1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

239 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 13,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tây Bắc luôn là những đề tài bất tận thu hút các ống kính và quảng cáo du lịch với hình ảnh ruộng lúa bậc thang, đồi chè, rừng hoa… trải dài trên những triền đồi. Trong những năm gần đây xu thế phát triển nông nghiệp gắn kết với du lịch là một hƣớng đi mới đã và đang đƣợc nhiều địa phƣơng triển khai thực hiện nhƣ mô hình du lịch kết hợp nông nghiệp ở Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La), Hà Giang, Yên Bái…Tuy nhiên việc phát triển các mô hình sử dụng đất nông nghi ệp kết hợp phát triển du lịch tại các địa phƣơng còn mang tính riêng lẻ, tự phát chƣa có quy hoạch và quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm của con ngƣời ngày càng tăng, cùng với tốc độ tăng dân số cao đã gây sức ép rất lớn lên ngu ồn tài nguyên đất đai có hạn. Mặt khác diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển sang các mục đích sử dụng phi nông nghiệp và do thoái hóa đất. Vấn đề đặt ra là quản lý sử dụng đất nông nghiệp nhƣ thế nào cho các mục đích sử dụng khác nhau một cách hiệu quả và bền vững, trong đó có mục đích du lịch. Để sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ phát triển du lịch chúng ta không chỉ quan tâm đến sản lƣợng và thu nhập mà còn phải nhìn nhận chúng ở các góc độ bảo vệ cảnh quan, sinh thái, gìn giữ t ruyền thống dân tộc bản địa, tính đến tác động với yêu cầu xã hội và môi trƣờng sinh thái tự nhiên đặc trƣng của vùng du lịch. Vì vậy, đổi mới phƣơng pháp tiếp cận và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp kết hợp du lịch ở các tỉnh miền núi là vấn đề rất đƣợc quan tâm nghiên cứu. Huyện Điện Biên nằm ở phía Nam tỉnh Điện Biên, tiếp giáp với Thành phố Điện Biên Phủ, có đƣờng biên giới chung với nƣớc bạn Lào. Huyện có diện tích tự nhiên là 163.926,03 ha, có vị trí quan trọng về mặt chiến lƣợc quốc phòng, an ninh đồng thời đây cũng là địa danh du lịch hấp dẫn nhất của vùng Tây Bắc không chỉ về cảnh sắc thiên nhiên mà còn về ý nghĩa lịch sử với Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Điện Biên là đầu mối giao thông quan trọng nối với nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lƣu phát triển kinh tế - xã hội và có tiềm năng phát triển du lịch xuyên quốc gia; đặc biệt là du lịch sinh thái gắn liền với di tích lịch sử, do có địa hình đa dạng, cảnh quan đẹp với nhiều cộng đồng dân cƣ sinh sống, giàu bản sắc văn hóa và có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Sản xuất nông nghiệp trong những năm gần đây ở huyện Điện Biên đã có những bƣớc chuyển biến, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hƣớng sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội trên cơ sở phát huy thế mạnh tiềm năng đất đai. Bên cạnh đó huyện Điện Biên có nhiều thế mạnh cho phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch nhƣng cũng đang phải đối mặt với những khó khăn trong xác định chiến lƣợc phát triển. Việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp phục vụ du lịch còn những bất cập do thiếu cơ sở bền vững và mang tính tự phát chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội đồng thời chƣa khai thác hết tiềm năng đất đai và điều kiện sinh thái, cảnh quan cho du lịch của vùng. Đề tài đƣợc thực hiện với mong muốn đi sâu tìm hiểu, đóng góp cho thực tiễn phát triển nông nghiệp huyện Điện Biên phục vụ cho sự phát triển ở vùng du lịch giàu tiềm năng cảnh quan, con ngƣời và lịch sử theo hƣớng bền vững. 1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Đánh giá tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp theo hƣớng phục vụ du lịch ở huyện Điện Biên. - Đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu theo quan điểm sử dụng đất bền vững.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐIỆN BIÊN,

TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

2.1 Cơ sở khoa học về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 4 2.1.1 Một số khái niệm về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 4

2.1.3 Cơ sở đánh giá đất phục vụ phát triển du lịch 12 2.2 Sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch miền núi 17

2.2.2 Mối quan hệ giữa quản lý sử dụng đất nông nghiệp và phát triển du lịch 23 2.2.3 Một số mô hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp phát triển du lịch 28 2.3 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch trên thế giới và Việt Nam 32

2.3.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý sử dụng đất nông

nghiệp phục vụ phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam 39

Trang 3

2.4 Nhận xét chung và định hướng nghiên cứu của đề tài 41

3.1.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và sử dụng đất trên địa bàn

3.1.2 Thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên 44 3.1.3 Thực trạng và tiềm năng du lịch huyện Điện Biên 44 3.1.4 Đánh giá tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ du lịch ở huyện

3.1.5 Định hướng và giải pháp sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du

3.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 45

3.2.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 46

3.2.5 Phương pháp sử dụng công nghệ GIS thành lập bản đồ 48 3.2.6 Phương pháp đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp phục vụ du lịch 49

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến quản lý sử dụng đất

4.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện liên

Trang 4

4.2 Thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên 71 4.2.1 Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Điện Biên 71 4.2.2 Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên giai

4.2.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Điện Biên 78 4.3 Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch huyện Điện Biên 91 4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất khu du lịch huyện Điện Biên 91 4.3.2 Thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch huyện Điện Biên 91 4.3.3 Thực trạng và nhu cầu cung cấp các sản phẩm nông nghiệp phục vụ du

4.4 Đánh giá tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ du lịch huyện Điện Biên 100 4.4.1 Tiềm năng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên 100 4.4.2 Đánh giá nhu cầu của khách du lịch đến thăm quan huyện Điện Biên 101 4.4.3 Đánh giá tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp thích hợp cho các sản phẩm

phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên 103 4.4.4 Phân tích SWOT về quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ du lịch

4.5 Định hướng và các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển

4.5.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện

4.5.4 Các giải pháp quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch

Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 146

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACIAR Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Australian

(Australian Centre for International Agricultural Research) ACTIONAID Tổ chức phi chính phủ (ActionAid )

AHP Phương pháp phân tích cấp bậc (Analytic Hierarchy Process) CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNH – HĐH Công nghiệp hoá – hiện đại hoá

CPBQ/SP Chi phí bình quân trên sản phẩm

CR Tỷ số nhất quán (Consistency Ratio)

DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch

(Danish International Development Agency) DLBV Du lịch bền vững

DLST Du lịch sinh thái

DTTN Diện tích tự nhiên

DTTS Dân tộc thiểu số

EU Liên minh châu Âu (European Union)

ESLM Đánh giá đất cho quản lý sử dụng đất bền vững

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

(Food and Agriculture Organization) GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)

GIS Hệ thống thông tin địa lý (Geographic information system) GTNC Giá trị ngày công

HQĐV Hiệu quả đồng vốn

IUCN Hội nghị quốc tế bảo vệ thiên nhiên và Tài nguyên môi trường

(International Union for Conservation of Nature) JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

(Japan International Cooperation Agency) KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên

KFW Ngân hàng tái thiết Đức

KTXH Kinh tế xã hội

LMU Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit)

LUT Loại sử dụng đất (Land Use Type)

MCE Đánh giá đa chỉ tiêu (Multi Criteria Evaluation)

Trang 6

NĐ Nội địa

NLKH Nông lâm kết hợp

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NNCNC Nông nghiệp công nghệ cao

NTTS Nuôi trồng thuỷ sản

PAM Sổ tay hướng dẫn quản lý dự án

PTNT Phát triển Nông thôn

RI Chỉ số ngẫu nhiên (Ramdom Index)

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc

TNBQ/SP Thu nhập bình quân/sản phẩm

TNHH Thu nhập hỗn hợp

TPCG Thành phần cơ giới

UBND Ủy ban nhân dân

UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc

(United Nations Environment Programme) UNESCO Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc

(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

WCED Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển

(World Commission on Environment and Development) WCS Chiến lược toàn cầu về môi trường (World Conservation Strategy) XDCB Xây dựng cơ bản

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

3.1 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 47 3.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 47 3.3 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường 48 3.4 Ma trận so sánh mức độ quan trọng của các chỉ tiêu 50 3.5 Giá trị RI ứng với từng số lượng chỉ tiêu n 51

4.3 Tình hình thực hiện các chương trình hỗ trợ đất ở và đất sản xuất cho hộ

4.4 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ đồng bào dân

4.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên năm 2014 75 4.6 Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2005-2014 77 4.7 Một số mô hình sử dụng đất vùng cao của đồng bào dân tộc huyện Điện Biên 79 4.8 Hiện trạng các loại sử dụng đất huyện Điên Biên 82 4.9 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất của các loại sử dụng đất trồng trọt chính

4.10 Hiệu quả kinh tế của loại hình chăn nuôi gia súc 85 4.11 Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại sử dụng đất huyện Điện Biên 86 4.12 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường của các loại sử dụng

4.13 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý

4.14 Biến động sử dụng đất khu du lịch huyện Điện Biên 91 4.15 Các loại hình du lịch chính và hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phục vụ

4.16 Số lượng khách du lịch đến huyện Điện Biên qua một số năm 97

Trang 8

4.17 Tổng hợp nhu cầu sản phẩm nông nghiệp phục vụ du lịch huyện Điện

4.18 Ý kiến của khách du lịch về việc mua các sản phẩm nông nghiệp 99 4.19 Nhu cầu của khách du lịch tới điểm du lịch sinh thái huyện Điện Biên 102 4.20 Nhu cầu về dịch vụ và ẩm thực của khách du lịch 103 4.21 Các yếu tố chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai tiểu vùng lòng chảo

4.22 Các yếu tố chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai tiểu vùng đất dốc

4.23 Thống kê đặc tính và diện tích đơn vị bản đồ đất đai huyện Điện Biên 107 4.24 Hiệu quả kinh tế mô hình chuyên lúa huyện Điện Biên giai đoạn 2012-2014 110 4.25 Hiệu quả xã hội mô hình chuyên lúa huyện Điện Biên giai đoạn 2012-2014 111 4.26 Hiệu quả kinh tế mô hình lúa ruộng bậc thang huyện Điện Biên giai đoạn

4.34 Diện tích đất nông nghiệp của huyện Điện Biên quy hoạch đến năm

4.35 Diện tích phân hạng thích hợp đất đai các LUT huyện Điện Biên 129

4.37 Dự báo nhu cầu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa phục vụ du lịch đến

Trang 9

4.38 Nhu cầu sử dụng đất phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên 132 4.39 Đề xuất các loại sử dụng đất phục vụ trực tiếp phát triển du lịch huyện

Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 134 4.40 Đề xuất các loại sử dụng đất phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

4.1 Lƣợng mƣa và nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 55 4.2 Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm 56 4.3 Cơ cấu kinh tế huyện Điện Biên từ năm 2005 đến năm 2014 62 4.4 Biến động dân số huyện Điện Biên qua các năm 65 4.5 Cơ cấu thành phần dân tộc huyện Điện Biên năm 2014 66 4.6 Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 của huyện Điện Biên 75

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

4.2 Sơ đồ du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 93

4.5 Mô hình trồng lúa đặc sản trên cánh đồng Mường Thanh 109

4.8 Phân hạng thích hợp sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên 123 4.9 Sơ đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ du lịch huyện Điên

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Nguyễn Thị Kim Yến

Tên Luận án: Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch

huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra số liệu: thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp, khảo sát thực địa, đánh giá sử dụng đất thích hợp (FAO) để lựa chọn các loại sử dụng đất thích hợp cho phát triển du lịch trong vùng nghiên cứu

- Phương pháp đánh giá áp dụng các phương pháp phân tích thống kê, dự báo tiềm năng du khách và nhu cầu sản phẩm nông nghiệp phục vụ du lịch, dự báo tiềm năng đất nông nghiệp cho đề xuất phát triển du lịch, phương pháp SWOT; Áp dụng phần mềm Microsoft Excel, MicroStation và ArcGis cho đánh giá và xây dựng bản đồ

Kết quả chính và kết luận

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Điện Biên và xác định ảnh hưởng của chúng tới quản lý sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu Kết quả đánh giá đã cho thấy huyện Điện Biên có những mặt thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên của vùng đồi núi và thung lũng lòng chảo: đất đai, khí hậu, thủy văn của vùng tạo ra lợi thế rất lớn cho phát triển kinh tế xã hội và phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch Huyện Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 163.926,03 ha; Diện tích đất nông nghiệp

là 138.010,60 ha (chiếm 84,18% tổng diện tích tự nhiên); diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 27.433,83 ha (chiếm 16,74% diện tích tự nhiên) Huyện Điện Biên có nhiều di tích lịch sử trong đó đặc biệt là di tích chiến thắng Điện Biên Phủ và có tiềm năng phát triển nhiều loại hình du lịch về sinh thái, cảnh quan, văn hóa

- Đánh giá quản lý sử dụng đất đai, phân tích thực trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện giai đoạn 2005 – 2014 ở huyện Điện Biên Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo các tiêu chí kinh tế, xã hội, môi trường của các loại sử dụng đất huyện Điện Biên

- Đánh giá được hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch tại huyện Điện Biên: Kết quả nghiên cứu đã xác định tiềm năng phát triển 5 loại hình du lịch Trong đó gồm loại hình du lịch lịch sử, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch lễ hội tâm linh, về nguồn; du lịch thăm quan biên giới và mua sắm tại cửa khẩu (Tây Trang và Huổi Puốc) Điểm nhấn quan trọng về du lịch của huyện là quần thể di tích chiến thắng Điện Biên

Trang 13

Phủ và khu du lịch quốc gia Điện Biên Phủ - Pá Khoang Mỗi năm huyện Điện Biên đón khoảng hơn 300 nghìn lượt khách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm Tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm nông nghiệp hàng hóa, điển hình là các nông sản (gạo tám Điện Biên, gạo nếp nương, ); các sản vật (măng, mật ong rừng, sâu chít, các sản phẩm lâm sản… khai thác từ rừng) và các sản phẩm thủ công truyền thống mang đậm những đặc trưng riêng của cộng đồng dân tộc (thêu dệt thổ cẩm, mây tre đan…)

- Kết quả đánh giá tiềm năng quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch còn được xác định và lựa chọn 8 loại sử dụng đất (LUT) có triển vọng và các mô hình thực tiễn sử dụng đất nông nghiệp trong vùng phục vụ du lịch Kết quả phân hạng thích hợp đất đai của huyện cũng đã xác định tiềm năng thích hợp của LUT chuyên lúa đặc sản có 5.860,88 ha; LUT 2 lúa màu có diện tích 5.860,88 ha, LUT Chuyên rau- màu có diện tích 4.484,36 ha, LUT cây ăn quả có diện tích 65.327,75 ha; LUT ruộng bậc thang có 27.205,96 ha; LUT Nương rẫy có diện tích 53.741,1 ha; LUT Nông lâm kết hợp có 47.469,11 ha và LUT Rừng trồng cảnh quan có diện tích 110.457,41 ha

- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên cơ sở phát huy thế mạnh phát triển trồng lúa đặc sản ở tiểu vùng lòng chảo; chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng phát triển các loại sử dụng theo hướng sản xuất hàng hóa (sản xuất rau, hoa quả, thực phẩm) phục vụ du lịch tập trung ở tiểu vùng lòng chảo là 5.860,88 ha; mở rộng diện tích đất lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi gia súc phát triển rừng sản xuất ở tiểu vùng đất dốc, phát triển diện tích đất rừng đến năm 2030 đạt khoảng 86.504 ha Đẩy mạnh mô hình kinh tế nông lâm kết hợp đưa các cây trồng bản địa (cây hoa ban, đào, mận, phong lan và một số cây dược liệu ) với diện khoảng 350 ha vào năm 2030 bảo vệ môi trường sinh thái phục vụ phát triển du lịch

- Để thực hiện định hướng phát triển nông nghiệp phục vụ du lịch 6 nhóm giải pháp chủ yếu để quản lý sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Điện Biên, đó là các giải pháp về cơ chế chính sách; Giải pháp quy hoạch; Giải pháp về tài chính tín dụng; Giải pháp khoa học công nghệ; Giải pháp đào tạo phát triển nguồn nhân lực và Giải pháp phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm

Kết quả nghiên cứu đã đóng góp về cơ sở lý luận, thực tiễn cho sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai trên cơ sở kết hợp giữa mục đích sản xuất đất nông nghiệp và du lịch nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất đai đồng thời bảo vệ cảnh quan sinh thái, duy trì truyền thống, văn hóa dân tộc đặc trưng của vùng đồi núi Tây Bắc, Việt Nam; Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được cơ sở dữ liệu tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp cho phát triển du lịch trên địa bàn huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Trang 14

THESIS ABSTRACT PhD candidate: Nguyen Thi Kim Yen

Thesis title: “Study on land use management of agriculture to serve the development of

tourism in Dien Bien district, Dien Bien province”

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Materials and Methods

- Surveying methods: collection second and primary datas, field trip surveys, suitable land evaluation (FAO) in order to choose the suitable land use types of agriculture for tourism development in the researching area

- Data evaluation: applying statistical data, forecasting data of tourist potential and agricultural product requirement, evaluation of land agricultural land use potential for propose of tourist development SWOT method; Applying software of Microsoft Excel, MicroStation for data treatment and ArcGis for map making

Main results and conclusions

- To evaluate the natural and social- economy conditions of Dien Bien district and to identify their impacts to agricultural land management in studied area, researching results shows that Dien Bien district has advantages of natural resources alternately between basin and mountainous area to create advantages of climate, land, hydrology to develop socio-economic and development of agriculture to combine with tourist development Dien Bien district has a total natural land area of 163,926.03 hectares, in which the agricultural land area

is 138,010.60 hectares (occupy 84.18 % total natural area) In which, area of agricultural production is 27433.83 hectares (occupy 16.74% of the natural area) In Dien Bien district especially there is vestiges of Dien Bien historical victory and potential of ecological, landscape and cultural tourism

- Evaluation of land management, to analyse the changing of agricultural land use

in Dien Bien district at period of 2005 - 2014 To evaluate the effective land use in the norm

of economic, social and environmental aspects of land use types in Dien Bien district

- Assessment of the present situation and potential for development of tourism

in Dien Bien district: The studied results has identifyed the potential to develop 5 types of tourism, they consist historical forms of tourism, ecotourism, community tourism, spiritual tourism festival, border crossing tourism associated with

Trang 15

sightseeing, shopping and transit at the border (Tay Trang and Huoi Puoc) The important accent of this tour that is the Dien Bien Phu victory and the national tourist zone of Dien Bien Phu– Pa Khoang compartment Dien Bien district annually receives around 300 thousand visitors domestically and internatioally to visit, to learn and experience They consume a large quantities of agricultural products, typically agricultural products such as (special common rice Dien Bien, hilly sticky rice .); agricultural speciality (bamboo shot, forest honey, deep chit, forest products extraction from the forests) The traditional craft products bearing its own characteristics of ethnic communities (embroidered brocade , rattan products…)

- The results to evaluate potential of agricultural land use in service of tourism development that identified and selected 8 land use types ( LUT ) with agricultural modern for land use in basin and mountainous sub- ecological area Results of land evaluation pointed out the suitable land use for LUT special common rice around 5860.88 ha; LUT2 2rice- winter crops with 5860.88 ha area, LUT3 specialist vegetable and upland crops of 4484.36 ha , LUT4 - fruit trees with area of 65327.75 hectares; LUT5 – rice terraces with 27205.96 ha; LUT6 - Shifting cultivation has an area of 53,741.1 ha; LUT7 - Agroforestry has 47469.11 hectares and LUT8 – landscape forest planting has 110,457.41 hectares

- The trend of agricultural land use by 2020 in Dien Bien district, and a vision to

2030 that based on bring in to play strong point and advantage of special common rice and upland crops and structural change in the direction of commercial crops (vegestable, fruits, food goods) to serve tourism for the whole sub-basin is 5860.88 hectares; expand the area of forest land with livestock combined in sloping land towards the development of productive forests that is estimated at 86.504 ha in 2030; promoting economic model of agroforestry; Develop hilly forest native plants (Ban flowers, peach, plum, orchid and medicinal herbs .) with an area of about 350 hectares in 2030 to combine with ecological forest regeneration for environmental protection to serve tourism development

- In order to implement the trends of agricultural development to serve tourism development in Dien Bien district there are 6 solutions primarily to offer, namely: Solutions related policy mechanisms; Solutions of land use planning; Solutions related

to credit financing; Solutions of science and technology; Solutions of education and training for development of human resources and Developing solutions of marketing

The research results contribute basis and practices for suitable use of land resources that base on a combination of agricultural production purposes and tourism in order to increase efficiency of land use and concomitant protecting the ecological landscape and maintaining typical traditional cultural characteristics of ethnic groups in the northern west of Vietnam; Research results have built a database of potential land use and orientation of agricultural land for tourism development in the area of Dien Bien district , Dien Bien province

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tây Bắc luôn là những đề tài bất tận thu hút các ống kính và quảng cáo

du lịch với hình ảnh ruộng lúa bậc thang, đồi chè, rừng hoa… trải dài trên những triền đồi Trong những năm gần đây xu thế phát triển nông nghiệp gắn kết với du lịch là một hướng đi mới đã và đang được nhiều địa phương triển khai thực hiện như mô hình du lịch kết hợp nông nghiệp ở Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La), Hà Giang, Yên Bái…Tuy nhiên việc phát triển các mô hình sử dụng đất nông nghiệp kết hợp phát triển du lịch tại các địa phương còn mang tính riêng lẻ, tự phát chưa có quy hoạch và quan tâm nghiên cứu Bên cạnh nhu cầu về lương thực, thực phẩm của con người ngày càng tăng, cùng với tốc độ tăng dân số cao đã gây sức ép rất lớn lên nguồn tài nguyên đất đai có hạn Mặt khác diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do chuyển sang các mục đích sử dụng phi nông nghiệp và do thoái hóa đất Vấn đề đặt ra là quản lý sử dụng đất nông nghiệp như thế nào cho các mục đích sử dụng khác nhau một cách hiệu quả và bền vững, trong đó có mục đích du lịch Để sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ phát triển du lịch chúng ta không chỉ quan tâm đến sản lượng và thu nhập mà còn phải nhìn nhận chúng ở các góc độ bảo

vệ cảnh quan, sinh thái, gìn giữ truyền thống dân tộc bản địa, tính đến tác động với yêu cầu xã hội và môi trường sinh thái tự nhiên đặc trưng của vùng du lịch

Vì vậy, đổi mới phương pháp tiếp cận và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả

sử dụng đất nông nghiệp kết hợp du lịch ở các tỉnh miền núi là vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu

Huyện Điện Biên nằm ở phía Nam tỉnh Điện Biên, tiếp giáp với Thành phố Điện Biên Phủ, có đường biên giới chung với nước bạn Lào Huyện có diện tích tự nhiên là 163.926,03 ha, có vị trí quan trọng về mặt chiến lược quốc phòng, an ninh đồng thời đây cũng là địa danh du lịch hấp dẫn nhất của vùng Tây Bắc không chỉ

về cảnh sắc thiên nhiên mà còn về ý nghĩa lịch sử với Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu Điện Biên là đầu mối giao thông quan trọng nối với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và có tiềm năng phát triển du lịch xuyên quốc gia; đặc biệt là du lịch sinh thái gắn liền với di tích lịch sử, do có địa hình đa dạng, cảnh quan đẹp với nhiều cộng đồng dân cư sinh sống, giàu bản sắc văn hóa và có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống

Trang 17

Sản xuất nông nghiệp trong những năm gần đây ở huyện Điện Biên đã có những bước chuyển biến, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội trên cơ sở phát huy thế mạnh tiềm năng đất đai Bên cạnh đó huyện Điện Biên có nhiều thế mạnh cho phát triển nông nghiệp kết hợp du lịch nhưng cũng đang phải đối mặt với những khó khăn trong xác định chiến lược phát triển Việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp phục vụ du lịch còn những bất cập do thiếu cơ sở bền vững và mang tính tự phát chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội đồng thời chưa khai thác hết tiềm năng đất đai và điều kiện sinh thái, cảnh quan cho du lịch của vùng Đề tài được thực hiện với mong muốn đi sâu tìm hiểu, đóng góp cho thực tiễn phát triển nông nghiệp huyện Điện Biên phục vụ cho sự phát triển ở vùng

du lịch giàu tiềm năng cảnh quan, con người và lịch sử theo hướng bền vững

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phục vụ du lịch

ở huyện Điện Biên

- Đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu theo quan điểm sử dụng đất bền vững

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất nông nghiệp và các loại sử dụng đất nông nghiệp trong mối quan hệ với du lịch trên địa bàn huyện Điện Biên

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp và khách du lịch

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Quỹ đất nông nghiệp có khả năng khai thác, sử dụng

phục vụ phát triển du lịch trong địa giới hành chính huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên

- Phạm vi thời gian: từ 2010 đến 2014, trong đó

+ Số liệu điều tra thứ cấp: 2010 – 2014

+ Số liệu điều tra sơ cấp: 2014

1.3.3 Một số câu hỏi nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Điện Biên có những đặc điểm gì?

- Hiện trạng quản lý và biến động sử dụng đất nông nghiệp trong giai đoạn 2005-2014 như thế nào?

Trang 18

- Thực trạng sử dụng đất và tiềm năng phát triển du lịch huyện Điện Biên như thế nào ?

- Tiềm năng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch được đánh giá ra sao ?

- Định hướng và giải pháp nào cần được triển khai để quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch hiệu quả và hợp lý ở huyện Điện Biên trong thời gian tới ?

1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Xác định được tiềm năng và đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp

để phát triển du lịch tại huyện Điện Biên Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời giữ gìn bảo vệ cảnh quan sinh thái và duy trì truyền thống, văn hóa dân tộc đặc trưng của vùng đồi núi Tây Bắc, Việt Nam

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Một số khái niệm về quản lý sử dụng đất nông nghiệp

* Đất đai:

Theo FAO (1976), đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người

Trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil năm 1992, đất đai được hiểu theo nghĩa rộng là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa ) (FAO, 1993)

* Đất nông nghiệp: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất như: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Quốc hội, 2013)

* Quản lý đất đai là một hệ thống các biện pháp hoạt động theo pháp luật

về đất đai bao gồm Luật đất đai và những quyết định của các tổ chức Nhà nước trong việc sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất, bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quan sinh thái

- Theo định nghĩa của Liên hợp quốc: Quản lý đất đai là quá trình lưu giữ

và cập nhật những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và những thông tin khác liên quan đến đất (United Nations, 1996)

Trang 20

- Quản lý Nhà nước đối với đất đai được sử dụng tại các nước khác nhau với nhiều nghĩa khác nhau Quản lý Nhà nước về đất đai có thể đồng nghĩa với quản lý hành chính đất đai, tập trung vào cách thức Chính phủ xây dựng và thực hiện chính sách đất đai và quản lý đất đai cho tất cả các loại đất không phân biệt quyền sử dụng đất Cụ thể hơn, đây là quá trình Nhà nước quản lý đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và giao đất cho các mục đích sử dụng khác nhau (Tommy, 2011)

* Sử dụng đất đai, là toàn bộ hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm thu lại lợi ích cao nhất, với nhiều mục đích khác nhau (mục đích phi nông nghiệp, mục đích nông nghiệp, du lịch…) Sử dụng đất đai đạt kết quả cao hay thấp còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức con người, thể chế chính sách của nhà nước và kỹ thuật công nghệ được áp dụng

- Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Theo Lal and Miller (1993), con người cần phải sử dụng đất khoa học và hợp lý Trong sử dụng đất, vai trò quản lý tài nguyên đất bền vững có nghĩa là sự duy trì sức sản xuất cao trên mỗi đơn vị diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng đất và cải thiện các đặc trưng của môi trường Các thuộc tính chính của sử dụng đất bền vững là: Sử dụng các tài nguyên đất đai trên một cơ sở dài hạn; Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng tương lai; Tăng cường sản xuất trên đầu người; Duy trì/tăng cường chất lượng môi trường; phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh thái bị suy thoái và nghèo nàn (dẫn theo Hoàng Hữu Cải, 2008)

- Sử dụng đất là cách con người khai thác đất và các tài nguyên gắn liền với đất phục vụ cho các lợi ích của mình (Meyer, 1996)

Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều kiểu sử dụng:

Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ và gỗ rừng)

Sử dụng trên cơ sở sản xuất thứ yếu/ gián tiếp (chăn nuôi)

Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng hóa loài sinh vật, bảo vệ các loài quý hiếm)

Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt như đường sá, dân cư, công nghiệp, du lịch, an dưỡng… (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)

Trong sử dụng đất có các loại sử dụng đất chính và loại sử dụng đất

- Loại sử dụng đất chính: Theo FAO (1976) loại sử dụng đất chính là một

Trang 21

phân cấp (nhánh) lớn của sử dụng đất nông thôn như nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp có tưới, đồng cỏ, lâm nghiệp hoặc sử dụng đất phục vụ giải trí Loại

sử dụng đất chính thường được xem xét trong các nghiên cứu đánh giá đất đai định tính hoặc khảo sát

- Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): Loại sử

dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 2002): Các thuộc tính loại

sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về kinh tế - xã hội như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai

Có thể liệt kê một số loại sử dụng đất đai trong nông nghiệp khá phổ biến hiện nay như: chuyên để trồng lúa; chuyên để trồng màu; canh tác lúa - màu; dùng để trồng cây lâu năm; sử dụng đất để làm đồng cỏ; làm đất lâm nghiệp; nuôi trồng thuỷ sản, du lịch cảnh quan (giải trí)

Quản lý đất đai và sử dụng đất đai là một cụm từ dùng để chỉ hai mặt của một vấn đề quản lý khai thác nguồn lực đất đai trong hoạt động kinh tế - xã hội

Nó luôn gắn liền với nhau, không thể tách rời kể cả trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn Nếu tách bạch chỉ nghiên cứu quản lý riêng không đề cập đến cách thức sử dụng, kết quả sử dụng thế nào, thì khó đánh giá được hiệu quả quản lý và ngược lại, khi nghiên cứu vấn đề sử dụng lại thoát ly nghiên cứu quản

lý đất đai, các yếu tố quản lý thì không thể rút ra được nguyên nhân ảnh hưởng đến sử dụng đất thuộc về cơ chế, chính sách để đưa ra được những giải pháp sử dụng đất mang lại hiệu quả (Nguyễn Quốc Ngữ, 2004)

Quản lý sử dụng đất là sự kết hợp của tất cả các công cụ và kỹ thuật được

sử dụng bởi chính quyền để quản lý phương thức sử dụng và phát triển gồm: chính sách pháp luật đất đai, quy hoạch và tài chính đất đai Quản lý sử dụng đất bền vững quan hệ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, hiện tại và tương lai, hạn chế suy thoái đất, nước và giảm chi phí sản xuất Quản lý sử dụng đất tập trung vào loại đất và cách thức đất được sử dụng cho mục đích sản xuất, bảo tồn và thẩm mỹ (Verheye, 2010)

Quản lý sử dụng đất đai: bao gồm các quy trình để sử dụng tài nguyên đất

có hiệu quả Đây chủ yếu là trách nhiệm của chủ sở hữu đất Chính phủ cũng có

Trang 22

mục tiêu tăng cường quản lý đất đai hiệu quả như là một phần của mục tiêu thúc đẩy phát triển KTXH bền vững (Tommy, 2011)

2.1.2 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp

2.1.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp và các nguyên tắc sử dụng

* Sử dụng đất nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành sản xuất mà loài người sử dụng đất để có sản phẩm động vật và thực vật (Vương Quang Viễn, 2002) Đó là hành vi tạo ra lợi ích từ sản xuất nông nghiệp thông qua việc sử dụng đất đai, lao động và vốn Khi nói đến nông nghiệp là đề cập đến cả 4 lĩnh vực: nông, lâm, ngư và chăn nuôi (Nhan Ái Tĩnh, 2002)

Sử dụng đất nông nghiệp là hoạt động của con người tác động vào đất đai thông qua lao động và công cụ sản xuất để tạo ra sản phẩm nông nghiệp theo mong muốn Sử dụng đất nông nghiệp đạt kết quả cao hay thấp tùy thuộc vào trình độ con người, cơ chế chính sách của nhà nước và kỹ thuật công nghệ được

áp dụng vào sản xuất Với tư cách là nhân tố của sức sản xuất, nhiệm vụ và nội dung của việc sử dụng đất nông nghiệp bao gồm 4 mặt sau:

+ Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý về thời gian và không gian, hình thành hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất

+ Phân phối hợp lý vào các mục đích dùng đất trên diện tích đất nông nghiệp được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế được lựa chọn

+ Quy mô sử dụng đất nông nghiệp với sự tập trung thích hợp, hình thành nên quy mô kinh tế sử dụng đất

+ Giữ mật độ sử dụng đất nông nghiệp thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh

* Các nguyên tắc sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp

- Đất đai trong sản xuất nông nghiệp được sử dụng theo nguyên tắc đầy đủ, hợp lý Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất đai cần được sử dụng hết vào sản xuất và được bố trí sử dụng phù hợp với tính chất tự nhiên của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và vừa giữ gìn bảo vệ

độ phì nhiêu của đất, môi trường sinh thái và đáp ứng yêu cầu của thị trường

- Sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao Đó là kết quả của nguyên tắc thứ nhất về yêu cầu sử dụng đất đai Muốn biết được về hiệu quả sử dụng đất đai cần phải tính năng suất đất đai và giá cả của đất đai Để nâng cao năng suất đất

Trang 23

đai cần phải áp dụng một cách đồng bộ hệ thống các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất Vấn đề đặt ra là, trong điều kiện có thị trường đất đai, diện tích nông trại cần được mở rộng đến mức nào? Nguyên tắc chung là mở rộng diện tích sản xuất đến khi mức thu thêm về sản phẩm trên một đơn vị diện tích ít nhất bằng với mức chi phí thêm (bao gồm chi phí thuê đất, phục hồi và cải tạo đất,…) trên một đơn vị diện tích đó Thực chất là sử dụng đất đai để trồng cây gì, nuôi con gì, đến mức độ nào để có lợi nhuận cao nhất

- Sử dụng đất đai phải bảo đảm tính bền vững, điều này có nghĩa là cả về

số lượng và chất lượng đất đai phải được bảo tồn không những đáp ứng được mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường

* Vai trò và ý nghĩa của sử dụng đất nông nghiệp

Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như cày, bừa, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không

có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh ở mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng Vì vậy, việc quản lý sử dụng đất nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội (Đỗ Kim Chung, 2009)

Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn

và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần

sử dụng đất nông nghiệp một cách tiết kiệm có hiệu quả, coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia (Đỗ Kim Chung, 2009)

Trang 24

2.1.2.2 Mục tiêu và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai có nhiều chức năng, nhiều đối tượng sử dụng và những người có lợi ích khác nhau liên quan đến việc sử dụng đất Mặt khác, do nhu cầu sử dụng đất đai và hoạt động kinh tế của con người ngày một tăng đang đặt ra những vấn

đề cạnh tranh và xung đột gay gắt về kinh tế, xã hội và môi trường thông qua việc

sử dụng đất đai Những mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp được đặt ra trong thời

kỳ hiện nay là:

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân – những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995) Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất đai của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi nhuận cao hơn Nếu thấy việc đó không có lợi, họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi, họ có thể chuyển quyền sử dụng phần đất của

họ cho người khác có khả năng sử dụng đất mang lại hiệu quả cao hơn

Trong khi đó cộng đồng luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong

sử dụng đất đai, trước hết đó là đảm bảo các mục tiêu kinh tế và cần thiết cho cả cộng đồng, ví dụ hàng đầu là vấn đề an toàn lương thực Cộng đồng cần có đất để

mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cụm khu công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí…và điều này có ảnh hưởng đến hiện trạng sản xuất của nhiều nông dân

Các mục tiêu kinh tế trong việc sử dụng đất đai được xem là hợp lý không

có nghĩa là thỏa mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất biệt lập với toàn thể cộng đồng, mà là quá trình xem xét, cân nhắc để sử dụng đất hài hòa về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu xã hội

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993) Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất

Trang 25

nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản phẩm nông nghiệp tới các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn (Vũ Năng Dũng, 1997)

Sử dụng đất đai trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất

đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt của bất

cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm các

cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khỏe, giáo dục, định canh định cư, thu nhập…ngoài ra còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội Trong sử dụng đất đai các Chính Phủ thường có những dự án ưu đãi cho nhóm người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số trong xã hội Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa những nhóm dân số cũng là một mục tiêu xã hội của Chính phủ

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu môi trường

Từ năm 1980 Hội nghị quốc tế bảo vệ thiên nhiên và Tài nguyên Môi trường (IUCN), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã khởi xướng chiến lược toàn cầu (WCS)

về bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu duy trì các nguồn gen, bảo vệ sử dụng hợp lý

và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được

Ngày nay đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng luôn gắn với mục tiêu môi trường Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hóa học thuần túy Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, khí hậu và cảnh quan thiên nhiên…là các tài sản có giá trị cần được bảo vệ, sử dụng lâu dài Vì thế những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài

- Sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phát minh, sáng kiến, sáng chế

đã góp phần làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường tự nhiên Hiện nay quản

lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp đang là vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia Việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên đất đai, năng lượng tự nhiên đã làm kiệt quệ các nguồn tài nguyên; sự bùng nổ về dân số càng làm cho khủng hoảng giữa nhu cầu cần đáp ứng và khả năng có hạn của nguồn năng lượng tự nhiên ngày càng tăng (Nguyễn Đình Bồng, 1995)

Trang 26

Theo (FAO, 1992), FAO đã đề ra Hiến chương đất đai thế giới và nêu rõ: Sự thoái hoá đất ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông, lâm nghiệp, các hoạt động ở khu vực kinh tế khác và môi trường nói chung Để bảo vệ sự sống loài người phải sử dụng hợp lý đất, nước, thực vật, không để tài nguyên thiên nhiên ấy bị thoái hoá và huỷ hoại Các Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ, bảo tồn và cải thiện một cách bền vững khả năng sử dụng của đất đai Để thực hiện được mục tiêu chiến lược trên, các nhà khoa học đất trên thế giới và các tổ chức quốc tế đã rất quan tâm nghiên cứu, không ngừng nâng cao sự phát triển của khoa học bao gồm: khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, chế độ thủy văn, thực vật, động vật, những hoạt động cải thiện và quản lý của con người đối với đất đai như các hệ thống tưới, tiêu nước, quy hoạch xây dựng và cải tạo đồng ruộng, thay đổi hệ thống sử dụng đất…

Sự phát triển bền vững trong nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động, thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (Smyth and Dumanski,1993) Sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến các hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển nông thôn, hiện tại và tương lai (Tôn Gia Huyên, 2008)

Ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được coi trọng Năm

1992 Việt Nam tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển tại Rio-de-Janero và Hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững ở Johanesburg (Nam Phi)… Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn Chương trình nghị sự 21 và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1032/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2005 về việc thành lập Hội đồng Phát triển bền vững quốc gia (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2008)

Theo Đào Lệ Hằng (2008), phát triển nông nghiệp bền vững phải đi liền với sử dụng bền vững đất nông nghiệp Nông nghiệp bền vững là bảo vệ môi trường, tạo dựng một môi trường trong lành và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên, không làm huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường

Tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững: tốt về môi trường, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu xã hội, nhạy cảm về văn hóa, áp dụng các công nghệ thích hợp, có cơ sở khoa học hoàn thiện và đem lại sự phát triển chung cho cộng đồng (Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên, 1999)

Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp bền vững, đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) vấn đề “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững” đã được đề cập vào thảo luận Sử dụng đất

Trang 27

nông nghiệp vùng trung du miền núi được nhấn mạnh phát triển theo hướng sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, bảo vệ và phát triển rừng… “Phát triển khoa học và công nghệ là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững” Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi nói chung và phát triển nông nghiệp miền núi nói riêng

- Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa

Trước nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng nên việc nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi là đòi hỏi đặt ra khi sử dụng đất, nhất là hiện nay khi quỹ đất nông nghiệp càng bị thu hẹp Biện pháp canh tác chủ yếu dựa vào tự nhiên trước đây được thay bằng việc thâm canh, tăng vụ, sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn công nghiệp… Nhờ đó, có thể làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Do đó, yêu cầu phát triển vùng sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có quy mô lớn, tập trung nhân

tố thúc đẩy sự chuyên môn hóa khu vực với mức độ khác nhau về hình thức và quy mô, từ đó hình thành những khu vực chuyên môn hóa sử dụng đất theo hướng ngành hàng, nhóm sản xuất, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục (Võ Tòng Xuân và cs., 2003)

2.1.3 Cơ sở đánh giá đất phục vụ phát triển du lịch

Năm 2012, Nghị quyết hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 về “ Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai” Theo đó, vấn đề

về nâng cao năng lực quản lý đất đai cũng đã được đề cập chi tiết, trong đó Nghị quyết nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác điều tra, đánh giá chất lượng, tiềm năng đất đai đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng đất, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật đất đai cho cộng đồng, nhất là đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Ưu tiên đầu

tư xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ đa mục tiêu ”

Nội dung nghị quyết này cho thấy, hơn lúc nào hết nâng cao hiệu quả quản

lý đất đai nói chung và quản lý sử dụng đất nông nghiệp nói riêng cần được coi là nhiệm vụ cấp bách Việc tìm kiếm các giải pháp đồng bộ, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm, hỗ trợ cây trồng, hỗ trợ thiên tai, miễn thủy lợi phí nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cải thiện thu

Trang 28

nhập từ đất nông nghiệp cho người nông dân, Để người nông dân sản xuất trên đất nông nghiệp, sống được bằng nghề nông là rất cần thiết

Việc nghiên cứu về tài nguyên đất đai không chỉ dừng lại ở việc thống kê

số lượng và chất lượng đất mà còn thực hiện việc đánh giá khả năng thích hợp đất đai đề xuất sử dụng đất hợp lý phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững (FAO, 1992)

Đánh giá tiềm năng đất đai: là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất, liên quan đến mục đích của đất được sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hóa trên cơ sở đó có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp (Đỗ Đình Sâm và cs., 2005)

Đánh giá tiềm năng cung cấp thông tin về số lượng và chất lượng đất gắn với mục đích sử dụng, mức độ thích hợp và thuận lợi, đây là cơ sở để phân bố, bố trí quỹ đất hợp lý theo hướng bền vững Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho hoạch định phát triển bền vững kinh tế xã hội, phát huy lợi thế so sánh theo đặc trưng vùng, miền Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở khoa học cho công tác lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành (nông – lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại, du lịch ) (Bùi Văn Sỹ, 2012)

- Mục tiêu của việc đánh giá tiềm năng đất đai:

+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người

+ Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như thế nào

+ Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn (Bùi Văn Sỹ, 2012)

+ Đánh giá mức độ thích hớp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai đai (Đỗ Đình Sâm, 2005)

Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất phục vụ phát triển du lịch là một hướng trong nghiên cứu tiềm năng đất Vì vậy nó sử dụng những phương pháp đánh giá tiềm năng đất nói chung

Trang 29

a Đánh giá đất theo FAO

Nhận thức rõ vai trò quan trọng, cần thiết của thực tiễn sản xuất là cần phải

có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất dối với tài nguyên đất đai, tính cấp thiết của đánh giá đất đai, phân hạng đất đai làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đánh giá đất nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa các phương pháp đánh giá đất, tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp quốc (FAO) đã tổ chức tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước và đề ra phương pháp đánh giá đất dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai (Land suitability classification) Cơ sở của phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu Năm 1970,

tổ chức Nông Lương Liên Hiệp quốc (FAO) đã tập hợp các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu ở nhiều quốc gia tổng hợp xây dựng “Đề cương đánh giá đất đai” Kết quả là Ủy ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO đã cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó được Blikman và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973

Phương pháp đánh giá sử dụng đất thích hợp của FAO (1976) là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực sử dụng tài nguyên đất đai và phát triển nông nghiệp Nguyên tắc đề ra là: mức độ thích hợp đất đai được đánh giá cho các LUT, việc đánh giá phải có sự gắn kết với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu Đồng thời đánh giá đất phải dựa trên quan điểm sinh thái và đề xuất được các loại sử dụng đất duy trì được khả năng

sử dụng trên quan điểm phát triển bền vững

Theo hướng dẫn của FAO (1976), phân hạng thích hợp đất đai được phân thành 2 bộ: thích hợp và không thích hợp

Cụ thể như sau:

* Thích hợp gồm 3 cấp: Rất thích hợp - ký hiệu S1: là những vùng đất cho là đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của sử dụng đất (đối tượng cây trồng, vật nuôi cụ thể; Thích hợp - ký hiệu S2: là những vùng đất cho là đáp ứng khá những yêu cầu của mục đích sử dụng đất; Ít thích hợp - ký hiệu S3: là những vùng đất cho là kém đáp ứng những yêu cầu của mục đích sử dụng đất

* Hạng không thích hợp - ký hiệu N: là những vùng đất cho là không đáp ứng những yêu cầu của mục đích sử dụng đất

Trang 30

Quá trình đánh giá mức độ thích hợp, các điều kiện ưu tiên cho từng lĩnh vực được tập trung vào các điều kiện:

* Tính chất thổ nhưỡng (đặc tính lý hóa, dinh dưỡng đất) ưu tiên cho đánh giá phân hạng trong trồng trọt

* Khả năng cung cấp nước (điều kiện thủy lợi) ảnh hưởng nhiều đến không chỉ trồng trọt mà cả chăn nuôi và NTTS

* Những yếu tố khí tượng thủy văn đặc biệt ảnh hưởng đến trồng trọt, NTTS, chăn nuôi cũng như lâm nghiệp

* Điều kiện về vị trí đất đai, cơ sở hạ tầng giao thông là những căn cứ quan trọng để bố trí vùng sản xuất tập trung gắn với các cơ sở chế biến, dịch vụ bao tiêu sản phẩm

* Điều kiện kinh tế xã hội: liên quan đến hiệu quả sử dụng, đầu tư chi phí, khả năng lao động và thị trường tiêu thụ

* Điều kiện môi trường: liên quan đến các vấn đề môi trường sinh thái, tác động ảnh hưởng của thoái hóa đất trong sử dụng và các biện pháp bảo vệ môi trường trong sử dụng đất

Đánh giá đất đai cung cấp những thông tin quan trọng làm cơ sở để ra quyết định trong quản lý sử dụng đất Tổ chức FAO (1976) đã đưa ra phương pháp đánh giá đất đai tự nhiên có xem xét thêm về yếu tố kinh tế Đến năm 1993, trên cơ sở kế thừa phương pháp cũ, FAO phát triển phương pháp đánh giá đất đai cho quản lý sử dụng đất bền vững (đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường) (FAO, 1976, 1993)

Bên cạnh đó, FAO cũng đã ấn hành một số hướng dẫn khác về đánh giá khả năng thích hợp đất đai cho từng đối tượng: Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa (FAO, 1983); đánh giá đất cho vùng đất rừng (FAO, 1984); đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (FAO, 1985); đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (FAO, 1989); đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1993), khung đánh giá đất đai phục vụ quản lý bền vững (FAO, 1993)

Đánh giá đất đai theo FAO đã được vận dụng có kết quả ở Việt Nam, phục vụ hiệu quả cho chương trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới cũng như cho các dự án quy hoạch sử dụng đất ở các địa phương Vũ Năng Dũng và Nguyễn Hoàng Đan (1996) đã có nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong đánh giá tài nguyên đất đai

Trang 31

vùng Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB) để xây dựng cơ sở dữ liệu, xác định các đơn vị đất đai, các kiểu sử dụng đất đai, phân hạng đánh giá đất đai, thành lập bản đồ thích hợp và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Trung du miền núi phía Bắc” Việc phân cấp các yếu tố

tự nhiên xây dựng bản đồ đơn vị đất đai dựa trên cơ sở những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng (như các chỉ tiêu thổ nhưỡng, độ sâu tầng đất, độ dốc, lượng mưa, ngập lụt, xâm nhập mặn, tưới tiêu, tổng tích ôn) Việc đánh giá tính thích hợp dựa vào đặc điểm tự nhiên (trong đó 3 yếu tố chi phối nhiều là thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước) và được phân cấp theo 4 mức độ từ rất thích hợp (S1) đến không thích hợp (N)

b Đánh giá đa chỉ tiêu (MCE)

Trong đánh giá đất cho quản lý sử dụng đất bền vững đã được một số tác giả nghiên cứu cho kết quả khả quan Lê Cảnh Định (2011) đã áp dụng phương pháp đánh giá đất cho quản lý sử dụng đất bền vững (ESLM) liên quan đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường, đây là bài toán vận dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu (MCE) cho đánh giá đất tỉnh Lâm Đồng kết quả đánh giá đất là phù hợp với thực tiễn của địa phương Võ Quang Minh (2003) đã nghiên cứu và cho rằng đây là phương pháp tập hợp các thông tin từ một số chỉ tiêu để hình thành một chỉ số duy nhất cho việc đánh giá Áp dụng trong nghiên cứu về phân định và hợp nhất cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch sử dụng đất được thí điểm tại các xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành, thành phố Cần Thơ đã cho thấy trong phương pháp này các trọng số sẽ được gán các chỉ tiêu phụ thuộc vào mức

độ quan trọng của từng chỉ tiêu và từ đó việc đánh giá thích hợp của FAO được chi chiết hóa hơn Lê Quang Trí (2006) đã áp dụng phương pháp này trong đánh giá đất xã Song Phú và huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long cho kết quả khả quan khi phân tích hệ thống canh tác với các kỹ thuật đánh đa mục tiêu Huỳnh Văn Chương và Lê Văn Mai (2012) cũng sử dụng phương pháp đa chỉ tiêu để đánh giá đất trồng cây cao su vùng đồi núi của huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế

Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu còn được sử dụng nhiều trong đánh giá môi trường chiến lược của các phương án quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội ở một số tỉnh, thành phố như Thừa Thiên Huế, Hải Phòng,

Hà Nội, Quảng Ninh Trong đó các chỉ tiêu đánh giá về kinh tế, xã hội, môi trường được cân nhắc, tổng hợp từ các tiêu chí khác nhau tại cùng một thời điểm rất rõ ràng minh bạch bằng điểm số và các hệ số tầm quan trọng từ đó xác định được phương án sử dụng đất bền vững (Phạm Ngọc Đăng và cs., 2006)

Trang 32

Nhận xét:

Có thể thấy rõ ở phạm vi lớn toàn quốc, các vùng sinh thái và phạm vi cấp tỉnh những nghiên cứu đánh giá đất đã có ý nghĩa lớn cho việc hoạch định các chiến lược quản lý sử dụng đất cũng như những định hướng cho việc sử dụng đất bền vững Tuy nhiên, những nghiên cứu đánh giá chi tiết ở phạm vi cấp huyện hoặc các vùng chuyên canh hẹp theo phương pháp của FAO kết hợp với phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu trong đánh giá đất bền vững cho kết quả chi tiết và sát với thực tiễn hơn, mối quan hệ giữa chất lượng đất, tiềm năng đất đai - khả năng khai thác, sử dụng và vấn đề duy trì độ phì đất, bảo vệ môi trường được đánh giá đúng mức nhằm đảm bảo khả năng sử dụng đất bền vững

2.2 SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH MIỀN NÚI

2.2.1 Khát quát về du lịch

Ngày nay, hoạt động du lịch đã được nhìn nhận như là ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và ngành du lịch đã trở thành ngành công nghiệp lớn nhất và là ngành kinh tế trọng yếu của Thế giới Du lịch là một trong số những ngành kinh

tế phát triển mạnh nhất trên thế giới (tốc độ tăng trưởng trung bình là 4% mỗi năm) Du lịch chiếm 10% tổng sản phẩm thực tế của toàn thế giới Đối với nhiều nước đang phát triển và các quốc gia đảo, du lịch là nền kinh tế mạnh nhất làm

cơ sở hỗ trợ cho phát triển nhiều ngành khác

Mọi hoạt động phát triển du lịch đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội

Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và

sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặc thù dân tộc

mà trước đó họ chưa biết tới, từ đó xác lập ý thức trách nhiệm về bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hóa lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của

Trang 33

hành tinh nói chung (Phạm Trung Lương, 2002)

* Định nghĩa du lịch:

- Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, 1963 đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2006)

- Trong Luật Du lịch Việt Nam, thuật ngữ “Du lịch” được định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005)

* Những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch:

- Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ

sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo ) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (nông sản, hàng hóa, điện, nước, khách sạn )

- Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ

và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch

- Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

- Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau

- Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch)

Trang 34

- Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền

- Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong

xã hội tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển du lịch hướng con người đến các vùng tự nhiên có cảnh quan hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng

to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

* Du lịch ở miền núi

Sự phát triển của thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển hiện nay đang hướng về miền núi 36% đất đai trên thế giới là miền núi, là nơi ở của khoảng 10% dân số thế giới nhưng đáp ứng 40% nhu cầu của nhân loại về các dạng tài nguyên, trong đó có một loại tài nguyên quan trọng là du lịch miền núi

Dù rằng nhiều điểm du lịch sinh thái diễn ra tại các vùng thiên nhiên hoang sơ trên miền núi, nhưng ngoài du lịch sinh thái, còn nhiều dạng du lịch miền núi khác như: du lịch đi bộ ngắm cảnh, du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm, du lịch làng bản, du lịch nghỉ dưỡng, Miền núi không chỉ thỏa mãn du khách bằng những thắng cảnh hùng vĩ, khí hậu trong lành, mà còn bằng tính đa dạng văn hóa cao của các cộng đồng dân tộc ít người (Đỗ Trọng Dũng, 2009)

Tuy nhiên, phần lớn du lịch miền núi cũng chính là du lịch ở các vùng sinh thái nhạy cảm và khó khăn Ngoài những tác động môi trường do du lịch gây ra, thì nhiều dạng sức ép môi trường nghiêm trọng cũng đòi hỏi các nhà kinh doanh và quản lý du lịch tính toán đầy đủ

- Những đặc trưng sinh thái của miền núi liên quan đến du lịch

+ Tính dễ bị tổn thương của các hệ sinh thái

Miền núi là khu vực có tính phân dị sinh thái tùy thuộc vào tính linh động của nước, vật liệu đất đá và năng lượng Môi trường miền núi có tính chất rất dễ

bị phá hủy, nhạy cảm cao với các biến động, khả năng phục hồi thấp sau khi bị

Trang 35

tàn phá Cũng vậy, các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng miền núi rất

dễ bị tổn thương và suy thoái dưới sức ép của đô thị hóa và công nghệ Chỉ cần một vài năm dưới sức ép của gia tăng dân số do nhập cư hay tái định cư, do đô thị hóa và áp dụng công nghệ sản xuất mới, một nền văn hóa bản địa vốn thích ứng tốt với điều kiện truyền thống nhiều đời có thể hoàn toàn bị đẩy vào tình trạng suy thoái (Gerrard, 1991)

+ Các quá trình động lực tự nhiên

Quá trình động lực tự nhiên ở miền núi thường kèm theo nhiều loại thiên tai nghiêm trọng, chúng xảy ra dưới tác động của nhiều quá trình động lực tổ hợp như hoạt động kiến tạo, hoạt động xói mòn và rửa trôi của nước mặt và nước ngầm, biến động khí hậu – thời tiết, biến đổi các sườn dốc, thay đổi sử dụng đất, xây dựng hạ tầng cơ sở (hồ, đập, đường), cháy rừng và phá rừng, biến động cân bằng loài do săn bắt quá mức

Xói mòn đất có lẽ là quá trình nguy hại hàng đầu ở miền núi Vùng núi cao, độ phân cắt càng lớn thì quá trình xói lở càng dữ dội Young (1974) tính toán rằng trung bình một năm trên thế giới, quá trình xói mòn làm mất 1.300 tấn đất/km2 Tuy nhiên, phải thấy rõ rằng động lực chính gây suy thoái môi trường miền núi là mối tương tác giữa hoạt động nhân sinh (trong đó có du lịch) với các

hệ sinh thái mỏng manh và nhạy cảm

* Các loại hình du lịch miền núi

- Du lịch sinh thái: là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương

Ngoài du lịch sinh thái như một kiểu du lịch riêng biệt thì du lịch miền núi thường được phân biệt dựa vào đối tượng du lịch

- Du lịch làng bản:

Các làng bản cộng đồng dân tộc ít người ở miền núi thường được tổ chức thành các điểm du lịch nhỏ Sức hút của du lịch làng bản xuất phát từ những đặc điểm như: Cảnh quan đẹp và sạch; nghề thủ công truyền thống (dệt, thêu thổ cẩm, đan mây, tre, rèn đúc nông cụ); truyền thống của làng – bản; tập tục lao động sản xuất; kiến trúc, món ăn; lối sống; trang phục dân tộc… Du lịch làng bản thường đem lại nhiều thu nhập hơn cho nhân dân địa phương thông qua sự tham gia rộng rãi của họ vào dịch vụ du lịch Tuy nhiên rất nhiều trường hợp các làng – bản du lịch chịu sức ép rất lớn từ các công ty du lịch và hướng dẫn viên, doanh

Trang 36

thu của làng chỉ chiếm một phần rất nhỏ

- Du lịch khám phá, leo núi, mạo hiểm

Khám phá cảnh quan đi bộ, leo núi, ngủ lán trại để được sống trong thiên nhiên trở thành một hình thức du lịch khá phổ biến ở các vùng núi cao Nhiều nhóm du khách còn chọn những hành trình nguy hiểm mang tính khám phá (leo vách đá, vượt thác, ngủ rừng ) để tìm cảm giác mạnh Những hành trình như vậy

có thể kéo dài hàng tuần, đòi hỏi được tổ chức chu đáo, có người địa phương dẫn đường và mang vác dụng cụ, thực phẩm

- Du lịch cảnh quan, nghỉ dưỡng

Vùng núi cao thường có khí hậu mát lành, nhiều trung tâm nghỉ mát miền núi thường chọn vị trí có độ cao trên 1000m Khách du lịch đến trung tâm này chủ yếu có mục đích nghỉ dưỡng: Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo, là những trung tâm

du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng

- Du lịch lịch sử - văn hóa: loại hình du lịch này dành cho các du khách muốn thăm quan, tìm hiểu về các di tích lịch sử - những cuộc chiến đấu và các chiến công hiển hách của quân dân ta; tham quan, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa của các dân tộc thiểu số Du khách thường đến những khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) có căn cứ cách mạng hay các khu di tích lịch sử (Điện Biên Phủ, Phú Quốc, Bạch Mã, Cần Giờ, Củ Chi )

- Du lịch lữ hành

Các tour du lịch kết hợp các phương tiện đi xe, đi bộ, đi thuyền, thậm chí cưỡi voi, cưỡi ngựa, kết hợp các mục tiêu ngắm cảnh, nghỉ mát, thăm làng bản thực sự là một loại hình du lịch thích hợp với miền núi Ở miền núi, các điểm tham quan thường cách xa nhau với hệ thống giao thông kém phát triển tỏ ra thích hợp với các tour du lịch đa dạng

Thế mạnh của du lịch miền núi chủ yếu được tạo ra từ sự hoang sơ biệt lập của các vùng này đối với nền văn minh đô thị và công nghiệp hóa, khiến cho hầu như mọi thứ ở miền núi xa xôi đều trở lên có sức hấp dẫn đối với du khách vốn phần lớn là dân cư đô thị

Không ai phủ nhận du lịch là nguồn thu nhập quan trọng của ngân sách miền núi Với các làng bản heo hút, du lịch gần như là con gà đẻ trứng vàng giúp cho xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người địa phương, tăng cường giao lưu văn hóa giữa làng bản với vùng xuôi, đô thị và quốc tế

Trang 37

Cũng nhờ có du lịch mà hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện (điện, đường, trường, trạm xá, thông tin liên lạc), điều kiện vệ sinh môi trường được nâng cấp

Sự thán phục và chiêm ngưỡng của du khách đối với các giá trị bản địa (nhà cửa, quần áo, món ăn, hàng thủ công, phong tục tập quán ) khiến cho người dân địa phương hiểu rõ hơn giá trị tinh thần – vật chất của cộng đồng mình, tự tin hơn và bớt mặc cảm trong phát triển, từ đó yêu quý, tôn trọng và giữ gìn bản sắc dân tộc Đây có thể nói là điều kiện quý giá để người địa phương

“phát hiện lại” chính mình (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2001)

* Định hướng phát triển du lịch bền vững ở miền núi

Những kinh nghiệm về phát triển du lịch miền núi ở các nước đang phát triển như: Nepal, Thailand, Việt Nam cho phép nhận diện một số phương hướng cơ bản nhằm phát triển DLBV miền núi như sau:

- Vai trò và vị trí của cộng đồng bản địa trong du lịch miền núi là vấn đề quan trọng hàng đầu: bồi dưỡng năng lực và trao quyền cho các cơ quan địa phương, tạo cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào du lịch nhằm phối hợp những nỗ lực của địa phương để duy trì thiên nhiên và có cơ hội kinh tế liên quan vì lợi ích lâu dài của tất cả mọi người Cần có các tổ chức phi chính phủ và tổ chức địa phương tham gia điều hành du lịch trên cơ sở sáng kiến cộng đồng nhằm 3 mục tiêu (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2001):

+ Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường và tài nguyên du lịch, đặc biệt là những vùng sinh thái nhạy cảm

+ Cộng đồng được cung ứng các việc làm trong ngành du lịch và có thu nhập xứng đáng từ lao động của họ Ngoài ra, một phần lợi nhuận thỏa đáng từ

du lịch phải được chi cho phúc lợi xã hội chung của địa phương

+ Liên kết, lồng ghép giữa bảo tồn – du lịch và phát triển địa phương thông qua việc lập kế hoạch và quy hoạch du lịch

- Kết hợp phát triển du lịch với dự án phát triển rừng: tổ chức vườn ươm cây, trạm cứu hộ động vật, trồng rừng với chính sách giao đất giao rừng cho nhân dân quản lý

- Tập huấn và tổ chức cho phụ nữ tham gia vào hoạt động du lịch tại chỗ thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ nhà trọ sinh thái, sản xuất hàng lưu niệm,

Trang 38

cải thiện vệ sinh làng bản, cung ứng lương thực thực phẩm cho du lịch từ sản xuất nông nghiệp, trồng rau và làm vườn

- Cung ứng và phổ biến các công nghệ tiết kiệm nhiên liệu và thay thế củi, đó là: bếp lò cải tiến, hệ thống sử dụng năng lượng mặt trời và thủy điện, thay thế củi bằng ga lỏng, hệ thống đun nước nóng hoàn lưu, phát triển các trạm thủy điện nhỏ

- Quản lý tốt chất thải và xử lý chất thải

- Thực hiện chương trình giáo dục du khách, tiếp thị du lịch có trách nhiệm kết hợp với chương trình nâng cấp giáo dục cho người địa phương: xóa

mù chữ, phổ cập cấp tiểu học, dạy ngoại ngữ dùng cho giao tiếp du lịch

2.2.2 Mối quan hệ giữa quản lý sử dụng đất nông nghiệp và phát triển du lịch

2.2.2.1 Sự tương tác giữa quản lý sử dụng đất nông nghiệp và du lịch

Du lịch và nông nghiệp là những ngành độc lập trong nền kinh tế và ở tùy từng quốc gia, địa phương, từng thời kỳ khác nhau mà vai trò và tỷ trọng của chúng cũng thay đổi Tuy nhiên, nhìn chung thì cả du lịch và nông nghiệp đều là những ngành kinh tế quan trọng Du lịch là một ngành được phát triển dựa trên

sự tương tác và liên kết với các ngành, các khu vực kinh tế khác Những sáng kiến dựa vào các ngành có lợi thế khác để phát triển du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch trong việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, từ đó mở rộng thị trường và tăng doanh thu Ngược lại, việc đưa du lịch vào các ngành khác cũng có những tác động trực tiếp đối với bản thân ngành đó và những người lao động trong ngành, đồng thời tác động gián tiếp lên những đối tượng có liên quan khác Không nằm ngoài quy luật đó, việc phát triển du lịch dựa trên nông nghiệp hay nói cách khác là khai thác du lịch dựa vào khai thác các tài nguyên đất nông nghiệp, cơ sở vật chất, nhân lực, văn hóa của hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi cũng dựa trên nền tảng mối quan hệ qua lại, tương tác giữa nông nghiệp và du lịch Bằng việc tăng cường mối quan hệ giữa du lịch và nông nghiệp, phát triển những sáng kiến du lịch nông nghiệp trên phạm vi lớn, các địa phương, các quốc gia có thể tối đa hóa cơ hội phát triển cũng như tính bền vững trong tương lai của cả hai ngành kinh tế này Trước hết, phải hiểu rõ được mối quan hệ giữa nông nghiệp và du lịch, từ đó sẽ giúp hiểu

rõ khái niệm du lịch nông nghiệp – sự kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch, giúp nhìn nhận rõ ràng vai trò quan trọng của việc phát triển du lịch dựa trên nông nghiệp cũng như việc phải củng cố nền nông nghiệp để có thể phát triển du lịch

Trang 39

- Nông nghiệp là nền tảng của du lịch

Có thể nói nông nghiệp, ở đây có ý nghĩa bao gồm cả cảnh quan, cơ sở vật chất, con người, văn hóa, sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, là tài sản quý giá đối với du lịch, nhất là trong giai đoạn hiện nay và tương lai Trước đây, người ta chỉ nhìn nhận nông nghiệp hỗ trợ cho du lịch thông qua cung cấp lương thực, thực phẩm cho các khách sạn, du khách Tuy nhiên, càng ngày khi tốc độ đô thị hóa ở rất nhiều nơi diễn ra với tốc độ nhanh, quy mô lớn, đời sống của con người càng hiện đại thì nhu cầu được gần gũi với thiên nhiên, với cảnh quan không khí đồng quê, được quay về với những hoạt động nông nghiệp truyền thống sẽ ngày càng tăng Thêm vào đó, khi con người ngày càng quan tâm đến vấn đề sức khỏe nhiều hơn thì họ có xu hướng muốn tìm hiểu về nguồn gốc, cách thức chế biến của các loại thực phẩm dùng hàng ngày như lúa gạo, rau, hoa quả, thịt, trứng, sữa… Phải thừa nhận rằng, môi trường nông thôn với các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và đời sống của những con người ở đó là môi trường giáo dục về thiên nhiên, môi trường, văn hóa và giải trí, nghỉ ngơi rất tốt cho những người thành thị Một điều quan trọng nữa là ngày nay khi các vấn đề về bảo vệ thiên nhiên, môi trường, đảm bảo an ninh lương thực, phát triển bền vững đang được quan tâm trên toàn thế giới, nhận thức và sự hiểu biết của người dân cũng tăng lên khá nhiều thì việc du lịch gắn với bảo vệ, giáo dục kiến thức về thiên nhiên, môi trường, hỗ trợ những cộng đồng bản địa càng trở lên hấp dẫn hơn Những nhu cầu và bối cảnh như vậy đã làm xuất hiện cầu cho một loại hình du lịch mới gọi là “Du lịch nông nghiệp” (Bùi Lan Hương, 2010)

- Những tác dụng cơ bản của việc phát triển du lịch kết hợp nông nghiệp + Giúp đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch cho du khách

+ Gia tăng luồng du khách đến các vùng nông thôn

+ Kéo dài mùa vụ du lịch trong những thời gian hạn chế vốn có của ngành

du lịch

+ Định vị một cách độc đáo các vùng nông thôn như thị trường du lịch quan trọng

+ Là nguồn thu ngoại tệ thu hút được từ du khách nước ngoài

2.2.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp gắn với du dịch

Sử dụng đất nông nghiệp kết hợp du lịch là một hướng đi giúp xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng

Trang 40

xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số một cách bền vững nhưng vẫn bảo tồn được văn hóa và bảo vệ môi trường sống lẫn môi trường tự nhiên Du khách tham gia

du lịch nông nghiệp không chỉ được chiêm ngưỡng nét đặc sắc trong cuộc sống đời thường, cảnh quan thiên nhiên phong phú, môi trường trong lành, khí hậu mát mẻ với những món ăn dân dã, đậm đà, làm quen với những người dân chân chất hiền hòa mà họ còn được tham gia thực tế cuộc sống sinh hoạt thường ngày cũng như lao động sản xuất trực tiếp cùng với người dân bản địa Đặc biệt ở những bản, làng xa xôi, nơi có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, cảnh quan còn hoang sơ, những phong tục, tập quán xa xưa của đồng bào còn được lưu truyền, chưa bị mai một ngày càng thu hút khách du lịch

Du lịch kết hợp nông nghiệp là một loại hình du lịch mà sản phẩm được tạo ra để phục vụ du khách chủ yếu dựa vào nền tảng của hoạt động sản xuất nông nghiệp Do vậy, tài nguyên của loại hình du lịch này là tất cả những gì phục

vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Từ tư liệu sản xuất, đất đai, con người, quy trình sản xuất, phương thức tập quán kỹ thuật canh tác và sản phẩm làm ra đến những yếu tố tự nhiên có liên quan đến sản xuất nông nghiệp như thời tiết, khí hậu, canh tác… đều là cơ sở tài nguyên cho du lịch nông nghiệp Nhờ có hoạt động du lịch việc tiêu thụ nông sản hàng hóa được ổn định, thuận lợi hơn Các nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua các cơ sở lưu trú, kinh doanh dịch vụ, nhà hàng, quầy bán hoa quả các sản phẩm nông nghiệp tại các địa điểm du lịch Đây là hành động thiết thực, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, nâng cao đời sống người nông dân, quảng bá cho nông sản của các địa phương, đồng thời giúp cho khách

du lịch được thưởng thức đặc sản, tăng chất lượng dịch vụ và góp phần kích cầu, thu hút thêm khách du lịch Qua đây có thể thấy được mối quan hệ cộng sinh giữa phát triển du lịch với sản xuất nông nghiệp hàng hóa của địa phương (Ngô Kiều Oanh, 2012)

Không gian tổ chức các hoạt động du lịch nông nghiệp cho du khách là trang trại, đồng ruộng, vườn cây, rừng trồng đến cả những ao nuôi, cơ sở thuần dưỡng động thực vật hoang dã… Chúng là những đơn vị không gian cụ thể thuộc

về các tổ chức lãnh thổ nông nghiệp cụ thể như một hộ gia đình, một trang trại, một hợp tác xã hay là một doanh nghiệp nông nghiệp… Các chủ thể tham gia tổ chức du lịch nông nghiệp có thể là chủ hộ, nhà vườn, chủ rừng, chủ trang trại, chủ cơ sở, hợp tác xã nông nghiệp, tổ hợp tác, chủ doanh nghiệp nông nghiệp…

Ngày đăng: 26/10/2016, 22:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3. Vườn dâu tây công nghệ cao ở Đà Lạt - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 2.3. Vườn dâu tây công nghệ cao ở Đà Lạt (Trang 54)
Hình 4.2. Sơ đồ du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 4.2. Sơ đồ du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (Trang 108)
Hình 4.3. Tuyến – Điểm du lịch huyện Điện Biên - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 4.3. Tuyến – Điểm du lịch huyện Điện Biên (Trang 111)
Bảng 4.33.  Phân hạng thích hợp đất đai tổng hợp các LUT nông nghiệp - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Bảng 4.33. Phân hạng thích hợp đất đai tổng hợp các LUT nông nghiệp (Trang 137)
Hình 4. Sông Nậm Rốm (Nguồn: UBND tỉnh Điện Biên) - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 4. Sông Nậm Rốm (Nguồn: UBND tỉnh Điện Biên) (Trang 228)
Hình 3. Ảnh 2 lúa – màu xã Thanh Xương, huyện Điện Biên - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 3. Ảnh 2 lúa – màu xã Thanh Xương, huyện Điện Biên (Trang 228)
Hình 5. Lễ Xên Bản tại bản Mển, xã Thanh Nƣa - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 5. Lễ Xên Bản tại bản Mển, xã Thanh Nƣa (Trang 229)
Hình 8. Bia hận thù Noong Nhai, xã Thanh Xương - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 8. Bia hận thù Noong Nhai, xã Thanh Xương (Trang 230)
Hình 9. Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, xã Mường Phăng - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 9. Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, xã Mường Phăng (Trang 231)
Hình 10. Diễu binh Kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 10. Diễu binh Kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ (Trang 231)
Hình 11. Múa xòe bản Ten, xã Thanh Xương - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 11. Múa xòe bản Ten, xã Thanh Xương (Trang 232)
Hình 17. Khu sinh thái khoáng nóng UVA, xã Noong Luống - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 17. Khu sinh thái khoáng nóng UVA, xã Noong Luống (Trang 235)
Hình 18. Suối khoáng nóng Hua Pe, xã Pe Luông - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 18. Suối khoáng nóng Hua Pe, xã Pe Luông (Trang 235)
Hình 19. Canh tác nương rẫy - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 19. Canh tác nương rẫy (Trang 236)
Hình 25. Chăn nuôi Dê ở xã Mường Pồn - Nghiên cứu quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ phát triển du lịch huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Hình 25. Chăn nuôi Dê ở xã Mường Pồn (Trang 239)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w