1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tâm lý học phát triển

164 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 868,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu Tâm lý học sư phạm nghiên cứu nhằm tìm ra những conđường, những quy luật, những điều kiện giúp con người lĩnh hội nhanhnhất, có chất lượng và hiệu quả nhất nền văn hóa nhân loại, thì

Trang 2

Dựa trên những thành tựu cơ bản của tâm lý học phát triển màthế giới đã thu được, giáo trình “Tâm lý học phát triển” này tổng hợp,

hệ thống, khái quát những vấn đề về sự vận động, biến đổi, phát triểntâm lý của con người theo các giai đoạn lứa tuổi khác nhau Trên cơ

sở đó tìm ra những đặc điểm, những động lực, những qui luật, nhữngcon đường hình thành và phát triển đặc thù của sự phát triển tâm lýcon người Từ đó cung cấp cho người học những tri thức khoa học cơbản về tâm lý học phát triển, nhằm hiểu biết tâm lý con người và vậndụng sự hiểu biết đó vào mọi hoạt động của cuộc sống cá nhân cũngnhư cộng đồng theo phương châm “hiểu mình, biết người” Nhờ đócon người biết sống có tình, có lý, có văn hóa và hạnh phúc

Giáo trình này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của cải

Trang 3

cách giáo dục ở bậc đại học, tránh lặp lại những vấn đề đã được đềcập đến ở nhiều cuốn sách khác, cố gắng gợi mở cho sinh viên hướngsuy nghĩ về vấn đề được đặt ra; đồng thời cung cấp khối lượng kiếnthức tối thiểu cần thiết cho sinh viên về tâm lý học phát triển.

Tâm lý con người rất đa dạng và phức tạp Vì vậy, giáo trình nàykhó có thể tránh được những sai sót nhất định Tác giả mong nhậnđược ý kiến đóng góp quý báu của độc giả xa gần để giáo trình nàyngày càng hoàn thiện hơn

Created by AM Word2CHM

Trang 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN

TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN

Created by AM Word2CHM

Trang 5

I ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN

1 Khái niệm phát triển tâm lý

Nói đến phát triển, nhiều khi người ta chỉ quan tâm đến những kếtquả cuối cùng của một giai đoạn hoặc một quá trình nào đó thể hiện ởhình thức bề ngoài hoặc hành vi cá nhân Xem xét sự phát triển nhưvậy là thiếu biện chứng và phiến diện, dễ dẫn đến sai lầm

Trên thực tế, sự phát triển tâm lý của mỗi cá nhân hoặc một nhómngười nào đó bao giờ cũng diễn ra trong một quá trình: từ sự phátsinh, hình thành, phát triển đến tàn lụi; từ mức độ này đến mức độkhác; từ hình thái này đến hình thái khác Đó là quá trình vận động,biến đổi của một thực thể Nó bao hàm hàng loạt thay đổi có sự ràngbuộc bên trong với nhau, có lúc từ từ, tiệm tiến, có lúc nhảy vọt, nhưngcũng có lúc dẫm chân tại chỗ, thậm chí thụt lùi lạm thời Đó là một quátrình phức tạp như phép duy vật biện chứng đã khẳng định

V.I.Lênin viết: “Phát triển là sự giảm đi và tăng lên, là sự lặp đi, lặplại, là sự thống nhất giữa các mặt đối lập” (cái thống nhất, gồm có 2mặt: mặt đối lập loại trừ lẫn nhau và mặt quan hệ giữa chúng vớinhau)

Tuy nhiên tính chất chung của sự phát triển là một quá trình cóchiều hướng tích cực, đi lên nhằm tạo ra cái mới ở mức độ ngày càngcao hơn, phức tạp hơn, phong phú và tinh tế hơn so với cái cũ

Quá trình phát triển tâm lý của con người đi từ cái chưa bị phânhóa đến cái bị phân hóa Từ chỗ phân hóa rồi lại tích hợp lại thành cácyếu tố, các bộ phận để tạo thành một cơ cấu mới với những phẩmchất, đặc điểm mới Những phẩm chất và đặc điểm này qui định bộmặt tâm lý của từng giai đoạn, từng độ tuổi trong quá trình phát triển

Tâm lý của mỗi cá thể, mỗi nhóm tuổi được phát triển như là một

Trang 6

hệ thống phức tạp nhất của những cơ cấu khác nhau (nhận thức, tìnhcảm, trạng thái, hành vi, v.v…) có liên quan, tác động phụ thuộc lẫnnhau Những cơ cấu đó được sắp xếp theo một thứ bậc để đảm bảocho hoạt động bên trong và bên ngoài của con người Ví dụ: lúc mớisinh, đứa trẻ hoạt động là do những nhu cầu sơ đẳng nhất của cơ thểđòi hỏi Những nhu cầu đó được người lớn thỏa mãn nên không baolâu sau những nhu cầu thứ cấp được hình thành Tiếp đến là nhữngtình cảm, hứng thứ, động cơ mới xuất hiện Những nhu cầu, động cơmới này một mặt thúc đẩy hoạt động của đứa trẻ, mặt khác ngày càngđược phát triển trong nhân cách của nó Nghĩa là đứa trẻ được pháttriển theo chính những cơ chế phức tạp, đan xen, hòa quyện vào nhaumột cách biện chứng Phát triển tâm lý chính là sự phát triển các cơchế ngày càng phức tạp, tinh vi của những nhu cầu, động cơ, hoạtđộng, hành động của con người từ mức độ này đến mức độ khác, phùhợp với những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

Từ những phân tích trên chúng tôi định nghĩa: Phát triển tâm lí làmột quá trình bao gồm từ sự phát sinh, hình thành Phát triển củanhững yếu tố, những quá trình, những thuộc tính, những trạng thái tâm

lí của mỗi cá thể, từ đơn giản đến phức tạp, từ chỗ chưa bị phân hóađến chỗ bị phân hóa theo những qui luật có liên quan, tác động phụthuộc lẫn nhau tạo thành những đặc điểm tâm lý khác nhau theo giaiđoạn Đó là một hoạt động có tính hệ thống được sắp xếp có tính thứbậc và ngày càng tinh tế, tạo ra những đặc điểm đặc trưng cho mỗithời kỳ, mỗi lứa tuổi khác nhau, đảm bảo cho con người sống, hoạtđộng và phát triển với tư cách là một chủ thể có ý thức của xã hội

Khi nói đến khái niệm phát triển, người ta thường hay đề cập đếncác khái niệm có sự liên quan như tăng trưởng, chín muồi

Tăng trưởng là khái niệm đề cập đến sự gia tăng về số lượng(chiều dài, dung tích, khối lượng…) của sự vật, hiện tượng Ví dụ: sựgia tăng về chiều cao, cân nặng, sự tăng lên của tế bào thần kinh, sựtăng lên về số lượng tế bào cảm giác của trẻ em trong năm thứ nhấtv.v… Còn chín muồi được dùng khi sự tăng trưởng đạt đến “độ” Ví dụ:

“Trăng đến rằm trăng tròn” Ông cha ta thường nói: “Nữ thập tam, namthập lục để chỉ sự chín muồi về mặt sinh học (sự dậy thì) của conngười Nói đến phát triển là nói đến sự thay đổi chuyển hóa về mặtchất lượng, nói đến một trình độ mới khác về chất so với cái cũ Chẳnghạn sự phát triển tâm lý của con người, đi từ cảm giác đến tri giác, từtri giác đến tư duy v.v… Tri giác là một trình độ khác về chất so với

Trang 7

Quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi với phát triển là quan hệgiữa số lượng và chất lượng Tăng trưởng, chín muồi dẫn đến sự tăngtrưởng về chất (phát triển); chất lượng mới lại tạo tiền đề cho sự tăngtrưởng và chín muồi ở mức cao hơn Đó là mối quan hệ biện chứng cótính nhân quả của sự vật, hiện tượng Sự phát triển tâm lý của conngười được vận động cũng không ngoài quy luật đó

2 Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học phát triển

a Đối tượng

Tâm lý học phát triển là một trong những chuyên ngành cơ bản,quan trọng của tâm lý học Đối tượng nghiên cứu của nó là nhữngđộng lực, điều kiện, những qui luật phát triển, những sự biến đổi củacác quá trình, các thuộc tính, các phẩm chất tâm lý trong sự hình thànhnhân cách con người với tư cách là một thành viên của xã hội, theo sựtrưởng thành của lứa tuổi

Trang 8

lý học pháttriển chủ yếu nghiên cứu động lực, qui luật cũng như cácđặc điểm phát triển của con người theo sự trưởng thành của từng giaiđoạn Còn Tâm lý họ (sư phạm ghiên cứu những con đường, nhữngqui luật hình thành của nhận thức, nghiên cứu những vấn đề thuộc vềdạy học và giáo dục con người

Theo nghĩa đầy đủ, nghiên cứu sự phát triển tâm lý không phải lànghiên cứu những cái gì đã có sẵn mà là nghiên cứu tâm lý trong quátrình vận động, biến đổi không ngừng của nó Blônxki, nhà tâm lý họcNga nổi tiếng đã viết: “Chỉ có thể hiểu được hành vi khi ta hiểu nó nhưlịch sử hành vi”

Nếu Tâm lý học sư phạm nghiên cứu nhằm tìm ra những conđường, những quy luật, những điều kiện giúp con người lĩnh hội nhanhnhất, có chất lượng và hiệu quả nhất nền văn hóa nhân loại, thì Tâm lýhọc phát triển sẽ nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành, phát triểntâm lý con người trong sự vận động của chính sự tiếp thu, lĩnh hội đó

Ví dụ: chiến lược hướng vào người học của Tâm lý học sư phạm đềcao nguyên tắc tôn trọng đặc điểm và năng lực của chủ thể (ngườihọc) nhằm phát huy tốt nhất tính tích cực hoạt động của người học,giúp họ lĩnh hội một cách chủ động, tự giác hệ thống tri thức, kỹ năng,thái độ, chuẩn mực hành vi được xã hội loài người tích lũy được từtrước đến nay; Chiến lược này đã làm biến đổi, phát triển đời sống tâm

lý của người học so với những chiến lược dạy học khác Sự vận động,biến đổi và phát triển của chiến lược hướng vào người học diễn ra nhưthế nào, diễn biến ra sao, theo quy luật nào và nó đòi hỏi những điềukiện nào… thì Tâm lý học phát triển phải nghiên cứu

Song, như đã nói ở trên, hai chuyên ngành Tâm lý học sư phạm

và Tâm lý học phát triển liên quan rất mật thiết với nhau, tác động qualại một cách chặt chẽ, biện chứng và hỗ trợ đắc lực cho nhau trongtính độc lập tương đối của nó Ra đời chủ yếu vào nửa sau thế kỷ XIX,Tâm lý học phát triển coi những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử về phát triển là điểm xuất phát, là kimchỉ nam cho việc nghiên cứu của mình Chẳng hạn, các qui luật lượngđổi chất đổi, qui luật phủ định của phủ định, qui luật phát triển khôngđồng đều của sự vật, hiện tượng… của chủ nghĩa duy vật biện chứng

có giá trị soi sáng khi xem xét, nghiên cứu những qui luật phát triểntâm lý trẻ em theo lứa tuổi Các nhà tâm lý học, giáo dục học lỗi lạc

Trang 9

cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như K.Đ.Usinxki, I.M.Séchénôv,L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstêin, A.N.Lêônchicv, J.Piagct, H.Walon v.v…

đã có công lớn trong việc xây dựng nền Tâm lý học phát triển

Ngày nay, tâm lý học phát triển đã thu được những thành tựuđáng kể, đã thu thập được một khối lượng tư liệu phong phú Sựtrưởng thành của nó gắn liền với tên tuổi của nhiêu nhà tâm lý họchiện đại ở nhiều nước, đặc biệt nổi bật trong đó là những nhà tâm lýhọc Liên Xô như B.G.Ananhev, L.I.Bôzhôvic, L.N Landa,N.A.Menchinskaja, Đ.B Elkônin v.v… ở Tây âu có thể kể: Luyxiêng,Sevơ Febơrơ, J.Watson, D.Bruner, B.F.Skiner.v.v…

Có thể nêu ra đây vài quan điểm cơ bản mà tâm lý học phát triểnlấy làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng và phát triển chuyên ngànhcủa mình

Vào những năm 20, 30 của thế kỷ này, L.X.Vưgôtxki đã nêu ranguyên tắc về tính gián tiếp của hoạt động tâm lý người, tính xã hội -lịch sử, tính có ý thức của tâm lý người là những nét khác về bản chất

so với tâm lý động vật Tiếp đó ông nêu ra quan điểm bản chất tâm lýngười có nguồn gốc hoạt động Ông cho rằng hoạt động tâm lý bêntrong của trẻ em được xây dựng theo mẫu hoạt động bên ngoài

Kế cận những quan điểm của L.X.Vưgôtxki, X.L.Rubinstêin đãnêu: nguyên lý phát triển là sự thống nhất giữa cái bên ngoài (hiệnthực khách quan) tác động thông qua những điều kiện bên trong.Nguyên lý này nêu bật quan điểm phản ánh tâm lý được thực hiệntrong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, trong đóhoạt động tích cực của chủ thể là khâu trung gian cho tác động của thếgiới khách quan

- Phát triển những luận điểm của L.X.Vưgôtxki, A.N.Lêônchiev vàcác cộng sự đã đưa ra cấu trúc vĩ mô của hoạt động, đưa ra lý thuyết

“chuyển vào trong”, rồi đến P.Ia.Galperin, Đ.B.Elkônin đã tìm ra cơ chếcủa việc chuyển hoạt động bên ngoài của chủ thể thành hành động trítuệ theo giai đoạn

- Những lý luận về phân chia lứa tuổi của II.Wallon và J.Piagetgóp phần làm cơ sở nghiên cứu và làm phong phú cho tâm lý học pháttriển mà ta nghiên cứu Điều lý thú là mặc dù xuất phát điểm nghiêncứu khác nhau, nhiều nhà tâm lý học phát triển Âu, Mỹ cũng đi đếnthừa nhận một thành tựu của tâm lý học hiện đại là mỗi hiện tượng tâm

lý đều có nguồn gốc từ hành động, hoạt động của con người, đều

Trang 10

c Nhiệm vụ của tâm lý học phát triển

Nhiệm vụ của tâm lý học phát triển là nghiên cứu những đặc điểmphát triển của các quá trình tâm lý, những thuộc tính, những phẩm chấtnhân cách, những khả năng, điều kiện phát triển theo lứa tuổi cũngnhư qui luật, những con đường hình thành, phát triển của chúng

Mục đích của việc nghiên cứu đó nhằm phục vụ cho thực tiễn giáodục trẻ em nói riêng, giáo dục con người nói chung, nhằm phát triểnnhững nhân cách ngày càng hoàn thiện để sống và phát triển hài hòatrong xã hội hiện đại; đồng thời làm phong phú thêm kho tàng lý luậncủa khoa học giáo dục nói chung, khoa học tâm lý học phát triển nóiriêng

d Những phương pháp nghiên cứu cơ bản của Tâm lý học phát triển

Để nghiên cứu sự phát triển tâm lý của con người, cần phối hợpnhiều phương pháp khác nhau, nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau vì mỗiphương pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu nhất định Cácphương pháp nghiên cứu tâm lý học phát triển cũng không nằm ngoàinhững phương pháp nghiên cứu tâm lý học nói chung mà chúng ta đãbiết Có thể kể những phương pháp chủ yếu sau đây:

Điều phải lưu ý trong khi sử dụng các phương pháp để nghiêncứu sự phát triển tâm lý con người là ở chỗ, nhà nghiên cứu phải đặtđối tượng, khách thể nghiên cứu của mình trong quá trình vận động vàphát triển của nó

Những kết quả nghiên cứu có giá trị đối với tâm lý học phát triểnthường được tiến hành một cách trường diễn, công phu theo cáchnghiên cứu dọc trong một thời gian dài Những quan sát, những thực

Trang 11

lý - giáo dục kéo dài từ đầu đến cuối mỗi cấp học của nhiều nhà khoahọc khác nhau trên thế giới là những dẫn chứng điển hình cho phươngpháp nghiên cứu tâm lý học phát triển Những công trình như vậy đãđóng góp những thành quả to lớn cho tâm lý học phát triển cũng nhưcác chuyên ngành tâm lý học khác

Created by AM Word2CHM

Trang 12

II CÁC NHÂN TỐ VÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

Vấn đề nhân tố và động lực của sự phát triển tâm lý luôn luôn làvấn đề trung tâm của bất cứ ngành tâm lý học nào, đặc biệt là với tâm

lý học phát triển

Trong lịch sử tâm lý học, đây là vấn đề thường xuyên được đềcập, bàn luận và có nhiều luận điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau.Tổng hợp, khái quát lại có thể nêu lên các trường phái điển hình sauđây về nguồn gốc, động lực phát triển tâm lý cá nhân

1 Quan điểm của thuyết nguồn gốc sinh vật về phát triển

Những người theo trường phái nguồn gốc sinh vật coi những đặcđiểm bẩm sinh di truyền có sẵn của trẻ em là nguồn gốc, là động lựccủa sự phát triển tâm lý cá thể Theo họ, di truyền là yếu tố có tác dụngquyết định đến phát triển tâm lý trẻ, coi môi trường là yếu tố điều chỉnh,biểu hiện của tính di truyền

Xuất phát điểm của những người theo dòng phái nguồn gốc sinhvật về phát triển bắt nguồn từ qui luật tiến hóa nổi tiếng do Heackelđưa ra vào nửa đầu thế kỷ XIX Qui luật này cho rằng: Sự phát triển cáthể là sự lặp lại sự phát triển của loài dưới dạng rút gọn, tương tự nhưbào thai người ở thời kỳ sống trong bụng mẹ, lặp lại tất cả những giaiđoạn phát triển từ một thực thể đơn bào tới con người Theo quanđiểm này, trong quá trình phát triển, trẻ con cũng tái tạo lại tất cảnhững giai đoạn cơ bản của lịch sử loài người Ví dụ người ta đã nêu

ra 5 giai đoạn phát triển mà đứa trẻ bắt buộc phải trải qua:

- Giai đoạn man rợ

- Giai đoạn săn bắn

- Giai đoạn chăn nuôi

Trang 13

- Giai đoạn thương nghiệp - công nghiệp

Mỗi giai đoạn phát triển này được những người theo thuyết nguồngốc sinh vật lý giải và chứng minh trong quá trình phát triển của mỗi trẻ

em Chẳng hạn khi mới ra đời, đứa trẻ là một sinh vật man rợ và chỉkhi tuần tự trải qua ba giai đoạn ở giữa để tiến đến giai đoạn 5 - tức làgiai đoạn công - thương nghiệp thì trở nên thích thú trao đổi, buôn bán,yêu tiền tài Đó là mẫu người của chế độ tư bản

Theo thuyết nguồn gốc sinh vật, sự phát triển của trẻ em là donhững tố chất di truyền đã được ghi lại sẵn trong phôi của bào thaingay từ đầu Phát triển chẳng qua là sự bộc lộ dần dần những thuộctính ấy Tất cả do di truyền quyết định Tính tích cực cá nhân, giáo dục,giáo dưỡng v.v… chẳng qua chỉ làm tăng lên hay giảm đi những yếu tốtiền định trước đó mà thôi Đó chính là cơ sở lý luận của “giáo dục tựphát”, “giáo dục tự do” Mặt khác nó là chỗ dựa cho chủ nghĩa phânbiệt chủng tộc, phân biệt đẳng cấp, coi thường, khinh rẻ những ngườilao động, những dân tộc chậm tiến dẫn đến sự lý giải phản khoa học

về cái gọi là “dân tộc thượng đẳng”, “dân tộc hạ đẳng” đều do các gen

di truyền quyết định

Thực tiễn lịch sử của nhiều dân tộc đã bác bỏ những luận điểmsai lầm thiếu khoa học đó Sau khi được giải phóng khỏi ách thống trịcủa thực dân, giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, nhiều dân tộc vốn bị coi

là hạ đẳng, nhiều người vốn bị liệt vào loại “dân đen” đã hấp thụ nhữngnền văn hóa phát triển và trong một thời gian ngắn đã đạt được trình

độ phát triển cao (Liên Xô trước đây, Nhật Bản, những con rồng châu áhiện nay)

2 Quan điểm của thuyết nguồn gốc xã hội về phát triển

Những người theo thuyết này cho rằng môi trường xã hội là nhân

tố quyết định sự phát triển của trẻ em Môi trường xung quanh như thếnào thì hành vi, nhân cách của con người sẽ như thế ấy Bởi thế muốnnghiên cứu trẻ em thì chỉ cần phân tích cấu trúc môi trường xã hộixung quanh là hiểu được Thuyết này còn có tên là thuyết duy cảm, coitrẻ em lúc sinh ra như tờ giấy trắng (tabula rasa), rồi ảnh hưởng củahoàn cảnh điều kiện môi trường, xã hội mà những phẩm chất, thuộctính được vẽ lên đó

Thuyết nguồn gốc xã hội coi trẻ em chỉ là một tồn tại hoàn toànthụ động, chịu sự tác động và chi phối của môi trường xung quanh và

Trang 14

không thể thoát khỏi cái vòng kiềm tỏa đó Bởi vậy mọi thành công haythất bại của đứa trẻ đều được giải thích bằng môi trường bên ngoài.Tuy nhiên thực tiễn xã hội đã cho thấy trong cùng những điều kiện,hoàn cảnh xã hội như nhau lại hình thành những nhân cách hoàn toànkhác nhau, trái ngược nhau Trái lại trong những hoàn cảnh điều kiệnmôi trường xã hội khác nhau lại hình thành những nhân cách có nhiềunét tương đồng về thế giới nội tâm, phong thái hành vi, nhân phẩmv.v… Rõ ràng cũng giống thuyết nguồn gốc sinh vật, thuyết nguồn gốc

xã hội cũng không thể giải thích được thực tiễn sống động trong việchình thành nhân cách con người, nó phủ nhận tính tích cực của conngười, phủ nhận giáo dục và thể hiện sự vô trách nhiệm, vì cuối cùngngười ta đều đổ mọi tội lỗi cho hoặc do môi trường, hoặc do di truyềnbẩm sinh

3 Thuyết hội tụ hai yếu tố

Theo thuyết này, mối tác động qua lại giữa môi trường và di truyềnquyết định sự phát triển tâm lý trẻ em Tuy nhiên trong hai yếu tố đó, ditruyền giữ vai trò chủ yếu còn môi trường là điều kiện để biến nhữngyếu tố có sẵn của di truyền thành hiện thực

Thuyết này nhằm loại bỏ sự phiến diện của thuyết nguồn gốc sinhvật và thuyết nguồn gốc xã hội do nhà tâm lý học người Đức V.Stecnơnêu lên

Tưởng rằng khi kết hợp (hội tụ) 2 yếu tố phiến diện: di truyền vàmôi trường thì có thể giải quyết được vấn đề động lực phát triển trẻ

em Song những kết quả nghiên cứu về trẻ em sinh đôi cùng trứng vàsinh đôi khác trứng được tiến hành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

đã bác bỏ thuyết trên Với phương pháp nghiên cứu trẻ em sinh đôitrong nhiều năm, được tiến hành bởi nhiều nhà sinh - tâm lý học nhưJ.Gacne, II.Niumen, I.I.Caraep v.v… người ta thấy rằng: hóa ra nhữngđứa trẻ sinh đôi cùng trứng, cùng có môi trường sống như nhau (ví dụ:Natasa và Ema), khi lớn lên cũng không hoàn toàn giống nhau về sựphát triển tâm lý, nhân cách Do trong quá trình sống Natasa vốn hiếuđộng hơn, thường chủ động bày ra các trò chơi, giữ vai trò chỉ huy, cònEma thì thụ động hơn, làm theo những “sai khiến” của Natasa nên tínhcách của hai em khác nhau, đến nỗi I.I Caraep viết: “Sự phân hóa củacác cháu sinh đôi này đạt đến mức gây ra tác hại cho cả hai, vì nó làmcho mỗi cháu phát triển theo một mặt riêng đặc thù của từng cháu”(trang 415, theo Elkônin - Tâm lý học Liên Xô) Nhiều kết quả nghiêncứu khác chứng tỏ: ngay cả với các cháu sinh đôi cùng trứng, lớn lên

Trang 15

trong cùng một gia đình, cũng không phát triển như nhau Mỗi cháu ởvào một hoàn cảnh phát triển có một không hai, riêng cho mình nó,trong đó khâu trung tâm không phải là môi trường mà là quan hệ củađứa trẻ với những yếu tố nhất định của môi trường ấy Nghĩa là cháu

có một “môi trường cỏn con” của riêng mình trong phạm vi môi trườngchung Chỉ có những yếu tố nào của môi trường mà trẻ tích cực quan

hệ, tích cực tác động qua lại với chúng mới tạo thành các điều kiện cụthể có ảnh hưởng đến phát triển của trẻ (theo Đ B.Elkônin, tr 111-116)

4 Quan điểm của phái Nhi đồng học về trẻ em

Bên cạnh những quan điểm sai lầm, phiến diện về động lực pháttriển tâm lý trẻ em, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, còn một dòngphái thứ tư ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tâm lý học, đó là pháiNhi đồng học Phái Nhi đồng học tự coi mình là những nhà khoa họcduy nhất Mácxít về trẻ em Họ coi Nhi đồng học là một khoa học phứchợp, tổng hợp nghiên cứu về trẻ em, giữ độc quyền nghiên cứu về trẻ

em, lấn át cả giáo dục học và sinh lý học lứa tuổi Họ coi tâm lý học là

“khoa học về yếu tố chủ quan”, dẫn đến say mê các trắc nghiệm đểxác lập hệ số năng khiếu trí tuệ (hệ số IQ) của học sinh một cách máymóc, phiến diện

Những quan niệm và việc làm thiếu căn cứ của phái Nhi đồng họctrong một thời gian đã gây tác hại xấu đến sự phát triển của trẻ em ởmột số nước phương Tây, ở Nga Bởi vậy ngay từ những năm 30 củathế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học đã phê phán những luậnđiểm của phái Nhi đồng học Đặc biệt ở Nga, sự phê phán này đã tiếnhành một cách rất căn bản, mạnh mẽ Cuối cùng vào năm 1936,những quan điểm sai lầm của phái Nhi đồng học bị bác bỏ

Những công trình nghiên cứu ngày càng nhiều, càng khoa học về

sự phát triển của trẻ em bình thường, trẻ em khuyết tật, đặc biệt lànhững trẻ em sinh đôi đã bác bỏ và phê phán các thuyết sinh vật, môitrường, hội tụ, Nhi đồng học, là những thuyết chủ quan, phiến diện.Các thuyết đó hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố này hay một yếu tố khác,hoặc kết hợp một cách siêu hình hai yếu tố vốn đã sai lầm, nên kết quả

là không lý giải được thực tiễn sống động của trẻ em Rõ ràng là phảitìm nguồn gốc, động lực phát triển tâm lý, nhân cách trẻ em bằngnhững con đường khác, theo những nguyên tắc xuất phát khác về bảnchất với 4 thuyết nêu trên

5 Lý luận về phát triển của L.X.Vưgôtxki và tâm lý học hiện đại

Trang 16

Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đặcbiệt là phép biện chứng tự nhiên trong quá trình biến đổi từ vượn thànhngười nhờ lao động, Vưgôtxki đã đi sâu nghiên cứu vai trò của công cụlao động trong quá trình sản xuất và nêu lên tư tưởng: hoạt động cócông cụ đã dẫn đến sự biến đổi hành vi của con người, khiến cho conngười khác động vật Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất, tập trung nhấtbởi tính gián tiếp của hoạt động; trong hoạt động con người biết dùng.các ký hiệu (từ ngữ, chữ số…) Công cụ hướng ra bên ngoài, tác độngvào đối tượng, nhằm biến đổi nó phục vụ cho những nhu cầu sống củacon người Ký hiệu, dấu hiệu ngược lại hướng vào bên trong, tác độngtới hành vi của con người, có giá trị định hướng, điều chỉnh nhữnghoạt động của con người Sự phát triển của con người diễn ra chínhtrong quá trình nắm vững các công cụ đó và các loại ký hiệu đó Trảiqua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, các công cụ lao động vàcùng với nó là các loại ký hiệu được loài người ghi lại trong toàn bộ hệthống kinh nghiệm mang tính xã hội - lịch sử Để phát triển, đứa trẻphải lĩnh hội được những kinh nghiệm mang tính người đó bằng hoạtđộng và giao tiếp Việc truyền thụ những kinh nghiệm đó trong xã hộiloài người được thực hiện bằng con đường đặc trưng là giáo dục (theonghĩa rộng) Chính vì vậy, Vưgôtxki coi giáo dục chiếm vị trí trung tâm,hàng đầu trong toàn bộ hệ thống tổ chức cuộc sống của trẻ em, có tácdụng quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em.

Những luận điểm trên đây của Vưgôtxki được hình thành từnhững năm 20-30 của thế kỷ này Nó được Tâm lý học Liên Xô thừanhận trên bình diện lý luận và được triển khai nghiên cứu trong thựctiễn bằng nhiều con đường: quan sát tổng kết kinh nghiệm, thựcnghiệm trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm tự nhiên và đặc biệt làthực nghiệm tâm lý - giáo dục Hàng loạt công trình nghiên cứu củanhiều nhà tâm lý học nổi tiếng như X.L.Rubinstêin, B.G.Ananhev,A.R.Luria, A.N.Leônchiev, P.Ja.Galperin, I.V.Zankôv, D.B.Elkônin,B.B.Đavưdov v.v… đã chứng minh tính đúng đắn của nó, đồng thờilàm phong phú thêm về mặt lý luận và thực tiễn của ngành tâm lý họcphát triển Không những thế, quan điểm hoạt động tích cực của chủthể để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài người đã tích lũy được là nguồngốc thúc đẩy sự phát triển tâm lý của trẻ em còn được phát hiện vàthừa nhận bởi nhiều nhà tâm lý học ở các nước Âu, Mỹ (A.II.Walon,J.Piaget, P.Janet, B.F.Skinner, J.B.Watson v.v…)

Tâm lý học ngày nay coi giáo dục (giáo dục và dạy học) là yếu tố

Trang 17

có tính chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ em, bởi vì chính giáo dụccủa người lớn xác lập ra các mối quan hệ giữa trẻ em với hiện thựcxung quanh, xác lập nên tính tích cực hoạt động của trẻ em Chỉ cóthông qua người lớn và nhờ có sự chỉ đạo, hướng dẫn của người lớn,trẻ em mới nắm được toàn bộ sự phong phú của thực tại: thế giới đồvật và phương thức sử dụng chúng, ngôn ngữ, ký hiệu, quan hệ giữangười với người, động cơ hoạt động và tất cả những năng lực của conngười để trở thành người Song, động lực của sự phát triển nằm ngaytrong chính hoạt động của bản thân đứa trẻ Hoạt động tích cực của trẻ

em nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài ngườitích lũy được thông qua quan hệ với người lớn, là động lực thúc đẩy

sự phát triển tâm lý, ý thức, thúc đẩy sự hình thành nhân cách ở trẻem

Quan niệm trên về động lực phát triển của trẻ em đã chi phối vàlàm thay đổi về căn bản những vấn đề then chốt của giáo dục Khiquan niệm động lực phát triển của trẻ em là hoạt động để lĩnh hội trithức thì không thể coi đứa trẻ là nhân vật thụ động của quá trình giáodục, mà trái lại trẻ em là chủ thể chủ động và tích cực của dạy học Nộidung, hình thức, phương pháp giáo dục phải phục vụ cho việc tạo mọiđiều kiện để phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, giúp trẻ em

“tự tạo ra kiến thức” chứ không phải nhớ lại “kiến thức”, không phải “bêsẵn” những kiến thức đã có

Created by AM Word2CHM

Trang 18

Khi ra đời, đứa trẻ được sống trong thế giới của xã hội loài ngườivới những đặc trưng xã hội - lịch sử của con người, giữa thế giới đốitượng và các quan hệ do con người tạo ra Sự trưởng thành của đứatrẻ chính là quá trình nó lĩnh hội dần dần những đối tượng và nhữngquan hệ mang tính người đó Quá trình này được thực hiện dưới sựhướng dẫn, truyền thụ thường xuyên của người lớn, bằng những hìnhthức khác nhau, trong đó dạy học chiếm vị trí hàng đầu Nắm vững cácphương thức hoạt động có ý nghĩa quyết định quá trình phát triển cáthể Chẳng hạn, muốn trở thành người với tư cách một chủ thể xã hội,sau khi sinh ra, ngoài những phản xạ sơ đẳng có tính bản năng gắnliền với sự thỏa mãn các nhu cầu ăn, ở, tự vệ…, đứa trẻ phải dần dầnhọc cách thức hành động của con người như ăn theo kiểu người (bằngđũa, thìa, dĩa ), mặc, ở theo kiểu người, khác xa nhau về chất với đờisống động vật Rồi cùng với sự trưởng thành của cơ thể, nó phải biếthọc (lĩnh hội) hàng loạt những phương thức hành động ở những cấpbậc ngày càng cao hơn, tinh vi hơn dựa trên những phương thức sơđẳng, cấp thấp ban đầu; chỉ có như vậy trẻ em mới tồn tại và phát triểnvới tư cách là thành viên có ý thức của xã hội.

Yếu tố bẩm sinh, di truyền cùng những đặc điểm về thể chất, đặc

Trang 19

điểm của các loại hình thần kinh cấp cao là tiền đề, là điều kiện tựnhiên của sự phát triển Nó có tác dụng hoặc tạo điều kiện thuận lợihoặc gây những khó khăn nhất định cho việc hình thành một loại hoạtđộng nào đó Ví dụ: nếu chủ thể có sẵn thính giác nhanh, nhạy, sẽ giúpcho việc hình thành năng lực âm nhạc tốt hơn, người có kiểu loại thầnkinh Mêlăngcôlê thường hay gặp khó khăn trong giao tiếp nhã nhặnvới người khác để giải quyết vấn đề… Thiếu những điều kiện sinh học,

tự nhiên như não bộ, hệ thần kinh, những phản xạ bản năng ban đầucủa cơ thể thì tâm lý, ý thức không thể hình thành và phát triển được

Con người bao giờ cũng sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh,điều kiện cụ thể của môi trường xã hội Môi trường là nơi con ngườisống và biểu hiện tính tích cực hoạt động của mình Bởi vậy môitrường là một trong những điều kiện quan trọng của sự phát triển tâm

lý, ý thức của trẻ em Môi trường mà đứa trẻ sống có ảnh hưởng tiêucực và tích cực đến sự phát triển của đứa trẻ tùy thuộc vào chỗ trongmôi trường đó nó quan hệ tích cực với những yếu tố nào Môi trường

xã hội theo nghĩa chung chung không thể quy định sự phát triển lâm lýtrẻ em như phần trên đã khẳng định Bởi vậy, không thể tuyệt đối hóayếu tố này mà phải đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại, biệnchứng với những yếu lố và điều kiện khác của sự phát triển

Trong môi trường xã hội, nét đặc trưng nhất đó là hoạt động giáodục - một hình thái phát triển đặc biệt của loài người, có vai trò và ýnghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của trẻ em (sẽ phân tích kỹ ởphần sau)

Khi đã có những tiền đề vật chất nhất định, được sống trong xãhội loài người, yếu tố và điều kiện thứ ba không thể thiếu đối với sựphát triển tâm lý là tính tích cực hoạt động của chính chủ thể Hoạtđộng của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của sự pháttriển tâm lý Đời sống tâm lý của mỗi cá nhân nghèo nàn hay phongphú, đa dạng hay đơn điệu, sâu sắc hay hời hợt v.v… chủ yếu do tínhtích cực hoạt động và giao lưu của chủ thể trong xã hội quyết định

Các yếu tố: thể chất, bẩm sinh, di truyền; môi trường, xã hội; hoạtđộng của chủ thể là những điều kiện của sự phát triển tâm lý Các yếu

tố này tác động và ảnh hưởng qua lại, biện chứng với nhau và khôngphải như nhau trong sự phát triển tâm lý của con người Nói cáchkhác, các yếu tố trên tác động khác nhau với mỗi cá thể cũng như mỗigiai đoạn phát triển trong đời sống tâm lý con người Bởi vậy khinghiên cứu tâm lý con người không thể tuyệt đối hóa nhân tố nào Vấn

Trang 20

đề là xác định được vai trò, vị trí của mỗi yếu tố trong sự phát triểnchung cũng như trong sự phát triển có tính cá thể, lính giai đoạn củamỗi con người.

Created by AM Word2CHM

Trang 21

Giáo dục bao hàm giáo dục (theo nghĩa hẹp) và dạy học, là mộtquá trình người lớn lìm mọi cách thức, phương thức hữu hiệu nhất tácđộng đến trẻ em nhằm tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động lĩnh hộinhững kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người tích lũy được ghi lạitrong hệ thống tri thức, kỹ năng, công cụ, ký hiệu, quy trình công nghệ,quy tắc của lối sống, hành vi v.v… (nghĩa là trong hệ thống các đốitượng và quan hệ xã hội), giúp trẻ em có đủ năng lực, phẩm chất đểsống, hoạt động và phát triển không ngừng trong một xã hội nhất định

Giáo dục hiểu đầy đủ bao hàm một ý nghĩa toàn diện trong sựphát triển nhân cách trẻ em Nó không chỉ nhằm phát triển những quátrình, thuộc tính tâm lý mà còn hướng vào việc phát triển đứa trẻ cả vềthể chất, hình hài; nó không chỉ chú ý đến việc giáo dục, bồi dưỡng cácnăng lực, năng khiếu mà còn phải bồi dưỡng những phẩm chất, lốisống cần thiết mà xã hội đòi hỏi Nó không chỉ yêu cầu đứa trẻ pháttriển ở mức bình quân chủ nghĩa mà là phát triển ở mức cao hơn

Giáo dục hiện đại không chấp nhận sự nhồi nhét tri thức sẵn cócho trẻ em bằng roi vọt, cưỡng chế, bằng nuông chiều, dễ dãi hoặcbằng phương thức thầy truyền thụ, trò ghi nhớ thụ động mà bằng cách

tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn để trẻ tích cực hoạt động, tự giác chiếmlĩnh hệ thống kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người tích lũy được

Giáo dục hiểu theo nghĩa trên không có nghĩa là chạy theo sựphát triển, mà trong một chừng mực nào đó, giáo dục cần định hướng

Trang 22

trước một bước cho sự phát triển lứa tuổi của trẻ em Giáo dục cầntuân thủ theo những quy luật phát triển lứa tuổi cửa trẻ em, nhưngđồng thời hướng dẫn, chuẩn bị trước cho bước phát triển sau của trẻ

em Nghĩa là giáo dục quan tâm đến “vùng phát triển gần nhất” màVưgôtxki đã nêu ra Ví dụ: cuối tuổi mẫu giáo, trong chương trình giáodục trò chơi cho trẻ em, nhà giáo dục đã phải dần dần hướng trẻ vàocác trò chơi có ý nghĩa học tập để chuẩn bị cho hoạt động học tập, ởtuổi đầu thanh niên ngoài việc học tập, nhà giáo dục đã dần dần địnhhướng để các em bắt đầu suy nghĩ việc chọn nghề, vào đời v.v…

đặc điểm nổi bật sau đây: - Giáo dục đề ra mục tiêu, phươnghướng phát triển nhân cách theo yêu cầu, đòi hỏi của xã hội và tìm mọicon đường phấn đấu để đạt được mục tiêu đó

- Giáo dục lựa chọn nội dung, chương trình, phương pháp phù hợp

để đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu đã định Chính nhờ những nộidung, phương pháp phù hợp mà giáo dục có thể điều khiển và điềuchỉnh sự phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của mình

- Giáo dục có thể tác động tích cực đến những yếu tố bẩm sinh, ditruyền, giúp các chủ thể phát huy và tăng cường những yếu tố tích cựctrong quá trình phát triển tâm lý của mình

- Đối với môi trường sống của con người, giáo dục cũng có khảnăng tác động đến nó một cách tích cực cả trên bình diện vĩ mô và vi

mô, giúp cho việc hạn chế những nhân tố tiêu cực ảnh hưởng xấu đếnphát triển và phát huy những nhân tố tích cực của môi trường, tăngcường khả năng phát triển của cá thể

- Để đạt được mục tiêu đào tạo con người, giáo dục chọn nhữngthiết bị, đồ dùng dạy học, dụng cụ học tập phù hợp, tiên tiến giúpngười học lĩnh hội tốt nhất những thành tựu của văn hóa nhân loại

- Để giáo dục đạt được những nội dung trên, trong quá trình pháttriển giáo dục cần phải tạo ra những điều kiện, những con đường nhấtđịnh để phục vụ cho sự phát triển

2 Những con đường cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em trong dạy học và giáo dục

a Biến đổi nội dung và phương thức dạy học là con đường cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tâm lý, nhân cách trẻ em.

Lịch sử các nền giáo dục khác nhau của những hình thái kinh tế -xã hội khác nhau đã chứng minh rằng, mỗi nền kinh tế xã hội có một

Trang 23

nội dung giáo dục giảng dạy của nó, và do đó cũng hình thành nênnhững mẫu người cho nó Ví dụ, mục tiêu đào tạo của chế độ nô lệ,phong kiến, tư bản, v.v… Chính những nội dung giáo dục, dạy họckhác nhau đã dẫn đến những trẻ em được phát triển về tâm lý khácnhau Trong thế kỷ XX rất nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học đãkhẳng định điều đó Chẳng hạn những công trình cải cách nội dungdạy học khác nhau đã dẫn đến những trẻ em được phát triển về tâm lýkhác nhau Chẳng hạn những công trình cải cách nội dung dạy họccủa L.V.Zankov vào giữa thế kỷ này đã đi đến kết luận: dạy học vớiphương thức đề ra nhiệm vụ nhận thức khó ở trình độ cao đã giúp họcsinh tiểu học phát triển nhanh hơn, tốt hơn cả về mặt tri thức cũng như

tư duy Tiếp theo ông, các nhà tâm lý học P.Ja.Galpcrin, D.B.Elkônin,Đavưđôv, L.A.Venger v.v… còn đưa vào nội dung chương trình dạyhọc tiểu học những yếu lố mang tính lý luận, khái quát và kết quả làhọc sinh đã lĩnh hội được những tri - thức đó dẫn đến mức độ pháttriển của các em cao hơn hẳn những học sinh vẫn theo chương trìnhcủa giáo dục cổ truyền Những thực nghiệm tiếp theo của các ôngcũng đã đi đến chỗ phê phán những lý luận của nhà lâm lý học Thụy SĩJ.Piaget về tính bất biến của sự phát triển ở trẻ em theo giai đoạn.Chẳng hạn, bằng rất nhiều thực nghiệm về sự bảo toàn khối lượng,chất lượng, số lượng v.v… Piaget đã đi đến kết luận: trẻ em dưới 7 - 8tuổi không thể hiểu được những phép tính số học chân chính, chỉ đến11-12 tuổi ở trẻ mới hình thành được các thao tác lôgic v.v…

Sự thật những thao tác trí tuệ ở trẻ em được hình thành và pháttriển tùy thuộc chủ yếu vào chỗ người ta dạy gì cho nó và dạy như thếnào Chẳng hạn, thí nghiệm cổ điển về lượng nước trong 2 cốc nướccủa Piaget, trẻ em dưới 7 tuổi có lĩnh hội được là nó bằng nhau haykhông (dù đựng ở cốc to hay nhỏ), là ở chỗ người ta chỉ cho nó quansát bằng mắt hay vừa quan sát vừa tiến hành hành động đo cụ thể,nghĩa là phụ thuộc vào hoạt động tích cực của đứa trẻ dưới sự hướngdẫn của người lớn theo phương thức nào Như vậy nội dung, hệ thốngtri thức, khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo được đưa vào chương trình học ởmỗi lứa tuổi cùng phương thức hoạt động để chiếm lĩnh nó là mặt chủyếu, quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em trong quá trình dạy học

Những tri thức tương ứng với một đối tượng nhất định của mộtkhoa học được đặc trưng bởi một cấu trúc phức tạp, trong đó chứađựng những nhiệm vụ, những hành động và những thao tác đặc trưng.Nhiệm vụ của nhà giáo đục chính là làm sao cho trẻ em lĩnh hội được

Trang 24

những thao tác mới trong tính đặc thù của chúng, tức là biết gắn liềnvới hoạt động mà các thao tác đó là phương tiện thực hiện Ví dụ, cácphép tính cộng, trừ, nhân chia… được dạy cho trẻ em với tư cách làphương tiện để giải các bài toán số học có những phép tính Nhữngcông trình của Elkônin, Đavưđov, Talưrina đã chứng minh rằng khảnăng giải các bài toán ở phạm vi rộng hơn của đứa trẻ phụ thuộc vàotính khái quát của phương thức giải mà ta dạy cho nó Chẳng hạn, vớibài toán “Nam cho bạn 3 bút chì, Nam còn lại 5 bút chì Hỏi Nam cóbao nhiêu bút chì?” Hầu hết trẻ em lớp 1 không được học theo phươngthức khái quát đều làm phép trừ (5 bút chì -3 bút chì = 2 bút chì) Vìsao có sai lầm đó? Vì thao tác tư duy của các em vẫn gắn một cách cụthể với từ “cho đi”, “còn lại” mà “cho đi”, “còn lại” tức là bớt đi hay trừ

đi Ngược lại những trẻ em được học theo phương thức khái quát đềugiải được bài toán đó dễ dàng, bởi chúng nắm được bản chất các mốiquan hệ của các dữ kiện đã cho

Ảnh hưởng của nội dung, phương pháp giáo dục đến sự pháttriển tâm lý, nhân cách con người đã được minh chứng rất rõ trong lịch

sử giáo dục của những thời đại, những thể chế và những giai cấp khácnhau Với nội dung giáo dục theo kiểu “Tầm chương, trích cú” vàphương pháp áp đặt, nhà trường của chế độ phong kiến đã đào tạođược mẫu người thụ động, phục tùng theo trật tự “Tam cương, ngũthường”, “Tam tòng, tứ đức” Ngay trong xã hội hiện nay, ta cũng thấyrất hiển nhiên ảnh hưởng của nội dung, phương pháp giáo dục khácnhau đã dẫn đến xu hướng và sự phát triển tâm lý, nhân cách khácnhau Dạy học theo kiểu nội dung có sẵn, theo kiểu kinh nghiệm chủnghĩa sẽ hình thành ở học sinh mẫu người nặng về ghi nhớ, tái tạo,kém phát triển tư duy sáng tạo cũng như tính năng động trong hoạtđộng và cuộc sống Ngược lại, nếu việc dạy học được tiến hành theochiến lược hình thành những hành động trí tuệ theo hướng phân tích,khái quát, coi trọng tính tích cực của chủ thể thì sẽ hình thành đượcnhững nhân cách tích cực, sáng tạo, chủ động

Chính nội dung, phương pháp giáo dục có ý nghĩa đặc biệt nhưvậy nên bất cứ nền giáo dục của quốc gia nào (đặc biệt là những quốcgia phát triển), đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi những con đường,những cải cách về nội dung, phương pháp giáo dục tiên tiến nhấtnhằm phát triển những nhân cách thỏa mãn những đòi hỏi ngày càngcao của xã hội

b Vận dung những tri thức, phương thức đã lĩnh hội dựa vào

Trang 25

việc giải quyết những nhiệm vụ học tập, tạo ra sự phát triển những cơ chế tâm lý mới.

Như ta đã biết, sự phát triển tâm lý của trẻ em đi từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp và mang tính kế thừa, tính phủ định rõ rệt.Trong quá trình phát triển đó, những thành quả đã được hình thành ởgiai đoạn trước (những thao tác, những hành động, những hoạt động)dần dần sẽ trở thành những công cụ, những phương tiện làm nền, làm

cơ sở cho việc hình thành những hiện tượng tâm lý ở mức cao hơn Ví

dụ, những thao tác cộng, trừ trong tính toán, trong việc giải các bàitoán; những kỹ xảo trong các hoạt động kỹ thuật, nghệ thuật v.v… Do

đó, vấn đề của dạy học nói riêng và giáo dục nói chung không nhữngphải hình thành ở học sinh những tri thức, khái niệm, những phươngthức hoạt động mà phải dạy trẻ biết vận dụng các tri thức, kỹ năng,kinh nghiệm đã có để giải quyết các vấn đề đặt ra (các hoàn cảnh cóvấn đề) một cách phù hợp, thông minh Nghĩa là không phải học (lĩnhhội) chỉ để giải quyết những van đề riêng lẻ, cụ thể mà còn phải quynhững trường hợp riêng lẻ cụ thể về những “hệ” mang tính khái quát.Những cứ liệu nghiên cứu thu được của các nhà tâm lý họcN.A.Menchinxkaja, D.N.Bôgôivlenxki, E.N.Kabanôva v.v… đã nêu lên ýnghĩa của những thủ thuật khái quát của hoạt động trí tuệ như trừutượng hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp không phải chỉ đặc thù chomột môn học cụ thể, riêng biệt mà nó là cơ chế tâm lý cho hoạt độngtâm lý của nhiều môn học, của việc nghiên cứu hiện thực nói chung Ví

dụ, để vận dụng mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận khi giải một bàitoán số học, đứa trẻ phải biết tách ra đâu là cái toàn bộ, đâu là cái bộphận, đâu là cái cụ thể, đâu là cái chung Về bài toán đã dẫn ở trên, trẻphải biết phân biệt số bút chì Nam có là cái toàn bộ, số cho đi và sốcòn lại là bộ phận, thì đứa trẻ sẽ giải quyết vấn đề đúng đắn Bởi thế,dạy học không chỉ dừng lại ở những hình thức cụ thể mà phải dạy họcsinh những hình thức cao hơn của sự so sánh, đối chiếu, dạy những

kỹ năng liên hệ, những tri thức cụ thể với những tri thức trừu tượng,khái quát

Nếu việc dạy học chủ yếu định hướng vào nội dung cụ thể của tàiliệu thì học sinh thường bộc lộ sự khó tách ra các ý nghĩa mang tínhtrừu tượng, khái quát ngay cả trong toán học, vật lý học, lịch sử và vănhọc chứ không riêng cho môn học nào Ngược lại nếu dạy học thiên vềđịnh hướng cho việc khái quát hóa, trừu tượng hóa thì lại ảnh hưởng

rõ rệt đến khả năng phân tích những đặc điểm cụ thể của tài liệu học

Trang 26

tập Rõ ràng là cách dạy học khác nhau, rèn luyện những thao tác tưduy khác nhau ảnh hưởng quyết định đến kết quả vận dụng nhữngphương thức đã lĩnh hội được của học sinh Chính sự hình thànhnhững cơ chế tâm lý này là một con đường quan trọng trong quá trìnhphát triển của trẻ em như nhiều nhà tâm lý học đã khẳng định: dạy họckhông chỉ dạy tri thức, khái niệm mà còn phải dạy trẻ em biết tư duy,biết hoạt động trí óc.

Trong thực tiễn dạy học, hai con đường trên có liên quan và tácđộng với nhau một cách biện chứng Do đó những khi thay đổi nộidung, phương thức dạy học đồng thời cũng kéo theo cả sự hình thành,rèn luyện những cơ chế tâm lý ở học sinh Ngược lại, khi rèn luyệnnhững thao tác trí óc ở trẻ em thì đồng thời chất lượng của việc lĩnhhội tri thức cũng được phát triển theo chiều hướng tích cực Bởi vậykhi thay đổi nội dung dạy học thì đồng thời cũng phải thay đổi phươngpháp, phương thức cho phù hợp với nó

c Sự phát triển những thuộc tính nhân cách của trẻ emtrong quá trình dạy học

Trong quá trình phát triển, đứa trẻ ngày càng tích lũy được một sốlượng tri thức, phương thức hoạt động khác nhau, những kiểu hoạtđộng trí tuệ khác nhau Từ đó dẫn đến sự biến đổi không chỉ một vàiphẩm chất nhân cách ở đứa trẻ mà bao gồm cả sự biến đổi toàn bộnhân cách của chúng, thể hiện tập trung nhất 3 mặt:

* Sự thay đổi và phát triển những xu hướng nhân cách là nhữngthuộc tính tâm lý tương đối ổn định, có ý nghĩa chủ đạo chi phối nhữngđặc điểm hành vi cơ bản của cá nhân trong một thời gian dài hoặctương đối dài Ví dụ: nhiều công trình nghiên cứu về động cơ, lýtưởng, niềm tin của các nhà tâm lý học thế giới đã chứng minh trongquá trình trưởng thành, đứa trẻ có thể có những xu hướng nhân cáchđiển hình sau đây:

- Xu hướng học tập: Với những học sinh này, điều quan trọng làthực hiện đầy đủ những yêu cầu của giáo viên để học tốt Chúng quantâm chủ yếu đến điểm số, đến kết quả học tập theo từng tháng, từnghọc kỳ và từng năm học Những lời khen, những phần thưởng cho kếtquả học tập của người lớn đối với chúng là niềm vui, sự thỏa mãn vàthúc đẩy chúng học tốt

- Xu hướng nhận thức: Điều quan trọng đối với những học sinhnày chủ yếu là sự hứng thú, niềm vui đối với việc được tiếp thu những

Trang 27

tri thức mới đối với nhiều hoặc một vài môn học nào đó Những trẻ emnày không quan tâm nhiều đến điểm số mà chủ yếu là sự nhận thứccái mới, cái hấp dẫn của chính bài học, môn học.

- Xu hướng về vị thế cá nhân: Những học sinh này thường chorằng việc đạt được một vị trí nào đó, một mối quan hệ nào đó của mìnhvới những người xung quanh là điều quan trọng Chẳng hạn có emkhao khát chiếm được vị trí số 1 trong lớp, có em muốn là kẻ cầm đầutrong nhóm bạn bè, có em hài lòng vì được bạn bè quan tâm, là “ngườiđược hỏi ý kiến” v.v…

Chính những xu hướng nhân cách có tính chủ đạo đã ảnh hưởngđến nhiều mặt quan trọng của sự phát triển tâm lý trẻ em, đến bộ mặthành vi của chúng Trong dạy học, việc tính đến những xu hướng nhâncách của trẻ em là điều đặc biệt cần thiết Vì chỉ có như vậy, nhà giáodục mới có những phương pháp, biện pháp sát hợp để hướng dẫn,điều chỉnh sự phát triển của trẻ em Ví dụ cần dè chừng sự phát triểnmang tính hình thức, rập khuôn ở những học sinh có xu hướng họctập; cần tránh sự phát triển có tính phiến diện ở những học sinh có xuhướng nhận thức và cần quan tâm đến những học sinh có chiềuhướng chỉ đi sâu vào các mối quan hệ với người xung quanh, xa rờinhiệm vụ chính là học tập

* Phát triển những cấu trúc tâm lý của hoạt động

Việc tìm ra cấu trúc hoạt động của A.N.Lêônchiev có ý nghĩa rấtlớn đối với giáo dục và dạy học Theo lý luận này, mỗi hoạt động baogiờ cũng có động cơ thúc đẩy, mỗi hành động gắn liền với một mụcđích bộ phận và mỗi thao tác đều bị các phương tiện thực hiện quyđịnh Trong cấu trúc đó mục đích hành động là khâu quan trọng có tínhquyết định đến sự thành bại của hành động Thực tiễn nghiên cứu tâm

lý học thế giới trong nhiều năm đã chứng tỏ rằng đây là khâu trọng yếu

có khả năng đột phá để tìm ra những con đường hình thành tâm lý, ýthức ở trẻ em Hiện nay, ở chính lĩnh vực này, nhiều nhà tâm lý học đãthu được những kết quả rất có ý nghĩa như P.La.Galperin, D.B.Elkônin,B.B.Đavưđov và những người khác

Trong hoạt động của trẻ em, tính mục đích hành động được hìnhthành dần dần theo lứa tuổi Ví dụ, trẻ em 3 tuổi chưa thể bắt đầu hànhđộng của mình theo mục đích định trước, nó hành động còn mang tínhngẫu nhiên, tự phát Hành động của trẻ 5, 6 tuổi chủ yếu còn do nhữngtình huống cụ thể quyết định Từ 7 tuổi trở đi, hành động của trẻ em đã

Trang 28

dần dần đạt được tính mục đích rõ rệt Trong quá trình giáo dục, điềunày phụ thuộc rất nhiều vào chỗ người lớn quan tâm như thế nào đếnviệc giáo dục phẩm chất cho trẻ bằng việc dạy chúng biết lập kế hoạchcho hành động, hoạt động Kiên trì thực hiện kế hoạch đã vạch ra vàbiết kiểm tra sản phẩm hoạt động so với mục tiêu ban đầu Chính trongquá trình hoạt động, trẻ em sẽ bộc lộ đặc điểm tâm lý, hành vi củamình Một số trẻ khi thực hiện nhiệm vụ học tập chỉ quan tâm đếnnhững nhiệm vụ riêng lẻ mà không liên kết chúng lại với nhau thànhmột hoạt động; một số khác chỉ quan tâm đến việc lựa chọn phươngthức hành động, phương tiện của thao tác v.v… Những đặc điểm củahành vi chung của trẻ em như sự phát triển tính mục đích, tính tổ chức,tính có kế hoạch, tính chủ định v.v… của chúng được biến đổi và pháttriển trong quá trình hình thành cấu trúc hoạt động học tập.

Trong việc phát triển những thuộc tính chung của nhân cách thì sựhình thành phát triển những cơ chế của ý thức chiếm vị trí quan trọng

Sự phát triển tâm lý của trẻ em sẽ không đạt đến trình độ bản chất(trình độ người) nếu thiếu ý thức cùng những phẩm chất của nó Trongkhi phát triển những xu hướng nhân cách, phát triển cấu trúc hoạtđộng học tập ở trẻ em, nhất định phải hình thành những cơ chế ý thức

ở chúng Điều này thể hiện đặc biệt rõ rệt trong sự biến đổi những đặcđiểm hoạt động tư duy của trẻ em Tuổi mẫu giáo mới chỉ phản ánhnhững thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng, dần dần với sự pháttriển, chúng mới tách ra những chức năng của đối tượng, rồi cấu tạocủa chúng… Mức độ phản ánh khái niệm cùng hệ thống khái niệm mãi

về sau mới được hình thành và đi đôi với nó là sự phát triển của ý thức(phản ánh của phản ánh) mới ra đời

Trình độ phát triển tư duy và ý thức càng cao thì những khái niệm

mà chúng lĩnh hội được càng có nhiều dấu hiệu phong phú, càng cótính chất đa dạng và phạm vi sử dụng chúng càng rộng Vì ý thứckhông đơn giản chỉ là sự phản ánh máy móc những thuộc tính bềngoài của đối tượng mà nó thực hiện một sự liên kết, cải biến nhữngphản ánh mà con người có được trước đây nhằm đạt được sự phảnánh mang tính bản chất, quy luật của sự vật

Kết quả các công trình nghiên cứu tâm lý cho thấy không nhữngchỉ số lượng các đấu hiệu mà trẻ em có thể liên kết thành một chỉnhthể nào đó tăng lên cùng với lứa tuổi theo nội dung, phương thức dạyhọc Chẳng hạn đa số trẻ mẫu giáo lớn và lớp 1, về cơ bản chỉ có thểliên kết những dấu hiệu cụ thể của đối tượng Học sinh ở những lớp 2,

Trang 29

3 khả năng tổng hợp các dấu hiệu trừu tượng tăng lên Kỹ năng phântích những dấu hiệu lý thuyết cũng như những dấu hiệu cụ thể và kỹnăng liên kết chúng lại thành một tổng thể thống nhất nào đó đượcphát triển dần dần trong hoan động học tập của học sinh, trong sự giảiquyết các nhiệm vụ học tập một cách độc lập, sáng tạo dưới sự tổchức, hướng dẫn của người lớn.

Trong 3 con đường cơ bản của sự phát triển tâm lý trẻ em, không

có con đường nào ưu việt tuyệt đối Mỗi hướng phát triển trên cónhững nét đặc thù riêng, có sự ưu việt riêng Chỉ có sự kết hợp chúnglại một cách khoa học, phù hợp thì mới tạo thành sức mạnh để hìnhthành và phát triển nhân cách học sinh một cách tối ưu ở trẻ em

Created by AM Word2CHM

Trang 30

- L.X.Vưgôtxki xem giai đoạn phát triển là thời kỳ hay mức độ pháttriển nhất định đóng kín một cách tương đối, mà ý nghĩa của nó đượcquyết định bởi địa vị của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung,trong đó những quy luật phát triển được thể hiện một cách độc đáokhác về chất so với các thời kỳ khác.

- J.Piaget trong tác phẩm “Sự phát triển tâm lý của trẻ em”, xuấtbản năm 1940, đã định nghĩa giai đoạn phát triển là “những hình thức

tổ chức hoạt động tâm lý dưới 2 khía cạnh thống nhất với nhau, mộtmặt là khía cạnh vận động hoặc trí tuệ, mặt kia là cảm xúc, cũng nhưxác định theo 2 chiều: cá nhân và xã hội Trong mấy chục năm nghiêncứu về tâm lý trẻ em, Piaget đã bỏ nhiều công sức vào vấn đề giaiđoạn phát triển, đã nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung cách phân chia giaiđoạn lứa tuổi trẻ em Cuối cùng, đến năm 1955, hệ thống phân chialứa tuổi của ông đã được định hình như sau:

1 - Giai đoạn lớn thứ nhất từ 0 đến 2 tuổi gọi là thời kỳ giác động(thời kỳ cảm giác - vận động), giai đoạn này lại được chia làm 6 giaiđoạn nhỏ

2 - Giai đoạn lớn thứ hai từ 3 đến 11, 12 tuổi, được chia làm 5 giaiđoạn nhỏ được đặc trưng bởi trí khôn thao tác cụ thể

Trang 31

- A.N.Lêonchiev và D.B.Elkônin xuất phát từ lý thuyết hoạt động

và hoạt động chủ đạo để phân chia giai đoạn phát triển Đặc biệtElkonin đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này nhiều năm Theo ông: từ lúc

ra đời cho đến khi trưởng thành, sự phát triển tâm lý của trẻ em trảiqua những giai đoạn có chất lượng riêng, kế tiếp nhau Mỗi giai đoạnđược tính theo mối quan hệ nào của trẻ với thực tại là chủ đạo, loạihoạt động nào là chủ đạo” (D.B.Elkônin Về vấn đề phát triển tâm lý trẻ

em tr.426 Tâm lý học Liên Xô Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1978)

Hoạt động chủ đạo, theo Lêônchiev, là hoạt động mà sự phát triểncủa hoạt động ấy được qui định bởi những biến đổi chủ yếu nhất trongcác quá trình phát triển tâm lý và trong những đặc điểm tâm lý củanhân cách trẻ em ở giai đoạn phát triển đó Từ những luận điểm nàyElkônin đã chia nhân cách trẻ em thành những “thời kỳ với những biếnđổi đột ngột”, “giai đoạn” (với những biến động ít đột ngột hơn) vànhững pha (với sự thay đổi từ từ) dựa trên 2 lớp quan hệ chính giữatrẻ em với thế giới xung quanh

1 Lớp quan hệ giữa trẻ em với những người xung quanh và vớichính bản thân (lớp A)

2 Lớp quan hệ giữa trẻ với thế giới vật chất do con người tạo ra(lớp B)

Hai lớp quan hệ này là hai dòng hoạt động luôn quyện chặt vớinhau, tạo nên cuộc sống và tâm lý của trẻ em Tuy nhiên 2 lớp quan hệ

đó không phải bao giờ cũng song song cùng tiến, mà tuỳ theo mỗi giaiđoạn lứa tuổi, lớp A hay B sẽ giữ vị trí chủ đạo và hoạt động chủ đạo

đó chi phối giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ em Trong quan hệ vớilớp A cũng không loại trừ những quan hệ có tính chất xuyên và liênvăn hóa mà ta thấy rất phổ biến trong thời đại ngày nay

2 Các giai đoạn phát triển của trẻ em

Trong thực tế, sự nảy sinh, hình thành những mầm mống tâm lýcủa con người diễn ra rất sớm, ngay trong thời kỳ bào thai Từ xa xưađến ngày nay, không ít các nhà bác học đã nghiên cứu thời kỳ này vàđưa ra những lời khuyên rất thiết thực, bổ ích cho các ông bố, bà mẹtương lai Ví dụ: một số nhà khoa học ở Hà Lan đã phát hiện vấn đềtiếp cận thai nhi (Haptononice - tiếp xúc học) như thế nào để có lợinhất cho sự phát triển của đứa trẻ Đây là một vấn đề có tính truyền

Trang 32

thống của nhiều dân tộc trên thế giới mà người ta thường dùng thuậtngữ “Thai giáo” (giáo dục đối với thai nhi) để chỉ Tuy nhiên, nghiêncứu một cách cụ thể vấn để này không dễ, các quan niệm và số liệucủa vấn đề chưa thống nhất, còn nhiều tranh cãi và tính phổ biến của

nó chưa cao Bởi vậy, đây là một hướng nghiên cứu mới đầy triểnvọng, song để khái quát thành các đặc điểm cơ bản thì hiện nay chưa

đủ điều kiện Do đó, giáo trình này tập trung vào các giai đoạn pháttriển từ khi con người sinh ra cho đến lúc già Với quan niệm như vậy,các giai đoạn phát triển sẽ được phân chia như sau:

* Từ 0 - 1 tuổi: hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn,trước hết là mẹ chiếm vị trí hàng đầu, quyết định sự hình thành và pháttriển của trẻ Đó là hoạt động chủ đạo đầu tiên trong cuộc đời conngười H.Wallon cho rằng khó có thể đánh giá hết được vai trò củacảm xúc trong những tiến bộ về mọi mặt của đứa trẻ ở giai đoạn này.Những thực nghiệm của N.Spitz (nhà tâm lý học Mỹ) cũng khẳng địnhđiều đó Đây là giai đoạn cộng sinh về mối quan hệ tình cảm giữa trẻ

và người mẹ (mẹ xã hội) tiếp theo sau thời kỳ cộng sinh về cơ thể (thời

kỳ bào thai)

* Từ 2 - 3 tuổi là thời kỳ tuổi vườn trẻ: thời kỳ này xảy ra quá trìnhtrẻ tiếp thu mạnh mẽ những thao tác công cụ - đối tượng, những trithức thực tiễn được hình thành Hoạt động với đối tượng do xã hội tạo

ra dần dần chiếm vị trí chủ đạo ở lứa tuổi này

* Từ 4 - 6 tuổi: hoạt động trò chơi đóng vai chiếm vị trí chủ đạo ởđây nhờ trò chơi đóng vai, đứa trẻ mô phỏng lại trong trò chơi nhữngmối quan hệ giữa con người với con người cùng những chuẩn mực xãhội mà nó tiếp thu được trong cuộc sống Nhờ đó nó dần dần phát triểnnhân cách của mình với tư cách là một thành viên của xã hội

* Từ 6 - 7 tuổi: hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh những hệthống tri thức, những phương thức hoạt động chiếm vị trí chủ đạo Đây

là giai đoạn mà trí tuệ của trẻ phát triển rất thuận lợi Hàng loạt côngtrình nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học về lứa tuổi trẻ em tiểu học

đã khẳng định điều đó (Piaget, Galpêrin, Đavưđốv, Talưzina,Menchinxkaja và những người khác v.v…)

* Từ 11 - 12 đến 14 - 15 tuổi: ở giai đoạn này xuất hiện và pháttriển một hoạt động đặc biệt nhằm thiết lập các mối quan hệ giữanhững trẻ em thiếu niên với nhau, dựa trên sự tin cậy, trên những sởthích, hứng thú, tình cảm bạn bè với nhau Quan hệ giữa cá nhân với

Trang 33

và vận hành các mối quan hệ cá nhân - thân tình chiếm vị trí chủ đạo ởgiai đoạn này

* Từ 15 đến 17 tuổi: nhiều nhà tâm lý học cho rằng hoạt động họctập có định hướng nghề nghiệp để chuẩn bị bước vào đời là hoạt độngchủ đạo ở lứa tuổi này

Tuy nhiên một điều cần khẳng định khi nói tới vị trí của hoạt độngchủ đạo quyết định sự phát triển lứa tuổi không có nghĩa là trong giaiđoạn đó, lứa tuổi đó chỉ có hoạt động chủ đạo vận hành một cách trơtrọi còn những hoạt động khác nằm im Không phải như vậy Nhữnghoạt động chủ đạo đã được hình thành ở giai đoạn trước chính là cơ

sở, điều kiện của những hoạt động chủ đạo được hình thành sau.Trong đời sống tâm lý của trẻ em, những hoạt động “không chủ đạo”vẫn tiếp tục vận hành cùng với hoạt động chủ đạo nhưng nó giữ vị trí

“tiềm ẩn, thứ yếu, hỗ trợ cho hoạt động chủ đạo”, và theo qui luật pháttriển không đồng đều, nhiều khi ở trẻ em xuất hiện tình trạng “chậm”hoặc “vượt” việc hình thành những hoạt động chủ đạo theo lứa tuổi.Chẳng hạn một số công trình nghiên cứu của Trung tâm Tâm lý học,sinh lý học lứa tuổi trong những năm gần đây cho thấy hiện tượng

“chậm phát triển hoạt động chủ đạo học tập” ở một số học sinh tiểuhọc, hoặc sự phát triển “vượt khung” ở một số trẻ em mẫu giáo lớn.Điều này do chính hoàn cảnh sống cụ thể, do những điều kiện giáo dục

cụ thể của những trẻ em này qui định Điều này đưa ta đến kết luận:những đặc điểm chung của lứa tuổi là những đặc điểm trung bình Bởivậy để phát triển tối ưu công tác sư phạm của nhà giáo dục cần tínhđến những đặc điểm cá biệt của mỗi trẻ em, giúp trẻ phát triển tốt nhấttrong điều kiện có thể Tất nhiên công việc này liên quan chặt chẽ đếnchiến lược phát triển con người của mỗi đất nước, mỗi chế độ xã hộitrong việc chỉ đạo, đầu tư cho giáo dục, đào tạo

Những chương tiếp theo sẽ nói tới những đặc điểm tâm lý cơ bảncủa một số giai đoạn phát triển chính của trẻ em Giáo trình này tậptrung nêu những đặc điểm phát triển của trẻ em từ khi sinh ra cho đếnlúc trưởng thành

Trang 34

Created by AM Word2CHM

Trang 35

4 Phân tích vai trò, vị trí của giáo dục trong sự phát triển tâm lý

5 Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý và sự phân chia cácgiai đoạn phát triển cụ thể

Created by AM Word2CHM

Trang 36

- Từ 0 - 2 tháng: đứa trẻ ra đời là một thực thể rất yếu ớt, nếu táchkhỏi người lớn thì không thể tồn tại được Mặc dù vậy nó là một thànhviên của xã hội loài người, được đùm bọc, nuôi dưỡng theo phươngthức người, khác hẳn những động vật chỉ sống trong môi trường convật

Não bộ của trẻ em lúc mới sinh nặng khoảng 400gram, lượng tếbào thần kinh khá đầy đủ nhưng các sợi dây thần kinh chưa đượcnhiễm chất myêlin nên hoạt động của trẻ còn rất hạn chế Trong thờigian này ở trẻ chỉ có một số phản xạ không điều kiện như phản xạ bú,phản xạ tự vệ (co người lại khi người lớn đụng vào, nheo mắt khi cóánh sáng v.v…), phản xạ định hướng và một vài phản xạ của chân, tay.Điều đặc biệt quan trọng là mặc dù đang rất yếu ớt, trẻ đã có đầy đủ

Trang 37

các cơ quan phân tích, cảm nhận Đó là các giác quan sẵn sàng hoạtđộng, đặc biệt là thính giác, thị giác được phát triển rất nhanh Theonhững nghiên cứu mới nhất thì khi mới chào đời thị lực của trẻ yếu ớthơn người lớn tới 60 lần, do cơ cấu của mắt chưa được hoàn chỉnh,mật độ các tế bào ở võng mạc còn thấp, nhưng chỉ sau 48 tiếng đồng

hồ, bé đã nhận ra được mẹ Bé có thể nhìn chăm chú một khuôn mặtngười cách bé 20 - 30cm Nói chung bé thích những vật được chiếusáng rõ, có hình tròn và chuyển động chậm

Thính giác là cơ quan được thức tỉnh rất sớm và chỉ 10 phút saukhi ra đời, bé đã có khả năng nhận biết được âm thanh quan trọngnhất trong thế giới nhỏ bé của nó: tiếng nói của mẹ Bé thích tiếng nóicủa người hơn bất cứ thứ âm thanh nào khác

Về khứu giác chỉ sau 45 tiếng đồng hồ sau khi chào đời, bé đãnhận ra chính xác mùi của mẹ và rất “quyện hơi mẹ”

Vị giác của trẻ phát triển rất sớm Vừa mới ra đời bé đã phân biệtđược 4 vị khác nhau là ngọt, mặn, đắng, chua nhờ ở lưỡi và mặt trongcủa má có nhiều tế bào vị giác hơn là của người lớn Nhìn chung bé

“háo ngọt” và ghét những vị đắng, chua

Xúc giác của trẻ sơ sinh cũng phát triển sớm: Khi chào đời, bé đã

có thể níu chặt các đồ vật để vào tay nó Sau đó không lâu óc đã cócảm giác về hình thể và tính chất rắn hay mềm của đồ vật Trong việcnày cái miệng giúp thêm cho bàn tay để thu thập được thêm các thôngtin Nhờ sự phát triển của các giác quan mà các phản xạ định hướngđược phân hóa dần dần, tính tích cực tâm lý được nảy sinh Đến cuốitháng thứ 2, bắt đầu xuất hiện “phức cảm hớn hở” đó là sự kết hợpnhững cử động của chân tay khi mẹ hay người thân xuất hiện hoặc âuyếm nó

Trang 39

Created by AM Word2CHM

Trang 40

Sự giao tiếp với người lớn ban đầu mang tính chất cơ thể nhưđược bế, ẵm, hôn hít, được âu yếm trong quan hệ mẹ - con” Điều đóđược thể hiện rõ trong “phức cảm hớn hở” của đứa trẻ từ cuối thángthứ 2 và kéo dài thêm vài tháng sau đó.

Nhờ sự giúp đỡ của người lớn, dần dần trường thị giác, thính giáccủa trẻ phát triển Ngoài mẹ và những người thân, đứa trẻ bắt đầu nhìnthấy, nghe thấy những sự vật, hiện tượng xung quanh Những vậnđộng lẫy, ngồi, bò của trẻ giúp cho xúc giác, vận động phát triển Sựcầm nắm đồ vật, sự gõ đập đồ vật giúp trẻ phát triển những cảm giácban đầu Đây là giai đoạn phát triển những cảm giác vận động màG.Piaget gọi là thời kỳ “giác - động”, ở đây vai trò trung gian của ngườilớn giữa đứa trẻ với thế giới hiện thực thể hiện rất rõ Sống giữa ngườilớn, không ngừng thu nhận ở họ những tri thức ngày càng mới mẻ,đứa trẻ có nhu cầu nhận thức ngày càng tăng Những phản xạ địnhhướng của trẻ hài nhi dần dần chuyển thành tính tò mò nhận thức,thành hứng thú tìm hiểu mọi vật xung quanh

Sự phát triển tâm lý của trẻ em ở giai đoạn này thể hiện tính tíchcực vận động nhằm đạt được những kỹ xảo vận động cần thiết nhưcầm, nắm, trườn, bò, ngồi, đi, đứng Nhờ đó những cảm giác về âmthanh, hình khối, màu sắc bắt đầu hình thành, những hành động,những thao tác bằng tay với đồ vật được phát triển Vào cuối tuổi hài

Ngày đăng: 25/08/2017, 04:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w