Biết các dấu hiệu rối loạn nhân cách và quy luật của sự phát triển lý của trẻ từ 6 đến 11 tuổi giúp các gia đình và các nhà giáo dục có phương pháp giáo dục hiệu quả cho từng lứa tuổi nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI NV VÀ QHCC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC MÔN TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ VÀ CHỨNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM CỦA TRẺ NHI ĐỒNG TỪ 6 - 11 TUỔI
GVHD: TS Đinh Thị Chiến
Lớp: 21TXTL01
Thực hiện:
1 NGUYỄN THỊ HOA MSSV: 2110260020
2 VŨ THỊ KIM NGÂN MSSV: 2110260003
3 TRẦN NGỌC TRUNG MSSV:
TP HCM, 1/3/2022
Trang 2MỤC LỤC
TP HCM, 1/3/2022 1
1 MỞ ĐẦU 3
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
1.3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4
1.5 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 4
1.7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
2.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
2.3 TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ NHI ĐỒNG 8
2.4 CHỨNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở TRẺ EM 12
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
3.1 KẾT LUẬN 16
3.2 KIẾN NGHỊ 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội, khoa học, kỹ thuật ngày càng phát triển, cuộc sống bận rộn quá nhiều thứ cuốn chúng ta xoay quanh nó Con trẻ được trang bị nhiều thứ như tivi, máy vi tính, máy tính bảng để giải trí… chúng ta rất dễ dàng nhận thấy các thành viên trong gia đình ngày càng xa nhau hơn, khó nói chuyện hơn, khó trao đổi hơn
Để giảm thiểu tối đa những cái khiến cho cuộc sống của chúng ta đỡ mệt mỏi hơn, chúng tôi nghiên cứu và tóm tắt dễ đọc đễ hiểu giúp cha mẹ người nuôi dưỡng, nguời làm nghề giáo nhận biết cam thiệp sớm vào đời sống tâm sinh lý phát triển chưa ổn định của trẻ, giúp con phát triển bình thường và nhận định đúng nhất về cuộc sống
Kiến thức về sự phát triển tâm lý của con người rất cần thiết trong các lĩnh vực giáo dục, trợ giúp tâm lý, phát triển con người và hành vi Giúp chúng ta hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn bản chất chung của nhận thức con người
Biết các dấu hiệu rối loạn nhân cách và quy luật của sự phát triển lý của trẻ
từ 6 đến 11 tuổi giúp các gia đình và các nhà giáo dục có phương pháp giáo dục hiệu quả cho từng lứa tuổi nhất định, hơn nữa cho từng trẻ trên cơ sở vận dụng những hiểu biết này vào việc theo dõi giáo dục các em đảm bảo cho sự phát triển tâm lý, tránh những rủi ro về bệnh trạng, nhân cách của trẻ nhằm phát hiện tiềm năng về trí tuệ cũng như giúp nhà giáo dục, người chăm sóc trẻ trở nên hoàn thiện hơn
Rối loạn tâm lý hay còn gọi là rối loạn tâm thần là những bất thường của tâm trí được biểu hiện ở những hành vi tiêu cực ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh, gia đình và xã hội
Các rối loạn tâm lý ở trẻ em thường gặp: rối loạn tâm trạng tổng hợp, rối loạn trầm cảm chủ yếu và rối loại khí sắc
Các yếu tố nguy cơ rối loạn tâm lý ở trẻ em và vị thành niên tương tự như người lớn nhưng có liên quan đến những mối quan tâm điển hình như học tập và chơi đùa
Trẻ có thể không giải thích được cảm xúc bên trong hoặc tâm trạng của mình thì người chăm sóc trẻ và giáo viên là những người cần quan sát nhận biết các dấu hiệu của trẻ để kịp thời can thiệp, hỗ trợ trẻ bằng tình yêu thương không điều kiện và sự chia sẻ, dẫn trẻ ra khỏi bóng tối tiêu cực
Trang 41.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của nhóm chúng tôi là: nghiên cứu cơ sở lý luận về rối loạn tâm lý và phát triển tâm lý ở học sinh từ 6 đến 11 tuổi, nhận biết các dấu hiệu bất thường ở trẻ, sử dụng phương pháp quan sát và trắc nghiệm để có những biện pháp giúp người nuôi dưỡng và nhà giáo dục có các phương pháp giáo dục, can thiệp phù hợp đối với trẻ
1.3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Xây dựng cơ sở lý thuyết
Khảo sát thực trạng rối loạn tâm lý của trẻ cho từng lớp, từng độ tuổi của học sinh trường tiểu học Lương Thế Vinh Quận 7 TP HCM năm học 2022 - 2023 Đánh giá sự quan tâm của người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và giáo viên đối với học sinh trường tiểu học Lương Thế Vinh Quận 7 TP HCM năm học 2022 – 2023 trong quá trình học tại lớp và biểu hiện của trẻ khi về nhà
Tùy theo độ tuổi, giới tính, sự chăm sóc của gia đình và sự quan sát của nhà giáo dục chúng ta thu nhập có được kết quả rồi đề xuất biện pháp giúp nhà giáo và người chăm nuôi trẻ nhận thức và sớm hướng dẫn hỗ trở con em mình có cuộc sống tốt đẹp hơn
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu dấu hiệu nhận biết rối loạn và phát triển tâm lý của tuổi nhi đồng từ 6 đến 11
Khách thể nghiên cứu đề tài gồm: 250 học sinh tiểu học cùng người nuôi dưỡng
và 10 giáo viên Trường Tiểu học Lương Thế Vinh quận 7 TP HCM
1.5 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu dấu hiệu rối loạn và phát triển tâm lý của tuổi nhi đồng
Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi 250 học sinh lớp 1, 2, 3, 4, 5 cùng người nuôi dưỡng và 10 giáo viên trường Tiểu học Lương Thế Vinh Quận 7 TP HCM
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: chỉ tập trung nghiên cứu dấu hiệu để nhận biết về rối loạn tâm lý của trẻ ở độ tuổi nhi đồng
1.6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Đa số học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh Quận 7 TP HCM có những biểu hiện bình thường với phát triển tâm lý đúng với độ tuổi
Có một số biểu hiện về cảm xúc và hành động khác thường của học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh Quận 7 TP HCM
Hành động, lời nói, cử chỉ, cách giao tiếp với bạn bè, học tập của trẻ được cải thiện tốt khi nhận được hỗ trợ đúng mức và kịp thời của người nuôi dưỡng chăm sóc và nhà giáo dục
1.7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng phương pháp quan sát và các công cụ trắc nghiệm
- Nghiên cứu tài liệu để làm cơ sở cho đề tài
Trang 5- Phương pháp lý luận: thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát và hệ thống tài liệu
- Phương pháp trắc nghiệm: điều tra bằng bảng câu hỏi nhằm phát hiện các dấu hiệu rối loạn và phát triển tâm lý của học sinh (250 học sinh)
- Phương pháp phỏng vấn dự kiến 30 học sinh, người nuôi dưỡng và giáo viên
- Phương pháp thống kê
2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Cũng như các khoa học khác, tâm lý học được Nhà Nước quan tâm xây dựng và phát triển Cùng với việc thành lập Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1958), tổ Tâm lý học đầu tiên ở nước ta đặt trong trường này ra đời, một số cán bộ được phân công giảng dạy và học tập tâm lý học Để xây dựng được chương trình
và giáo trình tâm lý học, các cán bộ đã tập chung nghiên cứu tài liệu và sách giáo khoa trong lĩnh vực này của Liên Xô, một số thành tựu của tâm lý học Macxit mà tâm lý học Liên Xô là đại biểu lần đầu tiên được giới thiệu trong cuốn “tâm lý học” Nguyễn Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thịnh Xuân – NXB Giáo dục, 1959 Một loạt các công trình nghiên cứu khác cũng được tiến hành với mục đích tìm tòi chỉ số tâm
lý của trẻ em Việt Nam Ví dụ, các công trình nghiên cứu về tư duy của Phạm Hoàng Gia và nhóm nghiên cứu tư duy được công bố năm 1969
Ra đời vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trường phái Nhi đồng học đã kết hợp một cách máy móc những quan điểm tâm lí học, sinh lí học, sinh vật học về sự phát triển trẻ em Ở Liên Xô những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, Nhi đồng học có tham vọng giữ vai trò của khoa học "duy nhất mácxít" về trẻ em; coi sự tác động của "hai nhân tố" (môi trường và di truyền) quyết định trực tiếp sự phát triển của trẻ
em, họ coi Tâm lí học là "khoa học về các yếu tố chủ quan”, coi Giáo dục học là
"kinh nghiệm chủ nghĩa" Những quan điểm như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực tới Tâm
lí học, Giáo dục học và gây nhiều tác hại đến nhà trường Điều đó đã được nêu lên trong các phê phán có tính nguyên tắc nhiều luận điểm của nhi đồng học
Nghiên cứu nhân cách và phát triển nhân cách cũng là lĩnh vực được đông đảo cán bộ giảng dạy tâm lý học các trường sư phạm, đặc biệt Trường Đại Học Sư phạm Hà Nội I, và các cán bộ nghiên cứu thuộc Ban tâm lý học, Viện khoa học giáo dục tiến hành trong nhiều năm
Đúc kết những tri thức lý luận của nền tâm lý học Xô Viết hiện đại cùng với những tư tưởng duy vật trong tâm lý học thế giới, cuốn “tâm lý học” tiếp theo gia đời năm 1988 dưới sự chủ biên của Phạm Minh Hạc Trong lĩnh vực tâm lý học trẻ
em và Sư phạm, tư tưởng và các công trình nghiên cứu của Hồ Ngọc Đại và những cộng sự đã có đóng góp không thể phủ nhận cho nền tâm lý học nước nhà Trong những cuốn sách như “Tâm lý dạy học",“Bài học là gì”, “Kính gửi các bậc cha mẹ”,
đã thể hiện tư tưởng của ông Hồ Ngọc Đại và những cộng sự tại Trung tâm Công nghệ giáo dục đã thể hiện ở nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học những suy nghĩ nghiên cứu về giáo dục, phát triển tâm lý cho trẻ em
Trang 6Đầu những năm 60 đến giữa những năm 70 của thế kỉ 20, tâm lý học trẻ em
và sư phạm bắt đầu tiến hành thực nghiệm dạy học để nghiên cứu trẻ em ở bậc tiểu học Từ cuối những năm 70 đó đến nay, thực nghiệm dạy học đã có những bước tiến
về chất nhờ có tư tưởng công nghệ giáo dục
Tóm lại, nghiên cứu tâm lý trẻ em nói chung và trẻ em bậc tiểu học nói riêng phải được tiến hành ngay trên hiện trường dạy học và giáo dục, vì ở đó có trẻ em, ở
đó có các quy luật giáo dục tác động đến trẻ em một cách hiện thực Phải tìm hiểu các quy luật chính ở nơi các quy luật đó đang diễn ra (lớp học, nhà trường, gia đình), ở nơi có cuộc sống thực của các em đang được tiến hành
2.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.2.1 Trẻ em lứa tuổi nhi đồng (6-11 tuổi)
Có rất nhiều quan niệm về lứa tuổi Có quan niệm khẳng định tính chất bất biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn lứa tuổi và cho rằng lứa tuổi gắn liền với việc hiểu sự phát triển tâm lý như là một quá trình sinh vật tự nhiên Quan điểm đối lập lại phủ nhận khái niệm lứa tuổi Trong trường hợp này sự phát triển chỉ được xem như là sự tích luỹ các tri thức và các kỹ xảo một cách đơn giản
Đặc điểm của lứa tuổi được quy định bởi một tổ hợp bao gồm nhiều điều kiện Trong đó các điều kiện bên ngoài: Yêu cầu của xa hội đối với trẻ trong mối quan hệ qua lại với thực tại, yêu cầu về vốn tri thức, phương thức hoạt động,
kiểu hoạt động v v và những hoạt động bên trong, đặc điểm tâm lý, vốn tri
thức và kỹ năng hoạt động mà trẻ đã có, điều kiện sinh học, sự phát triển thể
chất và sự chín muồi của các cơ quan chức năng v v
Dựa vào lý luận của Đ.B.Encônin, những tài liệu về tâm lý học trẻ em Việt Nam thường phân định lứa tuổi của trẻ em theo hoạt động chủ đạo như sau:
Từ lọt lòng đến khoảng 15 tháng: Được gọi là tuổi hài nhi (Ở hai tháng đầu được gọi là trẻ sơ sinh) với hoạt động chủ đạo là hoạt động giao tiếp xúc cảm trực tiếp với mẹ và người lớn
Từ 15 tháng đến 3 tuổi: Được gọi là tuổi ấu nhi, với hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật
Từ 3 tuổi đến 6 tuổi: Được gọi là tuổi mẫu giáo với hoạt động chủ đạo là vui chơi mà trò chơi đóng vai theo chủ đề là trung tâm
Từ 6 tuổi đến khoảng 11 tuổi: Được gọi là tuổi nhi đồng, hay đầu tuổi học, với hoạt động chủ đạo là học tập, tương ứng với bậc tiểu học
Từ 11 tuổi đến 15 tuổi: Được gọi là tuổi thiếu niên hay giữa tuổi học, hoạt động chủ đạo là giao tiếp cá nhân - thân tình, tương ứng với bậc học phổ thông cơ sở
Từ tuổi 15 đến khoảng 18: Được gọi là tuổi thanh niên mới lớn hay cuối tuổi học, với hoạt động chủ đạo là học tập - nghề nghiệp, tương ứng với bậc phổ thông trung học
2.2.2 Tâm lý học lứa tuổi nhi đồng (6-11 tuổi)
Trang 7Tâm lí học lứa tuổi nhi đồng hay tiểu học là một ngành Tâm lí học nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, các quy luật, các điều kiện, động lực phát triển tâm lí ở lứa tuổi tiểu học, những biến đổi của các quá trình tâm lí, các phẩm chất tâm lí trong sự hình thành, phát triển nhân cách trẻ em tuổi tiểu học
Tâm lí học lứa tuổi tiểu học chỉ ra các đặc điểm tâm lí của con người được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn lứa tuổi và trong suốt cuộc đời, những quy luật hình thành và biểu hiện tâm lí trẻ em ở giai đoạn phát triển tâm lí tiểu học, chỉ
ra các điều kiện, động lực của sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này
Tâm lí học lứa tuổi tiểu học cung cấp cơ sở tâm lí lứa tuổi cho việc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp đặc điểm và quy luật tâm lí lứa tuổi tiểu học, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục ở Tiểu học
Tâm lí học lứa tuổi tiểu học không những cung cấp cơ sở tâm lí cho giáo viên tiểu học trong hoạt động sư phạm của mình mà còn giúp giáo viên tiểu học, các nhà giáo dục ở bậc học này có phương pháp đối xử khéo léo sư phạm với giáo viên, học sinh và tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân để làm tốt vai trò người giáo viên trong
sự nghiệp trồng người
2.2.3 Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên
Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cứ 20 người bình thường sẽ có một người đã từng bị một giai đoạn trầm cảm trong năm trước Mỗi năm trung bình 850.000 người chết vì trầm cảm Rối loạn trầm cảm không phân biệt giới tính hay độ tuổi Những người bị trầm cảm có thể đã phải trải qua những biến cố lớn của cuộc đời hoặc cũng có những cá nhân mắc rối loạn trầm cảm nhưng không nhất thiết phải qua những biến cố lớn, mà đó
có thể là những thay đổi trong môi trường sống, những sự kiện này tác động mạnh đến đời sống cá nhân hoặc tinh thần của họ, thách thức sự thay đổi ở họ
Thuật ngữ trầm cảm thường được sử dụng để miêu tả tâm trạng giảm hoặc nản lòng do thất vọng (ví dụ như bệnh nặng) hoặc mất mát (ví dụ như cái chết của người thân yêu) Tuy nhiên, khí sắc giảm, không giống như trầm cảm, xảy ra có xu hướng
bị ràng buộc với những suy nghĩ hoặc nhắc nhở về sự kiện khởi động, giải quyết khi hoàn cảnh hoặc sự kiện cải thiện, có thể bị xen kẽ với giai đoạn tích cực cảm xúc và hài hước, và không kèm theo phổ biến cảm giác vô ích và tự ghê tởm Khí sắc giảm thường kéo dài nhiều ngày hơn hàng tuần hoặc hàng tháng, và suy nghĩ tự tử và mất chức năng kéo dài sẽ ít có khả năng hơn Tâm trạng thấp như vậy được gọi một cách thích hợp hơn là sự mất tinh thần hoặc đau buồn Tuy nhiên, các sự kiện và các tác nhân gây stress gây ra mất tinh thần và đau buồn cũng có thể gây ra một giai đoạn trầm cảm lớn
Các rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên bao gồm:
Rối loạn mất điều hòa khí sắc kiểu gây rối: liên quan đên sự khó chịu dai dẳng và các giai đoạn thường xuyên của hành vi đó rất ra khó kiểm soát, với sự khởi đầu ở tuổi 6-10
Trang 8 Rối loạn trầm cảm chủ yếu: là giai đoạn trầm cảm rời rạc kéo dài ≥ 2 tuần Nó xảy ra ở khoảng 2% trẻ em và 5% vị thành niên Rối loạn trầm cảm chủ yếu có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn sau tuổi dậy thì
Rối loạn trầm cảm dai dẳng (dysthymia): Rối loạn trầm cảm dai dẳng
là tâm trạng buồn chán hoặc bực bội dai dẳng kéo dài hầu hết cả ngày, đa số các ngày ít nhất ≥ 1 năm cộng với ≥ 2 trong số những triệu chứng thường gặp
2.3 TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ NHI ĐỒNG
Các em học ở trường tiểu học, hay còn gọi là tuổi Nhi đồng, lứa tuổi đầu tuổi học Đến trường thực hiện hoạt động học tập là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ ở lứa tuổi này Giờ đây các em đã trở thành một học sinh thực sự, học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất giúp các em tích lũy kiến thức Khi đến trường, các
em bước vào những mối quan hệ mới và phức tạp hơn : quan hệ với thầy cô giáo, với bạn bè Trong môi trường hoạt động mới sẽ tạo ra cho các em một thế giới nội tâm phong phú
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh nhỏ Thời kì này ở trẻ phát triển mạnh về nhận thức, tình cảm – ý chí – ý thức – nhân cách
2.3.1 Về mặt cơ thể
Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,…Vì thế
mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,…Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các
em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng
Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,…Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
2.3.2 Về hoạt động và môi trường sống
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động
Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân
và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,…Ngoài ra, trẻ còn
Trang 9còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…
Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,
…
Những thay đổi kèm theo của các em trong quá trình hoạt động:
Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,…các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp
đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan
hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập
2.3.3 Về quá trình nhận thức
Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,…)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
Chú ý
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú
ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời
Trang 10gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và
cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ
Trí nhớ
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn
so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em… Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa
và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
Tư duy
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn,
vẽ tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh
mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra