PHẦN MỘT : ĐẶT VẤN ĐỀ Đối với bất cứ môn học nào, học sinh giỏi không chỉ giới hạn trong việc tiếp thu kiến thức, mà cần phải biết học tập và nghiên cứu theo đúng hướng với đặc trưng và
Trang 1
PHẦN MỘT : ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với bất cứ môn học nào, học sinh giỏi không chỉ giới hạn trong việc tiếp thu kiến thức, mà cần phải biết học tập và nghiên cứu theo đúng hướng với đặc trưng và phương pháp của từng bộ môn Quan niệm cho rằng môn Địa Lí chỉ cần “học thuộc” là chưa đủ, chưa chính xác và hoàn toàn sai lầm Chúng ta đều biết Địa Lí là môn khoa học có đối tượng nghiên cứu phong phú và phức tạp Các đối tượng địa lí phân bố không chỉ trên bề mặt đất, mà cả trong không gian, trong lòng đất, và trong cả các lĩnh vực nhân văn, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng quốc gia và trên quy mô toàn cầu
Hơn nữa, các hiện tượng ấy ở đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một cách độc lập, nhưng lại luôn có quan hệ hữu cơ với nhau, chính vì vậy, người dạy và người học Địa Lí đều cần có phương pháp tư duy, phân tích xét đoán các hiện tượng Địa Lí theo quan điểm hệ thống
Học giỏi môn Địa Lí không chỉ dừng ở yêu cầu là hiểu khái niệm, hiểu các quy luật Địa Lí tự nhiên, Địa Lí kinh tế xã hội, mà còn cần phải biết nhận thức, liên kết các yếu tố Địa Lí trong mối quan hệ hữu cơ, quan hệ qua lại giữa các hiện tương Địa Lí với nhau (tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với kinh tế xã hội)
Một trong những năng lực sư phạm của GV ngoài giảng dạy, truyền thụ những kiến thức cơ bản, toàn diện, khoa học, phổ thông cho học sinh,
Trang 2người GV còn phải có năng lực đào tạo mũi nhọn, tìm kiếm,phát hiện, bồi dưỡng những nhân tài trong phạm vi thuộc môn mình phụ trách Việc làm ấy có ý nghĩa thiết thực trong chiến lược phát triển con người mà Đảng ta đang quan tâm và chỉ đạo thực hiện ngày nay
PHẦN HAI: NỘI DUNG
I) Những kinh nghiệm phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa Lí trong quá trình giảng dạy
Đối với học sinh thuộc lớp nào, khối nào, trường nào, hoặc môn học nào cũng đều có sự phân hoá về trình độ hiểu biết và năng lực học tập Vì thế việc phân loại đối tượng học sinh để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng là việc làm rất cần thiết đối với người GV trong công tác giảng dạy của mình
Việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa Lí cũng không nằm ngoài cái nền chung ấy Nếu phát hiện đúng được đối tượng phù hợp để bồi dưỡng thì kết quả mới cao Muốn vậy cần lưu ý những vấn đề sau :
1) Để phát hiện được học sinh giỏi phải qua nhiều năm theo dõi tiến hành ngay từ lớp đầu cấp học (lớp 6)
2) Thông qua giờ giảng và học trên lớp, bằng những câu hỏi nâng cao và những kĩ năng thực hành, kết hợp với những bài kiểm tra đánh giá nhằm phát hiện đúng đối tượng
3) Ngoài năng lực học bài và nhớ kĩ bài học, học sinh giỏi được chọn cần phải có những kĩ năng tối thiểu như:
Trang 3-Hiểu và nắm chắc đượcnhững biểu tượng và khái niệm Địa Lí cơ bản như:
+Càng lên cao khí áp càng giảm, nhiệt độ càng tăng thì khí áp càng giảm
+Kiểu khí hậu lục địa có các đặc tính: Có sự chênh lệch lớn về nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa các mùa , khí hậu nhìn chung là khô khan, lượng mưa hàng năm thấp
-Có kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ và ngoài thực địa, kĩ năng vẽ, phân tích và nhận xét các loại biểu đồ cơ bản như biểu đồ đường, biểu đồ hình tròn, hình cột , hình vuông một cách đầy đủ và chính xác
-Từ những kiến thức và kĩ năng cơ bản như trên, sau đó trong quá trình bồi dưỡng các em sẽ được nâng cao hơn về năng lực nghiên cứu Địa
Lí như: Biết xử lí, phân tích các kĩ năng thực hành như viết, vẽ, nhận xét, phân tích các loại biểu đồ, bản đồ và sử dụng At lat Địa lí Việt Nam một cách thành thạo
II) Những nội dung và phương pháp chủ yếu để bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa Lí:
1) Về nội dung:
-Nội dung bồi dưỡng phải được dựa theo chương trình sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 9 có nâng cao kiến thức trong từng phần học
-Trong quá trình bồi dưỡng cần lưu ý những vấn đề sau:
a/ Kiến thức:
-Không nhất thiết phải dạy lại kiến thức học sinh đã hiểu và nắm được mà chủ yếu đi sâu hơn trên cơ sở những hiểu biết sẳn có
Ví dụ: Từ những hiểu biết về các hệ quả của sự vận động tự quay quanh trục và quanh Mặt Trời của Trái Đất mà học sinh đã được học, giáo viên đào sâu thêm bằng cách đặt vấn đề : Giả sử trong khi chuyển động quay quanh Mặt Trời mà Trái Đất không tự quay mà trục của nó lại vuông
Trang 4góc với mặt phẳng quỹ đạo thì những hệ quả đó có gì thay đổi ? Rồi yêu cầu học sinh tự suy nghĩ , trả lời (Khi chuyển động quay quanh Mặt trời mà Trái Đất không tự quay quanh trục thì sẽ không có hiện tượng ngày và đêm dài 24 giờ hay một ngày dài bằng một năm Mặt khác nếu trục Trái Đất không nghiêng mà vuông góc trên mặt phẳng quỹ đạo thì sẽ không có hiện tượng các mùa thay đổi trong năm và hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau Kết hợp cả 2 giả thiết lại ta có hiện tượng xảy ra là ngày dài một năm và không có hiện tượng các mùa trên Trái Đất )
-Chú ý phân tích các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố Địa Lí:
+Mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với tự nhiên
Mối quan hệ giữa hướng và độ cao của địa hình đối với sự phân hoá của khí hậu; với hướng chảy và độ dốc của các dòng sông; với tác động đào bới hoặc bồi đắp của các con sông
Mối quan hệ giữa vị trí Địa Lí và khí hậu
Mối quan hệ giữa khí hậu với sông ngòi, với sự phân bố của động vật, thực vật hoặc với các thành phần tự nhiên khác
+Giữa các yếu tố xã hội với xã hội:
Quan hệ giữa kết cấu dân số theo độ tuổi với tỉ suất sinh, với nguồn lao động, với việc làm
Quan hệ giữa kết cấu dân số theo giới tính với việc phân bố lao động và tổ chức đời sống xã hội
+Giữa các yếu tố kinh tế với kinh tế:
Mối quan hệ giữa các khu vực trồng trọt với chăn nuôi, giữa ngư nghiệp với các trung tâm công nghiệp thực phẩm
Mối quan hệ giữa chuyên môn hoá với hợp tác hoá
+Giữa các yếu tố tự nhiên với kinh tế xã hội:
Mối quan hệ giữa địa hình với sản xuất và cư trú
Mối quan hệ giữa tài nguyên, khoáng sản với sự phân bố các ngành công nghiệp và phân bố dân cư
Trang 5Chú ý rèn luyện cho các em các kĩ năng sau:
-Đọc và phân tích: Bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, thống kê, tranh ảnh để tìm ra những kiến thức cần thiết
-Trên cơ sở các số liệu (tuyệt đối hoặc tương đối), biết chọn và thể hiện (vẽ) biểu đồ thích hợp nhất (cột, tròn, đường ) và nhận xét biểu đồ
Trên cơ sở At lát Địa Lí Việt Nam, thống kê, biểu đồ biết trình bày (viết báo cáo) về một ngành kinh tế, tình hình Địa lí (tự nhiên và KT – XH) của một địa phương, một quốc gia, một khu vực
2) Về phương pháp:
Có nhiều phương pháp có thể sử dụng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí như : phát vấn, đàm thoại nhưng theo tôi phương pháp:”ĐẶT VẤN ĐỀ” để học sinh tự tìm tòi, phát hiện được vấn đề (dưới sự hỗ trợ của GV) là có hiệu quả hơn cả
Sở dĩ tôi chọn phương pháp này là do nhiều nguyên nhân:
-Là học sinh giỏi, ít nhiều các em đã có sẵn một số vốn kiến thức và
kĩ năng nhất định, trên cơ sở đó phương pháp này sẽ nhằm phát triển thêm
ở các em khả năng tư duy và năng lực nghiên cứu Địa lí cũng như các kĩ năng cần thiết khác
-Qua việc tự học, tự mình chủ động tìm tòi phát hiện ra kiến thức các
em càng thêm vững tin ở chính mình càng hứng thú và say mê hơn trong học tập; nhờ thế các em sẽ thành công
-Mặt khác, với phương pháp này đòi hỏi người GV phải có năng lực tổ chức, có kiến thức phong phú và vững chắc thì mới đạt được kết quả tốt
2) Ví dụ minh họa:
a) Về phát hiện kiến thức
Khi dạy ở đồng bằng sông Hồng, giáo viên đặt vấn đề:
- Vì sao dân số là vấn đề cần giải quyết ở đồng bằng sông Hồng?
Để giải quyết vấn đề này, yêu cầu được đặt ra đối với học sinh là:
Trang 6-Với kiến thức sẵn có và dựa vào At lát Địa Lí Việt Nam, các em sẽ tự mình phân tích được những đặc điểm của dân số ở đây trên cơ sở so sánh với các vùng khác trong cả nước
-Tiếp đó các em sẽ phân tích mối quan hệ giữa vấn đề dân số đối với sự phát triển kinh tế xã hội với tài nguyên và môi trường của đồng bằng để thấy được những khó khăn lớn trước mắt và lâu dài do dân số gây ra
-Qua đó các em sẽ thấy rõ được vấn đề và tự mình đề ra hướng giải quyết phù hợp
b) Về kĩ năng đọc At Lát
Trên cơ sở At Lát Địa Lí Việt Nam, GV đặt vấn đề: Trình bày về vấn đề phân bố dân cư ở vùng Đông Nam Bộ và giải thích vì sao có sự phân bố như thế?
* Tình hình vấn đề phân bố dân cư ( sử dụng bản đồ phân bố dân cư dân tộc trang 9 và căn cứ vào thang màu về mật độ), học sinh sẽ đọc được:
-Dân cư phân bố rất không đều:
+Nơi đông nhất là thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận +Một bộ phận nhỏ của vùng (thị Xã Tây Ninh có mật độ 501→
1000 người / km2 )
+Phần lớn của vùng ( nam Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu) có dân cư thưa hơn (101 → 500 người / km2 )
+Nơi thưa dân nhất (Mật độ 50 → 100 người / km2 )là bắc Tây ninh Bình Phước , nam thành phố Hồ Chí Minh
-Mật độ nơi cao nhất gấp hơn 10 lần nơi thấp nhất
*Giải thích: ( Sử dụng bản đồ vùng kinh tế Nam Bộ trang 20 để giải thích)
-Những nơi dân cư đông đúc là do hoạt động công nghiệp dịch vụ phát triển ( thành phố , thị xã )
-Những nơi thưa dân hơn vì đó là những vùng phát triển rừng hoặc chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả
Trang 7c) Lựa chọn biểu đồ thích hợp để biểu hiện
-Trên cơ sở bảng số liệu cơ cấu sản phẩm trong nước phân theo ngành kinh tế của nước ta thời kì 1991 – 1996 ( theo giá trị thực tế %) Giáo viên yêu cầu học sinh chọn biểu đồ thích hợp để thể hiện
-Vấn đề đặt ra cho học sinh là phải biết lựa chọn loại biểu đồ nào thích hợp để vẽ và nhận xét
+Nếu chọn biểu đồ hình tròn để biểu hiện cơ cấu từng năm thì các em phải mất công vẽ tới 6 biểu đồ, như vậy vấn đề trở thành phức tạp và khó nhận xét, khó phân tích đối với các em
+Nếu thay bằng biểu đồ miền thì vấn đề trở thành đơn giản hơn nhiều các em chỉ cần vẽ một biểu đồ là đã thể hiện đầy đủ các nội dung theo yêu cầu
III) Những vấn đề tự bồi dưỡng của Giáo viên:
Để dạy được một giờ bồi dưỡng học sinh giỏi theo tôi rất khó bởi vì kiến thức Địa Lí vô cùng mênh mông, vì vậy chúng ta phải biết tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khác nhau , từ đó mới tìm ra những kiến thức cho học sinh giỏi Vì vậy vấn đề tự bồi dưỡng giáo viên là vấn đề vô cùng quan trọng
Người thầy giáo bồi dưỡng chuyên sâu môn Địa Lí cần phải có tâm huyết với nghề, phải trăn trở lo lắng cho học sinh của mình Đôi khi phải hi sinh những quyền lợi khác Tự bồi dưỡng mình để nâng cao chất lượng học sinh đội tuyển, cố gắng truyền thụ cho học sinh những kiến thức nhất định để các em nâng cao nhận thức của mình
Trang 8PHẦN THỨ BA : KẾT LUẬN.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ về bồi dưỡng học sinh giỏi mà qua thực tế nhiều năm qua tôi đã đúc kết dược Tôi biết rằng trong bản báo cáo này còn rất nhiều thiếu sót Rất mong muốn được nghe nhiều ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các đồng nghiệp để công việc bồi dưỡng học sinh giỏi của tôi ngày càng đạt kết quả tốt đẹp hơn, đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục của địa phương
Phổ Văn, ngày 20 tháng 12 năm 2005.
Người viết
Nguyễn Anh Dũng.