1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tâm bệnh học lứa tuổi trẻ em mầm non

177 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 919,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó được thay thế bởi sự ra đời của Tâm bệnh học lâmsàng, với phạm vi rộng hơn nhiều, bao gồm tất cả những nghiên cứulâm sàng về các bệnh tâm trí.. Ngày nay người ta thấy rằng: tâm bệnh h

Trang 2

TÂM BỆNH HỌC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON

TÂM BỆNH HỌC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON

Tác giả: NGUYỄN THỊ NHƯ MAI

LỜI NÓI ĐẦU

Tạo mọi điều kiện cho trẻ phát triển tốt là mối quan tâm hàng đầucủa người lớn Sự phát triển của trẻ bao gồm nhiều mặt, có thể quy vềhai mặt chính: phát triển về sinh lí và tâm lí Bản thân hai mặt này lại cóliên quan rất chặt chẽ với nhau và có quan hệ mật thiết với môi trườngsống của trẻ Trong quá trình phát triển, trẻ em có thể có những pháttriển không bình thường hoặc có rối loạn, nói cách khác là có bệnh, cả

về thực thể lẫn tâm lí Chăm sóc trẻ không thể chỉ về mặt thực thể màcòn cần phải chăm sóc cả về mặt tâm lí Phát hiện sớm những bệnh

Trang 3

Tuổi mầm non là giai đoạn phát triển đầu tiên và rất quan trọngcủa trẻ em Những bất thường, rối loạn về tâm lí có thể xuất hiện ngay

từ thời kì này Ở Việt Nam, thực tế chữa trị tâm bệnh lí cho trẻ tạiTrung tâm nghiên cứu tâm lí và tâm bệnh lí trẻ em Nguyễn Khắc Viện(Trung tâm N-T) cho thấy số trẻ từ 6 tuổi trở xuống được cha mẹ và giađình đưa đến khám chiếm phần nhiều Do những đặc trưng về pháttriển của lứa tuổi, những rối loạn tâm lí có thể được biểu hiện theocách riêng, làm người lớn dễ không nhận thấy Nhận biết để có thể canthiệp sớm những rối loạn tâm lí cho trẻ có thể giúp trẻ lấy lại sự pháttriển bình thường

Tâm bệnh là một lĩnh vực rất phức tạp, có nhiều nghiên cứu vàcũng có nhiều quan niệm khác nhau Cuốn sách này giới thiệu về tâmbệnh trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6 tuổi) cho sinh viên sư phạm,những nhà giáo dục tương lai Những nội dung được trình bày chủ yếunhằm mục đích giúp cho các giáo viên, các nhà giáo dục, các bậc cha

mẹ nhận biết những rối loạn phát triển tâm lí của trẻ để có thể pháthiện chúng và có những ứng xử thích hợp để phòng ngừa và chữa trị

Tác giả

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÂM BỆNH HỌC TRẺ EM Chương 2 CÁC RỐI LOẠN TÂM LÍ CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON Chương 3 PHÒNG NGỪA VÀ CHỮA TRỊ RỐI LOẠN TÂM LÍ CHO TRẺ EM

TUỔI MẦM NON TÀI LIỆU THAM KHẢO Phụ lục HỆ THỐNG CÁC CƠ SỞ CHỮA TRỊ RỐI LOẠN TÂM LÍ CHO TRẺ

EM Ở PHÁP

Created by AM Word2CHM

Trang 4

Chương 1.

KHÁI QUÁT VỀ TÂM BỆNH HỌC TRẺ EM

Created by AM Word2CHM

Trang 5

1 Khái niệm

về tâm bệnh học trẻ em

1.1 Tâm bệnh học tre em là gì?

Trước hết, cần hiểu thế nào là tâm bệnh học Thuật ngữ này xuấthiện lần đầu năm 1802 do bác sĩ người Đức J.C Reil đề cập, rồi ởPháp năm 1809 do A.A Royer - Colard và được sử dụng cho đến ngàynay

Có nhiều cách hiểu về vấn đề này Cuối thế kỉ XIX, Th Ribot thựchiện những nghiên cứu về tâm lí bệnh học dựa vào quan điểm: muốnhiểu được đời sống tâm lí bình thường phải nghiên cứu tâm lí bệnh Ví

dụ như chức năng bình thường của trí nhớ chỉ có thể được làm rõ khi

so sánh với chứng quên hoặc sự tăng trí nhớ Các học trò của ôngnhư P Janet, G Dumas rồi học trò của G Dumas như H Piéron, G.Poyer, D Lagache đã tiến hành những nghiên cứu cả về y khoa lẫntâm bệnh học Tư tưởng của trường phái này dựa nhiều vào mặt số

Trang 6

lượng và sự võ đoán về giới hạn giữa bình thường và bệnh lí của đờisống tâm lí Nó được thay thế bởi sự ra đời của Tâm bệnh học lâmsàng, với phạm vi rộng hơn nhiều, bao gồm tất cả những nghiên cứulâm sàng về các bệnh tâm trí Cũng có quan niệm cho rằng tâm bệnhhọc thuộc về y - sinh lí bệnh học (Cl Bernard) E Minkowski đưa ra hainghĩa khác nhau của thuật ngữ này: một mặt, nó là khoa học về bệnhcủa đời sống tâm lí, giống như quan niệm của Ribot; mặt khác, là tâm

lí học bệnh học, đặc trưng bởi cách tiếp cận tồn tại để tìm hiểu mặt bêntrong của kinh nghiệm tâm lí không bình thường của người bệnh tâmtrí Trong giáo trình Tâm bệnh học đại cương, G Deshaies, năm 1959,thể hiện cách hiểu khác, cho tâm bệnh học như là một lĩnh vực thuộctâm bệnh lí lâm sàng… Có thể thấy có nhiều quan điểm nữa tạo nênlịch sử của khoa học này Ngày nay người ta thấy rằng: tâm bệnh họckhông chỉ là khoa học về mặt lí thuyết nhận biết các vấn đề về mặt tâmbệnh lí mà nó là một nhánh của khoa học về con người, trong đó tổnghợp nhiều lĩnh vực khác nhau: sinh lí học thần kinh, hiện tượng học,tâm lí học, thuyết thực thể, thuyết cấu trúc…

Có thể quan niệm về tâm bệnh học như sau: Tâm bệnh học làkhoa học nghiên cứu các quá trình và các dạng thức tố chức dẫn đếnnhững rối loạn tâm lí của con người Những rối loạn, bất thường vềtâm lí được gọi là tâm bệnh Nghiên cứu những đau khổ về mặt tinhthần, tâm bệnh học có liên hệ chặt chẽ với tâm lí học và được phảnánh vào thực tế nghiên cứu, chữa trị chủ yếu thông qua phương pháptâm bệnh lí lâm sàng

Tâm bệnh học trẻ em là khoa học nghiên cứu các quá trình và cácdạng thức tổ chức dẫn đến những rối loạn tâm lí của trẻ em Cùngnghiên cứu về những rối loạn tâm lí, tuy nhiên, tâm bệnh học trẻ em cónhững đặc trưng riêng Ra đời muộn hơn nhiều so với tâm bệnh họcngười lớn, tâm bệnh học trẻ em được xuất phát từ nhiều nguồn khácnhau Có thể quy vào hai nguồn chính: giáo dục học trẻ em và tâmbệnh học người lớn Về phương diện giáo dục học, nỗ lực tìm cáchgiáo dục những đứa trẻ được cho là không thể giáo dục được đã thúcđẩy những nghiên cứu sâu hơn về các trẻ này, đưa đến những hiểubiết mới về sự phát triển không như bình thường trong đời sống tâm lícủa các em Về phương diện tâm bệnh, những nhà tâm bệnh học trẻ

em đầu tiên đã sử dụng những kiến thức và phương pháp của tâmbệnh học người lớn Như vậy, tâm bệnh học trẻ em được xây dựng từnhững kinh nghiệm thực tiễn chứ không phải chỉ là từ những kiến thức

Trang 7

Tâm bệnh học trẻ em phải sử dụng đến nhiều luận thuyết khácnhau Từ những năm 50 của thế kỉ XX người ta đã nhận thấy các lĩnhvực khoa học khác nhau được vận dụng vào tâm bệnh học trẻ em.Ngoài các khoa học truyền thống làm chỗ dựa như tâm lí học, phântâm học là lí thuyết về tri thức luận, tập tính học, lí thuyết hệ thống vàgiao lưu, tiếp đó là những kiến thức mới về dịch tễ học, giải phẫu thầnkinh, sinh lí học thần kinh Tất cả những kiến thức này được vận dụng

để hiểu bản chất, cơ chế của các rối loạn tâm lí ở trẻ và làm cơ sở choviệc chữa trị các rối loạn này

Trẻ em lứa tuổi mầm non, từ 0 đến 6 tuổi, là giai đoạn đầu tiêntrong quá trình phát triển của trẻ Những rối nhiễu, bất thường về tâm línếu có được thể hiện ngay từ thời kì này Tâm bệnh học trẻ em lứatuổi mầm non nghiên cứu, chẩn đoán và chữa trị các rối nhiễu tâm lícủa trẻ em tuổi mầm non

1.2 Đối tượng của tâm bệnh học trẻ em

Đối tượng của tâm bệnh học trẻ em, nói một cách chung nhất, lànhững rối loạn về tâm lí ở trẻ Nói cách khác là tâm bệnh học trẻ emnghiên cứu và chữa trị những trẻ em không bình thường Cụ thể hơn

là trẻ em không đủ khả năng hoặc có những rối loạn về tính cách vàhành vi, đôi khi bao gồm cả hai loại trên, do nguyên nhân di truyềnhoặc môi trường sống, gặp khó khăn lâu dài đối với những đòi hỏi phùhợp với lứa tuổi và môi trường của trẻ

Tâm bệnh trẻ em cần được nhìn nhận theo quan điểm phát triển.Trong suốt thời kì thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành, một yếu tố quantrọng để xác định trẻ có rối loạn hay không đó là rối loạn đó xảy ra ởthời điểm nào, xuất hiện thường xuyên hay không, kéo dài hay không.Yếu tố thời gian rất quan trọng đối với việc đánh giá tình trạng pháttriển của trẻ Cùng những biểu hiện nhưng nếu nó xảy ra ở thời điểmnày sẽ bị coi là mất cân bằng tâm lí, nếu xảy ra ở thời điểm khác thì lạikhông sao Rối loạn xuất hiện một vài lần trong tiến trình phát triển hayxuất hiện thường xuyên trong thời gian dài đều phải được nhà chuyênmôn quan tâm để có đánh giá chính xác Yếu tố phát triển cần phảiluôn được các nhà chuyên môn tính đến trong những chẩn đoán vàchữa trị tâm bệnh trẻ em

Những rối loạn tâm lí của trẻ em lứa tuổi mầm non, từ 0 đến 6tuổi, là đối tượng nghiên cứu của tâm bệnh học trẻ em lứa tuổi mầm

Trang 8

1.3 Nhiệm vụ của tâm bệnh học trẻ em

Nhận biết và làm rõ những rối loạn tâm lí xuất hiện, tồn tại, biếnđổi và có thể mất đi như thế nào trong quá trình phát triển của trẻ em,tìm hiểu nguyên nhân gây ra những rối loạn đó và chữa trị cho trẻ, giúpcác em phát triển bình thường trở lại là những nhiệm vụ cơ bản củatâm bệnh học trẻ em

Khi nghiên cứu, chẩn đoán và chữa trị tâm bệnh trẻ em cần phảibiết rằng: rối loạn tâm lí ở trẻ em và ở người lớn không giống nhau Vìvậy, không thể áp dụng cách hiểu và chữa trị tâm bệnh cho người lớnđối với trẻ Không nên có cách nhìn cứng nhắc, bất biến trước các rốiloạn tâm lí ở trẻ em Trong quá trình phát triển của trẻ, có rối loạn xuấthiện ở thời điểm này sẽ mất đi một cách tự nhiên hoặc nhờ chữa trị

Có thể có sự tiếp nối giữa trạng thái tâm lí bình thường và bệnh lí ởtrẻ

Biểu hiện rối loạn tâm lí ở trẻ em cũng khác với người lớn Nhữngbất thường về chức năng cơ thể, những hành vi chống đối… có thể lại

là biểu hiện của bất thường về tâm lí Sự biểu hiện các rối loạn cũngthay đổi theo tuổi, có liên quan tới đặc trưng phát triển theo giai đoạn

Nguyên nhân dẫn tới những rối loạn tâm lí của trẻ khá đa dạng,phức tạp Một điều kiện có tính bệnh lí xác định chưa chắc là nguyênnhân chính dẫn đến rối loạn Những nguyên nhân khác nhau có thểgây ra cùng một rối loạn và một nguyên nhân lại dẫn đến nhiều rối loạnkhác nhau Cũng có khi một rối loạn này kéo theo những rối loạn khác

Tất cả những điều này nói lên nhiệm vụ mà tâm bệnh học trẻ emphải giải quyết là rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhà chuyên môn phải

có hiểu biết đầy đủ có kinh nghiệm và rất thận trọng

Là một bộ phận của tâm bệnh học trẻ em, tâm bệnh học trẻ emlứa tuổi mầm non cũng có những nhiệm vụ chung của tâm bệnh họctrẻ em, áp dụng vào lứa tuổi mầm non Với đặc trưng là lứa tuổi có sựphát triển nhanh chóng về cả sinh lí lẫn tâm lí mà ít có thời kì nào sau

đó có được, khi giải quyết các vấn đề của tâm bệnh học trẻ em thời kìnày càng cần thiết phải quán triệt quan điểm phát triển

Trang 9

Created by AM Word2CHM

Trang 10

2 Lịch sử hình thành và phát triển tâm bệnh học trẻ em

2.1 Thời kì trước thế kỉ XX

Tâm bệnh học trẻ em có nguồn gốc từ tư tưởng của một số nhàthần học thế kỉ XIII, XIV Saint Thomas d’Aquin (1225 - 1274) và SaintAugustin (1354 - 1430) gắn khiếm khuyết trí tuệ với một nguyên nhân

tự nhiên Cũng vào thời kì này, tòa án tôn giáo ở châu Âu (thế kỉ XIII)cho rằng người điên và kẻ ngu đần là biểu tượng của tính ma mãnh,ngu ngốc của con người

Thế kỉ XV, XVI có sự đối nghịch về quan niệm giữa những ngườicho rằng tất cả những gì thuộc về con người, thể hiện ở con người đều

là do tự nhiên với quan niệm của những người có tư tưởng về người bị

ma ám Thời kì này căn nguyên của chứng ngu ngốc và điên loạn cònchưa được biết đến

Trang 11

Thế kỉ XVII, tư tưởng kết hợp giữa y khoa và giáo dục trong nhìnnhận về người có khiếm khuyết trí tuệ xuất hiện Felix Platter (Thụy Sĩ)năm 1665 là người đầu tiên đã chỉ ra nguyên nhân về di truyền củakhiếm khuyết trí tuệ sau khi nghiên cứu một nhóm trẻ chậm khôn vừa.

Từ đây có quan niệm rằng: khiếm khuyết nặng về trí tuệ không thểchữa trị được Tuy vậy có thể dùng những tác động chữa trị về giáodục đối với những khiếm khuyết nhẹ hơn

Năm 1672, Thomas Willis (Anh) đưa ra giải pháp chữa trị cho trẻchậm khôn bằng cách kết hợp tác động chữa trị của bác sĩ và của nhàgiáo dục nhằm cải thiện tình trạng trí tuệ của trẻ em

giáo dục được hình thành và phát triển

Từ tư tưởng của hai tác giả trên, trào lưu chữa trị kết hợp y tế -Thế kỉ XVIII là thời kì khởi đầu của khoa học về tâm bệnh lí trẻ

em Nghiên cứu về căn nguyên của khiếm khuyết trí tuệ đã cho ra đờicác thuật ngữ chậm khôn nặng (idiot) và chậm khôn vừa (imbécile)trong Bách khoa toàn thư của Diderot (1765) và các cách phân loạikhiếm khuyết trí tuệ do Cullen và Pinel đề xuất Đặc biệt, nghiên cứucủa J.M Itard (1775 - 1838) về Victor, một đứa trẻ hoang dã ở Aveyron(Pháp) là một sự kiện quan trọng mở đầu cho sự ra đời của khoa học

về tâm bệnh trẻ em Chăm chữa cho Victor hàng ngày trong 4 nămliền, tìm mọi cách để em giao tiếp trở lại nhưng không thể làm Victornói được, Itard đã dừng các chữa trị Bệnh của Victor sau đó còn nặnghơn Năm 1828 Itard lại tiếp tục chăm chữa cho một nhóm trẻ câm điếc

và mất hài hòa trong phát triển

Thế kỉ XIX, dưới ảnh hưởng của tư tưởng của các nhà triết học vàgiáo dục học thế kỉ trước như Locke (1632 – 1704) và Rousseau (1712

- 1778), ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra mạnh mẽ

ở phương Tây, của những tiến bộ về y học và việc bắt buộc trẻ emphải đi học, trẻ em và đời sống tâm lí của trẻ được quan tâm nhiềuhơn Những cơ sở chữa trị đầu tiên cho trẻ chậm khôn nặng xuất hiện

ở Pháp mặc dù vào những năm đầu thế kỉ còn chưa có một cơ sởchữa trị chuyên biệt nào cho trẻ Trước tiên phải nói đến những đónggóp của Jean - Pierre Falret (1794 - 1870) và Félix Voisin Falret từ

1821 đến 1840 chăm chữa cho trẻ chậm khôn nặng Sau 20 nămnghiên cứu ông đưa ra 2 loại nguyên nhân gây ra bệnh tâm trí: thứnhất, những nguyên nhân về cơ thể; thứ hai, những nguyên nhân vềtâm lí Ông cũng quan tâm đến tiền sử của trẻ và những tác động cóthể do hoàn cảnh sống gây ra F Voisin, dựa trên tư tưởng của Falret,

Trang 12

năm 1834 đã thành lập trường chăm chữa cho trẻ có bất thường vềtâm trí Những trẻ được nhận vào trường này là những trẻ chậm tiến

về trí tuệ bẩm sinh, trẻ phạm tội, trẻ có vấn đề về giáo dục và trẻ cócha mẹ loạn trí Voisin cũng cho rằng căn nguyên về tâm lí là nguyênnhân của nhiều chứng bệnh ở trẻ em Cùng thời gian này Ferrus đãthành lập một cơ sở chữa trị cho trẻ chậm khôn nặng ở Bicêtre (Pháp)

và xây dựng bệnh viện tâm thần Saint Anne Theo ông, chứng ngu đầnkhông ảnh hưởng tới tính người của người bệnh Ông nói đến việcđánh thức các cơ quan đang ngủ của cơ thể bằng chữa trị về tinh thần

và giáo dục

Căn nguyên của những rối loạn tâm lí ở trẻ em lúc này được cho

là do hai nguyên nhân: những hỏng hóc lớn của các cơ quan sinh líkéo theo những bất thường, bệnh tật của cơ thể và do điều kiện giáodục

Khoảng giữa thế kỉ XIX, một trào lưu mới trong lĩnh vực tâm bệnh

lí trẻ em hình thành Mở đầu cho trào lưu này là L Delasiauve và D.Bourneville Sau thời gian nghiên cứu và chữa trị cho trẻ chậm tiến vềtrí tuệ, nghiên cứu về chứng động kinh và chậm khôn nặng ở ngườilớn, từ 1854 Delasiauve công bố những nguyên tắc chỉ đạo trong giáodục người thiểu năng trí tuệ Quan tâm nhiều đến yếu tố không thể tácđộng được của người bệnh, ông mô tả các chứng chậm khôn mộtphần Ông phân thành hai loại bệnh chính: những tổn hại nặng của cơquan sinh lí do nguyên nhân cơ thể và những khiếm khuyết một phần

do nguyên nhân chưa xác định Bourneville năm 1875 trong một báocáo đã chỉ ra hiện trạng có quá ít những cơ sở chữa trị bệnh tâm lí chotrẻ em thời đó Ông thành lập những lớp học chuyên biệt còn gọi làtrường học - bệnh viện tâm trí Sử dụng những cách chữa trị về y -giáo dục học, ông đưa ra những bài tập giáo dục nhằm phát triểnnhững khả năng còn lại ở trẻ, ví dụ như những bài tập về biểu tượng,

vẽ, âm nhạc, trí nhớ, ý chí…

Éduard Seguin (1812 - 1880) là người có ảnh hưởng không nhỏđối với chữa trị cho trẻ em chậm khôn Mở một trường học dành chotrẻ chậm khôn từ năm 1839, dùng phương pháp giáo dục dựa vào cảmgiác và trí nhớ, trên cơ sở sáng kiến, hoạt động thể chất và quan hệvới người khác của trẻ, tác dụng của những cách chữa trị này là rõràng Năm 1859 ông sang Mỹ và từ ông nhiều cơ sở giáo dục và chữatrị dành cho trẻ em cũng như người bệnh tâm trí ở Mỹ được ra đời

Chuyên môn chữa trị cho trẻ chậm khôn, H.T Vallée (1816 - 1885)

Trang 13

Từ đây, một trung tâm nghiên cứu và chữa trị cho trẻ em không bìnhthường về tâm lí ra đời dưới tên gọi Trung tâm Vallée

Có thể nói rằng, thế kỉ XIX là thời kì phát triển của trào lưu nghiêncứu, chữa trị về y tế - giáo dục cho các bất thường về tâm lí ở trẻ em.Dưới ảnh hưởng của Bourneville, Seguin, Vallée và những tên tuổikhác, các nhà nghiên cứu và chữa trị quan tâm nhiều hơn đến nhữngđứa trẻ chịu đau khổ do các rối loạn tâm lí khác nhau Những tư tưởngnày được tiếp tục phát triển, mở rộng và đi sâu trong thế kỉ XX

Nghiên cứu về chậm phát triển trí tuệ, mất trí và loạn tâm trẻ em

- Mất trí sớm ở trẻ em

Trong các tài liệu về chữa trị tâm bệnh lí, Emil Kraepelin (1855 –1926), nhà tâm bệnh học người Đức, đã mô tả một loại bệnh được gọi

là mất trí sớm do nhận thấy những dấu hiệu của bệnh mất trí có từ rấtsớm Những biểu hiện lâm sàng của người bệnh không thống nhất,thậm chí trái ngược nhau, có biểu hiện tự tỏa, tiến triển lạ lùng dẫn tớitình trạng ngây độn và thiếu liên kết

S De Sanctis (1862-1935) cũng quan tâm tới những dạng thứccủa mất trí sớm và chỉ ra những đặc trưng của chứng bệnh này Đó là:

Trang 14

Năm 1913, Kraepelin nghiên cứu mối liên hệ giữa mất trí sớm vàchậm khôn trung bình Theo ông, chậm khôn trung bình là dấu hiệuthúc đẩy và là dấu hiệu rất sớm của bệnh mất trí Năm 1933, Targowla

đề cập đến lĩnh vực những chậm phát triển tinh thần tiến triển

- Tâm thần phân liệt

Những nghiên cứu về mất trí sớm cũng được Eugen Bleuler(Thụy Sĩ) thực hiện năm 1911 Theo ông, hơn cả một tan rã về nhâncách, mất trí là sự sụp đổ toàn bộ đời sống tâm trí và không thể phụchồi được Ông nói đến bệnh tâm thần phân liệt, bệnh mà triệu chứngphụ của nó là mất trí Từ ông, mất trí sớm và mất trí ở trẻ em đượcthay tên gọi là tâm thần phân liệt trẻ em

G Heuyer (1884 - 1977), một bác sĩ Pháp, quan tâm đến nguyênnhân của những loạn tâm trẻ em mà Kraepelin cho là căn nguyênthuộc về các cơ quan sinh học Ông đưa ra ý kiến về căn nguyên tâm lí

- tình cảm của sự phát triển bệnh lí ở trẻ em

M Klein (1882 – 1960), trong những bài viết đầu tiên của mình vềphân tích tâm lí, đưa ra cách hiểu theo tâm lí học phát triển về bệnhtâm trí, gắn bệnh tâm trí với các nguyên nhân tâm lí

H Ey (1900 - 1977), với cách tiếp cận tích hợp đã kết hợp haitrường phái chính đã có về nguyên nhân của bệnh tâm trí ở trẻ Ôngcho rằng bệnh tâm trí không chỉ có căn nguyên cơ thể hay căn nguyêntâm lí mà là do cả hai

- Tự kỉ ở trẻ em

Năm 1943, L Kanner đã làm rõ một chứng bệnh đặc biệt: tự kỉ trẻ

em, hay còn gọi là bệnh Kanner Ông phân biệt tự kỉ ở trẻ nhỏ với tâmthần phân liệt trẻ em Khác với tâm thần phân liệt ở trẻ em, tự kỉ khôngphải là quá trình thoái lui khỏi một kiểu quan hệ trước đó mà hơn thế là

sự cô đơn tự tỏa cực độ

Ở tự kỉ sớm của trẻ em, đứa trẻ làm ngơ, loại trừ và từ khước mọicái đến từ bên ngoài như người, tiếng động, đồ vật… Những đối tượngnày được trẻ coi như mối đe dọa

Những trẻ mắc bệnh tự kỉ cho cảm tưởng rằng trẻ không nhìnthấy, không nghe thấy gì ở xung quanh Trẻ thường không có ngônngữ và không bao giờ sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (con,cháu, em, tôi…)

Trang 15

Thuật ngữ tâm thần phân liệt ở trẻ em (schizophrénie infantile) thểhiện thái quá trạng thái tiêu cực của sự phân rã thế giới nội tâm ở trẻ

Nó được thay bằng loạn tâm (psychose), với nghĩa ít bi quan hơn Từđây, người ta sử dụng thuật ngữ loạn tâm trẻ em Các loại loạn tâm trẻ

em được đề cập đến cách đây không lâu, trong một bài viết củaDiatkine năm 1959 ở Từ điển bách khoa về giải phẫu y học Cũng cónhững tác giả khác nghiên cứu về loạn tâm trẻ em như Bettelheim,Lang, Misès…

Nghiên cứu về những rối loạn tâm lí khác nhẹ hơn

Đây là một cách nhìn nhận mới, một hướng nghiên cứu mới trongtâm bệnh học trẻ em Những nghiên cứu theo hướng này nhằm làm rõảnh hưởng của các rối loạn lành tính hơn, không làm ảnh hưởng nhiềuđến quá trình phát triển của trẻ Những trẻ có nguy cơ sẽ được pháthiện, tư vấn hướng dẫn, khuyên bảo và định hướng về mặt y tế giáodục

Cùng với những nghiên cứu, nhiều cơ sở nội trú, ngoại trú được

mở cho trẻ có tính tình đặc biệt Những trung tâm y - tâm lí - giáo dục(CMPP) ra đời

Năm 1948, ở Pháp, việc đào tạo các nhà tâm bệnh trẻ em đượcbắt đầu Heuyer là giáo sư đầu tiên giảng dạy về tâm thần kinh trẻ em

Có thể thấy, nếu như ở đầu thế kỉ XX chưa có nhiều những côngtrình nghiên cứu, chữa trị rối loạn tâm lí trẻ em và xu hướng áp dụngvào trẻ những kết quả nghiên cứu ở người lớn còn khá phổ biến thìcàng về sau sự khác biệt giữa rối loạn tâm lí ở trẻ em và ở người lớncàng được nhận rõ Nhận biết được những đặc trưng trong tâm bệnhtrẻ em, các nhà chuyên môn tìm cách chữa trị hiệu quả nhất đối vớicác rối loạn của trẻ

Ngày nay, rối loạn tâm lí ở trẻ em ngày càng được quan tâm nhiềuhơn Các công trình nghiên cứu và ứng dụng về tâm bệnh lí trẻ em rấtphong phú, có ở nhiều quốc gia trên thế giới Các nghiên cứu hiện nayhướng vào một số chứng bệnh tâm lí đặc trưng và ngày càng xuất hiệnnhiều ở trẻ em như bệnh tự kỉ Một số rối loạn tâm lí mới cũng đượcphát hiện, bổ sung như bệnh ranh giới… Càng ngày người ta càngnhận ra rằng rối loạn tâm lí trẻ em không chỉ ảnh hưởng lớn tới cuộcsống của trẻ, của gia đình mà còn ảnh hưởng đến xã hội Nghiên cứu

và chữa trị tâm bệnh trẻ em giúp cho trẻ lấy lại được sự phát triển bình

Trang 16

Như vậy, trải qua một thời gian dài, lịch sử tâm bệnh học trẻ emtrên thế giới đã ghi dấu nhiều tư tưởng, nhiều công trình nghiên cứuvới tên tuổi các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Sự pháttriển của khoa học về tâm bệnh trẻ em mang lại lợi ích to lớn cho sựphát triển bình thường của trẻ, giúp các em có cơ hội trở thành nhữngngười có ích cho xã hội

Ở Việt Nam, những nghiên cứu và chữa trị bệnh tâm lí cho trẻ emđược phát triển cùng với sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lítrẻ em N-T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sáng lập năm 1989, xuất phát

từ thực tế những năm 1980 có một số trẻ em và vị thành niên bị rốiloạn tâm trí, khó khăn trong giao tiếp ứng xử và trong học tập Từ khithành lập đến nay, Trung tâm N-T đã tiến hành nhiều nghiên cứuhướng đến nhận dạng, phân loại, chẩn đoán, phát hiện sớm và chămchữa các rối nhiễu tâm lí ở trẻ Nhiều trẻ em và vị thành niên đã đượcchăm chữa tại các cơ sở thực hành của N-T Năm 1997 Nguyễn KhắcViện công bố lần đầu tiên cuốn sách Tâm lí lâm sàng trẻ em Việt Nam(Nxb Y học), đúc kết những kết quả nghiên cứu và ứng dụng trongnhiều năm cách trị liệu rối loạn tâm lí cho trẻ em Việt Nam

Ngoài ra tại một số bệnh viện Nhi cũng có các khoa Tâm bệnh đểchẩn đoán và chữa trị rối nhiễu tâm lí cho trẻ em Điển hình là Bệnhviện Nhi Trung ương Hà Nội, Bệnh viện Nhi đồng, Thành phố Hồ ChíMinh Cùng với việc chẩn đoán và chữa trị, các chuyên gia về tâmbệnh trẻ em tại đây còn tiến hành các nghiên cứu và ứng dụng vàoquá trình chăm chữa cho trẻ

Created by AM Word2CHM

Trang 17

3 Thế nào là trẻ bình

thường và bệnh lí?

- Sự phát triển trung bình

Giá trị trung bình của trình độ phát triển của trẻ ở một độ tuổi nhấtđịnh, còn gọi là sự phát triển trung bình Giá trị trung bình này đượcxác định theo một nhóm mẫu và sẽ thay đổi theo đặc trưng của nhữngđứa trẻ được lựa chọn trong mẫu Vì vậy, xác định sự phát triển trungbình phải tính đến những khác biệt về xã hội của nhóm được chọn làmmẫu Nếu không làm được như vậy thì sẽ không chính xác, có khác

Trang 18

là có tính đến yếu tố khác biệt này, khái niệm sự phát triển trung bình

là một cách tiếp cận có ích để đánh giá một bệnh Để có thể xác địnhđược giá trị trung bình của trình độ phát triển, nói cách khác là xác địnhđược chuẩn đánh giá trẻ bình thường hay bệnh lí theo tiêu chí này,phải dựa vào những phương pháp đo lường của tâm lí học về các mặt

số lượng, thống kê hoặc chất lượng của sự phát triển các chức năngtâm lí Do đặc trưng của hoạt động tâm lí, những đo lường này nhìnchung đều có tính phóng chiếu

Trước những trẻ chậm phát triển hơn so với những trẻ có mức độphát triển trung bình, vấn đề quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất đó

là đánh giá tiềm năng phát triển của trẻ Trẻ có chậm thực hay không?

Nó có thể đạt được những trình độ phát triển tâm lí mà những bạncùng tuổi với nó đạt được hay không, dù là phải mất nhiều thời gianhơn Hay là nó sẽ trở thành một người lớn vô dụng, ít thích ứng hơn sovới những người khác Những câu hỏi này luôn được đặt ra để có cáinhìn thận trọng đối với những đứa trẻ đưa coi là trẻ chậm phát triển

- Sự thích ứng

Khả năng thích ứng là một tiêu chuẩn về bình thường hay đượcdùng Thích ứng là khả năng phản ứng để lấy lại sự cân bằng đã mất.Cùng với sự phát mến, trẻ luôn phải thích ứng với những điều kiệnsống mới Bằng tính năng động của hoạt động tâm lí, đứa trẻ bìnhthường phải tự tìm lại được sự cân bằng của đời sống tinh thần chomình

Với trẻ em, phải đánh giá khả năng thích ứng của chúng trong mốiliên quan với độ tuổi, với môi trường sống và kinh nghiệm của trẻ Khảnăng mà trẻ thể hiện khi đối mặt với những yếu tố mới của đời sốngnhư vắng cha mẹ, có thêm em bé, đi nhà trẻ hoặc mẫu giáo… là yếu tốđánh giá quan trọng về mặt lâm sàng

- Trạng thái chủ quan

Mặt chủ quan là mặt chủ yếu của sức khỏe tâm thần trẻ em Khảnăng trẻ cảm nhận niềm vui, sự thoải mái, tò mò… trong cuộc sống lànhững thứ được nhận biết không trực tiếp nhưng lại giúp hiểu rõ về sựphát triển tâm lí của trẻ Một đứa trẻ háu động, lo hãi, trầm cảm, hoangtưởng… không thể là một đứa trẻ bình thường

Từ những tiêu chí trên, có thể nói rằng trẻ có tâm lí bệnh lí lànhững trẻ không đạt được trình độ phát triển trung bình, khả năng

Trang 19

Trong tâm bệnh học trẻ em, để xác định tình trạng của trẻ nhấtthiết cần đánh giá về mặt lâm sàng Để đánh giá, phải xác định mức độphát triển, nghiên cứu những hoàn cảnh riêng, những tiềm năng thíchứng, những đánh giá chủ quan của đứa trẻ về cuộc sống, tính chất tácđộng của môi trường chung quanh Tất cả những yếu tố: di truyền,sinh học, môi trường, các quan hệ, gia đình, xã hội, tâm lí… tác độngqua lại một cách phức tạp và có ý nghĩa khác nhau đối với sự pháttriển bình thường hay bệnh lí của trẻ Việc lựa chọn các công cụnghiên cứu phù hợp đối với các kiểu rối loạn là rất quan trọng vàkhông thể không dùng những công cụ đo lường và phóng chiếu củatâm lí học Đánh giá về những vấn đề này đòi hỏi hết sức thận trọng vàchuẩn mực Mọi đánh giá đều phải tính đến yếu tố phát triển về mặtthời gian

Created by AM Word2CHM

Trang 20

4 Phân loại bệnh trong tâm bệnh học trẻ em

Quan điểm về tiếp cận nhiều mặt được sử dụng trong phân loạitâm bệnh trẻ em Cần sử dụng cách tiếp cận này do tính phức tạp củanhững yếu tố chi phối sự phát triển tâm lí không bình thường của trẻ

Có thể kể đến các mặt: tiềm năng nhận thức, bệnh thực thể, các sựkiện của đời sống, các yếu tố tâm lí xã hội, hoạt động… Tùy theo cácnghiên cứu khác nhau, mặt này hoặc mặt kia sẽ được cụ thể hóa vàphân tích chính xác Tiếp cận nhiều mặt có lợi ở chỗ nó giúp tìm hiểutrẻ dưới nhiều góc độ, tính đến sự khác biệt của trẻ và những tiềmnăng phát triển của các em

Có những cách phân loại chính sau đây theo quan điểm tiếp cậnnhiều mặt:

- Phân loại quốc tế, CIM-10 (Classification lnternationale desMaladies, 10ème révision) (tiếng Anh là ICD-10) Đây là cách phân loại

Trang 21

của Tổ chức thế giới về sức khỏe (OMS) Cách phân loại này gồm bamặt: chẩn đoán về tâm bệnh, chẩn đoán về cơ thể và các vấn đề vềtâm lí xã hội Trong ba mặt này thì mặt tâm lí xã hội là chi tiết nhất.

- Phân loại theo Giáo trình chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâmtrí, DSM-IV của Mỹ (Manuel Dianostique et Statistique des troublesmentaux de 1Association Améncaine de Psychiatrie) Cách phân loạinày được sử dụng nhiều nhất, phân loại theo năm trục: lâm sàng, nhâncách, chẩn đoán về cơ thể, tâm lí xã hội và hoạt động hiện tại

- Phân loại những rối loạn tâm trí ở trẻ em và thiếu niên ở Pháp,CFTMEA (Classification Franaise des Troubles Mentaux de 1Enfant et

de 1Adolescent) Cách phân loại này được nhiều nhà lâm sàng ở Pháp

sử dụng Hơn cả một chẩn đoán chuyên ngành, cách phân loại nàycòn dựa vào kinh nghiệm và phán đoán của nhà lâm sàng Nó được tổchức theo hai trục: lâm sàng và các yếu tố kết hợp, giúp hiểu được cảnhững yếu tố thực thể lẫn những điều kiện về mặt môi trường

- Phân loại theo chẩn đoán tâm thần động học (PDM,psychodynamic diagnostic manual) là một cách phân loại mới ở Mỹ.Cách phân loại này dựa trên ba trục: trắc đồ chức năng tâm trí, mô tảkhả năng điều hòa, học tập, thiết lập quan hệ, kiểu tự vệ của trẻ…; trắc

đồ nhân cách, phân biệt những kiểu mới xuất hiện và mức độ nghiêmtrọng có thể có; cuối cùng là kinh nghiệm chủ quan của trẻ Theo cáchphân loại này, các loại bệnh tâm trí ở trẻ rất phong phú

Với mỗi cách phân loại lại có các loại bệnh khác nhau Ví dụ, theocách phân loại CFTMEA, với trục lâm sàng, có các loại bệnh chínhsau:

Trang 22

11 Những biến đổi của tình trạng bình thường

Theo các nghiên cứu quốc tế, tỉ lệ mắc các rối loạn tâm bệnhchính ở trẻ em, phân bố theo giới tính và tuổi trung bình bắt đầu bịbệnh được biểu thị ở bảng sau:

Tỉ lệ mắc bệnh, phân bổ theo giới tính và độ tuổi trung bình mắccác rối nhiễu tâm bệnh ở trẻ em và thiếu niên theo CIM-10

Loại rối loạn Tỉ lệ

mắc

Tỉ lệ nam/nữ

Tuổi TB mắc phải

Trang 24

Rối nhiễu ám ảnh cưỡng bức 0,5% 2/1

Trang 26

Lo âu chia li 3% 1/1

Trang 28

Tự sát 0,5/10.000/năm 1/2

Trang 30

Trầm cảm 2 - 5% 1/2

Trang 32

- Nhóm 2: Rối nhiễu tâm thể (rối nhiễu giấc ngủ, rối nhiễu bài tiết,rối nhiễu tiêu hóa, tic, những biểu hiện tự hủy hoại bản thân…)

- Nhóm 3: Rối nhiễu nhân cách (một số nét tự kỉ, tự kỉ…)

- Nhóm 4: Rối nhiễu ngôn ngũ (nói ngọng, nói lắp, chậm nói, nóingược…)

- Nhóm 5: Rối nhiễu vận động (chậm đi, vận động khó khăn, vậnđộng vụng về…)

Trong giáo trình này, phân loại các rối loạn tâm lí chủ yếu dựatheo cách phân loại của Pháp có tham khảo cách phân loại theo DSM-

IV Các rối loạn tâm lí của trẻ em được trình bày thành hai phần chính:rối loạn triệu chứng và chức năng và các hội chứng

Created by AM Word2CHM

Trang 33

5 Những lí thuyết cơ bản của tâm bệnh học trẻ em

5.1 Sinh lí học thần kinh

Từ lâu, các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của hoạt độngcủa não và hệ thống thần kinh đối với đời sống tâm lí con người Ảnhhưởng của hoạt động thần kinh đến tâm lí người rất lớn, rất phức tạp.Cấu tạo, chức năng của nơ-ron, vai trò của các chất dẫn truyền thầnkinh như noradrénaline, dopamine, sérotonine và acétylcholine đối vớitính chất của các quá trình và chức năng tâm lí đã được nghiên cứu vàphần nào làm rõ Ở đây đề cập đến vấn đề thành thục về sinh lí thầnkinh và định khu chức năng não

- Sự thành thục về sinh lí thần kinh

Những ngày đầu tiên sau khi chào đời, cấu trúc và chức năng củanão bộ của trẻ phát triển nhanh chóng Sự thành thục về mặt thần kinh

Trang 34

gắn với sự thành thục dần dần của hành vi, nhưng đây là một quá trìnhrất phức tạp chứ không phải là sự đi kèm đơn giản Nghiên cứu sựphát triển của các chức năng và các ứng xử người cần phải xem xét:cái tồn tại trong một thời gian và sẽ thay đổi theo thời gian; cái tồn tạirồi mất đi, rồi lại xuất hiện, rồi lại mất đi một cách tuần tự; cái tiến triển

về mặt chức năng dần dần cho đến khi có được một số hình thức xácđịnh, từ đó mà quá trình được biến đổi

Trong quá trình thành thục, cần phân biệt mặt giải phẫu sinh líthần kinh, mặt chức năng và mặt hoạt động Giải phẫu học là hình tháihọc thuần túy, chức năng là hệ thống có tính tiềm năng và hoạt động là

sự hoạt động của hệ thống này Ba mặt này tạo ra những mức độ tổchức khác nhau, duy trì những quan hệ khác nhau đối với những yếu

tố bẩm sinh và với môi trường Về mặt giải phẫu, sự thành thục có quyluật của nó, là điều kiện cần thiết đối với sự phát triển nhưng không đủ

để giải thích hành vi và sự phát triển của hành vi trong suốt thời kì pháttriển của trẻ em Thêm vào đó, tình trạng chưa thành thục không thểhiểu một cách đơn giản là sự thiếu hụt, sự giảm bớt so với thành thục.Những nghiên cứu mới nhất chỉ ra rằng: chưa thành thục không phảichỉ là thiếu hụt, nó có những quy luật riêng về hoạt động phải đượcxem xét theo quan điểm phát triển về mặt thời gian J Scherrer phânbiệt bốn mặt tạo nên đặc trưng của sự chưa thành thục về chức năngcủa một hệ thống thần kinh:

- Yếu về số lượng của những nơ-ron hoạt động và có thể hoạtđộng, số lượng này bao giờ cũng ít hơn ở người lớn

- Chậm dẫn dắt các tín hiệu

- Chậm lưu thông những xung động thần kinh, có quan hệ với khókhăn trong chuyển giao xi-nap

- Nhạy cảm đặc biệt của nơ-ron với môi trường ở một số thời kìphát triển

Sự chưa thành thục về sinh lí thần kinh còn có thể ảnh hưởng đếntính ổn định có chọn lọc của xi-nap Lí thuyết SSS của J.P Changeux

và A Danchin cho rằng chỉ có những xi-nap hoạt động nhất, bị kíchthích nhất, tồn tại thường xuyên nhất mới có tính ổn định Những cáikhác sẽ bị thoái hóa đi Thiếu kích thích thích đáng, hệ thống xi-nap,chưa thành thục khi mới sinh, bình thường sẽ chuyển sang giai đoạnnhạy cảm tốt hơn sau đó, sẽ không được như thế nữa

Điểm chính để đánh giá hành động thành thục là đánh giá tác

Trang 35

thần kinh tương ứng Nếu như cấu trúc về giải phẫu phụ thuộc phầnlớn vào cái bẩm sinh thì hành vi lại phụ thuộc vào môi trường ở đó đứatrẻ lớn lên Những hành vi bẩm sinh có thể được thay thế dưới tácđộng của môi trường sống Như vậy, khi xem xét hành vi của trẻ khôngthể phân chia một cách đơn giản cái vốn có, bẩm sinh chi phối và cáichịu ảnh hưởng của tác động môi trường Sự tác động qua lại giữagen và môi trường là không thể phủ nhận.

động qua lại giữa hành động, chức năng của nó và cấu trúc giải phẫu Định khu chức năng não

Xác định cơ sở sinh lí thần kinh của hành vi con người là rất khó

do sự phát triển của hệ thống thần kinh trung ương và của rất nhiều hệthống tác động qua lại ảnh hưởng đến hành vi Sau những kết quảnghiên cứu bằng mắt thường chỉ ra mối liên hệ giữa những tổn thươngnão với những rối loạn hành vi, ví dụ rối loạn mất ngôn ngữ ở ngườimắc bệnh ở bán cầu não trái Ngày nay việc sử dụng kĩ thuật hình ảnh(scanner, cộng hưởng từ - MRI) giúp cho việc nghiên cứu chức năngcủa những trung khu não ngày càng tinh vi hơn Những lí thuyết về cấutrúc hệ thống chức năng như hệ lim-bic đối với chức năng cảm xúcđược xác định Ngoài ra, hệ thống những cấu trúc trung tâm như đồinão, vùng dưới đồi, thùy hải mã, phức hợp hạnh nhân và vùng đáythùy trán… rồi những đường dẫn đến và đi ra như đường đến của cảmgiác từ thân não, đường đến từ vùng tân não, đường đi xuống trungtâm não trước… với những chức năng của nó đều can thiệp vào tínhchất của hành vi, ứng xử của con người

Nhịp điệu vận động (thùy phải)

Thùy thái

dương

Nghe, nhớ, xúc cảmThông hiểu ngôn ngữ (thùy trái)

Trang 36

Thùy đỉnh

Nhạy cảm về xúc giác

Chức năng tri giác thị giác về không gian (thùy phải)Đọc (thùy trái), tính toán (thùy trái)

5.2 Vai trò của yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền không thể không tính đến khi tìm hiểu cơ sở sinh

lí của những rối loạn tâm lí Từ khi phát hiện ra ADN, yếu tố di truyềnđược coi trọng Trong tâm bệnh, khi phát hiện ra những yếu tố thuộc

về di truyền, người ta hay cho nó là nguyên nhân trực tiếp của cácchứng bệnh tâm lí Tuy vậy, không thể nhìn nhận tác động của yếu tố

di truyền một cách đơn giản Cần phân biệt hai vấn đề: một là kiểugen, hai là kiểu hiện tượng mà kiểu gen thể hiện Hai mặt này thườngkhông trùng khớp mặc dù có liên quan với nhau Nhìn chung tất cảnhững biến đổi về gen về mặt bản chất là rất gần với những biến đổigây bệnh, tức là nó sẽ dẫn đến một rối loạn ở người mang gen đó.Biểu hiện của gen rất đa dạng, gen có thể có những thay đổi về trật tự

Trang 37

hoặc về chức năng nhưng không mang đến những bất thường Nói vềảnh hưởng của gen đến những bệnh tâm trí, có thể đề cập đến cácloại yếu tố sau đây:

- Thứ nhất, những yếu tố liên quan trực tiếp Ví dụ một số nguyênnhân gây tự kỉ hoặc chậm khôn trong tâm bệnh

- Thứ hai, yếu tố về kiểu nội tiết Dữ kiện di truyền đưa đến sựbiến đổi trung gian được gọi là kiểu nội tiết, có liên quan đến bệnh

- Thứ ba, khả năng tác động qua lại giữa gen và môi trường.Những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra tácđộng qua lại giữa gen và môi trường trong lĩnh vực sức khỏe tâm thầnnhư trong bệnh trầm cảm, tâm thần phân liệt cũng như những rối loạnkhác có nguồn gốc từ bên ngoài

- Thứ tư, ít trực tiếp hơn, đó là sự điều chỉnh về mặt di truyền Ví

dụ như những tác động độc hại kéo dài của môi trường có thể làm thayđổi yếu tố di truyền, thay đổi kiểu hình bệnh Sự can thiệp của yếu tốstress và hệ thống điều tiết sinh học, nhất là trục dưới đồi - tuyến yên

va vỏ não - tuyến thượng thận, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tâm thầnnói chung Nhiều bệnh có nguyên nhân kết hợp với stress Nhữngstress sớm, kép dài, kết hợp với chăm sóc kém của người mẹ có thểtác động xấu đến sự phát triển của trẻ em thông qua trục dưới đồi -tuyến yên, thông qua sự biến đổi về di truyền và có thể được truyền từthế hệ này qua thế hệ khác một cách độc lập với yếu tố di truyền vốn

có Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: những kinh nghiệm có ở giai đoạnđầu tiên của cuộc đời đứa trẻ có tác động lâu dài đến hành vi và đến

hệ thống sinh học, nhất là sự chia rẽ giữa bé và mẹ hoặc chất lượngtồi của sự chăm sóc của mẹ Những kinh nghiệm này có thể ảnhhưởng đến sự hình thành trong tương lai những nét hành vi khôngtheo cơ chế chuyển giao di truyền Ngay khi đứa trẻ còn trong lòng mẹ,yếu tố môi trường tâm lí cùng với yếu tố di truyền cùng có ảnh hưởngtới sự phát triển của nó

Như vậy, xem xét vai trò của yếu tố di truyền trong sự hình thànhnhững rối loạn tâm lí ở trẻ phải tính đến sự tác động qua lại giữa cáithuộc vế di truyền và tính chất tác động của môi trường

5.3 Những lí thuyết tâm tí học

* Thuyết hành vi và hành vi mới

Quan điểm của J.B Watson, nhà tâm lí học Mỹ (1913), cho hành

Trang 38

vi là kết quả của việc học được điều kiện hóa Toàn bộ hành vi theoông diễn ra với một loạt những phản xạ có điều kiện không có tác độngtương hỗ giữa chủ thể và môi trường.

B.F Skinner ngay từ năm 1937 không đồng ý với sơ đồ phản xạquá đơn giản của Watson, đã đưa vào yếu tố điều kiện hóa có hiệu lực(conditionnement opérant), một chương trình hành vi được tổ chứcdần dần từ những hành động thử và sai để đạt mục đích, từ đó làmthay đổi bản chất của môi trường Theo Skinner, toàn bộ ứng xử củacon người và việc học của trẻ em có thể hiểu theo phạm trù điều kiệnhóa có hiệu lực

Theo lí thuyết hành vi và hành vi mới, đối với sơ đồ S R thì nhâncách chỉ là sự tập hợp điều kiện hóa ngày càng phức hợp Lí thuyếtnày ít quan tâm đến sự phát triển tâm lí, không có giai đoạn phát triểnnào ở trẻ em được mô tả

Tuy có những mặt hạn chế, ứng dụng về lâm sàng của lí thuyếtnày ngày nay được nhiều người quan tâm

* Tâm lí học hoạt động

Những tác phẩm của L.X: Vưgôtxki, A.N Lêônchiev, P.K Anôkhin,A.B Zapôrôzet là tư tưởng cơ bản của lí thuyết hình thành và pháttriển tâm lí thông qua hoạt động Vưgotxki và cộng sự đã nghiên cứu

cơ chế nhập tâm, vai trò của mối quan hệ trẻ em - người lớn - đồ vật

và tầm quan trọng của sự xã hội hóa các cử chỉ, vận động của trẻ Sựphát triển tâm lí có liên quan mật thiết trước hết với quan hệ giữa các

cá nhân, cùng với hoạt động của trẻ quá trình nội tâm hóa được thựchiện tạo ra sự phát triển A.N Leônchiev nghiên cứu những yếu tố dẫnđến sự nội tâm hóa, với sự biểu tượng hóa dần dần những hành vi vậnđộng

* Tập tính học

Tiếp theo công trình của E Harlow, J Bowlby cho rằng sự gắn bócủa trẻ nhỏ với mẹ là kết quả hoạt động của một số hệ thống ứng xửđặc trưng cho loài Hệ thống này được tổ chức chung quanh mẹ.Bowlby miêu tả năm hệ thống hành vi: bú mút-bám níu-theo- khóc-cười, đây là 5 môđun ứng xử quy định hành vi gắn bó Trong lĩnh vựctâm bệnh, Bowlby đã miêu tả những phản ứng của trẻ nhỏ khi phải xa

mẹ Sự chia cách với mẹ làm trẻ nhỏ từ 13 đến 32 tháng xuất hiện mộtloạt các trạng thái kế tiếp nhau: Phản kháng - Thất vọng - Dửng dưng.Theo ông, những phản ứng của trẻ do bị tách khỏi mẹ nêu trên là cơ

Trang 39

Những nghiên cứu tập tính học mới đây tập trung vào những tácđộng qua lại giữa mẹ và bé và giữa các bé với nhau ở nhà trẻ hoặctrường mẫu giáo Chú ý đến những ứng xử tiền ngôn ngữ của trẻ, cácnghiên cứu muốn giải mã ý nghĩa của giao tiếp tiền ngôn ngữ, làm rõcác yếu tố có ý nghĩa trong ứng xử và mối quan hệ của nó với môitrường Các nhà tập tính học chỉ nghiên cứu những hành vi quan sátđược còn mặt bên trong không được nghiên cứu sâu

* Lí thuyết về phát triển trí tuệ của J Piaget.

Theo Piaget, trí tuệ của con người đặc trưng bởi sự thích ứng, vớimột loạt các thích ứng liên tiếp cho phép đạt tới trạng thái cân bằngnhững điều chỉnh giữa chủ thể và môi trường Để đạt tới trạng thái cânbằng, ngoài sự thành thục về thần kinh là hai loại tác động: một là vaitrò của luyện tập và những kinh nghiệm thu được trong quá trình hànhđộng tác động tới đối tượng, hai là những tác động tương hỗ vàchuyển giao về xã hội

Hai khái niệm cho phép hiểu quá trình thích ứng và cân bằng là:đồng hóa và điều ứng Đồng hóa đặc trưng bởi sự sáp nhập nhữngyếu tố của môi trường vào cấu trúc của cá nhân Điều ứng đặc trưngbởi những biến đổi của cấu trúc của cá nhân theo những biến đổi củamôi trường Thích ứng là sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng Sựthích ứng về nhận thức là hình thức cân bằng cấp cao Nó chỉ hoànchỉnh khi đạt tới hệ thống bền vững Piaget phân định thời kì phát triểntrí tuệ dựa vào tính chất của hệ thống này

Ông chia quá trình phát triển trí tuệ ở trẻ em thành bốn giai đoạnlớn:

- Giai đoạn trí tuệ cảm giác-vận động (O - 2 tuổi): hoạt động củanhững sơ cấu hành động vận động cho phép đồng hóa dần dần nhữngđối tượng mới với những cái đã có nhờ điều ứng, đưa đến sự xuấthiện những sơ cấu mới

- Giai đoạn tiền thao tác (2 - 6 tuổi): Mỗi đối tượng tương ứng vớimột hình ảnh tinh thần giúp gợi lên đối tượng khi chúng không ở trướcmặt, dẫn tới sự phát triển chức năng biểu tượng, tượng trưng Ngônngữ đi kèm với trò chơi và được nội tâm hóa dần dần Tư duy chưachuyển hoán, dựa trên trực giác trực tiếp

- Giai đoạn thao tác cụ thể (7 - 11, 12 tuổi): Tư duy của trẻ không

Trang 40

bị giới hạn bởi cái tri giác trực tiếp Có thể phối hợp nhiều kinh nghiệmhình ảnh và từ đó rút ra những kết quả Tuy vậy, thao tác tư duy vẫncần có chỗ dựa cụ thể, trẻ chưa thể suy luận chỉ từ những thông tinthuần túy bằng lời Trẻ có thể hiểu được khái niệm chuyển hoán, biếtphân loại, phân nhóm… Về mặt xã hội, trẻ có ý thức về tư duy của nó

và của người khác Chấp nhận những quan điểm và tình cảm củangười khác, biết hợp tác thực sự

- sự trao đổi tiền ngôn ngữ giữa trẻ và những người chung quanh thực

sự được quan tâm và công nhận

Wallon nêu ra một loạt các giai đoạn phát triển ở trẻ em:

- Giai đoạn xung động thuần túy: Đặc trưng cho trẻ sơ sinh Sự trảlời bằng vận động với nhiều loại kích thích khác nhau mang tính phảnxạ

- Giai đoạn xúc cảm: Khoảng tháng thứ 6, được xác định bởinhững dấu hiệu phản ứng về thế giới con người Bé không chỉ có nhucầu về sinh lí mà còn có nhu cầu xúc cảm - tình cảm: cần được vuốt

ve, đu đưa, ôm ấp, cười… Từ giai đoạn này trẻ có phản ứng với hìnhảnh thấy trong gương

- Giai đoạn cảm giác - vận động: Cuối năm thứ nhất, đầu năm thứhai Sự nhận biết các đối tượng chủ yếu dựa vào hành động vận động.Hoạt động cảm giác - vận động phát triển theo hướng tạo ra hành vi đểphát hiện cái mới, những kinh nghiệm mới Đi và nói là hai hoạt độngcảm giác-vận động chính

- Giai đoạn phóng chiếu: Khoảng 2 tuổi Chính hoạt động vậnđộng kích thích hoạt động tâm trí (ý thức): trẻ nhận biết đối tượng bởi

Ngày đăng: 25/08/2017, 04:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w