1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình phát triển cộng đồng

150 381 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD Tài liệu PTCD

Trang 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG I/ Hệ thống các khái niệm

1 Khái niệm cộng đồng

Xuất phát từ tiếng La-tinh, “cộng đồng”- communis có nghĩa là

“chung/ công cộng/ được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người”

- Theo từ điển Đại học Oxford: “Cộng đồng là tập thể người sốngtrong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như mộtkhối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng,chủng tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộngđồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tìnhtrạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó”

- Theo quan niệm Macxít: Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các

cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của họ nhờ sự giốngnhau về điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộngđồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động kháccủa họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị , chuẩn mực

xã hội, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quanniệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

- Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu về các dự án phát triểncộng đồng: “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân conngười sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hộihoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặctinh thần nào đấy”

Trang 2

Ví dụ: Cộng đồng dân cư tại xóm X, huyện Y

- Cộng đồng chức năng: gồm những người có thể cư trú gần nhauhoặc không gần nhau nhưng có những đặc điểm chung, có lợi ích chung

Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội

có tổ chức

Ví dụ: Hội đồng hương của tỉnh Quảng Ngãi; Cộng đồng học sinh,sinh viên Việt Nam đang du học tại các nước; Cộng đồng những công nhânnhập cư tại khu phố A; cộng đồng người khuyết tật;

Như vậy, cộng đồng có thể ở quy mô các cấp khác nhau từ lớn đếnnhỏ, từ chung chung đến cụ thể

2 Khái niệm phát triển cộng đồng

Có nhiều cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau về khái niệm phát

triển cộng đồng Anh là nước đầu tiên có các hoạt động phát triển cộng

đồng (năm 1940) đã định nghĩa Phát triển cộng đồng như sau: “Phát triển

cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong cáccộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực củanhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”

Theo Murray G Ross, 1955: “Phát triển cộng đồng là một diễn tiến

qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng;biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ýmuốn thực hiện chúng; biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộngđồng để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ nănghợp tác trong cộng đồng”

Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956:“Phát triển cộng

đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lựccủa chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá của các

Trang 3

cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vàođời sống quốc gia”

Theo Th.S Nguyễn Thị Oanh, 1995:

“Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồngnghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gâynhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tàinguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổchức, và tiến tới tự lực, phát triển”

Các khái niệm then chốt của phát triển cộng đồng hiện nay là xâydựng năng lực và tạo sức mạnh cho người dân, người dân không thể hànhđộng nếu họ thiếu năng lực (kiến thức, kỹ năng) Họ cũng không thể hànhđộng đơn phương, riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức, chínhquyền cùng một chí hướng và quyền lợi để tạo thành sức mạnh thúc đẩy sựthay đổi trong cộng đồng theo hướng tiến bộ hơn, chất lượng hơn

Qua một số khái niệm được trích dẫn trên đây có thể cho thấy, cáckhái niệm này có những ranh giới khác biệt, rộng hẹp khác nhau, tùy vàoquan điểm tiếp cận, mục đích sử dụng của tác giả Tuy có sự khác biệt đó

và dù tiếp cận ở khía cạnh nào thì phương pháp phát triển cộng đồng cũng

Trang 4

- Phát triển tính tự lực, nâng cao ý thức của người dân

- Tăng quyền lực cho cộng đồng

- Tăng cường sự hội nhập và tính bền vững

- Tuân thủ theo tiến trình từ thấp đến cao

II/ Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của khoa học về phát triển cộng đồng

1 Lịch sử ra đời và phát triển của khoa học về phát triển cộng đồng

Phát triển cộng đồng xuất hiện vào những năm 40 của thập kỉ XX ởcác nước thuộc địa của Anh Ở Ghana, một người Anh tốt bụng có sángkiến giúp người dân tự cải thiện đời sống bằng các nỗ lực chung của chínhquyền và người dân địa phương Một bên đóng góp công sức, một bênđóng tiền của để xây dựng các công trình ở địa phương, chẳng hạn nhưtrạm xá, trường học, cầu cống và các công trình phúc lợi khác Ông nhậnthấy, khi được khích lệ và có sự hỗ trợ nào đó, người dân trong cộng đồngluôn có những nỗ lực để cùng quyết tâm giải quyết vấn đề của mình Cũng

từ những hoạt động mang tính sáng kiến ban đầu đó, người ta nhận thấymuốn cộng đồng phát triển phải phát triển đồng bộ trên mọi khía cạnh củađời sống kinh tế, sức khỏe văn hóa…có như thế mới giải quyết được vòngluẩn quẩn nghèo đói Kinh nghiệm tích cực này dần được lan rộng ra hầuhết các cựu thuộc địa ở Châu Á và Châu Phi

Năm 1950, Liên Hiệp Quốc đã công nhận khái niệm phát triển cộngđồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng phương pháp phát triển cộngđồng như một công cụ để thực hiện các chương trình phát triển xã hội

Thập kỷ 1960 - 1970 được chọn là thập kỷ thứ nhất của phát triểncộng đồng với những chương trình viện trợ quy mô lớn về kỹ thuật,phương pháp và vốn Thời điểm ấy nông thôn chiếm 80 - 90 % các nước

Trang 5

cựu thuộc địa nên phát triển cộng đồng nhằm chủ yếu vào phát triển cáccộng đồng nông thôn Từng nhóm hay cộng đồng địa phương có thể liênkết xây dựng một dự án như tổ hợp đánh cá, sản xuất nông nghiệp hay tiểuthủ công nghiệp Chính quyền xét và tài trợ theo tỉ lệ qui định so với sựđóng góp của người dân, thường là 50:50 Các công trình lợi ích công cộngnhư đắp đường, làm thuỷ lợi, đào giếng, xây dựng trường học, bệnh viện,sân chơi được người dân hưởng ứng đóng góp công sức, tiền của theo cơchế phối hợp giữa: người dân, chính quyền và nhà tài trợ

Năm 1970, Liên Hiệp Quốc có những đánh giá toàn diện về cácchương trình thí điểm của phát triển cộng đồng, kết quả là một số tiến bộ rõrệt của sự thay đổi bộ mặt nông thôn về hạ tầng cơ sở, tiện nghi công cộng.Tuy nhiên, chương trình còn mang nặng tính chất phong trào và bộc lộnhiều yếu kém về cơ chế tổ chức, quản lý, mục đích sử dụng Chương trìnhchưa đáp ứng được nhu cầu thực sự của người dân, chưa làm thay đổi ýthức, hành vi và tập quán của người dân, tính công bằng xã hội chưa cao.Quá trình lấy quyết định còn mang tính hình thức Tổ chức các hình thứchoạt động cộng đồng còn rời rạc chưa sát thực với lợi ích của người dân

Sự tham gia thực sự của dân vào quá trình lấy quyết định, phát huysáng kiến…còn rất hạn chế, họ chỉ đóng góp lao động như một thứ vật tư.Quan trọng hơn, từng cá nhân không thể tham gia nếu không thông qua các

tổ chức chính thức hay phi chính thức, mà các tổ chức này lại không có,hoặc quá yếu, hoặc đi ngược lại quyền lợi của dân Đây cũng là điểm cơbản nhất của sự chậm phát triển vì phát triển cộng đồng không tạo ra được

cơ sở hạ tầng xã hội cần thiết cho phát triển VD: Thành quả tích cực nhất

là số cơ sở vật chất nhưng sau đó trở nên vô dụng, chẳng hạn những cái xáccủa trạm xá, thư viện, giếng bơm không được dùng đến vì không đáp ứngnhu cầu thật của người dân Phong trào không đạt được kết quả mongmuốn, nhất là một sự chuyển biến đáng kể về mặt xã hội Ví dụ chưa có sự

Trang 6

thay đổi hành vi, tập quán từ người dân để tiếp nhận tiến trình hiện đại hóa

và phát triển Chưa có công bằng xã hội vì có một số ít khá lên, ngườinghèo vẫn nghèo hoặc nghèo hơn

Mặt khác, việc lựa chọn đơn vị cộng đồng còn quá nhỏ (làng, xóm,xã ); nó không thể nằm ngoài hệ thống xã hội rộng lớn hơn nên có sự bấtcập về quy hoạch tổng thể, phát triển cộng đồng còn chịu sự chi phối củacác yếu tố thể chế, văn hoá, tập quán, điều kiện tự nhiên nên chưa mangtính đồng bộ

Phương thức tiếp cận từ trên xuống một cách ồ ạt không tránh khỏi

cơ chế áp đặt, là một bài học không thành công đáng ghi nhớ Các nhà hànhđộng xã hội nhận ra rằng phát triển cộng đồng phải đi từ dưới lên, phải xuấtphát từ ý chí và nỗ lực của đông đảo quần chúng Đồng thời vai trò củaChính phủ và các đoàn thể xã hội là không thể thiếu được trong tiến trìnhlịch sử của phát triển cộng đồng

Từ bài học trên, phương hướng của phát triển cộng đồng được các nhà nghiên cứu và ứng dụng nhấn mạnh ở các điểm sau:

- Sự tham gia của người dân là yếu tố cơ bản.

- Cần phải xây dựng các thiết chế xã hội là công cụ, môi trường cho

sự tham gia

- Yếu tố tổ chức hết sức quan trọng Các tổ chức chính quyền địa phương phải được điều chỉnh và tăng năng lực cho họ để thực hiện chức năng phát triển và tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự tham gia của người dân.

- Cần hỗ trợ sự hình thành và củng cố tổ chức của chính người dân.

- Trong phát triển cộng đồng không đặt nặng chương trình, dự án (nghĩa là các ý đồ có sẵn của tổ chức Nhà nước, cơ quan phát triển, tổ

Trang 7

chức xã hội ) từ bên trên, bên ngoài đưa vào mà cần chọn các công trình vừa tầm do người dân đề xướng và thực hiện với sự hỗ trợ từ bên ngoài.

- Tạo được sự chuyển biến xã hội mới là quan trọng Đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi người dân nhằm mục đích phát triển Đồng thời là tạo được chuyển biến trong tổ chức, cơ cấu và các mối tương quan lực lượng trong xã hội.

- Phát triển cộng đồng chỉ có hiệu quả khi nằm trong một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn.

- Đơn vị làng, xã quá nhỏ để có tác dụng và huy động tiềm năng tự phát triển Phát triển làng xã phải đặt trong kế hoạch phát triển cấp vùng.

- Huấn luyện để trang bị cho dân và những người có trách nhiệm, kỹ năng tổ chức, lãnh đạo Đây là một bộ phận không thể thiếu.

2 Phát triển cộng đồng là một khoa học và nghề nghiệp

Điểm xuất phát của phát triển cộng đồng là từ những phong trào,chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, một phương pháp hành độngđược đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn của các tình nguyện viên

Vào những năm 40 của thế kỷ XX khái niệm phát triển cộng đồng đãđược chính phủ Anh sử dụng và đã lan rộng ra hầu hết các thuộc địa Á, Phi.Vào những năm 50, Liên Hiệp Quốc công nhận khái niệm phát triển cộngđồng và khuyến khích các quốc gia thực hiện Thập kỷ 60 phát triển cộngđồng chú ý nhiều vào khu vực nông thôn và miền núi

Vào thập kỷ 70, phát triển cộng đồng được coi là một phương pháp

cơ bản của Công tác xã hội, được giảng dạy ở các trường Công tác xã hộiđến bậc đại học.Thời gian đào tạo từ 6 tháng đến 2 năm, 4 năm Việc đàotạo các cán sự xã hội ngành phát triển cộng đồng (tác viên phát triển cộngđồng) đã được công nhận tới bậc tiến sĩ

Trang 8

Đầu thập kỷ 70, Philippin và Ấn Độ có khoa chuyên ngành về pháttriển cộng đồng trong trường Đại học Công tác xã hội Ngày nay khắp Thếgiới, phát triển cộng đồng là một bộ môn khoa học riêng biệt có nội dung,kiến thức, phương pháp tiếp cận riêng.

Từ những năm 80-90, các nước đang phát triển đã có những thay đổi

về cách nhìn nhận và phương pháp tiếp cận trong phát triển cộng đồng.Phạm vi của phát triển cộng đồng không chỉ bó hẹp ở các khu vực nôngthôn Từ những năm 90 đến nay, phát triển cộng đồng như là một phươngchâm hành động trong chiến lược phát triển chung của mỗi quốc gia trêntoàn cầu

Phương pháp phát triển cộng đồng vận dụng kiến thức của nhiềungành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, dân tộc học, kinh tếhọc, tâm lý học, thống kê học làm cơ sở để xây dựng các nền tảng triết lý,các giá trị nghề nghiệp, nguyên tắc hành động cho các nhân viên xã hội làmviệc với cộng đồng Phát triển cộng đồng là ngành khoa học ứng dụng thiếtthực nhất, gần gũi với người dân trong cộng đồng

Ngành khoa học về phát triển cộng đồng đòi hỏi phải có các cán sự

xã hội chuyên nghiệp, họ cần phải được đào tạo cơ bản cả về lý thuyết vàthực hành để đảm nhận trọng trách là nhà tổ chức, nhà kỹ thuật, nhà điềuphối các hoạt động và các dịch vụ xã hội trong phương pháp phát triểncộng đồng

Các kiến thức, kỹ năng đối với người tư vấn phát triển cộng đồngchú trọng vào hiểu biết về hành vi con người, tâm lý- xã hội, khoa học giaotiếp, xã hội học, công tác xã hội, quản trị xã hội, các nguyên tắc hành độngtrong phát triển cộng đồng, vai trò người tác viên cộng đồng, tiến trình pháttriển cộng đồng … Người tác viên phát triển cộng đồng còn là người thônghiểu và biết nối kết các dịch vụ xã hội, chương trình hành động hướng về

Trang 9

cộng đồng của các tổ chức, các hiệp hội, các cơ quan chính phủ và phichính phủ trong và ngoài nước một cách có hiệu quả

Người tác viên phát triển cộng đồng còn là một nhà thực tế giỏi, biếtnối kết giữa lý thuyết và thực tế một cách linh hoạt và sáng tạo Cánh tiếpcận theo phương pháp có sự tham gia của người dân vào các hoạt động củacộng đồng là phương châm hành động của tác viên cộng đồng

Qua thực tiễn cho thấy, để phát triển bền vững thì không chỉ chútrọng đến việc tăng trưởng kinh tế mà còn cần quan tâm và giải quyết cácvấn đề xã hội Vì vậy, phát triển cộng đồng càng trở nên cần thiết và đóngvai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội, qua các chương trình pháttriển cộng đồng, người dân trong cộng đồng thấy được những khó khăn,mâu thuẫn, nhu cầu của chính mình; đồng thời với sự giúp đỡ, hướng dẫncủa các tác viên phát triển cộng đồng, bản thân cộng đồng sẽ nhận ra tiềmnăng của mình để có thể tự giải quyết các vấn đề đó Phát triển cộng đồng

là ngành khoa học đáp ứng được yêu cầu này

3 Phát triển cộng đồng trong bối cảnh xã hội Việt Nam

3.1 Sự cần thiết của phát triển cộng đồng ở Việt nam

Chương trình phát triển cộng đồng trên thế giới bắt đầu từ cuối thập

kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 Trong những năm của thập kỷ 60, khi ngành Côngtác xã hội vào Việt Nam thì chương trình phát triển cộng đồng cũng bắt đầu

du nhập vào Việt Nam và cũng đã có tưng bước phát triển nhất định Chotới nay, Việt Nam đã có khá nhiều tổ chức hoạt động cho những chươngtrình, dự án phát triển cộng đồng, phổ biến như là các dự án giáo dục, chămsóc sức khỏe ban đầu, dinh dưỡng, nước và vệ sinh môi trường, tín dụngnông thôn, xóa mù chữ, phát triển cơ sở hạ tầng và tạo thu nhập… Nhiều tổchức với nhiều chương trình hứa hẹn đóng góp cho việc giải quyết các vấn

đề xã hội và giúp cho sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, trong tình hìnhthực tế sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn tới sự phân hóa giàu

Trang 10

nghèo ngày càng lớn, kéo theo đó là các vấn đề xã hội mỗi ngày một giatăng, chúng ta không thể chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà không quantâm đế khía cạnh xã hội Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm kịp thời đếnnhân tố con người và xã hội Điều này được thể hiện thông qua một loạtcác chương trình và chính sách phát triển xã hội trong thời gian qua củaĐảng và Nhà nước Phương châm, đường lối chiến lược phát triển kinh tế

xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam rất phù hợp với nguyện vọng củangười dân và luôn tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác Quốc tế vì sự tiến

bộ xã hội và hợp tác bền vững với mọi quốc gia trên thế giới Và với cácchương trình lớn cấp quốc gia nếu không áp dụng phương pháp phát triểncộng đồng thì khó có thể thành công

Phát triển cộng đồng ở Việt Nam làm thức tỉnh và tăng năng lực chomọi người dân để tiến tới sự tự lực cao của cộng đồng Chúng ta thấy rằng

sự thay đổi hành vi phải tự nguyện, thói quyen tập quán và những giá trịvăn hóa lạc hậu chỉ có thể khắc phục bằng nỗ lực của toàn cộng đồng thôngqua việc giúp cho người dân có được khả năng phân tích tình hình, giácngộ về hoàn cảnh của mình, giúp cho người dân có kỹ năng tổ chức để tựquản và đi lên bằng chính sức của mình Phát triển cộng đồng là ngànhkhoa học đáp ứng yêu cầu này

3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển cộng đồng ở Việt Nam hiện nay

3.2.1 Những thuận lợi

Yếu tố văn hóa của người Việt Nam với truyền thống làng xã, tính cốkết cộng đồng cao, tinh thần trọng tình, trọng ái, “tương thân tương ái”,

“tình làng nghĩa xóm”, “lá lành đùm lá rách”, … đã tạo ra sự đoàn kết gắn

bó chặt chẽ những người dân trong cộng đồng với nhau, đó là sức mạnh lớnlao để có thể chiến thắng mọi khó khăn, rủi ro trong cộng đồng

Trang 11

Đảng và Nhà nước Việt Nam lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉnam cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia: “Dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra” Nó nhấn mạnh triệt để vai trò của người dântrong cộng đồng, phát huy cơ chế “dân chủ cơ sở” phù hợp với các nguyêntắc hành động trong phát triển cộng đồng.

Đặc điểm tổ chức của Việt Nam, ngoài tổ chức Đảng và chính quyềncác cấp, còn có các tổ chức chính trị xã hội (như Hội Phụ nữ, Hội nôngdân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên,…) với mạng lưới rộng khắp từtrung ương tới địa phương với số lượng thành viên rất lớn Các tổ chứcđoàn thể đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường thông tin liên lạcgiữa Đảng, Nhà nước và người dân ở cơ sở Ngoài ra, cơ cấu tổ chức xã hộiViệt Nam hết sức thuận lợi, các đoàn thể có “chân rết” tới tận cơ sở Tổ dânphố là đơn vị gần dân nhất, giữ vai trò liên lạc giữa người dân và chínhquyền địa phương Các tổ chức chính trị, xã hội được Đảng lãnh đạo đãhướng về các mục tiêu của phát triển cộng đồng để hành động Đó là cácmục tiêu" dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, bình đẳng dân chủ vàvăn minh" Các hình thức tổ chức hoạt động cộng đồng đã rất đa dạng,phong phú và không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế với tất cảcác quốc gia trên toàn cầu

Việt Nam có nguồn tài nguyên dồi dào cả về vật chất lẫn con người.Người dân Việt nam cần cù, thông minh, năng động, không ngại khổ, ngạikhó

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20 các tổ chức Chính phủ và Phi chính phủViệt Nam đã mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức Quốc tế trong lĩnhvực phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá với các mục tiêu xoá đói, giảmnghèo, bảo vệ môi trường, chăm sóc y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ em đặcbiệt khó khăn… nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các cộng đồng nghèo thuộc các khu

Trang 12

vực có nhiều rủi ro, khó khăn (nông thôn, miền núi, ven biển) khắc phụctừng bước các khó khăn của họ

Từ cuối thập kỷ 90 đến nay, các chương trình, dự án phát triển đã chútrọng đến việc cung cấp các kiến thức, kỹ năng và tài nguyên cho ngườidân thuộc nhóm đối tượng ít có cơ hội tiếp xúc với các nguồn lực của xãhội trong cộng đồng như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, những người sốngtrong vùng có nhiều thiên tai… phương pháp phát triển cộng đồng cònđược trang bị toàn diện cả về lý thuyết và thực hành cho các lực lượng cán

bộ chủ chốt trong các cộng đồng hưởng lợi để họ lãnh đạo và giúp đỡ cộngđồng của họ vượt qua khó khăn theo phương châm “Nhà nước và nhân dâncùng làm”, phát huy “quyền dân chủ cơ sở, các năng lực tự quản” trongcộng đồng Bước đầu đã đem lại những thành công đáng kể về việc cảithiện đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội cho một số cộng đồng xã hội thuộckhu vực nông thôn, miền núi, dân tộc ít người Hiện tại phương pháp pháttriển cộng đồng đã và đang phát huy hiệu quả trong các dự án phát triển đôthị ở Việt Nam với các mục tiêu phát triển kinh tế, cải thiện vệ sinh môitrường, phòng chống tệ nạn xã hội…

Các nhà nghiên cứu và thực hành về phát triển cộng đồng đã cónhiều cơ hội để học tập, nghiên cứu, ứng dụng các lý thuyết và kinhnghiệm của mình vào trong thực tế cuộc sống mang tính chất chuyênnghiệp hơn, hiệu quả hơn Các trường đào tạo thuộc khối xã hội và nhânvăn đã chú trọng đưa môn học phát triển cộng đồng vào giảng dạy cho họcsinh, sinh viên từ bậc trung cấp đến bậc đại học Một số cán bộ nghiên cứu,giảng dạy đã được cử đi học ở nước ngoài bậc trên đại học

Trên đây là những thuận lợi cơ bản khẳng định rằng khoa học về pháttriển cộng đồng ở Việt Nam đang có chỗ đứng vững chắc cả về lý luận vàthực tiễn

Trang 13

Phát triển cộng đồng là một khoa học còn rất mới mẻ ở Việt nam.Cán bộ làm công tác phát triển cộng đồng chủ yếu là các nhà thực tế, họchưa được đào tạo cơ bản Đội ngũ cán sự xã hội chuyên nghiệp còn rất ít

và chưa có nhiều cơ hội để tham gia vào các chương trình phát triển cộngđồng ở các địa phương Họ rất thiếu kinh nghiệm thực tiễn và xa lạ vớiphương pháp cùng tham gia Chính các tác viên cộng đồng còn áp đặt, làmthay, chưa tin tưởng thật sự vào khả năng của người dân, của cộng đồng

Việc trang bị các kiến thức và phương pháp tiếp cận của khoa học vềphát triển cộng đồng mới chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết cho các sinh viênthuộc một số trường như Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại họcCông đoàn, Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, Đại học Lao động Xã hội, Đạihọc Đồng Tháp và một số cán bộ làm dự án về phát triển cộng đồng

Các hoạt động cải thiện đời sống cho người dân thông qua một số dự

án của chính quyền thường mang tính chỉ đạo từ trên xuống nên tính hiệuquả chưa cao Người dân có thói quen ngại sự thay đổi, trông chờ, ỷ lại cho

xã hội về các lĩnh vực giải quyết an sinh xã hội cho cộng đồng

Cơ chế vận hành của các thể chế xã hội ở Việt nam vẫn còn ảnhhưởng nhiều của cơ chế bao cấp vì vậy phần đông đội ngũ cán bộ làm côngtác phát triển còn ngại tiếp cận với cái mới, ngại sự thay đổi Vì vậy tínhthụ động của các cấp có thẩm quyền còn phổ biến

Dân số Việt Nam phần đông sống ở nông thôn, tính gia trưởng, tưtưởng phụ quyền, trình độ dân trí còn thấp, văn hoá, lối sống còn mangnặng tính tiểu nông, , khó khăn trong việc tiếp thu các kiến thức mới cũnglàm hạn chế nhiều đến việc áp dụng phương pháp phát triển cộng đồng vàocác khu vực này

III/ Mục đích, ý nghĩa của phát triển cộng đồng

1 Mục đích của phát triển cộng đồng

Trang 14

Trọng tâm của phát triển cộng đồng là phát triển con người, vì conngười trong cộng đồng Đây là thước đo được hiểu theo nghĩa rộng chứkhông chỉ là tăng trưởng kinh tế hay những tiến bộ về vật chất Mục tiêuchiến lược của phát triển cộng đồng là góp phần mở rộng và phát triển cácnhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triểnnăng lực tự quản cộng đồng, phát triển khả năng của con người và định chếcủa xã hội Nó được thể hiện là:

- Hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trongcộng đồng với sự cân bằng về vật chất và tinh thần

- Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội, kể cả nhóm

xã hội bị thiệt thòi, qua đó đẩy mạnh sự công bằng xã hội

- Củng cố các thiết chế xã hội, tổ chức xã hội để tạo điều kiện thuậnlợi cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng

-Thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triểncộng đồng

2 Ý nghĩa của phát triển cộng đồng

- Giúp người dân nhận thức được các vấn đề của cộng đồng cũng chính là những vấn đề của họ.

Vấn đề cồng đồng là những khó khăn, những trở ngại, những rào cảntrong tiến trình thực hiện nhu cầu chính đáng, hợp pháp ở các lĩnh vực đờisống kinh tế, văn hóa, quản lý, xã hội , ngăn cản quá trình phát triển củacộng đồng

Xuất phát từ tính tổng thể của cộng đồng, vấn đề cộng đồng là khókhăn, trở ngại, rào cản của một chỉnh thể thống nhất chứ không phải là khókhăn của một hoặc một vài thành viên cộng đồng

Vấn đề cộng đồng có thể là vấn đề quản lý điều hành, đó cũng có thể làvấn đề liên quan đến sự tồn vong, sống còn của cộng đồng, cũng có thể là vấn

đề uy tín, tiếng tăm của cộng đồng này so với cộng đồng khác

Trang 15

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vấn đề cộng đồng như vậy sẽ không trọn vẹn,không đầy đủ Chúng ta biết rằng, không thể nói đến cộng đồng mà không nóiđến thành viên cộng đồng, tức từng cá nhân, từng gia đình sống trong cộngđồng đó Cũng giống như nhu cầu, vấn đề cộng đồng có thể là vấn đề chung

mà đại bộ phận người dân trong cộng đồng cùng gặp phải Nhưng cũng cóvấn đề cộng đồng, đầu tiên xuất phát chỉ là vấn đề của một vài cá nhân nhưngvấn đề đó có nguy cơ lây lan ra toàn cộng đồng Qua tác động của công táctruyền thông, vận đông, nâng cao nhận thức, làm cho mọi người thấy nhữngvấn đề đó có “nguy cơ” trở thành phổ biến “lan rộng” trong cộng đồng, để rồi,cuối cùng, mọi người trong cộng đồng đều thừa nhận, coi nó là vấn đề chungcủa cộng đồng

Như vậy có thể thấy vấn đề của cộng đồng xuất phát nội tại từ chínhnhững vấn đề của các thành viên trong cộng đồng và đồng nghĩa rằng các vấn

đề của cộng đồng cũng chính là vấn đề (hoặc có nguy cơ trở thành vấn đề)của chính các thành viên trong cộng đồng đó Giải quyết được các vấn đề củacộng đồng cũng chính là góp phần giải quyết vấn đề của các cá nhân, cácthành viên trong cộng đồng

- Người dân được tham gia vào các hoạt động phát triển một cách tích cực, giúp họ nhận thức được các giá trị, niềm tin vào khả năng của họ.

Như đã nêu ở trên, mục tiêu của phát triển cộng đồng là mục tiêu conngười, vì sự phát triển và tiến bộ về nhận thức và khả năng của con người

Và để đạt được mục tiêu phát triển đó thì hoạt động phát triển cộng đồngluôn nhấn mạnh tới yếu tố sự tam gia của người dân trong suốt tiến trìnhphát triển Thông qua quá trình cùng tham gia đó, người dân được học hỏi,được bồi dưỡng để tăng cường hiểu biết, tăng cường kỹ năng trong giảiquyết các vấn đề, giúp họ tự tin hơn, nhận thấy được những khả năng tiềm

ẩn của mình để vận dụng vào trong quá trình phát triển cộng đồng mình

Tùy thuộc vào trình độ nhận thức, văn hóa, điều kiện địa lý của từngvùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào các công việc pháttriển cộng đồng thể hiện ở các cấp độ khác nhau Các mức độ tham gia của

Trang 16

người dân có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành 6 cấp độkhác nhau:

+ Tham gia thụ động: Người dân thụ động tham gia vào các hoạt độngphát triển tại cộng đồng, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình raquyết định

+ Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: Thông qua việc trả lờicác câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham dự vàoquá trình phân tích và sử dụng thông tin

+ Tham gia như nhà tư vấn: Người tham gia được hỏi và cho ý kiến vềcác vấn đề khó khăn và cơ hội tại cộng đồng

+ Tham gia trong việc thực hiện: Người dân tham gia vào việc thànhlập nhóm để tiến hành những hoạt động của các chương trình hay dự án pháttriển tại địa phương, nhưng họ không tham dự vào quá trình ra quyết định

+ Tham gia trong quá trình ra quyết định: Người dân chu động tham giavào các quá trình phân tích và lập kế hoạch, họ tham gia trực tiếp vào quátrình ra quyết định tại địa phương

+ Tham gia tự nguyện: Người dân tự khởi xướng về việc xác định, lập

kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển (không có sự địnhhướng từ bên ngoài)

- Huy động được tiềm năng của mọi cơ quan tổ chức, người dân, tài nguyên trong cộng đồng để cải thiện đời sống mọi mặt của họ.

Thực tế, để tồn tại và mưu sinh, mỗi người đều có khả năng, năng lực

và tài năng bầm sinh, đề có một cuộc sống tốt phụ thuộc vào việc các khảnăng của mọi người được sử dụng như thế nào Nếu năng lực của mỗi ngườiđược đánh giá đúng và sử dụng có hiệu quả thì họ sẽ mạnh mẽ và cộng đồng

sẽ vững mạnh hơn bởi sức mạnh tổng hợp của toàn thể mọi người sinh sốngtại đó Một trong những nguyên nhân của một số cộng đồng chưa phát triển,còn yếu kém là vì các tổ chức bên ngoài và người dân tại đó chi tập trung vàonhững nhu cầu và những gì cộng đồng còn thiếu thay vì tập trung vào khaithác năng lực tiềm ẩn của mỗi người dân và nội lực của cộng đồng

Vì vậy, "nguyên liệu thô" để xây dựng cộng đồng phát triển là khảnăng, năng lực tiềm ẩn của cộng đồng, của chính người dân sống tại cộng

Trang 17

đồng Phát triển cộng đồng luôn nhấn mạnh yếu tố nội lực, chú ý phát huy tối

đa những tiềm năng sẵn có trong cộng đồng để giúp cộng đồng đó “tự lực” đilên

- Tăng cường mối liên kết, đoàn kết trong cộng đồng vì mục đích của phát triển cộng đồng.

Phát triển cộng đồng không chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ hay một

cá nhân đơn lẻ mà là vì sự phát triển chung của cả một cộng đồng Do vậy,trong suốt toàn bộ tiến trình phát triển cộng đồng, sự hợp tác giữa các tổchức, đoàn thể, các dòng họ, các gia đình, các nhóm nhỏ, các cá nhân trongcộng đồng luôn được phát huy Thông qua sự hợp tác cùng tham gia làmviệc này, các thành viên trong cộng đồng có nhiều cơ hội tiếp xúc, nhiều cơhội đểu hiểu nhau hơn, cảm thông với nhau hơn để từ đó cùng nhau đoànkết phấn đấu vì mục tiêu phát triển chung của cả cộng đồng

- Là cơ sở để thu hút nguồn hỗ trợ từ bên ngoài và góp phần cải thiện các chính sách xã hội, an sinh xã hội cho phù hợp với điều kiện thực

tế của cộng đồng.

Như đã nêu ở trên, nội lực trong cộng đồng là yếu tố quan trọng đểgiúp cho cộng đồng tự lực phát triển Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, đểphát triển cộng đồng một cách bền vững, rất cấn những yếu tố “xúc tác” lànhững nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài Với phương tram “nhà nước và nhândân cùng làm”, ngày nay trong phát triển cộng đồng ở nước ta luôn pháthuy tốt cả hay yếu tố “nội lực” và “ngoại lực” để góp phần nhanh chónggiúp cho các cộng đồng nghèo, cộng đồng khó khăn thay đổi theo chiềuhướng tích cực hơn

Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu về cộng đồng, quá trìnhthực hiện các chương trình phát triển cộng đồng cũng đã rút ra được nhiềubài học kinh nghiệm cũng như những phản hồi tích cực giúp cho Nhà nước

Trang 18

thiết kế, điều chỉnh các hệ thống chính sách an sinh xã hội sát hợp với điềukiện thực thế của cộng đồng.

IV/ Quan điểm, nguyên tắc hành động trong phát triển cộng đồng

1 Quan điểm định hướng trong phát triển cộng đồng

1.1 Lấy dân làm gốc:

Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên Đó lànhững căn cứ xuất phát từ nhu cầu của chính người dân Muốn cộng đồngphát triển phải chính người dân tự ý thức cũng như tự tổ chức để bảo vệquyền lợi của họ Nếu người dân không phát hiện ra được các nhu cầu củamình, ý thức chưa thông suốt thì không nên nóng vội tổ chức các hoạt độnggiúp đỡ

Lấy dân làm trọng tâm phải xuất phát từ kinh nghiệm của người dân,

từ văn hoá của địa phương và lợi ích của người dân, đặc biệt là ngườinghèo

Tham dự và tham gia của quần chúng là một quan điểm cơ bản củađường lối phát triển cộng đồng Yếu tố tổ chức của chính quyền phải là trụcột để hỗ trợ phát triển các tổ chức của người dân Sự tham gia của chínhquyền vào các hoạt động của cộng đồng phải là nhân tố bên trong chứkhông phải là lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng

1.2 Phát triển bền vững:

Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội Cáclĩnh vực về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội cùng phải tác động hỗ trợ

để cùng nâng lên một cách đồng bộ của các chỉ số phát triển xã hội

Đồng thời phải bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm người bị thiệtthòi trong cộng đồng Vì thế luôn đòi hỏi các chương trình phải có tính

Trang 19

toán theo các thứ tự ưu tiên để tìm ra các giải pháp tối ưu của sự phát triển.Phát triển cộng đồng chỉ có hiệu quả khi nó nằm trong một chiến lược pháttriển quốc gia đúng đắn.

Tạo được sự chuyển biến xã hội là quan trọng, bao gồm: thay đổi vềnhận thức, hành vi của người dân, cơ cấu tổ chức, các mối tương quan lựclượng trong cộng đồng

1.3 Tăng cường năng lực và quyền lực cho người dân:

Người dân không thể hành động khi thiếu năng lực Họ cũng khôngthể hành động khi thiếu các động lực của tập thể, tổ chức và quyền lực.Phát triển cộng đồng phải cung cấp các cơ hội, các kiến thức, kỹ năng chongười dân để họ liên kết lại thành một chí hướng vì quyền lợi của các thànhviên trong cộng đồng, tạo thành quyền lực chung, mang tính tự giác, tự lựccao Huấn luyện cộng đồng theo phương pháp cùng tham gia giúp ngườidân có nhiều năng lực để tự giải quyết tốt hơn các vấn đề của họ

1.4 Nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn:

Việc nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn là nền tảng cho việc triểnkhai các chương trình, dự án và phải được coi trọng trong hoạch định cácmục tiêu của phát triển cộng đồng

2 Nguyên tắc hành động trong phát triển cộng đồng

Để làm tốt vai trò trách nhiệm của người tác viên cộng đồng, trên cơ

sở các nguyên lý, quan điểm, mục tiêu của phát triển cộng đồng, người tácviên cộng đồng và các chương trình, dự án phát triển cộng đồng phải tuânthủ các nguyên tắc sau:

2.1 Bắt đầu từ nhu cầu, tài nguyên và khả năng của người dân

Hoạt động phát triển phải xuất phát từ yếu tố “nội tại”, từ những gìngười dân có, từ những mong muốn, nhu cầu, từ sáng kiến, kinh nghiệm và

Trang 20

sức lực của họ Từ đó giúp cho họ dễ tham gia và có khả năng thực hiệnmột cách thuận lợi.

Khi tham gia vào tiến trình phát triển cộng đồng, động cơ ban đầu củangười dân có thể rất khác nhau, có người tham gia vì động cơ thích đươc tụtập, hội họp, kết bạn mới; người khác tham gia để tỏ ra mình là người gắn bó,cũng có trách nhiệm với cộng đồng Nếu chỉ với những động cơ đó, khi gặpkhó khăn, người dân sẵn sàng “bỏ cuộc” giữa chừng Người dân chỉ tham giavào tiến trình “phát triển cộng đồng” một cách trung thành nếu như họ “giácngộ” thực sự về vấn đề của cộng đồng, về hoàn cảnh sống hiện tại của họ, họkhông chấp nhận được, không thỏa mãn với điều kiện đó, cần thiết phải thayđổi, cần phải có môi trường sống tốt hơn, bình đẳng hơn Nói cách khác, sựgiác ngộ phải chuyển thành nhu cầu, lúc đó người dân mới có động lực thực

sự để tham gia vào tiến trình phát triển cộng đồng Và điều quan trọng là tácviên cộng đồng khi làm việc với cộng đồng cần nắm bắt, khai thác và pháthiện và chỉ ra được những nhu cầu đó của người dân để tiến trình phát triểncộng đồng được bắt đầu diễn ra thuận lợi, đúng mục đích và ý nghĩa

Cần chú ý đôi khi nhu cầu của người dân rất khác với nhu cầu củanhà tài trợ, hoặc của chính quyền địa phương Chẳng hạn cộng đồng đangcần nước sạch, nhưng dự án chỉ xây dựng các trụ sở hoặc điểm sinh hoạtcộng đồng Đồng thời nên vận dụng những gì có sẵn trong cộng đồng thí dụcác vật liệu như gỗ, tranh, tre, và tay nghề của người dân trong cộng đồng

để dựng một lớp học, đào giếng

Bên cạnh đó, tác viên cộng đồng cũng cần lưu ý, phát triển cộng đồngchỉ có thể là nội sinh, nghĩa là xuất phát từ khả năng, ý chí, và nội lực bêntrong Hỗ trợ bên ngoài (chuyên môn, kỹ thuật, tài chính ) là rất cần thiếtnhưng chỉ là chất xúc tác Nội lực của một cộng đồng ở đâu? đấy là một câuhỏi thường được đặt ra đối với nhiều người khi làm việc với cộng đồng, đặcbiệt là cộng đồng nghèo Mà cái nghèo, cái khó, theo lô gích thông thường là

Trang 21

“bó cái khôn” Nội lực ở đây không phải và không bao giờ chỉ là nguồn lựctài chính Trong phát triển cộng đồng, nội lực mà cộng đồng có thể tiếp cậnđược bao gồm:

• Các nguồn tài sán thiên nhiên

• Các nguồn tài sán vật lý

• Các nguồn tài sán về con người

• Các nguồn tài sán về xã hội

• Các nguồn tài sán về tài chính

2.2 Tin tưởng vào dân, vào khả năng thay đổi và phát triển của cộng đồng

Xuất phát từ triết lý của công tác xã hội, tác viên cộng đồng phảiluôn tin tưởng vào khả năng và năng lực của người dân Luôn tin tưởngrằng người dân dù nghèo hoặc khó khăn nhưng họ đều có óc sáng tạo vàtính gắn bó, mong muốn thay đổi cuộc sống cộng đồng tốt hơn Có như thếmới tránh được tư tưởng làm thay, làm hộ rất thường xảy ra trong phát triểncộng đồng Tác viên cộng đồng luôn tin tưởng rằng người dân hoàn toàn cókhả năng quản lý cuộc sống và các vấn đề của mình ngoại trừ khi họ bị đènặng bởi mối lo âu để sinh sống Tác viên cộng đồng cần luôn tin tưởngrằng, khi người dân đã có động lực xuất phát từ việc đáp ứng đúng nhu cầucủa mình và khi đã được huy động, họ sẽ tìm thấy sức mạnh tinh thần và sứcmạnh vật chất cần thiết để hành động Khả năng của người dân ở đây khôngchỉ là khả năng về kinh tê, về vật chất mà còn là khả năng suy tính cho phùhợp với hoàn cảnh, khả năng đóng góp kinh nghiệm, tài lực, trí lực vào triếntrình phát triển cộng đồng Khả năng ở đây không phải là khả năng của mộthai cá nhân cá thể mà là của cả một tập thể, một cộng đồng, đó là sức mạnhrất lớn

Trang 22

Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã cho thấykhả năng của dân, nếu biết khai thác, phát huy thì đó là sức mạnh vô địch.Một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng với niềm tin, với ý chí và nghị lực, với tinhthần đoàn kết và phát huy nội lực, chúng ta đã chiến thắng biết bao kẻ thùhùng mạnh, giành được độc lập tự do và xây dựng đất nước ngày càng giàumạnh, “sánh ngang với các cường quốc năm châu”

Thực hiện nguyên tắc này, tác viên cộng đồng hay những người lãnhđạo cộng đồng phải biết phát huy cao độ sức mạnh “dời non, lấp biển”, sứcmạnh “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Nhữngthành công nhỏ là niềm khuyến khích lớn để người dân tiếp tục đi lên Khôngnên làm thay, làm hộ mà cùng sống, cùng làm với người dân và khuyến khích

tổ chức đại diện của mình sẽ là một nhu cầu thực tế Mỗi tổ chức, mỗinhóm phải khuyến khích người dân tham gia đầy đủ vào các hoạt động.Người lãnh đạo, người tác viên cộng đồng chỉ hành động trên cơ sở ý kiếncủa người dân Giống như khi làm việc với cá nhân và nhóm, ở đây tácviên cộng đồng luôn khích lệ và tạo điều kiện để người dân tham gia vàocác hoạt động Người dân phải được tham gia cùng làm, kết hợp với các tổchức nguồn lực bên ngoài để giải quyết vấn đề của chính họ Trong cáccuộc họp, tác viên cộng đồng chỉ là người điều phối còn người dân mới làngười đưa ra các quyết định cuối cùng cho các vấn đề của họ Khi người

Trang 23

các giải pháp thì họ sẽ làm đến cùng vì do chính họ chon lựa và quyết định.

Họ làm vì họ thấy đó là của họ và họ cảm thấy có trách nhiệm với nó Điềunày nhằm xây dựng, củng cố năng lực cộng đồng, đồng thời giúp cộngđồng làm chủ những hoạt động của mình ngay từ đầu tiến trình giải quyếtvấn đề

2.5 Tạo nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau và chú ý

ưu tiên các nhóm người yếu thế trong cộng đồng

Với truyền thống “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách”,thông qua việc tương trợ lẫn nhau và qua các hoạt động chung, các thànhviêntrong cộng đồng vừa đạt được cảm xúc tự hoàn thành nhiệm vụ vừagóp phần cải thiện an sinh cho nhóm, giúp nhau cùng phát triển Ưu tiênnhóm người yếu thế trong cộng đồng, tạo điều kiện để họ được tham gia,được tôn trọng và được hỗ trợ trong mọi hoạt động của cộng đồng Cả haiđiều này đều quan trọng như nhau Ví dụ phân công những người có taynghề sẽ hướng dẫn những người học nghề trong một nhóm, hoặc tổ chứccác buổi họp để người dân cùng bàn cách giúp đỡ những người già neođơn, hoặc phụ nữ đơn thân trong cộng đồng

2.6 Mở rộng các hình thức liên kết trong và ngoài cộng đồng

Trang 24

Phương pháp này được gọi là “tạo mạng lưới” (networking), thí dụliên kết giữa những nhóm trong cộng đồng như nhóm giáo dục xoá mù chữ;nhóm truyền thông môi trường; nhóm chăn nuôi, trồng trọt; nhóm thể thao,văn nghệ Hoặc liên kết với các nhóm khác ngoài cộng đồng như các nhómtiết kiệm-tín dụng của cộng đồng X sẽ liên kết với cộng đồng Y để tạothành các cụm hoặc trung tâm Việc liên kết này sẽ tạo thêm hiệu quả, sứcmạnh vì các nhóm có thể trao đổi, sử dụng nguồn lực của nhau Đồng thờităng thêm tiếng nói cho các cộng đồng, nếu có vấn đề cần đề xuất, ngay cảchính sách.

2.7 Tuân thủ theo tiến trình và các phương pháp tiếp cận đặc thù

Bất kì một dự án phát triển cộng đồng nào cũng cần có một tiến trìnhtuần tự các bước Nếu không thực hiện theo lộ trình đã định thì mọi việc sẽtrở nên lộn xộn, mất phương hướng và sẽ khó đi đến việc giải quyết đúngmục tiêu đã đề ra VD: Để giúp một cộng đồng từ yếu kém trở thành tự lựcphải qua các bước để cộng đồng phát triển từ cộng đồng yếu kém trở thànhcộng đồng thức tỉnh sau đó đến cộng đông đã được tăng năng lực rồi trởthành tự lực…

Bên cạnh việc tuân thủ theo tiến trình , để giúp người dân cộng đồngtham gia và hợp tác thì rất cần đến những phương pháp đặc thù để có thểhuy động được người dân và hoàn thành tôt mục tiêu đề ra

Việc vận dụng các nguyên tắc trên cần linh hoạt, mền dẻo, tuỳ vàođặc điểm, tình hình và điều kiện ở mỗi cộng đồng khác nhau, các cơ hộikhác nhau

V/ Một số vấn đề cần quan tâm trong phát triển cộng đồng

1 Nghèo đói

Trang 25

Nghèo đói đang là vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu, nó không chỉdiễn ra ở các nước chậm phát triển với nền kinh tế lạc hậu mà còn diễn ra ởcác nước đang phát triển và các nước công nghiệp Trong bối cảnh nền kinh

tế thị trường hội nhập quốc tế hóa - toàn cầu hóa hiện nay, bên cạnh nhữngthời cơ, thuận lợi làm cho tốc độ phát triển kinh tế diễn ra nhanh chóng, đờisống dân cư ngày càng được cải thiện, cũng xuất hiện nhiều mặt trái nhưphân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội,

1.1 Khái niệm nghèo đói:

1.1.1 Quan niệm về nghèo đói của quốc tế:

a Quan niệm về nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băngkốc, Thái Lan vàotháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và chorằng:

“ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏamãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được

xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tụctập quán của địa phương”

Với quan niệm ở trên, việc xem xét nghèo đói cần lưu ý ba vấn đề:

- Nhu cầu cơ bản của con người

- Nghèo đói thay đổi theo thời gian

- Nghèo đói thay đổi theo không gian

Khái niệm trên đã được nhiều quốc gia trong khu vực chấp nhận và

sử dụng trong nhiều năm qua Tuy nhiên, để phan loại một cách chi tiết hơnnữa, các nước còn phân chia nghèo thành hai loại là nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối

Trang 26

• Nghèo tuyệt đối:

Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn cácnhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu

• Nghèo tương đối:

Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bìnhcủa cộng đồng

b Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm:

Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vậtchất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồmcác vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục,khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyềnlực

Đây là một quan niệm khá đầy đủ, bởi với quan niệm này người takhông chỉ quan tâm đến yếu tố “túng thiếu về vật chất” mà còn quan tâmđến một vấn đề rất quan trọng đối với mỗi con người, đó là việc “không cóquyền phát ngôn và không có quyền lực”; bởi người nghèo là một trongnhững người được xếp vào nhóm người “yếu thế”, cho nên họ ít có cơ hộitham gia vào các hoạt động của cộng đồng, không có quyền quyết địnhNghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triểncủa cộng đồng Thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn,người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn

Theo các quan niệm nghèo đói ở trên, tùy theo mức độ đánh giá vàmức bao quát nghèo đói của khái niệm, ta có thể biểu diễn tháp tiếp cậnkhái niệm nghèo đói như sau:

1 Tiêu dùng

2 Tiêu dùng + tài sản

Trang 27

3 Tiêu dùng + tài sản + con người

4 Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa, xã hội

5 Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa, xã hội + chính trị

6 Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa, xã hội + chính trị + bảo vệ

1.1.2 Quan niệm nghèo đói của Việt Nam:

Đối với Việt Nam, trước năm 1990 vấn đề nghèo đói ít được quan tâm,

nó chỉ được đặc biệt chú ý từ sau năm 1990, tức là từ sau 3 năm chuyển từnền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường,vấn đề phân hóa giàu nghèo xuất hiện và diễn ra nhanh chóng Bên cạnh

đó, vấn đề nghèo đói đang là vấn đề bức xúc trên phạm vi toàn cầu, nhất là

ở các nước chậm và đang phát triển như khu vực Châu Phi và Châu Á.Nhìn chung, Việt Nam vẫn là nước nghèo, thu nhập bình quân đầungười thấp; đầu những năm 1990 thu nhập bình quân đầu người chỉ đạtkhoảng 200 USD/người/năm, đến đầu năm 320 USD/người/năm và năm

2007 cũng chỉ đạt 640 USD/người/năm Vì vậy, qua nhiều cuộc khảo sát,nghiên cứu, các nhà nghiên cứu và quản lý ở các Bộ, ngành đã đi đến thốngnhất là cần có khái niệm, chuẩn mực riêng cho nghèo đói ở Việt Nam

• Nghèo:

Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phầncác nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mứcsống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện

• Đói:

Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tốithiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Trang 28

Cách phân chia nghèo và đói cũng tương tự như cách phân chia nghèotương đối và nghèo tuyệt đối mà một số nước đang sử dụng.

Người nghèo của Việt Nam quan niệm về nghèo đói đơn giản và trựcdiện Tại một số cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân, họ nói rằng:

“ Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết contôi ăn gì Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết , ngồi trong nhà cũng thấy mặttrời, khi mưa thì ở trong nhà cũng như ngoài sân”

Một số người khác thì trả lời: “Ngèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằngtranh, tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất sản xuất, không

có trâu bò, không có ti vi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khámbệnh, ”

Như vậy, đã có nhiều cách diễn đạt quan niệm về nghèo đói; song dùdiễ đạt theo cách nào thì các quan niệm đã thể hiện rất rõ nội hàm củanghèo đói Tất cả các quan niệm đều phản ánh thống nhất được ba khíacạnh của người nghèo:

- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dànhcho con người

- Có mức sống thấp hơn mức sống của cộng dồng dân cư

- Thiếu cơ hội lựa chọn, quyết định và tham gia vào quá trình pháttriển cộng đồng

Do vậy, đối với người nghèo, tình trạng nghèo và dễ bị tổn thương tựutrung là do có ít lựa chọn, bị hạn chế bởi những bất lợi về kinh tế - xã hội,văn hóa và tự nhiên mà người nghèo vấp phải, cũng như năng lực conngười của họ Mặc dù có những thành tựu đáng chú ý do đổi mới đem lại,song người nghèo vẫn tiếp tục chịu cảnh thiếu đất, thu nhập rất thấp, thấtnghiệp và thiếu việc làm kinh niên, điều kiện nhà ở kém, dinh dưỡng thấp,thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y tế phù hợp và giáo dục cho trẻ em, tụt

Trang 29

lùi về văn hóa và xã hội, thiếu kĩ năng, sự tham gia chính trị yếu và nhiềuràng buộc khác, tất cả những cái đó lại hạn chế những khả năng lựa chọn

và kéo dài cái nghèo

Giảm nghèo và kiểm soát nguy cơ có nghĩa là tạo ra môi trường thuậnlợi cho người nghèo mở rộng các khả năng lựa chọn của họ, làm giàu vốncon người thông qua tiếp cận tốt hơn tới giáo dục, dạy nghề, y tế và cácdịch vụ xã hội khác Đồng thời cũng cần cải thiện điều kiện vệ sinh, nguồnnước, môi trường thiên nhiên, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tốt hơn,đặc biệt là ở miền núi và các vùng xa

Cùng lúc đó, điều cốt yếu là phải nâng cao năng lực tạo thêm việc làmcủa khu vực tư nhân Về mặt này, cũng nên tính đến việc nâng cao nhữnglựa chọn của người không nghèo và người giàu bởi vì tầng lớp xã hội đóthường tạo ra các cơ hội việc làm cần thiết cho người nghèo thoát khỏi cáinghèo Cuối cùng, cần xây dựng và phát triển một hệ thống an sinh xã hộicông bằng, hiệu quả và bền vững về mặt tài chính trong nền kinh tế tổngthể

1.2 Một số quan điểm về nghèo đói

Nghèo thu nhập

Thu nhập hay mức tiêu dùng bình quân vẫn được đo lường, thôngqua các con số và tỷ lệ, mức chuẩn nghèo quốc gia và quốc tế, để đánhgiá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèocủa một quốc gia

Tuy nhiên, dù phải dùng những con số để dễ đo lường và định lượng,cũng không thể mô tả hết hình thù nghèo đói cũng như đánh giá mức độ vàkhả năng thoát nghèo Thậm chí những con số thống kê còn có thể làm hạnchế hiểu biết về tình trạng nghèo đói thực sự

Trang 30

Chính vì chỉ nhìn vào các con số, Việt Nam vẫn rất lạc quan với tốc

độ giảm tỷ lệ đói nghèo ngoạn mục trong khoảng gần 20 năm qua, trongkhi các chuyên gia trong nước và quốc tế vẫn liên tục cảnh báo là thực tếnghèo đói vẫn đang diễn biến ngày một phức tạp và sâu sắc hơn, cũng nhưkết quả thoát nghèo là rất mong manh và không bền vững

Anh T ở xã Thành Thới B, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, là laođộng chính trong gia đình có hai con nhỏ và một mẹ già, trông chờ vào bacông đất của gia đình Trước anh trồng mía, nuôi heo cũng đủ sống và còn

dư chút đỉnh Từ năm 2003, giá mía rớt chỉ còn 1.200 đồng/ki lô gam vàgiá heo hơi chỉ còn 15.000 đồng/ki lô gam nên anh lỗ liên tục

Thấy người ta trồng lác (cói) có lãi, anh vay nóng 2 triệu đồngchuyển sang trồng lác nhưng khi thu hoạch thì giá chỉ còn 700 đồng/ki lôgam Thua lỗ liên tục, nợ nần chồng chất, anh phải bán bớt một công ruộng

để trả nợ, và các con của anh phải nghỉ học kiếm sống

Có thể thấy mức thu nhập chỉ là một dấu hiệu của nghèo hay thoátnghèo, nhưng đã không mô tả được nguyên nhân và tình trạng dễ tổnthương, bấp bênh giữa ranh giới nghèo đói và thoát nghèo Quan trọng hơnthu nhập, cái họ thiếu (hay nghèo) nhất là nguồn tích lũy an toàn cho cuộcsống, thông tin và định hướng về thị trường và những phương cách sảnxuất nông sản phù hợp từng thời điểm, nguồn vốn vay an toàn (để khôngphải vay nóng) Những yếu tố này không phải là không có, nhưng ngườinghèo đã không thể tiếp cận được Chính vì vậy, nghèo đói về thu nhập liênquan rất chặt chẽ đến tình trạng nghèo tiếp cận trong xã hội

Nghèo tiếp cận

Nghèo tiếp cận đã làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập vàvòng luẩn quẩn đói nghèo Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiềudịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông (như hình ảnh các em học

Trang 31

sinh ở Kontum đu dây cáp đến trường), giáo dục, nguồn vốn, nước sạch,nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách.

Chỉ cần bị nợ nần, họ đã không thể lọt vào danh sách đạt tiêu chuẩncho vay ưu đãi của địa phương và chỉ còn cách vay nóng ngoài chợ Chỉcần một vụ thu hoạch thua lỗ, con cái họ đã không thể tiếp cận được vớigiáo dục

Thiếu tiếp cận những dịch vụ và hạ tầng cơ bản nhất, người nghèocàng dễ bị bệnh tật, và chính họ lại phải chi trả nhiều hơn cho chi phí khámchữa bệnh do thiếu những chế độ bảo hiểm, an sinh Chỉ cần bị bệnh nhẹphải mua thuốc, cuộc sống của họ lập tức bấp bênh thiếu hụt Bệnh nặng,nhiều gia đình trở thành khánh kiệt phải bán hết tài sản đất đai chữa bệnh,hoặc chọn lựa không chữa trị vì quá tốn kém Trẻ em thường phải nghỉ học,lao động sớm và chấp nhận một cuộc sống dễ tổn thương như những em béphải mưu sinh nặng nhọc và bị bạo hành dã man thời gian gần đây

Thiếu tiếp cận với thông tin và chính sách làm cho người nghèo trởthành nạn nhân của rất nhiều nhân tố: vay nặng lãi, mua vật tư chất lượngkém, nông sản/sản phẩm bị ép giá, thiếu hiểu biết về thị trường và côngnghệ mới, không nắm vững chính sách và định hướng phát triển để có thể

có những ứng xử thích hợp và nhạy bén hơn, như trường hợp anh T ởĐồng Tháp

Tất cả các chương trình xóa đói giảm nghèo của các cơ quan chínhphủ và phi chính phủ đều có khẩu hiệu nôm na là: giúp người nghèo tựgiúp chính họ Trong khi đó, người nghèo sống trong tình trạng mù thôngtin và không tiếp cận với nhiều phương tiện, dịch vụ cơ bản và chính sách,làm cách nào mà họ có thể đủ sức giúp chính họ?

Nghèo sức mạnh

Trang 32

Cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này

có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi

nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ Điều đó liên quanđến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh

để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyếtđịnh liên quan đến chính họ hay không

Chính vì vậy, khi nói về các hoạt động phát triển xã hội, xóa đóigiảm nghèo, người ta thường nhắc đến từ “empower” mà rất nhiều ngườilúng túng khi dùng từ này trong tiếng Việt, lúc thì gọi là “nâng cao nănglực”, lúc là “trao quyền”, lúc lại là “tăng sức mạnh” Điều khó khăn nhấtkhi diễn đạt khái niệm này, là nó không chỉ liên quan đến những năng lực,quyền, cụ thể nào đó, mà còn liên quan đến sức mạnh nội tại của mỗi conngười Có được sức mạnh đó, người nghèo mới có thể thực hiện được điều

“tự giúp chính mình” và thoát nghèo bền vững

Người nghèo không chỉ nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, họ cònđang rất nghèo sức mạnh Họ chưa đủ sức lên tiếng chất vấn về những lý

do mình “có sổ” hay “mất sổ” hộ nghèo, chưa biết tìm chỗ để hỏi, tôi nêntrồng gì, nuôi gì để không bị thua lỗ nữa, người dân ở khu quy hoạch vẫnchưa đủ sức đối thoại với nhà đầu tư và Nhà nước về quyền lợi và phương

kế mưu sinh bền vững mà các dự án có thể đem lại cho họ

Có lần nhìn thấy một nhóm thợ đang xây một bể chứa và đài nướccho một chương trình hỗ trợ cho khu dân cư khó khăn, tôi hỏi một người tại

sao lại xây ẩu như vậy Anh ta thản nhiên trả lời: “Cái này là tiền nhà nước

mà” Tôi nói: “Nhưng bể nước này để cho bà con mình xài, nếu con anh đi học trong một ngôi trường cũng được xây ẩu vì là tiền nhà nước, anh nghĩ sao?” Lúc này anh ta mới trả lời, tại chủ kêu sao cứ làm vậy thôi Những

người dân đứng quanh đó, những người sẽ thụ hưởng công trình này cũngdửng dưng không có phản ứng gì Nghèo sức mạnh có thể nhìn thấy rất rõ

Trang 33

khi con người không có khả năng hành động, tác động hay ảnh hưởng đếnmôi trường xã hội xung quanh cho dù nó liên quan đến cuộc sống của chínhhọ.

Đáng tiếc, không phải chỉ có người nghèo “nghèo sức mạnh”, nhiều

bộ phận trong xã hội cũng đang nghèo sức mạnh như vậy

Bạo lực, tội phạm ngày một gia tăng cũng chính vì người ta không có

đủ sức mạnh nội tại để ứng xử một cách thích hợp với con người và cuộcsống xung quanh mình Không những các em học sinh đánh nhau đangnghèo sức mạnh theo nghĩa này, mà những thanh thiếu niên đang quayphim và đang dửng dưng ngồi xem gần đó cũng rất nghèo

Có nhiều cán bộ địa phương trả lời về việc tại sao không hỏi ý kiến

dân về những vấn đề của họ là: “Mình cứ phải quyết định thôi, trình độ họ

thấp lắm, có biết gì đâu mà ý kiến ý cò” Những cán bộ này cũng rất nghèo

sức mạnh của cái tâm để lắng nghe thực sự và để tôn trọng phẩm giá ngườikhác

Doanh nghiệp, cơ quan hay dự án kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, bất

kể tàn phá môi trường hay tài nguyên cũng rất nghèo sức mạnh của ý thức

và sức nghĩ xa khi chặn đường sống của chính khách hàng của mình, và cảchính con cháu mình

Một đất nước mà phát triển kinh tế chỉ đem lại thịnh vượng cho một

bộ phận người dân nào đó mà không chia sẻ những thành tựu của phát triểncho mọi thành viên của xã hội, đất nước đó không thể gọi là mạnh được.Nghèo đói không chỉ liên quan đến một bộ phận người dân có mức thunhập hay tiêu dùng dưới một ngưỡng nào đó Nó liên quan đến mọi mặt của

cơ chế, chính sách xã hội, triết lý giáo dục và ứng xử xã hội của các tầnglớp người dân khác nhau Nếu chỉ chạy theo những dự án vĩ đại mà quên đi

Trang 34

cái nghèo mọi mặt đang âm thầm tàn phá cuộc sống của không chỉ ngườinghèo mà tất cả chúng ta, thì chúng ta cũng đang rất nghèo tầm nhìn vậy.

2 Môi trường sống

2.1 Các khái niệm:

a Khái niệm môi trường:

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạoquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đờisống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (TheoĐiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam)

Trong sinh vật học, môi trường có thể định nghĩa như là tổ hợp củacác yếu tố khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ nhưỡng tác động lên cơ thểsống và xác định các hình thức sinh tồn của chúng Vì thế, môi trường baogồm tất cả mọi thứ mà có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chấthay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, khôngkhí, nước, đất và các cơ thể sống khác

b Khái niệm môi trường tự nhiên:

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoáhọc, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiềuchịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả,không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta khôngkhí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp chocon người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và lànơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí,làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

c Khái niệm môi trường xã hội:

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là

Trang 35

như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan,làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch

sử, giáo dục xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống,làm mục tiêu cho mình

Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm,tham gia và chi phối môi trường

Với ý nghĩa ở tầm vĩ mô, môi trường xã hội là cả một hệ thống kinh tế

- xã hội trong tính tổng thể của nó Đó là các lực lượng sản xuất, các quan

hệ xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội và văn hoá

Với ý nghĩa ở tầm vi mô, môi trường xã hội bao gồm gia đình, cácnhóm, các tập thể học tập, lao động, các tập đoàn, tồn tại xung quanhcon người với các quá trình hoạt động giao tiếp của nó

2.2 Tác động qua lại giữa con người và môi trường tự nhiên

2 2.1 Tác động của các yếu tố môi trường tự nhiên đến con người

- Tích cực: Môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu và không giancho sản xuất xã hội Con người sống trên Trái đất cần có không khí để hítthở, nước và thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể, đất đai để xây dựng nhà của,trồng cây, chăn nuôi và tiến hành các hoạt động sản xuất…Môi trường tựnhiên gắn liền với sự tồn tại của con người và là cơ sở để con người sống

và phát triển

- Tiêu cực: Mặt xấu: Môi trường tự nhiên cung cấp tài nguyên cầnthiết cho con người duy trì sự sống Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môitrường tự nhiên cũng là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiêntai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt độngmang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên

Trang 36

2 2.2 Tác động của con người đến môi trường tự nhiên

Trong sự phát triển của xã hội loài người, trước cách mạng khoa học

kĩ thuật lần thứ nhất, con người vẫn sống hòa hợp với thiên nhiên, sinh tháiđược bảo tồn Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật,

do thiếu hiểu biết, do nhu cầu mọi mặt ngày càng cao, con người đã khaiphá quá mức tài nguyên thiên nhiên, phá hoại môi trường, làm mất cânbằng sinh thái, gây nhiều hậu quả cho sự tồn tại của bản thân con người Cụthể là:

- Tích cực: Con người cải tạo môi trường tự nhiên thông qua việc cảitạo đất, nguồn nước, trồng cây xanh, trồng rừng, bảo vệ các loài động thựcvật quí hiếm Tuy nhiên phần lớn hoạt động của con người điều mang lạitác động tiêu cực cho môi trường tự nhiên

- Tiêu cực:

+ Chặt phá rừng, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp làm mất đinhiều loại động, thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay đổi khả năngđiều hoà nước và biến đổi khí hậu v.v

+ Gây ô nhiễm môi trường do các loại chất thải sinh hoạt và côngnghiệp

+ Các hoạt động của con người trên trái đất ngăn cản chu trình tuầnhoàn nước, ví dụ đắp đập, xây nhà máy thuỷ điện, phá rừng đầu nguồnv.v Việc này có thể gây ra úng ngập hoặc khô hạn nhiều khu vực, thay đổiđiều kiện sống bình thường của các sinh vật nước v.v

+ Gây mất cân bằng sinh thái thông qua việc: Săn bắn quá mức, đánhbắt quá mức; săn bắt các loài động vật quý hiếm như hổ, tê giác, voi cóthể dẫn đến sự tuyệt chủng nhiều loại động vật quý hiếm

2.3 Tác động qua lại giữa con người và môi trường xã hội:

Trang 37

Môi trường xã hội có tác động quyết định nhất đối với sự hình thành

và phát triển của nhân cách con người Cùng với hoạt động và nhu cầu củacon người, môi trường xã hội cũng là một quá trình biến đổi, và như vậy, cánhân cũng biến đổi theo, tác động vào môi trường xã hội, con người cũngđồng thời thay đổi cả chính bản thân mình với những điều kiện vật chất vàtinh thần của xã hội được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sốngcon người, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nhân loại

Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo mộtkhuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển,làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Môi trường xã hội tốt thì các nhân tố cấu thành môi trường sẽ bổ trợcho nhau, con người sống sẽ được hưởng đầy đủ các quyền: sống, làm việc,cống hiến, hưởng thụ

Mặt trái của môi trường xã hội là các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạchậu, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cộng đồng

3 Giới trong phát triển cộng đồng

3.1 Khái niệm về giới

Là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới xét về mặt xã hội Giới thểhiện quan niệm, thái độ, hành vi, mối quan hệ và tương quan về địa vị xãhội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Giới mangđặc trưng xã hội, đa dạng, do dạy dỗ mà có, luôn biến đổi nhưng thay đổiđược

3.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng

Thực tế cho thấy, so với nam giới, khả năng tham gia của phụ nữ nôngthôn trong các dự án đang triển khai ở cộng đồng còn bị hạn chế Hiện đang

có một khoảng cách rất lớn giữa sự tham gia của phụ nữ và nam giới vàocác quá trình ra quyết định Các dự án ở cộng đồng hiện nay chủ yếu do

Trang 38

nam giới quản lý và giám sát Có nhiều lý do để duy trì tình trạng này nhưgánh nặng công việc gia đình chủ yếu tập trung vào người phụ nữ; Phụ nữnông thôn còn bị hạn chế về giáo dục, đào tạo và họ còn thiếu các kinhnghiệm nghề nghiệp; Ở nông thôn hiện nay còn nhiều định kiến về phụ nữ vàgiá trị của họ trong các hoạt động xã hội

Bình đẳng giới đòi hỏi phụ nữ phải được tham gia trong mọi khâucủa một dự án phát triển Thông thường phụ nữ tham gia vào các công việc

ít quan trọng (không có tính quyết định), phụ nữ ít có tiếng nói trong các

dự án cộng đồng Xét từ khía cạnh giới, sự tham gia của nam và nữ trongcác dự án/chương trình ở cộng đồng cần được cụ thể hoá theo các cấp độkhác nhau, như : Ai (Phụ nữ hay nam giới) biết? Ai bàn? Ai làm? Ai kiểmtra và giám sát?

Sự tham gia của phụ nữ là cơ bản cho một phát triển cân bằng và bềnvững Bất bình đẳng giới gây thiệt hại phúc lợi và làm chậm tiến trình pháttriển Phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt để tham gia phát triển cộng đồng.Kinh nghiệm nhiều nước từ xưa đến nay cho thấy các chương trình vay vốntín dụng của phụ nữ có tỉ lệ thành công cao hơn nam giới Phụ nữ ít khicầm cố tiền vay mượn được để đi nhậu hay đánh bài mà ngược lại họ sửdụng nó đúng mục tiêu và tỉ lệ hoàn vốn luôn luôn cao hơn nam giới Sựphát triển của phong trào “phụ nữ tiết kiệm” của Việt Nam là một minhchứng

Phụ nữ sẵn sàng đấu tranh cho sự công bằng, ủng hộ hòa bình và biếtbảo vệ môi trường nếu được hướng dẫn đúng mức Phụ nữ luôn luôn hoannghênh những ý kiến tiến bộ Kinh nghiệm thế giới gần đây cho thấy khi

nữ giới tham gia chính quyền nhiều hơn thì nhiều vấn đề được giải quyếttốt hơn Đặc biệt như các vấn đề hòa bình, công bằng xã hội, chống tham ô,

Trang 39

Số liệu thống kê Việt Nam cho thấy: Phụ nữ chiếm 52% dân số, vàhơn 51% lực lượng lao động Phụ nữ có những đóng góp cho gia đình và xãhội không kém gì nam giới Phụ nữ là người chủ yếu trong việc tái tạo sứclao động, mang lại những an sinh cho gia đình và xã hội (sinh sản, nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục các thành viên trong gia đình).

Hiện nay ban vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đang nỗ lực vậnđộng xã hội có một cách nhìn nhận mới về vai trò của phụ nữ và nam giớitrong công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước Cách nhìn nhậnmới này sẽ mở ra cho phụ nữ nhiều cơ hội phát triển hơn và làm gia tăng sựhợp tác, bình đẳng giữa nam và nữ trong cuộc sống gia đình và xã hội.Phong trào: “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” cũng chỉ ra rằng nếu tăng cườngmối quan hệ bình đẳng, sự hỗ trợ giữa nam và nữ trong các hoạt động pháttriển thì hiệu quả sẽ phát triển cao hơn

- Phụ nữ là một nguồn lực lớn lao của xã hội cần phải được sử dụng

3.3 Lồng ghép giới vào hoạt động phát triển cộng đồng

Phụ nữ và nam giới vừa là đối tượng, vừa là tác nhân của các dự ánphát triển Cả hai đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự thành công của

dự án Cần có sự khác nhau về những quan tâm, những hỗ trợ của dự án

Trang 40

dành cho nam và nữ để họ thực hiện tốt nhất vai trò của mình và phụ nữcần có thêm cơ hội tăng năng lực nhằm thu ngắn lại khoảng cách thiệt thòihiện nay phụ nữ đang gánh chịu.

Nói cách khác, một dự án phát triển cộng đồng thiết kế cần quan tâmđến các khía cạnh dưới đây:

- Mọi dự án phát triển cần được xem xét rất kỹ từ góc độ bình đẳnggiới trong tham gia lấy quyết định cũng như trong thụ hưởng

- Đối với phụ nữ như người thụ hưởng, cần xem dự án đem lại hiệuquả tích cực hay tiêu cực cho phụ nữ

- Cần quan tâm đến hai loại chương trình dành riêng cho nữ và chungcho cả nam và nữ Những chương trình dành riêng cho nữ phù hợp với một

số hoàn cảnh, ví dụ đối với chị em còn nhút nhát trong hoạt động chung vớinam giới Cơ hội hoạt động giữa nữ với nhau giúp chị em dần dần mạnhdạn khi tham gia Tuy nhiên cần lưu ý không nên lúc nào cũng tổ chứcriêng cho nữ vì điều này sẽ có tính tách rời họ khỏi hoạt động chung của xãhội và không có ích để xây dựng bình đẳng nam, nữ Bài học thực tế vềgiáo dục kế hoạch hóa gia đình chỉ giành cho phụ nữ dẫn tới thái độ củanhiều nam giới cho rằng: sinh đẻ, nuôi dạy con là chuyện của đàn bà và họkhông có trách nhiệm

- Phụ nữ không phải là đối tượng thụ hưởng thụ động (chỉ biết nhậnlàm theo hướng dẫn của cán bộ một cách máy móc) Ngược lại, họ phảiđược tham gia vào quá trình hoạch định, thiết kế và quản lý dự án, họ cóvai trò ra quyết định

- Cơ cấu tổ chức của dự án đảm bảo cho sự tham gia của phụ nữ.Tiến trình tham gia là tiến trình học hỏi tăng năng lực cho phụ nữ

Ngày đăng: 25/08/2017, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS.Nguyễn Kim Liên, (2008). Giáo trình phát triển cộng đồng (hệ đại học). Trường Đại học Lao động - Xã hội. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển cộng đồng
Tác giả: TS.Nguyễn Kim Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Laođộng - Xã hội
Năm: 2008
3. Nguyễn Thị Oanh, 2000. Phát triển Cộng đồng, ĐH Mở BC TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Cộng đồng
4. Ths. Lê Thị Mỹ Hiền, Tài liệu hướng dẫn học tập Phát triển cộng đồng. Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn học tập Phát triển cộngđồng
5. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng, lý thuyết và vận dụng, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng, lý thuyếtvà vận dụng
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
6. Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam, Tài liệu tập huấn Công tác Xã hội , 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn Công tác Xã hội
2. Tập bài giảng Phát triển cộng đồng của trường Cao đẳng Lao động - Xã hội Khác
7. Một số bài viết trên các webside: vnsocialwork.net, tailieu.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỘNG - Giáo trình phát triển cộng đồng
SƠ ĐỒ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỘNG (Trang 43)
Bảng tổng hợp kết quả và kinh phí hoạt động dự án phát triển cộng đồng của nhóm SV trường ĐH Lao động – - Giáo trình phát triển cộng đồng
Bảng t ổng hợp kết quả và kinh phí hoạt động dự án phát triển cộng đồng của nhóm SV trường ĐH Lao động – (Trang 75)
1.5. Sơ đồ mặt cắt/lát cắt sinh thái - Giáo trình phát triển cộng đồng
1.5. Sơ đồ mặt cắt/lát cắt sinh thái (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w