Lí do chọn đề tài Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹ năng tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bài tập.Phương pháp g
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi học sinh cần phải có kỹ năng
tư duy và sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải các bài tập.Phương pháp giải bài tập hóa học giữ vai trò quan trọng trong các phương pháp dạyhọc của bộ môn Trong quá trình giải bài tập, kiến thức được mở rộng, giáo viên cóđiều kiện sửa sai được cho học sinh Từ đó, các em được rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức đã học vào từng trường hợp cụ thể, mở rộng kiến thức hoá học vàocác lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày
Trong quá trình giảng dạy việc phân dạng và đưa ra các bài tập cụ thể chotừng trường hợp là rất quan trọng, đặc biệt đối với bài tập dạng nhận biết lại càngcần thiết hơn, bỡi bài tập loại này có nhiều dạng với các phương pháp giải rất đadạng Do đó, việc đưa ra các bài tập phù hợp với từng dạng nhằm giúp các em họcsinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các dạng bài tập này Đồngthời, cũng là một cẩm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu trongquá trình giảng dạy đưa nhận thức của học sinh ngày một nâng cao
Thực tiễn giảng dạy ở Trường THCS Thiệu Chính tôi thấy, học sinh thườngrất lúng túng đối với các bài tập dạng nhận biết, sự đa dạng của loại bài nhận biếtthường đẩy học sinh vào bế tắc trong khi dạng bài tập này lại rất phổ biến trong hầuhết các kỳ thi Do đó việc phân loại và biết được phương pháp giải từng dạng củabài tập nhận biết là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi học sinh Qua dạngbài tập nhận biết còn củng cố kiến thức về mặt lý thuyết mà học sinh đã được học
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học bản thân cũng rất trăn trở vớiviệc nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn Vì vậy, tôi đã lựa chọn sáng kiến
kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" để chia sẻ cùng đồng nghiệp.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Chương trình hóa học THCS ngoài nhiệm vụ hình thành ở học sinh những
kiến thức hóa học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng, năng lực nhận thức chohọc sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng
Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hóa học
ở trường THCS tôi muốn đưa ra cách phân loại và phương pháp giải bài nhận biếtcác chất vô cơ giúp học sinh có thể vận dụng để giải từng bài tập cụ thể Từ đó họcsinh sẽ yêu thích bộ môn Hóa học hơn và nâng cao chất lượng bộ môn Hóa củaTrường THCS Thiệu Chính
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, đối tượng tôi lựa chọn nghiêncứu là:
- Tìm hiểu các dạng bài tập nhận biết các chất vô cơ và phương pháp giải từng dạng
Trang 2- Tìm hiểu khả năng vận dụng các phương pháp giải dạng bài tập nhận biết các chất
vô cơ của học sinh trường THCS Thiệu Chính
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống:
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
- Đây là dạng bài tập phổ biến nhưng để giải được dạng bài tập này một cách nhanhchóng, ngắn gọn, khoa học thì học sinh cần phải có bảng thuốc thử đặc trưng dùng
để nhận biết các chất vô cơ
- Trong sáng kiến kinh nghiệm này bản thân cũng đã mạnh dạn đưa ra cách giảibằng sơ đồ từ đó giúp học sinh nhớ kiến thức nhanh và lâu hơn
- Bằng những kinh nghiệm của bản thân và qua tìm hiểu, tham khảo, trao đổi vớiđồng nghiệp đã đưa ra những bài tập phù hợp với từng dạng cụ thể
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo có viết "quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn " [1] Trong dạy học Hoá học đã khẳng định "không có tri thức thì sẽ không có
kỹ năng Không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển kỹ năng Ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kỹ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kiến thức đó cũng trở thành vô dụng ” [2]
Thông qua việc giải bài tập hoá học giúp học sinh hình thành, rèn luyện củng
cố kỹ năng về Hoá học Từ đó kiến thức lý thuyết sẽ được nắm vững thực sự nên cóthể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành bài tập lý thuyết và thực hành Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc giải các bài tập nhận biết ở nhiềuhọc sinh còn rất mơ hồ, lúng túng và cho là khó không những đối với TrườngTHCS Thiệu Chính nơi đang công tác nói riêng mà đó cũng là thực trạng chung củacác trường THCS hiện nay Đa phần là do nhiều học sinh chưa nắm vững lý thuyếthoặc kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức thực tế còn kém, nhưng phần lớn các
em chưa biết chọn lọc kiến thức đặc trưng của từng chất để nhận biết Muốn làmcác bài tập nhận bết thành thạo các em phải dựa vào các phản ứng hóa học đặctrưng để nhận biết, nghĩa là phản ứng đó phải là phản ứng gây ra các hiện tượngbên ngoài mà giác quan ta có thể cảm nhận và cảm thụ được Cụ thể là dùng mắt đểnhận biết hiện tượng hoà tan; kết tủa; mất màu; tạo màu hay đổi màu Dùng mũi đểnhận biết các mùi vị đặc trưng như NH3 có mùi khai; SO2 có mùi sốc; H2S mùitrứng thối Tuyệt đối không dùng phản ứng không đặc trưng Vậy đòi hỏi họcsinh phải nắm vững lý thuyết về tính chất hoá học và biết phản ứng nào là đặctrưng, từ đó vận dụng làm bài tập Nhưng để nhớ được tính chất hoá học đặc trưngcủa vô số chất thì quả là khó Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lốihọc thụ động, máy móc, cần phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phươngpháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại
Từ thực tế giảng dạy, bằng hiệu quả đạt được nhất định trong năm học 2016
- 2017, tôi đã mạnh dạn lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm rèn
kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" với mong
muốn giúp các em thích học môn Hóa học hơn và biết phân dạng bài nhận biết từ
đó có phương pháp giải phù hợp nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trườngTHCS Thiệu Chính nói riêng và của huyện Thiệu Hóa nói chung
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Thực tế giảng dạy ở trường THCS Thiệu Chính cho thấy đã có một bộ phận
học sinh do khó hiểu, khó khăn trong lĩnh hội kiến thức không muốn học Hóa học,ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của Hóa học Nhiều trường do thiết bị vàhóa chất đã lâu chưa có điều kiện thay mới nên khi tiến hành thí nghiệm gặp nhiều
Trang 4khó khăn hoặc kết quả thường không chính xác, vì vậy giáo viên và học sinh đôikhi ít thực hiện Do đó một lượng lớn kiến thức Hoá học của các em bị hổng Ởtrường THCS Thiệu Chính nơi tôi đang công tác đa số HS cũng trong tình trạng đó.Hơn nữa với một bài tập nhận biết thì việc vận dụng lý thuyết và kết quả thực hànhlại càng quan trọng, đặc biệt tính chất đặc trưng của mỗi chất, đó là chìa khóa đểgiúp học sinh giải bài tập một cách hiệu quả nhất.
Bài tập nhận biết các chất vô cơ các em đã được làm quen ở chương trình lớp
8 nhưng còn rất nhiều hạn chế thường chỉ sử dụng ở cuối học kỳ II Trong chươngtrình lớp 9 với số lượng bài tập nhận biết nhiều nên việc phân loại và đưa ra đượcphương pháp giải phù hợp cho từng dạng làm sao cho hiệu quả thì phần lớn các emchưa biết hoặc chưa thành thạo
Khảo sát kết quả ban đầu bằng phiếu học tập qua 4 bài nhận biết ở HS khối 9đầu năm học 2016 - 2017 như sau:
Hơn nữa nhận biết hóa vô cơ với số lượng lớn các bài tập với nhiều dạngkhác nhau, mỗi dạng lại có rất nhiều phương pháp giải Việc vận dụng phươngpháp nào vào giải từng dạng bài tập cho hiệu quả rất nhiều học sinh còn lúng túng
Vì vậy đòi hỏi các em phải luyện tập nhiều lần thì mới hình thành kỹ nănggiải thành thạo được
b) Về phía giáo viên:
Lượng kiến thức Hóa học rất nhiều mà số tiết lại ít nên phần lớn chỉ cho họcsinh nắm được kiến thức lý thuyết là đã hết thời gian nên việc đưa ra các dạng bàitập và các phương pháp giải là không nhiều Đặc biệt nếu không phân hóa rõ đốitượng HS để phân dạng bài tập cũng như phương pháp giảng dạy phù hợp, sẽ dẫnđến tình trạng học sinh chỉ chép cho đầy vở mà không biết gì
Trang 5Trong đó dạng bài tập nhận biết đòi hỏi học sinh phải nhớ những hiện tượng củacác phản ứng đặc trưng, vì vậy bản thân học sinh và giáo viên phải trực tiếp tiếnhành cho học sinh quan sát nhưng dụng cụ và hóa chất đã lâu ( do nhiều trường bảoquản không tốt hoặc chưa có điều kiện thay mới) nên thường khó tiến hành hoặckết quả thường khó chính xác Do đó dẫn đến học sinh khó nhớ và khó vận dụng Sau thời gian tìm hiểu và nắm bắt rõ hơn đối tượng HS, cũng như vị trí củadạng bài tập này trong dạy học bộ môn Để góp phần làm đơn giản hoá các khó
khăn tôi đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm“Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng phân dạng và giải bài tập nhận biết các chất vô cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy cho học sinh lớp 9 ở Trường THCS Thiệu Chính, Thiệu Hóa" Việc đưa ra các
phương pháp giải phù hợp với trình độ, điều kiện và năng lực của học sinh trongnăm học qua đã thu được kết quả nhất định
2.3 Các giải pháp thực hiện:
2.3.1 Hệ thống phân loại bài tập nhận biết
Trong quá trình dạy học tôi đã chia thành một số dạng bài tập sau:
2.3.2 Nguyên tắc và phương pháp giải dạng bài tập nhận biết
- Muốn nhận biết hay phân biệt các chất ta phải dựa vào phản ứng đặc trưng và cócác hiện tượng: như có chất kết tủa tạo thành sau phản ứng, đổi màu dung dịch, giảiphóng chất có mùi hoặc có hiện tượng sủi bọt khí Hoặc có thể sử dụng một số tínhchất vật lí (nếu như bài cho phép) như nung ở nhiệt độ khác nhau, hoà tan các chấtvào nước
Nhận biết chất
Nhận biết các chất trong hỗn hợp
Phương pháp định lượng
Phương pháp
định tính
Phương pháp định lượng Phương phápđịnh tính
Dùng thuốc thử không giới hạnDùng thuốc thử hạn chế
Nhận biết các chất riêng biệt
Dùng thuốc thử hạn chế
Trang 6- Phản ứng hoá học được chọn để nhận biết là phản ứng đặc trưng đơn giản và códấu hiệu rõ rệt Trừ trường hợp đặc biệt, thông thường muốn nhận biết n hoá chấtcần phải tiến hành (n – 1) thí nghiệm.
- Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầu của đềbài, đều được coi là thuốc thử
2.3.3 Phương pháp trình bày một lời giải về nhận biết
* Bước 1: Lấy mẫu thử các chất nhận biết vào các ống nghiệm (đánh số thứ tự)
* Bước 2: Chọn thuốc thử (tuỳ thuộc yêu cầu đề bài yêu cầu: Thuốc thử tuỳ chọn,
hay hạn chế, hay không dùng thuốc thử bên ngoài, )
* Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu, trình bày hiện tượng quan sát được (mô tả hiện
tượng) rút ra kết luận đã nhận được hoá chất nào
* Bước 4: Viết phương trình phản ứng minh hoạ ( nếu có)
Ta thấy rằng bước 2 là quan trong nhất học sinh phải xác định được phải dùngthuốc thử nào, cách làm nào để phân biệt được Muốn vậy các em phải nắm rõ phảnứng đặc trưng mà các em có thể tìm hiểu qua các bảng mà giáo viên cung cấp sau:
MỘT SỐ THUỐC THỬ DÀNH CHO HỢP CHẤT VÔ CƠ
BẢNG 1 TRẠNG THÁI, MÀU SẮC CỦA CÁC ĐƠN CHẤT VÀ HỢP CHẤT:
CuS, FeS, NiS, Kết tủa đen Fe2O3 Nâu đỏ
BẢNG 2.NHẬN BIẾT MỘT SỐ CHẤT KHÍ
Trang 71.SO2 -Nước brom: làm mất màu Br2
- DD KMnO4: Làm mất màu
-Dung dịch H2S: ↓ màu vàng
- Dd I2: Nhạt màu vàng của I2
- Dung dịch Ca(OH)2 dư: Làm
cho nước vôi trong bị vẩn đục
SO2 + Br2 + 2H2O " 2HBr + H2SO45SO2 + 2KMnO4 + 2H2O " 2H2SO4 +2MnSO4 +K2SO4
SO2 + 2H2S → 3S↓ + 2H2OSO2 + I2 + 2H2O → H2SO4 + 2HISO2 + Ca(OH)2 → CaSO3↓ + H2O 2.Cl2 - Màu vàng lục, mùi sốc
- Làm quì tím ẩm mất màu
- Dung dịch KI
- Làm mất màu dung dịch brom
Cl2 + H2O → HCl + HClO ( tẩy màu)Cl2 + 2KI → 2KCl + I2
I2 làm xanh giấy tẩm hồ tinh bột2Cl2 +Br2 + 6H2O → 2HBrO3 + 10HCl3.N2 Que diêm đang cháy dở: que
- Khí NO: Hóa nâu khi gặp O2 2NO + O2 → 2NO2 ↑ (màu nâu)
6.NO2 - Hòa tan kim loại hoặc làm quì
tím hóa đỏ trong nước khi sục
NO2 và O2 vào
- Làm quì tím ẩm hóa đỏ
2NO2 + H2O + O2 → 2HNO3 8HNO3 + 3Cu → 3Cu(NO3)3 + 2NO + 4H2O
3NO2 + H2O -> 2HNO3 + NO7.CO2 - Dd Ca(OH)2 dư: bị vẩn đục CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3↓ + H2O8.CO - Làm CuO (đen) thành Cu (đỏ)
Làm vẩn đục dung dịch PbCl2
CuO + CO t o Cu + CO2
CO + PbCl2 +H2O → Pb↓+ 2HCl +CO29.H2S - Mùi trứng ung
- Làm quì tím ẩm hóa đỏ
-Kết tủa đen với dd Cu(NO)3
- Tạo kết tủa vàng với HNO3 (l)
- Tạo bột màu vàng với SO2
- Làm mất màu dung dịch Br2
Cu(NO)3 + H2S → CuS + 2HNO3 3H2S + 2HNO3l → 3S↓ + 2NO + 4H2OSO2 + H2S → 3S↓ + 2H2O
H2S + 4Br2 + 4H2O →8HBr + H2SO410.O3 - dd KI: Làm xanh giấy tẩm hồ
tinh bột
O3 + 2KI + H2O → 2KOH + O2↑ + I2
11.H2 - Cháy với ngọn lửa màu xanh
nhạt kèm theo tiếng nổ nhỏ
- Chuyển CuO (đen) -> Cu (đỏ)
2H2 + O2 → 2H2O CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2OCuO + H2 t o Cu + H2O
12.SO3 - Tạo kết tủa với dd BaCl2
Trang 8- Bị nhạt màu bởi Cl2, SO2 SO2 + 2H2O + Br2 → H2SO4 + 2HBr14.O2 Làm Cu đỏ hoá đen 2Cu + O2 t o 2CuO
15
H2O
- Hơi nước làm cho CuSO4
(khan, màu trắng) -> màu xanh
CuSO4 + nH2O → CuSO4.nH2O (màu xanh)
+ Đốt cháy, q/s ngọn lửa
→ tan + dd đục + H2Cháy với ngọ lửa màu đỏ
+ AgNO3
→ tan + dd xanh + NO2 ↑ màu nâu
Cu + HNO3 ->Cu(NO3)2 +2NO2 +H2O
Cu + AgNO3 -> Cu(NO3)2 + Ag
Ag + HNO3, sau đó cho
NaCl vào dung dịch
→ tan + NO2 ↑ nâu + ↓ trắng
Ag + 2HNO3 -> AgNO3 + NO2 + H2OAgNO3 + NaCl -> AgCl + NaNO3
Au + HNO3Đặc, HCl đặc tỉ lệ
mol 1:3
→ tan + NO↑ hóa nâu ngoài không khí
BẢNG 4 OXIT Ở THỂ RẮNNa2O,
K2O,
BaO
+ H2O Tan , dung dịch làm xanh giấy quì
Na2O + H2O -> 2NaOHK2O + H2O -> 2KOHBaO + H2O -> Ba(OH)2CaO + H2O
+ dd Na2CO3
→ tan, dd đục, CaO + H2O -> Ca(OH)2CaO + H2O + Na2CO3 -> CaCO3 ↓+2NaOHP2O5 + H2O Tan, làm đỏ quì tím; P2O5+3H2O ->2H3PO4Al2O3 Tan trong cả axit và
kiềm
Al2O3 + 6HCl -> 2AlCl3 + 3 H2OAl2O3 + NaOH -> 2NaAlO2 + H2OCuO + dd HCl, HNO3, H2SO4 Tạo dd màu xanhCuO + 2HCl -> H2O+ CuCl2Ag2O + dd HCl đun nóng Ag2O + 2HCl -> H2O+ 2AgCl↓ trắng
MnO2 + dd HCl đun nóng MnO2 +4HCl ->MnCl2+ 2H2O+ Cl2↑vàng lục
BẢNG 5 CÁC DUNG DỊCH MUỐI ( NHẬN BIẾT GỐC AXIT)
Trang 9Ag+ + Br- → AgBr↓ vàng nhạtI- + Br2, Cl2 + hồ tinh bột
+ AgNO3
Cl2 + 2I- -> 2Cl- + I2→ dd có màu xanh
→AgI↓ vàng đậm
S2- + Cd(NO3)2, Pb(NO3)2 → CdS↓ vàng, PbS↓ đen
SO42- + dd BaCl2 , Ba( NO3)2 Ba2+ + SO42- → BaSO4 ↓ trắng
SO32- + dd axit mạnh H2SO4,
→ CO2 ↑ làm đục nước vôi trongCO2 + Ca(OH)2 -> CaCO3 + H2O
→ BaCO3↓, CaCO3↓ trắng
- PO43- + dd AgNO3 PO43- + 3Ag+ -> Ag3PO4 ↓ vàng
- NO3- + H2SO4 đặc + Cu Khí màu nâu bay ra : NO2
Cu + 2NO3- + 4H+ -> Cu2+ + 2NO2 + 2H2OSiO32- + dd axit mạnh → H2SiO3↓ trắng keo
- gốc
AlO2-+ dd Ba(OH)2, Ca(OH)2+ dd axit dư
→ BaCO3↓, CaCO3↓ trắng
→ Al(OH)3↓ sau đó tan dầnBẢNG 6 NhẬn biẾt kim loẠi trong muỐiNa+
→ Na+ cháy với ngọn lửa màu vàng
→ K+ cháy với ngọn lửa màu tím
→ Rb+ cháy với ngọn lửa màu đỏ huyết
→ Cs+ cháy với ngọn lửa màu xanh da trời
→ Ba2+ cháy với ngọn lửa màu lục (hơi vàng)
→ Ca2+ cháy với ngọn lủa màu đỏ da cam
Mg2+ Dd OH- Mg2+ + 2OH- -> Mg(OH)2 ↓ trắng keo
- Fe2+ Dd OH-
+ dd thuốc tím
trong H+
Fe2+ + 2OH- -> Fe(OH)2 ↓ trắng xanh
dd mất màu tím và hơi ngã sang màu vàng nhạt 5Fe2+ + MnO4- + 8H+ → Mn2+ + 5Fe3+ + 4H2O
- Fe3+ + dd OH-
+ dd chứa SCN-
Fe3+ + 3OH -> Fe(OH)3↓ nâu đỏ
Fe3+ + 3SCN- → Fe(SCN)3 dd màu đỏ máu
- Al3+ + dd OH- đến dư → Al3+ +3OH-→ Al(OH)3 ↓trắng keo sau đó tan
Al(OH)3 + OH- → AlO2- + H2O
- Pb2+ +dd Na2S, dd H2S PbS↓ đen, PbCl2 ↓ trắng
- Cu2+ + dd OH- → Cu(OH)2 ↓ xanh: Cu2+ + OH- →Cu(OH)2
Zn2+ + dd OH- đến dư ↓màu trắng sau đó tan :
Cd2+ Dùng S2- Kết tủa màu vàng: Cd2+ + S2- → CdS
Hg2+ Dùng I
-Kết tủa màu đỏ:
Ag+ Dùng AgCl Kết tủa màu trắng: Ag+ + Cl- → AgCl
Sr2+ Dùng gốc SO42- Kết tủa màu trắng: Sr2+ + SO42- → SrSO4
2.3.4 Các giải pháp cụ thể cho từng phương pháp
Trang 10Trong quá trình giảng dạy bài tập hoá học cho HS tôi luôn tập hợp các dạngbài tập từ dễ đến khó từ vận dụng đơn giản đến vận dụng kiến thức tổng hợp và cósáng tạo Đối với dạng bài tập này cũng vậy học sinh phải được luyện tập từ bài tập
dễ đến bài khó, từ đơn giản đến phức tạp
Một bài tập nhận biết HS cần xác định rõ đề bài yêu cầu là nhận biết bằngtính chất vật lý, hay nhận biết bằng tính chất hóa học hoặc nhận biết dựa vào cả haitính chất Để giải bài tập nhận biết học sinh có thể giải ra nháp với cách giải từngbước hoặc sơ đồ
2.3.4.1 Phương pháp vật lý
a) Nguyên tắc : Thông thường những tính chất vật lý mà học sinh có thể dựa vào
đó để nhận biết là: tính tan, trạng thái, màu sắc, mùi vị, t0 sôi, t0 nóng chảy [3]
b) Các ví dụ cụ thể
- Phương pháp định tính
Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày cách nhận biết các khí sau đựng
trong các lọ riêng biệt: Cl2, H2, NH3, H2S
Hướng dẫn giải:
Khí nào có màu vàng lục là Cl2 Các khí còn lại không màu là: H2, NH3 , H2S
mở nắp lấy tay phẩy nhẹ khí nào có mùi khai là NH3; Khí nào có mùi trừng thối làH2S; Khí còn lại không có mùi gì là H2
- Phương pháp định lượng: HS phải dùng một số phương pháp như cân, đo, đong,
đếm để phân biệt các chất đó
Ví dụ 1: Bằng phương pháp vật lý hãy trình bày 2 cách phân biệt 2 lọ chứa 2 chất
bột kim loại màu trắng bạc : Al và Fe