Vậy, làm thế nào để những giờ học văn bản này không trở nên nhàm chán,giáo điều đơn điệu hoặc bị sa vào kho kiến thức khổng lồ nhưng xa lạ với họcsinh hiện nay và làm thế nào để nâng cao
Trang 1I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/ Đặt vấn đề:
Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đónói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảmcho học sinh Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ Điều đónói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác Học môn Ngữ văn sẽ có tácđộng tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phầngiúp học tốt môn Ngữ văn Cho nên tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tínhthực hành giảm lý thuyết gắn với đời sống
Hơn nữa, Ngữ văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những kiếnthức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn bị chocác em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học cao hơn Đócũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung vàNgữ văn 8 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạytheo tinh thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần đượcquan tâm nhất hiện nay Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiệnđại Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhậnthức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từng phương diện kiếnthức đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khả năng thông hiểu và vận dụngkiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học, phân môn cụ thể trong chươngtrình học tập theo nhiều cách khác nhau Vì thế, việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc,
hệ thống và lâu bền hơn
Trong những năm gần đây, nền giáo dục Việt Nam đang có sự chuyển đổimới để theo kịp các nước phát triển, hội nhập với nền văn hóa thế giới Côngcuộc đổi mới không chỉ dừng lại ở việc thay đổi sách giáo khoa mà còn thay đổi
cả ở phương pháp dạy học, dự giờ Những cuộc hội thảo khoa học, nhữngchuyên đề tích hợp các phương pháp dạy học liên tiếp được thực hiện nhằm đưa
ra giải pháp tối ưu cho người dạy và người học Vận dụng tích hợp kiến thức liên môn trong một giờ học là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang
được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó cóViệt Nam Qua việc tích hợp kiến thức liên môn trong tiết học trên lớp, học sinhđược rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách sâu rộng, có hệthống, biết tư duy lô-gic và quan trọng hơn là tạo được sự hứng thú, say mê vớimôn học
Ngữ văn là một trong những môn học có nhiều tiết học trong chương trìnhgiáo dục trung học cơ sở (THCS) Điều đó cho thấy vị trí và tầm quan trọng của
bộ môn này trong quá trình học tập của học sinh Bộ môn này cũng có mặt trongdanh sách các môn thi bắt buộc của học sinh Tuy nhiên trên thực tế, khôngnhiều học sinh yêu thích môn học này Thậm chí, rất nhiều em chán ghét và sợ,mỗi khi đến giờ học Ngữ văn Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệntượng trên, phải kể đến khối lượng các tác phẩm mà các em phải tiếp nhận trongsuốt bốn năm học Chương trình Ngữ văn THCS có phạm vi thời gian kéo dài từ
Trang 2Văn học dân gian cho đến Văn học hiện đại, trải dài theo chiều dài lịch sử củađất nước Học sinh của thế kỷ XXI phải học những tác phẩm của hàng ngàn,hàng trăm năm về trước Sự chênh lệch thời gian kéo theo sự thiếu hiểu biết vềnhiều lĩnh vực khác nhau nên khi tìm hiểu một tác phẩm văn học các em gặpphải không ít những khó khăn
Trong chương trình Ngữ văn 8 học kỳ II, phần học về các văn bản nghị luậntrung đại đặt ra nhiều trăn trở đối với giáo viên khi soạn giảng Đồng thời, khitìm hiểu để soạn bài và việc học bài của học sinh cũng là một trở ngại lớn
Vậy, làm thế nào để những giờ học văn bản này không trở nên nhàm chán,giáo điều đơn điệu hoặc bị sa vào kho kiến thức khổng lồ nhưng xa lạ với họcsinh hiện nay và làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn 8 nóichung và phần văn học trung đại nói riêng là điều mà tôi quan tâm, trăn trở?Xuất phát từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra
tìm hiểu vấn đề : “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn
8 phần văn bản Trung đại bằng cách tích hợp kiến thức liên môn trong dạy-học”.
2/ Mục đích đề tài:
Trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS, văn học trung đại có một vị trírất quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam Gần một ngànnăm Bắc thuộc, dù chịu nhiều ảnh hưởng về chữ viết, văn học, triết lý, phong tụctập quán của phương Bắc nhưng dân tộc Việt Nam với ý thức quốc gia và tinhthần tự chủ cao độ đã không mệt mỏi đấu tranh để giữ gìn bản sắc dân tộc vàtruyền thống cha ông Các tác phẩm nghị luận trung đại được đưa vào giảng dạytrong Ngữ văn 8 phần nào đã phản ánh được điều đó Tuy nhiên, việc giảng dạycác văn bản này sao cho học sinh dễ hiểu và có thể cảm nhận được lại rất khókhăn đối với giáo viên đồng thời làm sao để việc học tập của các em được vậndụng thiết thực vào đời sống của chính các em cũng không mấy dễ dàng
Mục đích của việc dạy tích hợp trong môn Ngữ văn không chỉ dừng lại ởviệc tích hợp khép kín “trong nội bộ phân môn Ngữ văn” mà người dạy phảigiúp cho người học tự học, sáng tạo, bồi dưỡng tư duy, tâm hồn, hiểu và biếttổng hợp, vận dụng các kiến thức của các môn học vào trong bài học để tiết họcsinh động, gây hứng thú cho học sinh trong giờ học Qua đó học sinh sẽ tiếp thu
và nắm vững nội dung bài học một cách hợp lý có hiệu quả hơn Bên cạnh việctích hợp kiến thức của các môn học giáo viên cần lưu ý hướng dẫn cho học sinhthói quen tìm hiểu và biết vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết một vấn đề.Bởi vì việc học sinh tự tìm hiểu kiến thức cho nội dung bài học sẽ mang lại mộtcách tiếp cận mới đa chiều để các em bước vào bài học một cách hiệu quả nhất.Qua đó tạo cho học sinh hứng thú, tích cực hơn trong học tập
Trang 3trong chương trình Ngữ văn 8 ở học kì II Do đó, bản thân tôi muốn tìm hiểu đểtìm ra một số giải pháp có thể giúp nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn 8phần văn bản trung đại nhằm giúp cho học sinh nâng cao năng lực sử dụngnhững kiến thức và kĩ năng mà các em đã lĩnh hội từ giáo viên, từ đó các em tựhuy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết nhữngtình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ hoặcmột tình huống chưa từng gặp trong cuộc sống Tuy nhiên, vấn đề mà tôi nêu ratrong đề tài là đi sâu vào nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữvăn 8 phần văn bản Trung đại bằng cách tích hợp kiến thức liên môn trong dạy- học ở một địa phương cụ thể đó là xã Long Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnhLong An.
Trang 4II/ NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM:
vì vấn đề đặt ra khác thời đại sống; tư tưởng, giá trị thẩm mỹ hoàn toàn khácthời đương đại mà một phần do các em rất khó tiếp cận, không hiểu hoặc hiểuchưa sâu mục đích của văn chương thời bấy giờ: Văn dĩ tải đạo, thơ dĩ ngôn chí.Thụ động học tập còn thể hiện ở chỗ, tác phẩm bao giờ cũng là trung hòa củacác yếu tố nghệ thuật, tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán, địa lý, lịch sử,
Do đó giúp học sinh tiếp cận đúng các tác phẩm trung đại, tìm ra được phươngpháp đúng nhất người giáo viên phải cung cấp, rèn luyện, tạo cho các em thóiquen học đa chiều, tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết tốt một vấn đề.Văn học trung đại Việt Nam được viết bằng hai loại chữ: chữ Hán và chữNôm Chữ Hán vốn mượn của người Trung Quốc còn chữ Nôm là mẫu tự docha ông ta sáng tạo ra Các tác phẩm nghị luận trong chương trình Ngữ văn 8đều được viết bằng chữ Hán Gồm bốn văn bản sau đây: Chiếu dời đô (Lý CôngUẩn); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đạicáo- Nguyễn Trãi); Bàn luận về phép học (La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp)
Trên thực tế, việc dạy các tiết phần văn bản trung đại trong môn Ngữ văn 8hiện nay hiệu quả chưa cao; với học sinh, các em có vẻ xem nhẹ phần văn bảntrung đại và lúng túng trong việc tiếp cận nó
Do đó, tôi đã làm một cuộc khảo sát học sinh của trường với các câu hỏi nhưsau:
1) Phân biệt các thể loại: hịch, chiếu, cáo, tấu đã được học?
2) Giới thiệu tác giả và hoàn cảnh ra đời của một văn bản thuộc các thể loạitrên?
3) Việc nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La có ý nghĩa như thế nào?4) Em hiểu thế nào về quan điểm “độc lập và chủ quyền” trong văn bản
“Nước Đại Việt ta”, trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước ta?
- Mục đích của việc khảo sát:
+ Phân biệt được đặc điểm cơ bản của các thể loại nghị luận trung đại ViệtNam
+ Nắm được và trình bày ngắn gọn về tác giả và hoàn cảnh ra đời của mộtvăn bản nghị luận được học
Trang 5+ Nói được ý nghĩa to lớn và lâu dài của việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La, cóđối chiếu với lịch sử của đất nước từ thế kỷ X đến nay để thấy được sự sáng suốtđúng đắn của Lý Thái Tổ từ thế kỷ X.
+ Hiểu được quan điểm độc lập và chủ quyền của dân tộc là không kẻ thùnào được phép xâm phạm Liên hệ với thực tế đất nước để thấy được sự hi sinh
to lớn cho toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam hôm nay
Thông qua hồ sơ học tập và việc khảo sát học sinh của trường, tôi đã thuđược kết quả như sau:
- Phần lớn học sinh không hứng thú vào giờ học Ngữ văn đặc biệt là phầnvăn bản trung đại
- Không khí lớp học nặng nề, thiếu sôi nổi, học sinh ngại học những tiết Ngữvăn
- Học sinh nắm được những thông tin cơ bản về tác giả nhưng hoàn cảnh rađời và mục đích chính của văn bản thì trình bày còn rất lộn xộn Nhiều em cònnhầm lẫn thể loại của văn bản
- Phần hiểu ý nghĩa văn bản của học sinh còn rất hạn chế Ở câu 3 và 4 nhiều
em không liên hệ được với hiện tại
- Tỉ lệ học sinh hứng thú khi học phần văn bản trung đại là: 36,84%
- Bảng thống kê kết quả khảo sát học sinh:
Tỉ lệ học sinh
đạt 01 câu
Tỉ lệ học sinhđạt 02 câu
Tỉ lệ học sinhđạt 03 câu
Tỉ lệ học sinhđạt 04 câu
2/ Nội dung cần giải quyết:
Với thực tế về tình trạng học tập môn Ngữ văn của các em còn thấp, tôi đãtiến hành điều tra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Nguyên nhân thì cónhiều song theo tôi, do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
2.1/ Đối với giáo viên:
Đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo, quan tâm đếnhọc sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau:
- Có giáo viên chỉ tập trung chuyển tải một cách rập khuôn những thông tin
có trong bài học mà chưa chú trọng khai thác những vấn đề liên quan
- Giáo viên còn lúng túng khi đưa ra hệ thống câu hỏi khai thác cũng nhưphương pháp triển khai những văn bản văn học
- Vẫn còn hiện tượng giáo viên thiếu nhiệt tình trong quá trình tìm tòi, sưutầm những kiến thức liên quan bổ sung cho nội dung bài dạy dẫn đến khả năngtích hợp còn hạn chế
- Mặt khác, kiến thức lý luận văn học của một bộ phận giáo viên chưa thật sựvững vàng
- Việc dạy văn bản trong chương trình đổi mới luôn lấy tiêu chí bám sát thểloại và kiểu bài Tập làm văn Đây cũng là một hạn chế trong việc học văn bảnvăn học Sự gò ép buộc các em phải nắm được nghệ thuật nghị luận của văn bản
Trang 6khiến cho giờ học mất đi chất văn chương, không có sự gần gũi thực tế vì thờigian không cho phép giáo viên đi sâu hoặc mở rộng vấn đề trong bài dạy củamình.
- Đồ dùng để sử dụng trong dạy- học Ngữ văn còn rất hạn chế, do vậy giáo
viên gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy, học sinh chưa phát huy được tính tích
cực, sự hứng thú và chủ động trong học tập
2.2/ Đối với học sinh:
- Phần lớn học sinh đều xuất thân và sinh sống ở vùng nông thôn, vùng sâuvùng xa, vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều đi làm ăn xa, ít cóthời gian quan tâm con em mình Bản thân các em còn phải phụ giúp gia đìnhngoài giờ lên lớp, không có thời gian học
- Một số học sinh vì lười học, chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế chogiờ học Ngữ văn
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí nhưxem ti vi, chơi game, ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học
bị lôi cuốn, xao nhãng việc học
- Đa số học sinh còn nhiều hạn chế trong việc tiếp thu và cảm thụ văn bảnvăn học Một mặt do trình độ nhận thức của một số học sinh còn yếu, chưa có tưduy sáng tạo
- Học sinh chưa năm bắt được mối liên hệ giữa thời đại thông qua bộ mônlịch sử với giá trị phản ánh của tác phẩm văn học
- Hiện nay, một số học sinh sử dụng sách tham khảo, nhiều tài liệu bán trênthị trường chất lượng kém dẫn đến một thực trạng có nhiều ý kiến đánh giá khácnhau về một tác phẩm làm cho các em lúng túng, thiếu tự tin, bị động, thiếu sựtìm tòi, đánh giá, phân tích chi tiết Không phát huy được tính tích cực, chủ độngsáng tạo của từng cá nhân Vì vậy phần lớn các em sao chép tài liệu một cáchmáy móc không xác định được kiến thức trọng tâm trong từng đơn vị bài học
- Một thực tế đang tồn tại ở trường THCS Long Thạnh nữa là học sinh bịhỏng kiến thức từ các cấp, lớp học dưới, các em học trước quên sau Cho nênhọc sinh rất khó tiếp thu được kiến thức của văn bản khi chưa hiểu hết ý nghĩacủa các yếu tố lịch sử, điển cố, điển tích, các nội dung mang tính cổ xưa sử dụngtrong đó
- Phần lớn học sinh ít có tư liệu để đọc, tham khảo và cũng chưa có thói quenđọc sách tham khảo để bổ sung kiến thức môn học
- Đây là thể loại mới rất lạ với học sinh lớp 8 và trong chương trình không cókiểu bài giới thiệu tiến trình văn học (văn học sử) nên các em khó hình dungđược không khí lịch sử của thời đại Mặt khác, việc giảng dạy các văn bản nàyđều qua bản dịch Đây là một khó khăn không nhỏ khi tích hợp với Tiếng Việttrong việc hiểu và giải nghĩa các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố Điểm nổibật trong tác phẩm này là sự thuyết phục người đọc bằng lí trí và tình cảm Tuy
là một văn bản nghị luận chính trị song lại có nhiều hình ảnh rất gợi cảm với thểvăn biền ngẫu, uyển chuyển mạnh mẽ, giàu nhạc điệu nên phong cách dạy cũngkhác với thể loại thơ trữ tình hoặc tự sự
Trang 7- Tác giả của các tác phẩm được học đều là những nhân vật lịch sử nổi tiếngtrong quá khứ Nhưng học sinh thiếu sự am hiểu về các nhân vật lịch sử cho nênkiến thức lịch sử dù đã được học ở bộ môn Lịch sử nhưng đều rơi rụng nhiều khihọc Ngữ văn.
- Học sinh chưa xây dựng được hoặc chưa thực hiện nghiêm túc việc học ởnhà, khâu soạn bài thường làm chiếu lệ để đối phó là chính Áp lực của các mônhọc khác khiến cho các em có ít cơ hội để mở rộng việc tìm hiểu bài học thôngqua các kênh thông tin khác
- Nguyên nhân khách quan là hiện nay do một số văn bản dung lượng quá dài
so với thời lượng 45- 90 phút nghiên cứu trên lớp, học sinh rất khó có thể nắmbắt hết được toàn bộ các giá trị của văn bản văn học
Với một thực trạng nêu trên, nhất thiết phải có hướng khắc phục, trước tiênchúng ta hãy từng bước vận dụng hình thức giảng dạy theo hướng tích hợp kiếnthức liên môn để hỗ trợ khi cần cho từng tiết dạy và có thể kiểm tra để thấy hiệuquả nhận thức của học sinh Chính vì thế, tôi đã tiến hành áp dụng một số giảipháp nâng cao chất lượng giảng dạy Ngữ văn 8 phần văn bản Trung đại bằngcách tích hợp kiến thức liên môn trong dạy-học
3/ Biện pháp giải quyết:
Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp kiến thức liên môn vẫn hướngtheo quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tậpcủa học sinh trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách pháthuy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh Do vậy, việc lựa chọn và
sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý giúp học sinh tích hợp các kiếnthức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năngthuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình huốngtích hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng riêng rẽ của cácphân môn vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội các kiến thức và pháttriển năng lực, kĩ năng tích hợp Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp đểhọc sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức và kĩ năng đã tiếp thutrong “nội bộ các phân môn” Đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy học
để học sinh trực tiếp tham gia vào giải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp;biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về cách thứcchiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng Ngoài ra, việc dạy học tích hợp kiếnthức các môn học còn giúp cho học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của mình Giáo viên cần chú trọng mối quan hệ giữa học sinh vớisách giáo khoa, từ đó phải buộc học sinh chủ động tự đọc, tự làm việc độc lậptheo yêu cầu trong sách giáo khoa và theo hướng dẫn của giáo viên thì hiệu quảgiờ dạy- học đạt chất lượng cao hơn
Muốn học sinh hứng thú với môn học, muốn có hiệu quả trong giảng dạy họcNgữ văn không thể không đổi mới phương pháp Kiến thức ngày càng đa dạng,
có xu hướng xích gần nhau hơn đặc biệt là các môn khoa học xã hội có sự gắnkết chặt chẽ Việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một vấn đề khôngphải là câu chuyện hoàn toàn mới Nó đã được nhắc đến, được thực hiện từ rất
Trang 8lâu Những giáo viên có kinh nghiệm vẫn đang làm, học sinh khá- giỏi các emcũng đang làm Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để đại bộ phận giáo viên và tất cảhọc sinh cùng hưởng ứng, cùng làm Trong Ngữ văn có Lịch sử; trong Ngữ văn
có Địa lí; trong Ngữ văn có văn hóa, có âm nhạc, có hội họa, có tư tưởng, có giátrị thẩm mỹ Làm thế nào để một tác phẩm mãi sống, mãi lung linh tỏa sáng,thắm ngắm vào tâm hồn mỗi học sinh, để các em không chỉ hiểu mà còn biết
sống đẹp, sống cần lao động là vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên dạy Ngữ văn Do
đó, tích hợp kiến thức liên môn trong giảng dạy các tác phẩm văn học trung đạikhông còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nó trở thành nhiệm vụ của mỗi ai đã,đang và sẽ là giáo viên dạy Ngữ văn trong mỗi nhà trường
Từ thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nâng cao chấtlượng giảng dạy Ngữ văn 8 phần văn bản Trung đại bằng cách tích hợp kiếnthức liên môn trong dạy-học như sau :
- Hịch: Là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hay
thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ vũ động viên, thuyết phục hoặc kêu gọi đấutranh chống thù trong giặc ngoài
- Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh
dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả của một sự nghiệp để mọingười cùng biết
- Tấu: là một loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày
sự việc, ý kiến, đề nghị
* Về đặc trưng:
- Thuyết phục bằng lí trí và tình cảm: Nghệ thuật nghị luận chặt chẽ, sắc bén,
từ ngữ và hình ảnh cô đọng, gợi ấn tượng sâu sắc
- Dùng lối văn biền ngẫu biến hoá linh hoạt, nhịp nhàng Khi thì là văn xuôi,khi là văn vần
- Văn- sử- triết bất phân
- In đậm thế giới quan con người trung đại: Tư tưởng mệnh trời, thần, tâm lísùng cổ, sùng bái tổ tiên,…
3.1.2/ Phân biệt sự khác nhau của bốn thể loại nghị luận:
Trang 9+ Tấu: Nêu ý kiến, đưa ra đề nghị, yêu cầu bằng cách lập luận xác đáng vàthuyết phục.
- Khác nhau về đối tượng viết và nhận:
+ Chiếu, hịch, cáo: do vua, chúa hoặc thủ lĩnh viết và thần dân, binh lính,…tiếp nhận
+ Tấu ( biểu, sớ): do thần tử, bề tôi, quan tướng viết dâng lên vua chúa
3.1.3/ Nắm vững kiến thức về văn học sử
Một trong những hạn chế của chương trình sách giáo khoa mới là phá vỡ tính
hệ thống của văn học sử, do việc chọn Tập làm văn làm tiêu chí lựa chọn vănbản giảng dạy Do hạn chế này nên học sinh không được tiếp xúc với những bàidạy về văn học sử Mà cả bốn văn bản trung đại được học đều có mối liên quanmật thiết đến lịch sử Giáo viên cần nắm chắc kiến thức lịch sử để có cái nhìnbao quát, từ đó có thể lựa chọn phương pháp phù hợp khi hướng dẫn các emhiểu văn bản từ góc độ lịch sử Có như vậy thì giá trị của tác phẩm văn học mớiđược hiểu một cách cặn kẽ
3.1.4/ Chuẩn bị vốn từ Hán Việt, nắm chắc các điển tích, điển cố văn học
Do đặc điểm viết bằng chữ Hán nên khi dịch sang tiếng Việt, các văn bảnkhông tránh khỏi việc phải sử dụng nguyên vẹn các từ Hán Bên cạnh đó, còn cómột khối lượng điển tích, điển cố rất hay Việc dùng các điển tích, điển cố có tácdụng giúp cho sự diễn đạt trở nên ngắn gọn mà vẫn giàu ý nghĩa và thuyết phụcngười đọc, người nghe một cách ấn tượng Ngoài những chú thích được giảinghĩa trong sách giáo khoa, giáo viên cần tìm hiểu để nắm kĩ hơn nội dung củachúng Khi cần thiết, để tăng sự hứng thú cho các em dễ hình dung và nắm bắtkiến thức, giáo viên có thể kể ngắn gọn
3.2/ Chuẩn bị về phương pháp:
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương phápthích hợp Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
3.2.1/ Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học
như Tiếng Việt và Tập làm văn
3.2.2/ Tích hợp dọc: Là tích hợp với các kiến thức thuộc các môn học khác
hoặc kiến thức đời sống xã hội,…
3.3/ Sử dụng hệ thống câu hỏi:
3.3.1/ Loại câu hỏi tái hiện:
Với loại câu hỏi này, học sinh sẽ được yêu cầu phát biểu, trình bày lại vấn đề.Câu hỏi này chỉ là để chuyển tiếp tới nội dung phức tạp hơn Các câu hỏi nàykhông cần thời gian suy nghĩ mà chỉ cần sự phát hiện của học sinh (ví dụ đượcthể hiện ở phần phụ lục trang 17)
3.3.2/ Loại câu hỏi rèn năng lực tư duy và sử dụng ngôn ngữ:
Trên cơ sở học sinh đã hiểu nội dung, giáo viên sử dụng loại câu hỏi này đểyêu cầu học sinh phát hiện và trình bày lại về nội dung tư tưởng, quan điểmnghệ thuật của tác phẩm Loại câu hỏi này không thể dựa vào kết quả có sẵn đã
Trang 10biết Học sinh cần vận dụng năng lực tư duy của mình để sắp xếp lại các sự kiện,chi tiết, lựa chọn ngôn từ, cách lập luận, để diễn đạt một cách chính xác, rõràng vấn đề Dạng câu hỏi này dùng để kiểm tra kiến thức, ôn tập, củng cố (ví
dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang 17)
3.3.3/ Câu hỏi giải thích:
Loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh sau khi đã hiểu thấu đáo nội dung thì cầnphải biết chọn lọc chi tiết để giải quyết vấn đề được giáo viên đưa ra Học sinhphải có những hoạt động tư duy sau để giải quyết như: định hướng sự việc, lựachọn chi tiết, nắm được bản chất của vấn đề trong sự so sánh đối chiếu với toàn
bộ nội dung đã học (ví dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang 18)
3.3.4/ Loại câu hỏi nêu vấn đề:
Câu hỏi nêu vấn đề thường được sử dụng trong những hoạt động đòi hỏi họcsinh tư duy, đối chiếu, so sánh,…để tìm hiểu những vấn đề khó của bài học Nó
có tác dụng vừa củng cố vừa khắc sâu kiến thức vừa có hướng mở ra những khảnăng tìm tòi những cách giải quyết những hướng sáng tạo mới để giải quyết vấn
đề một cách toàn diện và sâu sắc Giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài dạy để chọnnhững vấn đề trọng tâm để đặt câu hỏi yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm (ví
dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang 18)
3.4/ Xác định mục tiêu chính của bài dạy.
3.4.1/ Đảm bảo những mục tiêu cơ bản trong sách giáo khoa, sách giáo viên
và chuẩn kiến thức- kỹ năng Việc này giúp học sinh phát huy khả năng cảm thụđược tinh thần chung của mỗi tác phẩm trung đại
3.4.2/ Chọn đưa thêm một vài nội dung cần hướng học sinh tìm hiểu và tiếp
nhận để các em phát huy được khả năng liên hệ thực tế, gắn tác phẩm với đờisống hiện đại, từ đó các em sẽ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị của mỗi tácphẩm (ví dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang 18, 19)
3.5/ Điều chỉnh phương pháp tích hợp đã thực hiện theo hướng sử dụng kiến thức liên môn.
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương phápthích hợp Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
* Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học như
Tiếng Việt và Tập làm văn
- Tích hợp với Tiếng Việt: Giáo viên luôn xác định dùng kiến thức của TiếngViệt là để giúp học sinh cảm nhận nội dung văn bản một cách sâu sắc Nhất thiếtkhông được biến một phần bài học thành giờ học Tiếng Việt Cũng không nênquá cứng nhắc trong tích hợp với Tiếng Việt, khi những đơn vị kiến thức tíchhợp không mấy liên quan đến bài học Giáo viên chỉ nên tập trung vào nhữngđơn vị kiến thức Tiếng Việt có tác dụng trực tiếp đến sự cảm thụ của học sinh
Ví dụ:
+ Trong văn bản Hịch tướng sĩ cần chú trọng trong việc làm sáng tỏ giá trịcủa các câu hỏi tu từ: đây là những câu hỏi tu từ có khả năng khơi gợi suy nghĩ,
Trang 11tình cảm của người nghe và thấy được thái độ nghiêm khắc trong phê phán, baodung trong động viên, khích lệ tướng sĩ của người chủ tướng giàu ân tình.
+ Trong Bàn luận về phép học cần chú ý khai thác các chú thích để hiểu rõ tưtưởng của tác giả trong việc học, đạo học (tam cương, ngũ thường, đạo,…)
- Tích hợp với Tập làm văn: Việc ôn tập lại luận điểm và luận cứ trong vănnghị luận chính là mục tiêu cơ bản trong tích hợp của các văn bản này Bởi lẽ, cảbốn văn bản đều sử dụng nghệ thuật nghị luận rất sắc sảo Ngay từ phần tìm hiểucấu trúc của văn bản, giáo viên đã hướng dẫn học sinh bám sát bố cục và hệthống luận điểm trong văn nghị luận Bài dạy cần được triển khai trên cơ sở củamột văn bản nghị luận: từ luận điểm đến tìm các luận cứ và xác định phươngpháp lập luận
Ví dụ: Bố cục và hệ thống luận điểm trong Chiếu dời đô
Vấn đề chính: ý tưởng dời đô (vừa là mệnh lệnh thể hiện ý chí của nhà vua,vừa nêu ý kiến để thảo luận)
- Luận điểm 1: Cần dời đô khỏi Hoa Lư vì không còn phù hợp (phân tíchnhững lí do dẫn đến việc dời đô)
+ Lí lẽ 1: Nhìn vào gương sáng đời xưa (đã nhiều lần diễn ra việc dời đô)Dẫn chứng: Nhà Thương và nhà Chu ở Trung Quốc dời đô là đúng nên đấtnước phát triển lâu bền
+ Lĩ lẽ 2: Thực tế hai triều Đinh và Lê (định đô mãi ở một nơi)
Dẫn chứng: Đất nước khó phát triển, các triều đại đều ngắn ngủi
- Luận điểm 2: Đại La là mảnh đất lí tưởng trong việc chọn làm kinh đô(trình bày ý chí định đô ở một vùng đất mới)
+ Lí lẽ 1: Đại La có nhiều lợi thế để phát triển đất nước (chính trị, kinh tế,
vị trí địa lý,…)
Dẫn chứng: (về vị trí thuận lợi, về kinh tế phát triển, về chính trị ổn định,…)+ Lí lẽ 2: Nhà vua chọn Đại La làm kinh đô (bày tỏ ý chí đồng thời không ápđặt mà nêu ý kiến để hỏi thần dân)
* Tích hợp dọc: Là tích hợp với các kiến thức liên môn thuộc các môn học
khác hoặc kiến thức đời sống xã hội,…
- Như trên đã trình bày, các văn bản nghị luận này đều có chung đặc trưng làtính văn học sử rất rõ ràng Vì thế, cần sử dụng kiến thức lịch sử để tích hợp Tất
cả các bài dạy đều liên quan đến những sự kiện lịch sử nổi tiếng của đất nước.Giáo viên cần tìm hiểu, lựa chọn kiến thức sẽ đưa vào tích hợp để tránh đượcviệc giờ học Ngữ văn biến thành một bài giảng Lịch sử thuần tuý
Ví dụ: Việc nêu hoàn cảnh ra đời của bài Hịch tướng sĩ chỉ cần nhấn mạnhvào thời điểm xuất hiện của nó (khoảng năm 1285) và lí do tại sao Trần QuốcTuấn lại viết bài hịch này (sau gần 30 năm kể từ khi quân Nguyên thất bại lầnthứ nhất, vì một thời gian dài được sống trong hoà bình, an nhàn nên một bộphận tướng sĩ có tư tưởng tư lợi cá nhân Thực tế, đất nước đang đứng trướcnguy cơ kẻ thù tìm cớ xâm lược lần nữa Để giúp tướng sĩ nhận rõ nguy cơ này,Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch động viên tướng sĩ luyện tập theo binh thư đểchống lại kẻ thù)
Trang 12- Mặt khác, để giúp học sinh cảm và hiểu các tác phẩm có từ thời trung đại
mà vẫn mới mẻ trong thời hiện đại, cần sử dụng các kiến thức về Địa lý, Giáodục công dân, Âm nhạc, Mĩ thuật phù hợp với mục tiêu bài dạy đề ra
Ví dụ:
- Dạy văn bản Chiếu dời đô thì liên hệ với việc bảo tồn di tích lịch sử, vănhóa ngày nay Tìm thông tin về việc di tích Tràng An được công nhận là Di sảnvăn hóa thế giới Từ đó khơi dậy niềm kiêu hãnh và lòng tự hào dân tộc Mặtkhác, tìm thông tin hoặc ra đề bài cho học sinh về nhà tìm hiểu về quá trình pháttriển cũng như những thành tựu của nền văn hóa Thăng Long để thấy được tầmnhìn của vua Lý Thái Tổ
- Dạy văn bản Hịch tướng sĩ thì liên hệ với tín ngưỡng thờ cúng Trần HưngĐạo ở khắp nơi trên đất nước ta để học sinh thấy được đức độ cao cả của ngài
Từ đó học sinh có ý thức quan sát, tìm hiểu và làm theo
- Ở mỗi bài dạy giáo viên cho học sinh liên hệ về mặt thể loại để thấy rằngbốn thể văn này ngày nay chúng ta vẫn sử dụng nhưng dưới những hình thứckhác nhau
+ Chiếu: ngày nay dùng hình thức phát ngôn hoặc đưa ra thảo luận góp ýrộng rãi trong cả nước (ví dụ như thảo luận về Hiến pháp, các dự luật, )
+ Hịch: ngày nay tồn tại dưới hình thức lời kêu gọi, lễ phát động, các phongtrào hưởng ứng,…
+ Cáo: ngày nay là các văn bản thông báo của nhà nước, các tuyên bố chung,
…
+Tấu: Những đề án, những dự án đề xuất lên cấp trên để cùng thảo luận, bànbạc và quyết sách,
3.6/ Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy – học:
Một trong những biện pháp đổi mới phương pháp dạy- học Ngữ văn là đổimới việc sử dụng đồ dùng dạy học để học sinh gần gũi hơn với tác phẩm, đểnhững kiến thức văn học bớt phần trừu tượng Có như vậy mới giúp được các
em cảm thụ tác phẩm tốt hơn Đồ dùng trực quan để văn bản nghị luận cổ hầunhư không có (chỉ có ba bức tranh, ảnh trong sách giáo khoa: chùa một cột,tượng Trần Hưng Đạo, tranh minh họa Nguyễn Trãi viết cáo) Ngoài nhữngtranh, ảnh này chúng tôi đã sưu tầm trên mạng Internet một số các tư liệu làtranh ảnh cả tĩnh và động để minh hoạ Phần này cần tận dụng tối đa ưu thế củaviệc sử dụng máy chiếu Nếu soạn được giáo án điện tử thì càng tốt Tuy nhiêncần lưu ý sử dụng hạn chế số lượng tranh ảnh để học sinh tập trung vào việc ghinhớ có ấn tượng sâu sắc (tranh ảnh ví dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang20,21)
3.7/ Dùng sơ đồ trong phân tích và tổng kết bài học:
Do đặc điểm các văn bản đều thuộc loại văn nghị luận nên trong dạy học giáoviên luôn bám sát hệ thống luận điểm, luận cứ và nghệ thuật lập luận đầy sứcthuyết phục Không có cách gợi mở và kết luận nào tốt hơn việc lập sơ đồ đểhọc sinh hình dung, liên hệ và từ đó nắm chắc không chỉ kiến thức văn bản màcòn có thể biết cách làm văn nghị luận ngay trong học văn bản Tôi đã phân chia