồm Norfloxacin,

Furazolidon, Trimetho Brom và Colistin, còn các thuốc Streptomycin,

Sunphonamid ít có tác dụng với E.coli vì tỷ lệ E.coli kháng lại chúng cao từ

70 - 80% Theo các tác giả, những thuốc này đã dùng để điều trị thường xuyên, đôi khi dùng sai nguyên tắc

* Đường nhiễm bệnh Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm E.coli phát

triển nhanh chóng trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các

độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Limpho do đó máu bị nhiễm độc và

con vật chết Từ khi mới sinh ra hệ sinh vật phát triển trong đường tiêu hoá rất

đa dạng, tỷ lệ số lượng vi trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau

Trang 28

* Qúa trình sinh bệnh

Đối với lợn con khoẻ mạnh vi trùng E.coli và vi trùng khác chỉ cư trú ở

đoạn ruột già và phần cuối của ruột non, phần đầu, phần giữa hầu như không

có vi trùng Chỉ có rất ít liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, Lactobacilus (Nguyễn

Hữu Vũ và cs, (2000) [17]

con, hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thành thục Việc điều khiển thần kinh hầu như bằng phản xạ không điều kiện Ngoài ra có những đặc điểm đáng chú ý như: Độ toan của dịch vị dạ dày thấp, độ thẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém, chức năng thu nhận của tế bào nội võng quá dễ dàng Sự thu nhận quá dễ dàng qua hàng

rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của vi khuẩn E.coli và độc tố của

chúng sinh ra vào các cơ quan như mô chính, đó là điều kiện gây nên bệnh Việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu chất và

Globulin miễn dịch cũng là điều kiện để phát bệnh Như vậy để gây ra Coli Bacilosis rõ ràng phải có chủng E.coli cường độc và đều sản sinh ra một hoặc

một số yếu tố bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc và vào lớp

niêm mạc kế tiếp Những lợn con mắc bệnh phân trắng do E.coli thường sốt,

lông xù, biếng ăn, kém bú, thường nằm một chỗ ở góc chuồng

* Triệu chứng lâm sàng

Lứa tuổi mà bệnh thường gặp: ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng tuổi thời

gian bị bệnh từ vài giờ đến 1 ngày Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp

lỏng màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân

có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu

Trang 29

vào đông xuân, khi độ ẩm môi trường cao bệnh thường gặp ở lợn con 10-21 ngày tuổi Mắc một vài con hoặc cả đàn có khi khỏi bệnh lại tái nhiễm

- Thể bệnh gây chết nhanh: những lợn từ 4-15 ngày tuổi thường mắc thể này, sau 1-2 ngày đi ra phân trắng lợn gầy sút nhanh, lợn bú kém rồi bỏ bú hẳn, đi đứng xiêu vẹo, niêm mạc mắt nhợt nhạt, bôn chân lạnh có con hay

đứng riêng một chỗ thở nhanh Tiêu hoá kém, số lần ỉa chảy tăng từ 1-2 lần,

có khi 4-5 lần trong ngày, phân lỏng màu trắng đục, trắng hơi vàng, mùi tanh khắm, phân dính vào hậu môn và đuôi Bệnh thể kéo dài 2-4 ngày trước lúc chết cơ thể suy nhược co giật hoặc run rẩy, tỷ lệ chết 50-80% số con ốm

- Thể bệnh kéo dài: lợn 20 ngày tuổi bệnh kéo dài 7-10 ngày, lợn vẫn bú nhưng bú kém dần đi, phân màu trắng đục, trắng hơi vàng Những lợn đã 40-50 ngày tuổi thì khi ỉa phân trắng hoạt động vẫn bình thường, ăn bú đi lại nhanh nhẹn, phân hơi nhão với màu trắng xám, nếu bệnh kéo dài lợn còi cọc chậm lớn

* Bệnh tích

Lợn chết do hiện tượng mất nước nghiêm trọng nên khi quan sát thấy xác con vật gầy còm, da khô thô, lông bẩn, da lông xám không bóng như con lợn khoẻ mạnh, khi mổ khám thấy gan màu nâu đen và sưng túi mật, trong chứa nhiều dịch mật loãng, lá lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết, rạch dạ dày thấy trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu Quan sát niêm mạc thành dạ dày thấy những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu gây nên Ruột non thì trương nhão giãn to và xuất huyết niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám Trong ruột già có thể thấy từng đám máu, viêm ruột là hiện tượng phổ biến, viêm thành ruột, xuất huyết ở màng treo, dạ dày chứa một ít sữa bị

đông đặc, vón, cá biệt có máu, mùi tanh, ruột có chứa phân màu vàng hay

xám, hạch màn treo ruột sưng

màng phổi sưng

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Bảng 3.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 44)
Bảng 3.3: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số xóm điều tra - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con tại một số xóm điều tra (Trang 45)
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo các lứa tuổi (Trang 47)
Bảng 3.6. Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Bảng 3.6. Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng (Trang 50)
Hình 3: Lợn bị sưng phù đầu - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Hình 3 Lợn bị sưng phù đầu (Trang 56)
Hình 4: Lợn bị viêm da - Tình hình bệnh phân trắng trên đàn lợn con dưới một tháng tuổi tại xã Châu Khê - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An và Nghệ An.
Hình 4 Lợn bị viêm da (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w