1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8 ở trường PT cấp 2 dân tộc nội trú ngọc lặc

23 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 222 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể một câu chuyện rồi rút ra luận điểm, miêu tả đểrút ra luận điểm, dẫn dắt rồi nêu ra luận điểm, quy nạp các hiện tượng mà rút raluận điểm, từ việc trình bày bối cảnh để rút ra l

Trang 1

8 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 02

9 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 11

10 2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục 02

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phươngpháp dạy học là vấn đề trọng tâm và luôn được đặt lên hàng đầu Chúng ta phảiluôn nhận thấy rằng: Chỉ có đổi mới phương pháp dạy học thì mới thật sự đổimới trong giáo dục, mới tạo ra con người năng động, sáng tạo và hội nhập

Có thể nói, đổi mới dạy học hiện nay là hướng tới hoạt động học tập chủđộng, chống và xoá bỏ thói quen học tập thụ động truyền thống để đào tạo ranhững con người trong xã hội có năng lực thực hành Đổi mới phương pháp dạyhọc được vận dụng ở tất cả các môn học nói chung và bộ môn Ngữ văn nóiriêng Đối với môn Ngữ văn là một môn học đã và đang thực hiện việc đổi mớimột cách triệt để Đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện, Đổi mới ở

các phân môn: Đọc - hiểu văn bản, phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn

Đối với phân môn Tập làm văn thì rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản, kỹnăng xây dựng đoạn văn nằm trong phạm vi đổi mới phương pháp dạy học Đặcbiệt, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh là vấn đề hết sức quan trọng

và cần thiết trong việc tạo lập văn bản Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức

và nhân cách cũng như trình độ học vấn cho các em Qua việc rèn luyện kĩ năngviết đoạn văn, học sinh có được ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọnggia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới nhữngtình cảm cao đẹp Cũng rèn cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu

có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật và trong đờisống, trước hết là trong văn học để có năng lực thực hành và năng lực sử dụngTiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp

Trong năm học 2018 – 2019, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ Vănlớp 8 Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy: đối với phần lớn học sinh thì phânmôn Tập làm văn, mà nhất là phần văn Nghị luận rất khó và trừu tượng nên kếtquả học tập của học sinh chưa cao Vì thế, để viết được một bài văn nghị luậnđúng và hay học sinh cần phải rèn luyện rất nhiều kĩ năng Một trong những yếu

tố làm nên sức hấp dẫn của văn nghị luận đó là những đoạn văn hay Có nhiềuđoạn văn hay trong bài sẽ tạo ra một bài văn hay bởi đoạn văn là một bộ phậncủa văn bản Mỗi đoạn văn của một văn bản có tính độc lập tương đối Nếu táchđoạn văn ra khỏi văn bản thì đoạn văn đó có tư cách như một văn bản nhỏ; cònđoạn văn nằm trong văn bản thì từng đoạn văn vẫn luôn luôn có sự liên kết chặtchẽ với các đoạn văn khác Rèn tốt được kĩ năng viết đoạn văn nói chung và viếtđoạn văn trong văn bản nghị luận nói riêng, học sinh cần có sự hướng dẫn tỉ mỉ,

kĩ càng của giáo viên

Từ những lí do đã nêu ở phần trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: Một số giải pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh lớp 8 ở trường Phổ thông Cấp 2 Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc để nghiên cứu và thử

nghiệm Bài viết là những kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy

bộ môn Ngữ Văn 8 tại nhà trường

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu để làm rõ các trường hợp học sinh chưa biết cách viết đoạn vănnghị luận, trên cơ sở đó có biện pháp dạy học phù hợp với đối tượng là học sinhtrong trường nói chung và trong khối, lớp mình phụ trách nói riêng

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng mà tôi lựa chọn nghiên cứu, thử nghiệm cho đề tài của mình là

học sinh lớp 8A, 8B trường Phổ thông Cấp 2 Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc, huyện

Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện viết sáng kiến kinh nghiệm tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đề tài

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trong thời gian giảng dạy tôi đã tổng kết được một số kinh nghiệm áp dụng vào việc phục vụ cho nội dung đề tài

- Phương pháp thực nghiệm: Tôi đã sử dung phương pháp này đối với học

sinh lớp 8A, 8B trường Phổ thông Cấp 2 Dân tộc Nội trú Ngọc Lặc đạt hiệu quả

tốt

1.5 Những điểm mới của SKKN:

Rèn kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận là một thao tác quan trọng trongviệc tạo lập văn bản Từ việc xây dựng đoạn văn, học sinh có thể bộc lộ trực tiếp

tư tưởng, quan điểm, chính kiến của mình và lập luận để bảo vệ quan điểm,chính kiến mà mình đưa ra Học sinh tự quyết định cách viết đoạn văn theo cácphương pháp khác nhau (diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích) Đồng thờirèn luyện kỹ năng làm bài kiểm tra theo cấu trúc đề mới dạng bài 200 chữ đếnbài 300 chữ

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của văn nghị luận:

Nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiếncủa mình bằng càch dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ mộtvấn đề về chân lí nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình vớinhững ý kiến của mình và hành động theo những điều mình đề xuất

Văn nghị luận được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tưtưởng, một quan điểm nào đó Vì thế nó thường có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ,dẫn chứng thuyết phục Và trong bài văn, đoạn văn nghị luận thường có bốn đặcđiểm cơ bản sau:

a “Vấn đề có ý nghĩa xã hội” là nội dung nghị luận:

Thuật ngữ “ vấn đề” được nảy sinh trong quan hệ giữa cái quen thuộc, đãbiết và cái xa lạ, chưa biết, “vấn đề” xuất hiện do nhu cầu thực tiễn và lí luận.Tìm hiểu vấn đề, xác định rõ vấn đề, phân tích, lí giải vấn đề và giải quyếtvấn đề một cách khách quan, khoa học là tính chất nghiên cứu của quá trìnhnghị luận

Trang 4

Chúng ta đều biết là “vấn đề” chỉ có thể trở thành trọng tâm bàn bạc, thảoluận khi nào vấn đề ấy chứa đựng ý nghĩa xã hội Nó phải là vấn đề được nhiềungười quan tâm, giải quyết Với cách hiểu vấn đề như thế sẽ thấy rõ tính chấtphong phú của ý kiến, thấy rõ sự khác nhau của các chiều hướng bàn luận Biếtđặt vấn đề cũng có nghĩa là lúc mở ra con đường giải quyết nó.

Giải quyết vấn đề là khám phá những tri thức bên ngoài hệ thống kiến thức

đã được phát hiện Còn trả lời những câu hỏi đặt ra chỉ là việc tìm kiếm thôngtin trong hệ thống kiến thức thời đại Nội dung câu hỏi đơn giản hơn nội dungvấn đề Trả lời hệ thống câu hỏi quyết định tính chất cụ thể của việc giải quyếtvấn đề Thực tiễn tuy là tiêu chuẩn kiểm nghiệm đầu tiên giá trị chân lí của vấn

đề, nhưng không phải là tiêu chuẩn duy nhất mà còn phải được bổ sung bằngtiêu chuẩn khoa học và trình độ giải quyết vấn đề bằng sự phát triển lí luận.Như vậy vấn đề có ý nghĩa xã hội như đã trình bày ở trên là nội dung hiện thựccủa văn nghị luận Vì thế văn nghị luận mang đậm tính chất nghiên cứu và cótính chất lí luận cao

b Tính chất lôgíc của văn nghị luận:

Tính chất lôgic trong văn nghị luận thể hiện trong việc hoàn thiện hệ thốngnguyên tắc chuẩn mực của ngôn ngữ, hướng lời nói và viết những chuẩn mực đómột cách có suy nghĩ Ngoài cú pháp đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ của suy nghĩ

để con người hiểu nhau trong cuộc sống giao tiếp, văn nghị luận còn phải vậndụng phép tu từ chuyển nghĩa để diễn đạt đầy đủ ý tứ tạo nên phong cách tinh tế,uyển chuyển và lí thú

Việc vận dụng cú pháp và tu từ trong văn nghị luận không được phép xa rờitính chất chất logic để việc trình bày tư tưởng, suy nghĩ dễ hiểu, trong sáng, hợp

lí hơn

Trong văn nghị luận, tư duy ngôn ngữ và lô gic có quan hệ chặt chẽ và gắn

bó mật thiết với nhau trong quá trình hình thành văn bản

c Tính chỉnh thể trong cấu trúc nghị luận:

Dưới ánh sáng của phong cách học văn bản, tính chỉnh thể là đặc trưng cơbản của bất kì một kiểu loại văn bản nào, nó thể hiện trọn vẹn nội dung vàhoàn chỉnh về hình thức Tính chỉnh thể của văn bản nghị luận thể hiện ở mốiquan hệ giữa các vấn đề đặt ra và cách giải quyết vấn đề giữa nội dung vàhình thức, giữa tư duy và ngôn ngữ, giữa mục đích nghị luận và phong cáchnghị luận

Nói khác đi, bài văn nghị luận đạt tới chỉnh thể cao nếu người viết hiểu mộtcách tường tận vấn đề, nắm vững mục đích nghị luận và có phương tiện ngônngữ, thao tác phù hợp, thấu tình đạt lí, tác động mạnh mẽ vào trí tuệ và tình cảm,trái tim người đọc, người nghe

d Tính chất đối thoại trong văn nghị luận:

Đối thoại là đặc điểm quan trọng của văn nghị luận Sự “ ẩn hiện” của ngườicùng đối thoại sau câu chữ và văn nghị luận sẽ cuốn hút đối tượng, tạo nênnhững tình huống đối thoại giả định và sự “phản biện ngầm” của người đốithoại mà chủ thể nghị luận cần phải hình dung ra, dự kiến trước để tạo nên sự

Trang 5

tập trung tâm lí cao độ và thái độ kiên trì mục đích cũng như nghệ thuật hùngbiện.

Có thể nói ngắn gọn, đối thoại trong văn nghị luận làm cho ý tưởng bài vănphong phú, làm cho phương án trình bày có khả năng nảy sinh để dự đoánnhững tình huống tranh luận có thể sảy ra, tạo nên sự căng thẳng hấp dẫn củacuộc đối thoại ngầm Đối thoại huy động tối đa ngăng lực cá nhân biết tự đặtmình vào người khác, tâm lí khác và tình huống cụ thể để xem xét, luận giải vấn

đề toàn vẹn, đem lại hiệu quả thuyết phục cao của văn nghị luận

2.1.2 Đoạn văn và đoạn văn nghị luận:

a Khái niệm đoạn văn và các kiểu kết cấu đoạn văn:

Văn nghị luận cũng như các loại văn bản nói chung, đều phải do nhiều đoạnvăn tạo thành Đoạn văn là một phần của văn bản, đơn vị trực tiếp tạo nên văn

bản Vậy đoạn văn là gì? Sách giáo khoa Ngữ văn 8 (tập1) định nghĩa: “ Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành”.

Như vậy, về hình thức, đoạn văn được quy định từ chữ đầu đoạn văn phảiviết hoa và lùi vào một chữ Về nội dung thường biểu đạt một ý tương đối trọnvẹn Đoạn văn thường phải có câu chủ đề Câu chủ đề mang nội dung khái quát,lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ Câu chủ đề

có thể đứng ở đầu đoạn hoặc cuối đoạn Nếu câu chủ đề đứng đầu đoạn tức đoạnvăn được trình bày nội dung theo cách diễn dịch; nếu câu chủ đề đứng ở cuốiđoạn tức nội dung được trình bày theo cách quy nạp Các câu trong đoạn văn cómối quan hệ ý nghĩa chặt chẽ với nhau Chúng có thể bổ sung ý nghĩa cho nhauhoặc bình đẳng nhau về ý nghĩa Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau vềmặt nội dung nhằm duy trì đối tượng biểu đạt nhờ vào các từ ngữ chủ đề Từngữ chủ đề là từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ lặp lại nhiều lầntrong đoạn văn

Ngoài hai cách trình bày nội dung như vừa nói trên, thì đoạn văn còn có cáchtrình bày nội dung theo cách song hành, móc xích, tổng phân hợp

Đoạn văn trình bày nội dung theo cách diễn dịch là cách thức trình bày từ ýchung, khái quát đến các ý cụ thể, chi tiết Do đó câu chủ đề phải đứng ở đầuđoạn

Ví dụ: “Tình yêu thiên nhiên là một tình cảm đẹp in đậm trong thơ NguyễnTrãi Thế giới các loài hoa như nhài, sen, mẫu đơn, mai, lan, cúc,…được ông nóiđến với bao tình nâng niu quý mến Ông cần mẫn “ Đìa thanh phát cỏ ươngsen” Ông thao thức “ Hé cửa đêm chờ hương quế lọt” Cửa sổ nhà ông, án sáchcủa ông ngào ngạt hương hoa, cái ao trong đầy ánh trăng: “ Song có hoa mai, trì

có nguyệt - Án còn phiến sách, triện còn hương” Cây niềng niễng, lảnh mồngtơi, bè rau muống, cây xoan, vườn chuối,…bình dị như đã ôm trọn hồn Ức Trai”( Dẫn theo Nâng cao Ngữ văn THCS, NXB Hà Nội 2004)

Đoạn văn trình bày nội dung theo cách quy nạp là cách thức trình bày từ ý cụthể, chi tiết đến ý chung, khái quát Do đó câu chủ đề phải đứng ở cuối đoạn

Trang 6

Ví dụ: “Tình bạn phải chân thành, tôn trọng nhau, hết lòng yêu thương, giúp đỡnhau cùng tiến bộ Lúc vui, lúc buồn, khi thành đạt, khi khó khăn, bạn bè phảisan sẻ cùng nhau Có bạn chí thiết, có bạn tri âm, tri kỉ,…Nhân dân ta có nhiềucâu tục ngữ rất hay nói về tình bạn như: “ Giàu vì bạn, sang vì vợ ”, hay: “Họcthầy không tày học bạn ” Nhà thơ Nguyễn Khuyến có bài “ Bạn đến chơi nhà”được nhiều người yêu thích.Trong đời người, hầu hết ai cũng có bạn Bạn họcthời tuổi thơ, thời cắp sách là trong sáng nhất, hồn nhiên nhất Thật vậy, tình bạn

là một trong những tình cảm cao đẹp của chúng ta” (Dẫn theo nâng cao Ngữ vănTHCS, NXB Hà Nội 2004)

Đoạn văn trình bày nội dung theo cách móc xích là cách thức trình bày ý nọtiếp nối ý kia theo lối móc nối vào ý trước (qua những từ ngữ cụ thể) để bổ sung,giải thích cho ý trước Ví dụ:

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất Muốn tăng giasản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến Muốn sử dụng tốt kĩ thuật cải tiến thìphải có văn hoá Vậy, việc bổ túc văn hoá là cực kì cần thiết” ( Hồ Chí Minh) Đoạn văn trình bày nội dung theo cách song hành là cách thức trình bày các ýngang nhau, bổ sung cho nhau, phối hợp nhau để biểu đạt ý chung

Ví dụ: “Đi giữa Hạ Long vào mùa sương, ta cảm thấy những hòn đảo vừa xa

lạ, vừa quen thuộc, mờ mờ, ảo ảo Chung quanh ta, sương buông trắng xoá Conthuyền bơi trong sương như bơi trong mây Tiếng sóng vỗ long bong trên mạnthuyền Tiếng gõ thuyền lộc cộc của bạn chài săn cá, âm vang mặt vịnh Thỉnhthoảng mấy con hải âu đột ngột hiện ra trong màn sương” (Thi Sảnh, trích theo

“108 Bài tập tiếng Việt” của Tạ Đức Hiền, NXB Hải Phòng, 1998 )

Đoạn văn trình bày nội dung theo cách tổng phân hợp là cách thức trình bàytheo phép suy lí, trình bày từ chân lí khái quát đến chân lí cụ thể rồi được khẳngđịnh

Ví dụ: Mọi kiệt tác văn nghệ sống mãi trong thời gian và hồn người

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một kiệt tác của nền thi ca cổ điển Việt Nam.Tuyện Kiều và tên tuổi thi hào Nguyễn Du trường tồn với đất nước ta, nhân dânta:

Tiếng thơ ai động đất trời,Nghe như non nước vọng lời nghìn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du

Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

b Đoạn văn nghị luận:

Đoạn văn nghị luận cũng như đoạn văn nói chung, bao giờ cũng có dấu hiệuhình thức được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm qua dòng vàthường biểu đạt một ý tương đối trọn vẹn Nhưng ở đoạn văn nghị luận “ một ý

“ được gọi là một luận điểm Câu chủ đề chính là câu mang luận điểm Cáchtrình bày nội dung cũng có 5 cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành,tổng phân hợp

Tuy nhiên, việc trình bày nội dung trong từng cách đó có khác nhiều so vớiđoạn văn miêu tả, tự sự, biểu cảm,…bởi do đặc trưng của văn nghị luận là tính

Trang 7

triết lí, tính biện luận, tính thuyết phục; đặc điểm của nghị luận là có luận điểm,luận cứ, lập luận cũng như trình bày luận điểm người ta sử dụng các yếu biểucảm, tự sự, miêu tả, thuyết minh để nâng cao tính thuyết phục, tính cụ thể choluận điểm Bởi phương thức biểu đạt chính của văn nghị luận là lập luận.

Đoạn văn có câu mang luận điểm, trình bày luận điểm (tức trình bày nộidung) trong văn nghị luận là cả một nghệ thuật Nó có ý nghĩa to lớn trong việcbiểu đạt một tư tưởng, quan điểm, một chân lí, một sự thực một cách đứng đắn,chân thật, chính xác Có thể kể một câu chuyện rồi rút ra luận điểm, miêu tả đểrút ra luận điểm, dẫn dắt rồi nêu ra luận điểm, quy nạp các hiện tượng mà rút raluận điểm, từ việc trình bày bối cảnh để rút ra luận điểm, đặt câu hỏi để tìm raluận điểm, dẫn danh ngôn cũng rút ra luận điểm, đối chiếu, so sánh để đi đếnmột luận điểm, phân tích để rút ra luận điểm, v.v…

Đoạn văn không có câu mang luận điểm đó là những đoạn văn được trìnhbày nội dung theo phép lập luận móc xích, song hành Kiểu đoạn văn này trongvăn nghị luận tuy xuất hiện ít nhưng không phải là không có hiệu quả

trong lập luận của văn nghị luận Nó góp phần làm tăng hiệu quả diễn đạt vàphong phú nghệ thuật viết văn nghị luận

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Từ thực tế dạy học bộ môn Ngữ Văn 8 tại trường Phổ thông Cấp 2 Dân tộcNội trú Ngọc Lặc, tôi nhận thấy trong phân môn Tập làm văn, đặc biệt là phầnvăn nghị luận, số đông học sinh rất ngại học, không hứng thú học bởi đặc trưngmôn khó, khô và trừu tượng Hơn nữa phân môn này đòi hỏi học sinh phải vậndụng ở mức độ cao để tạo lập văn bản Nếu không nắm chắc lý thuyết cơ bản,không có vốn hiểu biết thực tế sâu sắc, không được rèn luyện kĩ năng viết đoạn,viết bài thường xuyên học sinh dễ sinh ra tâm lý lười học, lười suy nghĩ Cũng vìthế mà học sinh ỷ lại vào sách tham khảo, sách bài văn mẫu rất nhiều Điều nàyđược kiểm chứng qua các bài kiểm tra của học sinh (bài 15 phút, 45 phút, bàikhảo sát chất lượng giữa kì I) Qua các bài kiểm tra tôi thấy có 3 mức đánh giá

- Mức yếu kém: “Không viết được (chỉ là chuỗi câu văn lộn xộn)” là kết quảnhững bài làm của học sinh không viết thành đoạn văn, nó chỉ là chuỗi câu lộnxộn, chắp nối thiếu mạch lạc hoặc vô nghĩa, hoặc thậm chí có học sinh bỏ trốngchẳng viết được chữ nào ( bài kiểm tra 15 phút – viết đoạn văn) hoặc viết sai thểloại hoặc không hiểu đề, không có kiến thức môn học

- Mức trung bình: về cơ bản là biết viết đoạn văn nghị luận nhưng diễn đạtcòn lủng củng, đây là những bài làm của học sinh viết đúng nội dung đề bàisong còn có chỗ diễn đạt yếu, trùng ý, lặp ý, lựa chọn từ ngữ thiếu chính xác, saichính tả, sai cú pháp…

- Mức khá, giỏi: “viết tốt”, đây là những bài thuộc đối tượng học sinh khágiỏi, nhìn chung các em viết sắc bén, hiểu nội dung yêu cầu của đề bài và cókiến thức về văn học, về tập làm văn, về Tiếng Việt Nhìn chung, đây là nhữnghọc sinh có năng lực giao tiếp trong thực tiễn của đời sống; có “năng lực hànhđộng, năng lực thích ứng, năng lực cùng sống và làm việc, năng lực tự khẳngđịnh mình”

Trang 8

Như vậy, qua các bài kiểm tra, tôi thấy rằng: những học sinh có kỹ năngthành thạo, trôi chảy trong việc xây dựng đoạn văn nghị luận chỉ chiếm một sốlượng rất ít Còn những học sinh yếu về kỹ năng viết đoạn văn nghị luận vànhững học sinh viết được song diễn đạt lủng củng lại chiếm số lượng nhiều hơn.

* Bảng kết quả khảo sát thực trạng của học sinh:

2.3 Các giải phápđã sử dụng để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Xây hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận:

a Nguyên tắc để xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận:

* Mục tiêu chương trình:

Mục tiêu chung của chương trình ngữ văn THCS đề ra là: học sinh có trình

độ học vấn THCS; hiểu biết ban đầu về kĩ thuật - hướng nghiệp; dạy chữ, dạy

người, dạy nghề; các kiến thức và kĩ năng thực hành được củng cố để tạo rađược bốn năng lực chủ yếu: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lựccùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng định mình; phù hợp với bốn trụ cộtgiáo dục thế giới thế kỉ XXI: học để biết, học để làm việc, học để làm người,học để hoà nhập; tích cực hoá hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức, hướngdẫn của người thầy

Như vậy, việc xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận không thểkhông tuân thủ theo mục tiêu của chương trình Hệ thống bài tập được vận dụngtrong quá trình thực nghiệm phải đảm bảo cho học sinh phát huy năng lực thựchành, năng lực tự khẳng định mình, tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạotrong hoạt động học của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của thầy Cụ thểcủa hệ thống bài tập đảm bảo giúp học sinh có năng lực tạo lập văn bản, xâydựng đoạn văn trong văn bản

* Tinh thần đổi mới:

Trong việc xây dựng hệ thống bài tập có tính chất sáng tạo của cá nhân đượcđúc rút trong nhiều năm phải dựa trên tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay.Nghĩa là phải nắm chắc nội dung đổi mới của giáo dục để xây dựng hệ thống bàitập phát triển kĩ năng viết đoạn văn nghị luận, viết văn nghị luận của học sinhlớp 8 Bởi bản chất của hệ thống bài tập này là bài tập tự luận, trong khi đổi mớigiáo dục đang đổi mới cả cách đánh giá, kiểm tra chất lượng như đưa bài tập

Trang 9

trắc nghiệm khách quan vào bộ môn Cho nên đề tài nghiên cứu không chú ý tớiđổi mới sẽ vô tình đi ngược lại đổi mới

* Đảm bảo tính vừa sức, khoa học:

Tính vừa sức, tính khoa học trong nội dung giáo dục là rất quan trọng và đãđược chú ý tới trong quá trình đổi mới Chương trình và SGK Ngữ văn hiện nay

đã đảm bảo được tinh thần này Tính vừa sức là đảm bảo kiến thức không quákhó, quá dễ; không quá tải phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh THCS Tínhkhoa học được hiểu như tính chính xác, tính hợp lí, phù hợp với thời đại, và tâm

lí lứa tuổi v.v…

Trên tinh thần ấy, trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập của đề tài tôi

đã đặc biệt chú ý đến từng chi tiết nhỏ Hệ thống bài tập không quá dễ cũngkhông quá khó với mọi đối tượng học sinh, phải đảm bảo tính vừa sức, cân đối

và khoa học Chú trọng tới kĩ năng sáng tạo của học sinh lại vừa đảm bảo nộidung kiến thức của từng đơn vị bài học, vận dụng các kiến thức trong 3 phânmôn Đảm bảo việc giảng dạy cho học sinh những tri thức và kĩ năng đặc thùcủa phân môn tập làm văn trong nhà trường phổ thông

b Mô tả hệ thống bài tập:

Hệ thống bài tập, về bản chất là bài tập tự luận nhằm rèn luyện kĩ năng viếtvăn nghị luận cho học sinh lớp 8 được xây dựng trên nguyên tắc đổi mới kiểmtra đánh giá cho nên tôi xây dựng hệ thống bài tập được xét trên nhiều tiêu chíkhác nhau Về tiêu chí thời gian, gồm các bài tập 5 phút, 10 phút và ở nhà Đốivới loại 5 phút,10 phút bao gồm những bài tập trong hệ thống bài tập phần luyệntập và bài tập của bài ôn tập, luyện tập Về mặt nội dung, hệ thống bài tập đượcchia ra theo phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn Chẳng hạn trong phầnluyện tập của giờ tiếng Việt, nội dung bài tập chú trọng kiến thức của giờ tiếngViệt đó nhưng đòi hỏi học sinh phải tích hợp được cả văn học và tập làm văn Vídụ: tiết học Tiếng Việt với bài “ Câu nghi vấn”, mặc dù SGK không có bài tậpsáng tạo này nhưng tôi vẫn đưa vào bài tập với nội dung như sau: “ Em hãy viếtđoạn văn ngắn có sử dụng câu nghi vấn nêu cảm nhận của em về bài thơ Quêhương của Tế Hanh” Về tiết kiểm tra, ngoài việc sử dụng hệ thống bài tập trắcnghiệm khách quan, tôi vẫn đảm bảo bài tập tự luận để rèn luyện kĩ năng nói,viết cho học sinh với thời lượng tối thiểu cho phần này là 10 phút

Trong hệ thống bài tập tôi còn dùng cả loại bài tập viết đoạn văn của cả tậpthể theo nhóm lớn hoặc cả tập thể lớp Nếu cả lớp hoặc nhóm lớn, bài tập saukhi giáo viên đưa ra mỗi học sinh trong lớp chỉ viết một câu theo kiểu trò chơi:

Em thứ nhất viết xong một câu lên bảng, sau vài chục giây đến một phút emkhác viết tiếp Cứ như vậy cho đến khi hoàn chỉnh đoạn văn hoặc đến khi hếtthời gian quy định

Như vậy, hệ thống bài tập có rất nhiều bài tập với những thời lượng khácnhau; trong mỗi thời lượng khác nhau đó lại chia ra những bài tập ở nhiều phânmôn khác nhau Và trong mỗi phân môn lại có bài tập trong bài cung cấp trithức, bài tập trong bài ôn tập, luyện tập và bài tập trong tiết kiểm tra

Trang 10

Ngoài ra, hệ thống bài được xây dựng theo hệ thống kiến thức về trình bàynội dung trong đoạn văn như trình bày nội dung theo các diễn dịch, quy nạp,móc xích, song hành, tổng phân hợp Nhưng với các tiết học trước bài “Xâydựng đoạn văn trong văn bản” tôi chưa áp dụng trong giảng dạy theo sáng kiếnnày, hệ thống bài tập này chỉ áp dụng sau khi học sinh đã được học “Xây dựngđoạn văn trong văn bản”

Hệ thống bài tập dưới đây tôi đưa ra đã được áp dụng chứ không phải môphỏng Tuy nhiên số lượng bài tập quá lớn tôi chỉ đưa vào đề tài mỗi loại mộtvài bài để minh hoạ cho đề tài Cũng để tiện cho việc theo dõi, dẫn lại khi cầnthiết tôi tạm thời đánh số từ 1 đến hết các bài tập

c Thiết kế hệ thống bài tập:

* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách diễn dịch:

Bài tập 1: Cho câu chủ đề sau: “ Trong thơ Bác ánh trăng luôn tràn đầy”.

Hãy triển khai câu chủ đề trên thành đoạn văn diễn dịch

Bài tập 2: Em có suy nghĩ gì về giá trị của từ tượng hình, tượng thanh trong

truyện ngắn Lão Hạc? Hãy viết thành một đoạn văn ngắn trình bày nội dungtheo cách diễn dịch để trả lời cho câu hỏi trên

Bài tập 3: Hãy hoàn thành nội dung đoạn văn sau và cho biết đoạn văn trên

đã trình bày nội dung theo cách nào?

“ Nhà văn An-đéc xen đã tạo nên hai nghịch cảnh một đêm giao thừa Một

em bé đi bán diêm suốt một ngày mà chẳng bán được một bao diêm nào, “ bụngđói cật rét” đi lang lang trên đương, chẳng được ai bố thí cho em một chút đỉnh!Mái tóc và lưng em bám đầy tuyết Trái lại,…

……… …Câu chuyệntrở nên thấm vị đời cay đắng”.( Nâng cao ngữ văn THCS, trang 47)

* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách quy nạp:

Bài tập 4: Sau khi học xong Cô bé bán diêm, em có cảm nhận gì về số phận

của những người nghèo như cô bé trong truyện của An-đéc-xen

Hãy viết một đoạn văn trình bày nội dung cảm nhận của em theo phép lậpluận quy nạp

Bài tập 5: Hãy viết một đoạn văn trình bày nội dung theo cách quy nạp, có

sử dụng trợ từ, thán từ để giải thích câu tục ngữ Gọi dạ bảo vâng

Bài tập 6: Hãy sắp xếp các câu văn, đoạn thơ sau theo một trình tự hợp lí

trình bày cảm nhận của em về văn bản Hai cây phong.

- Trích đoạn Hai cây phong, tác giả đã kết hợp tự sự với miêu tả, nhắc lại kỉniệm tuổi thơ êm đềm (1)

- “ Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi đưa tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ,…”

( Tế Hanh ) (4)

- Hoài niệm tuổi thơ về quê hương bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha (2)

Trang 11

- Con người Việt Nam chúng ta, mỗi lần đi xa nhớ quê là nhớ hương vị đậm đà

“ canh rau muống”, “cà dầm tương”, nhớ con đò, cây đa, bến nước, sân đình, vànhớ dòng sông quê mẹ với bao kỉ niệm: (3)

* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách móc xích:

Bài tập 7: Hãy sắp xếp các câu sau thành một đoạn văn và cho biết đoạn

văn nghị luận này đã trình bày nội dung theo cách nào về bài thơ Ngắm trăngcủa Hồ Chí Minh?

- Trăng, hoa, tuyết,…và rượu tạo cảm hứng cho các thi sĩ làm thơ (1)

- Nho sĩ xưa làm thơ phải có rượu và hoa (3)

- Hoa và rượu không có mà Bác Hồ của chúng ta vẫn làm thơ (4)

- Hồ Chí Minh của chúng ta vĩ đại là thế! (6)

- Làm thơ là cũng là thú ăn chơi của các bậc Nho sĩ xưa (2)

- Làm thơ ngắm trăng trong ngục tù để cho khuây khoả “đợi ngày tự do” là mộtcuộc vượt ngục tinh thần đầy lí thú của Hồ Chí Minh (5)

Bài tập 8: Từ nội dung kiến thức đã học về đoạn văn, em hãy viết một đoạn

văn nghị luận trình bày nội dung theo cách móc xích nói lên cảm nhận của em

về bài thơ Khi con tú hú của Tố Hữu Chú ý đoạn văn phải sử dụng các yếu tốbiểu cảm, tự sự hoặc miêu tả

Bài tập 9: Hãy điền những từ ngữ vào đoạn văn còn trống (được trình bày

nội dung theo cách móc xích) thể hiện nội dung đánh giá về truyện kí Việt Nam:

Đời sống là nguồn đề tài bất tận của văn học Văn học có nhiệm vụ phản ánh đời sống một cách trung thực Trung thực không có nghĩa là phản ánh một

cách máy móc, bê nguyên si cuộc sống vào tác phẩm Tác phẩm văn học có

quyền đươc hư cấu Hư cấu lại không phải là bịa chuyện Bịa chuyện khó có thể làm nên những tác phẩm có giá trị như truyện kí Việt Nam Truyện kí Việt Nam

đã phản ánh về đời sống hiện thực của xã hội Việt nam, về những kiếp ngườilầm than, khổ cực như trong Tắt đèn, Lão Hạc

( Những chữ in nghiêng trong đoạn văn trên được bỏ trống để học sinh tựđiền theo yêu cầu bài tập)

* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách song hành:

Bài tập 10: Hãy sắp xếp các câu sau đây thành một đoạn văn trình bày nội

dung theo cách song hành đánh giá về bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”:

“Tức cảnh Pác Bó” là một bài thơ hồn nhiên, giản dị mà sâu sắc Thơ làtâm hồn, là cuộc đời, là cách ứng xử của Bác Hồ Bài tứ tuyệt viết về Pác Bó

đã vượt qua một hành trình 60 năm Nó như một chứng tích lịch sử về nhữngngày tháng gian khổ của cách mạng Việt Nam và của lãnh tụ nơi suối lạnh hangsâu đầu nguồn Nó gợi lên trong lòng mỗi chúng ta bài học về tinh thần lạc quanyêu đời, biết sống và hướng về một lí tưởng cao đẹp.” (Nâng cao Ngữ vănTHCS, đã dẫn )

* Đoạn văn trình bày nội dung theo cách tổng phân hợp:

Bài tập 11: Hãy viết một đoạn văn trình bày nội dung theo phép lập luận

tổng phân hợp về một tác phẩm văn học mà em đã học

2.3.2 Triển khai hệ thống bài tập viết đoạn văn nghị luận:

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w