1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG Đại cương về Chữ Hán

13 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 446,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất văn tự là hệ thống ký hiệu dùng để ghi chép lại ngôn ngữ nói; nó khắc phục được sự hạn chế về không gian không thể truyền xa và hạn chế về thời gian không thể truyền lâu của ngô

Trang 1

Phần 1

Đại cương về Chữ Hán

Trang 2

 Văn tự là công cụ ghi chép ngôn ngữ Bản chất văn tự là hệ thống ký hiệu dùng để ghi chép lại ngôn ngữ nói; nó khắc phục được sự hạn chế về không gian (không thể truyền xa) và hạn chế về thời gian (không thể truyền lâu) của ngôn ngữ nói

 Văn tự Hán có nghĩa là chữ viết của người Hán, là loại hình văn tự thiên về biểu ý Văn tự là một thuật ngữ trong Cổ tự học chuyên dùng để chỉ 2 loại chữ - Chữ có kết cấu thuần nhất (văn) và chữ có kết cấu phức hợp (tự)

Trang 3

Đặc điểm

 Hình thể: sau khi vượt qua giai đoạn hình vẽ, chữ Hán được tạo thành bởi 7 đơn vị

cơ sở, gọi là 7 nét cơ bản, có nhiều biến thể, sắp xếp phối hợp với nhau theo những quy tắc nhất định

 Kết cấu: có thể chia chữ Hán hiện có ra làm 2 loại lớn

- Chữ có kết cấu đơn giản (văn)

- Chữ có kết cấu phức tạp (tự)

 Giữa mối quan hệ giữa ngôn ngữ Hán và văn tự Hán thì mỗi chữ (mỗi đơn vị văn

tự, xét theo hình thể kết cấu) tương ứng với 1 âm tiết Do đó mỗi chữ có thể là một

từ hoặc có thể mỗi chữ chỉ là một bộ phận của từ

 Đặc điểm lớn nhất của chữ Hán là sự kết hợp gắn bó chặt chẽ giữa 3 mặt : hình thể

- âm đọc – ý nghĩa Trong đó vai trò biểu đạt ý nghĩa qua hình thể kết cấu, qua

thành tố biểu ý nhiều khi khá nổi bật Tính chất biểu ý của hệ thống chữ viết này đã bộc lộ rõ nhất ở đặc điểm này

Trang 4

Giáp cốt văn

Giáp cốt văn 甲甲甲 nghĩa đen là chữ viết được khắc trên mai rùa (giáp) và xương thú (cốt) Giáp cốt văn (hay chữ giáp cốt) là thể chữ Hán cổ xưa nhất được tìm thấy cho đến ngày nay Thời đại của những mảnh xương thú, mai rùa có khắc chữ giáp cốt là thời kì Ân Thương

Trang 5

Nội dung của những đoạn văn tự giáp cốt chủ yếu là nói về việc bói toán Người đời Thương thường dùng mai rùa, xương thú để xem bói Người ta đốt xương hoặc mai rùa rồi căn cứ vào những vết rạn trên đó để đoán cát hung (những vết rạn đó được gọi là “triệu” 甲 ) Ngoài ra giáp cốt văn còn ghi chép về khí tượng, địa lí, thiên văn, tôn giáo… phục vụ cho tầng lớp vua chúa

Giáp cốt văn hoàn chỉnh nhất là vào thời  Vũ Đinh nhà Thương, và lượng văn tự được tìm thấy ngày nay cũng chủ yếu ở vào thời kì này

Khoảng đời Quang Tự nhà Thanh, một số nông dân đi hái lạc đã vô tình tìm được những mảnh mai rùa, xương thú có khắc chữ Họ cho rằng đó là “long cốt” và bán cho các hàng thuốc bắc Sau đó được  nhà kim thạch học Vương Ý Vinh tình cờ phát hiện, ông cho rằng đó là một loại văn tự cổ được khắc trên mai rùa, xương thú chứ không phải “long cốt” Nghiên cứu sau này đã chứng minh nhận định của ông Địa điểm tìm được những mảnh xương trên chính là kinh đô cũ của nhà Thương, gọi là Ân Khư 甲甲

Trang 6

Chữ giáp cốt là loại văn tự sơ khai, có người cho rằng đó là tiền thân của chữ Hán, cũng có người liệt nó vào một thể loại chữ Hán hoàn chỉnh Chữ giáp cốt sử dụng các phương pháp tượng hình, chỉ sự, hội ý để tạo chữ Về mặt dụng tự, ta bắt gặp phương pháp giả tá Như vậy, về mặt cấu tạo chữ thì chữ giáp cốt mang đầy đủ đặc điểm của chữ Hán thời kì đầu, theo hướng tượng hình Những chữ dị thể trong giáp cốt văn có rất nhiều, văn tự chưa có sự quy ước thật chặt chẽ

Trang 7

Kim văn

Kim văn 甲甲 hay Minh văn 甲甲 , Chung Đỉnh văn 甲甲甲 tức là chữ được khắc trên

đồ kim khí, cụ thể hơn là trên các chuông (chung) và vạc (đỉnh)

Trang 8

Kim văn là bước kế thừa của Giáp cốt văn, ra đời vào cuối đời nhà Thương, thịnh hành vào đời  Tây Chu (tk XI trc.CN – 771 trc.CN) Đời  Tây Chu thịnh hành đồ đồng, nên có rất nhiều bài văn được đúc hoặc khắc trên các đồ đồng, đặc biệt là trên những chiếc chuông và vạc Vì thể loại văn tự này được tìm thấy dưới dạng đúc hoặc khắc trên đồ kim khí nên mới có tên gọi như vậy.

Kim văn được chia làm 4 loại, dựa theo 4 thời kì phát triển:

Ân kim văn (khoảng năm 1300-1046 trc.CN): Ân kim văn có khá ít, thực chất cũng chỉ từ sau khi Bàn Canh rời đô mà thôi Nội dung kim văn khá ngắn, chủ yếu là tên của người đúc hoặc

tổ tiên người thợ đúc, bài dài nhất khoảng hơn 40 chữ.

Tây Chu kim văn (khoảng năm 1046-771 trc.CN): thời  Tây Chu, Kim văn bắt đầu hưng thịnh, ghi chép những việc đi tuần, săn bắn của vua chúa.

Đông Chu kim văn (năm 770-222 trc.CN): thời kì Đông Chu, đồ sắt xuất hiện, đồ đồng cũng nhiều lên, vì thế kim văn phong phú hơn trước rất nhiều, ghi chép những việc của vương công đại thần, việc chiến sự, âm nhạc…

Tần Hán kim văn (năm 221-219 trc.CN): Tần Thủy  Hoàng thống nhất thiên hạ, tiến hành thống nhất văn tự Kim văn chỉ còn xuất hiện trong các đồ đồng ở dân gian, đến đời Hán thì dần biến mất.

Trang 9

Đại triện

Khái niệm “đại triện” 甲甲 cũng không thống nhất Có người cho rằng đại triện bao gồm Kim Văn và Lựu Văn, lại có người cho rằng đại triện là Lựu Văn Cũng có người cho rằng thời Chiến Quốc vì các nước chư hầu hùng cứ nhiều phương nên hình thể chữ Hán xuất hiện với nhiều sự khác biệt, về sau văn tự của các nước Tề,

Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy gọi chung là “Lục quốc cổ văn “ hay “Đại Triện”

Trang 10

Tiểu triện

Tiểu triện 甲甲 hay Tần triện 甲甲 là văn tự được nhà Tần thống nhất sử dụng sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (221 TCN), ông đưa ra các chính sách

“thư đồng văn, xa đồng quỹ” 甲甲甲甲甲甲甲 (sách viết cùng loại chữ, xe có cùng cỡ trục), tức là thống nhất văn tự, thống nhất đơn vị đo lường Thừa tướng  Lý Tư phụ trách việc thống nhất văn tự, đưa chữ tiểu triện vào sử dụng trong các văn bản chính thức Chữ tiểu triện là bước phát triển từ chữ đại triện được xây dựng dựa trên cơ sở chữ triện của nước Tần, tiến hành giản hóa, loại bỏ những chữ dị thể của sáu nước, được dùng đến khoảng đời Tây Hán

Trang 12

 Chữ “Tiểu Triện” tuy đã dễ viết hơn rất nhiều nhưng vẫn còn rườm rà, phức tạp Do

đó trong giới dân phu, binh lính, quan lại cấp thấp lưu hành rộng rãi một kiểu chữ khá đơn giản, gọi là “Lệ Thư” Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, “Lệ Thư” lại phát triển thêm một bước, dần dần trở nên thành thục Đến thời Tây Hán cuối cùng đã chiếm vị trí của thể chữ “Tiểu Triện”, thành thể chữ chính thức lưu hành trong xã hội Đặc điểm của “Lệ Thư” là vuông góc, gãy gọn, được tạo thành bởi một số đơn

vị hình tuyến cơ bản, gọi là nét Với “Lệ Thư” chữ Hán thực sự đã thoát li hình vẽ

để trở thành loại chữ với kiểu dáng như chúng ta thường thấy

 Vào đời Hán, sự ra đời của “Văn phòng tứ bảo” đã tạo ra cơ sở vật chất cho việc tu chỉnh cải tiến chữ Hán về mặt kiểu dáng dẫn đến việc nhiều kiểu chữ mới xuất hiện

- Kiểu chữ Bát phân (còn gọi là Lệ thư đời Hán)

- Thời Nam Bắc Triều Ngụy – Tấn (220-316) trên cơ sở Lệ Thư lại có một thể chữ mới phát triển, đó là “Khải thư” Với lối chữ “Khải thư”, người ta có thể viết nhanh hơn, gọn hơn với những nét “ngang bằng sổ thẳng” rất dễ viết “ Khải thư” được thông dụng cho tới nay với hai kiểu dáng phổ biến là “Chân thư” và “Hành thư”

Ngày đăng: 25/08/2017, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w