1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tư tưởng hồ chí minh

18 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 372,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam,[1]từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dânđến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển

Trang 1

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm và

tưởngcủaHồ Chí Minhtrong sự nghiệp cách mạng của

ông đượcĐảng Cộng sản Việt Namtổng kết, hệ thống

hóa Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm

về những vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam,[1]từ

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dânđến cách mạng

xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển Chủ nghĩa

Mác-Lêninvào điều kiện cụ thể củaViệt Nam.[2]

Các nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hình

thành và phát triển gắn với các thời kì hoạt động của

Hồ Chí Minhtrong phong trào cách mạngViệt Nam

và quốc tế[3] vào đầu và giữa thế kỷ 20 Giáo trình tư

tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh

là sự kết tinh củavăn hóa dân tộc Việt Nam, tư tưởng

cách mạng Pháp, tư tưởng tự do củaHoa Kỳ, lý tưởng

cộng sản Mác-Lênin, tư tưởngvăn hóa phương Đông,

văn hóa phương Tâyvà phẩm chất cá nhân củaHồ Chí

Minh.[4]

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được xác định là một hệ tư

tưởng chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam bên

cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin, được chính thức đưa ra từ

Đại hội VII của Đảng Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt

Nam cùng các quan điểm chính thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách vận dụng sáng tạoChủ nghĩa Mác-Lênin

trong điều kiện cụ thể củaViệt Namvà coi tư tưởng

Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu củaĐảng Cộng sản Việt Namvà củadân tộc Việt Nam.[5] Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.[6][7] Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tăng cường tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội Phần lớn các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh không phân tích các quan điểm của ông theo các thời kỳ lịch

sử, không phân tích cụ thể các tác phẩm của ông theo chiều thời gian Điển hình như năm 1930 khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông cho rằng đấu tranh giải phóng dân tộc đi kèm đấu tranh giải phóng giai cấp Khi thành lập Việt Minh thì gác lại chủ trương đấu tranh giai cấp mà thực hiện đấu tranh đòi các quyền tự

do dân chủ và đoàn kết toàn dân chống phát xít theo đường lối ốc tế Cộng sản (chủ trương này khá trùng lặp với đường lối củaNguyễn Văn Cừkhi làm Tổng bí thư) Đến giai đoạn năm 1945, khi cần tranh thủ sự ủng

hộ của Đồng Minh cho nền độc lập của Việt Nam, ông

tuyên bố "giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương" và tán

dương nền dân chủ

Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ chính thức đưa vào Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991, sau khi công cuộc Đổi mới phát động, chấp thuận phân hóa giai cấp, nhiều lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không

có tính khả thi trong cơ chế thị trường phải gác lại như đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực hưởng theo lao động trên toàn xã hội.v.v (chủ nghĩa cộng sản đặt ra mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ giai cấp, bóc lột, xóa bỏ giàu - nghèo, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, công hữu trên nền tảng dân chủ, xóa bỏ giáo điều tôn giáo được xem

là mị dân, xóa bỏ nhà nước đi đến dân chủ trực tiếp và bình đẳng, xóa bỏ các đường biên giới quốc gia, đưa các dân tộc đến cùng một lợi ích, xóa bỏ bất bình đẳng giữa các dân tộc trên phạm vi thế giới…) Các giáo trình của Việt Nam thường khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh theo chiều hướng này…

1

Trang 2

2 1 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Nguồn gốc, quá trình hình thành

và phát triển Tư tưởng Hồ Chí

Minh

1.1.1 Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà

Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo

thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt

nhịp với sự phát triển của thế giới Không phát huy

được những thế mạnh của truyền thống dân tộc và đất

nước, không chống lại được âm mưu xâm lược của thực

dân Pháp Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm

1858 và đến năm 1883, triều đình Huế ký kếtHiệp ước

Harmandvớiđế quốc Pháp, thừa nhận quyền bảo hộ

của họ trên khắp An Nam.[8]Từ sauHiệp ước Patenôtre

năm 1884, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa

phong kiến.

Trong suốt quá trình thực dân Pháp cai trị, từ giữa thế

kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa

nổi dậy chốngthực dân Pháp Các cuộc khởi nghĩa vũ

trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sĩ

phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại Các cuộc khởi

nghĩa vũ trang này mang đậm tinh thần yêu nước và

đầy dũng khí trước quân thù, nhưng đều dưới sự dẫn

dắt của các tư tưởng phong kiến và tư sản và đều thất

bại Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng khoảng

sâu sắc về đường lối cứu nước.[9]

Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt

Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai

cấp-xã hội sâu sắc Tạo tiền đề bên trong cho phong

trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX Xã

hội Việt Nam tồn tại nhiều mâu thuẫn Có thể kể ra các

mâu thuẫn chính sau:[10][11]

• Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Namvà thực dân

Pháp

• Mâu thuẫn giữangười dân lao độngvàtriều đình

phong kiến

• Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và

giai cấp tư sản

Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến

chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất

bại (chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc

lập củaPhan Bội Châu; chủ trương "ỷ Pháp cầu tiến bộ"

bằng cách chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh, trên

cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóng củaPhan

Châu Trinh; khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến của

Hoàng Hoa ám; khởi nghĩa theo khuynh hướng cách

mạng dân chủ tư sản củaNguyễn ái Học)

Sự thất bại của phong trào chống thực dân Pháp cuối

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời

của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của

hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng mới của sự nghiệp giải phóng dân tộc.[12][13]eo Tạp chí Cộng sản, những điều này cho thấy, phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới, đó

là con đường cách mạng vô sản.[14]

1.1.2 Thế giới

ế giới trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế

kỷ XX cũng đang có những biến chuyển to lớn:

• Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do đã

chuyển sang giai đoạn độc quyền, xác lập quyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa đế quốc với bản chất của mình đã trở thành kẻ thù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa.[15]

• ực tế lịch sử: trong quá trình xâm lược và thống

trị của chủ nghĩa thực dân, tại các nước nhược tiểu

ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫn được duy trì bên cạnh

sự bóc lột thuộc địa mang tính tư bản chủ nghĩa Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp, tầng lớp xã hội mới, trong

đó có công nhân và tư sản.[16]

Chiến tranh ế giới Ibùng nổ.[15]

• Từ cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước

tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến một cao trào mới của cách mạng thế giới với đỉnh cao là Cách mạng áng Mười Nga thắng lợi (1917) Cuộc cách mạng vĩ đại này đã làm “ức tỉnh các dân tộc châu Á", Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công đã nêu một tấm gương sáng

về sự giải phóng các dân tộc bị áp bức, mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.[13]

• ốc tế III được thành lập (1919) Phong trào

công nhân trong các nước Tư bản Chủ nghĩa và phong trào giải phóng của các nước thuộc địa càng

có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của họ là Chủ nghĩa

Đế quốc.[15][17]

1.2 Nguồn gốc

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ:[4]

1 Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam:

• Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu

tranh để dựng nước và giữ nước;

• Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn

kết, tương thân, tương ái;

Trang 3

1.4 Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh 3

• Truyền thống lạc quan, yêu đời;

• Cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo.

2 Tinh hoa văn hóa nhân loại:

• Tư tưởng văn hóaphương Đông:Nho giáo,

Phật giáo;

• Tư tưởng và văn hóaphương Tây: thắng lợi

của cuộcĐại cách mạng Pháp1789,Tuyên

ngôn độc lập 1776củaHoa Kỳ, tư tưởng dân

chủphương Tây,…;

3 Chủ nghĩa Mác-Lênin(nhân tố quyết định nhất):

cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Tư

tưởng Hồ Chí Minh;

4 Nhân tố chủ quan: phẩm chất cá nhân củaHồ Chí

Minh

Năm 1923, trong lý lịch tự khai khi đến Liên Xô,

Nguyễn Ái ốc tự giới thiệu: “Tôi xuất thân từ một

gia đình nhà Nho, nơi mà các thanh niên đều theo học

đạo Khổng” Rồi tại Đại hội ốc tế cộng sản năm 1935,

Nguyễn Ái ốc lại ghi trong lý lịch: “ành phần gia

đình nhà nho”.

Hồ Chí Minh đã dùng những từ ngữ, những mệnh đề

của Khổng Tử vốn rất thân thuộc với truyền thống văn

hoá Việt Nam để thức tỉnh dân tộc, truyền cho nhân

dân ý thức tự cường để đứng lên làm chủ đất nước, đồng

thời kết nối những giá trị chung trong học thuyết Nho

giáo và học thuyết Marx Trong bài Le Grand Confucius

(Đức Khổng Tử vĩ đại) đăng trên tạp chí Communise

số ra ngày 15/05/1921, Nguyễn Ái ốc đã giới thiệu

thuyết Đại đồng như sau: "Đức Khổng Tử vĩ đại (năm

551 trước Công nguyên) khởi xướng nền đại đồng và

thuyết giáo quyền bình đẳng về của cải Người nói tóm

lại là: Nền hoà bình trên thế giới chỉ nảy nở từ nền Đại

đồng trong thiên hạ Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ

không công bằng”

Trong thời kỳ chống Mỹ, ở miền Bắc buộc phải thực

hiện chế độ phân phối thời chiến, Hồ Chí Minh đã từng

nhắc nhở cán bộ về tư tưởng Khổng Tử: “Không sợ thiếu

chỉ sợ không công bằng, không sợ đói chỉ sợ lòng dân

không yên”.

Tổng kết 30 năm tiếp thu các dòng tư tưởng của mình,

Hồ Chí Minh đúc kết:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu

điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá

nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm

là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa

Marx có ưu điểm là phương pháp

biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật

Tiên có ưu điểm là chính sách thích

hợp với điều kiện của nước ta…

Khổng Tử , Giêsu, Karl Marx , Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ ở một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất tốt đẹp như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ.”[18]

1.4 Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh không hình thành ngay một lúc

mà đã trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển

và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng phong phú củaHồ Chí Minh.[16]Có thể chia quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh thành 5 thời kỳ sau:[19]

1 ời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước, thương nòi

(trước năm 1911): thời kỳ này Hồ Chí Minh đã hình

thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến

bộ của nhân loại.[19]

2 ời kỳ tìm tòi con đường cứu nước, giải phóng dân

tộc (1911-1920): thời kỳ này Hồ Chí Minh tìm hiểu

cuộc sống của những người lao động; đã khảo sát, tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểuCách mạng

áng Mười Nga, học tập và đã tìm đến với chủ nghĩa Lênin, tham dự Đại hội Tua, đứng về phía

ốc tế cộng sản, tham gia sáng lậpĐảng Cộng sản Pháp Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng; từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộchủ nghĩa Mác-Lênin, từ một chiến sĩ chốngthực dânphát triển thành một chiến sĩ cộng sản Việt Nam Đây là một bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của

Hồ Chí Minh: "Muốn cứu nước và giải phóng dân

tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".[19][20]

3 ời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng

Việt Nam (1921 - 1930): thời kỳ này Hồ Chí Minh

đã có hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi, phong phú ởPháp(1921-1923), ởLiên Xô(1923-1924), ở

Trung ốc(1924-1927), ởái Lan(1928-1929)… Trong thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản Hồ Chí Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập

Trang 4

4 1 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Đảng Cộng sản Việt Nam Các tác phẩm và bài viết

của Hồ Chí Minh thời kỳ này đã thể hiện những

quan điểm lớn về con đường cách mạng Việt Nam,

có thể kể tên các tác phẩm như: Bản án chế độ

thực dân Pháp (1925), Đường Kách mệnh (1927) và

những bài viết khác.[19]

4 ời kỳ thử thách, kiên trì giữ vững quan điểm, nêu

cao tư tưởng độc lập, tự do và quyền dân tộc cơ bản

(1930-1945): trên cơ sở tư tưởng về con đường cách

mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản, trong

mấy năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh

đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của

mình, vượt qua khuynh hướng “tả" đang chi phối

ốc tế Cộng sản, chi phối Ban Chấp hành Trung

ươngĐảng Cộng sản Việt Nam, phát triển thành

chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập

tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc

Cách mạng áng Támnăm 1945, nướcViệt Nam

Dân chủ Cộng hòađã ra đời.[19]

5 ời kỳ tiếp tục phát triển mới về tư tưởng kháng

chiến và kiến quốc (1945-1969): đây là thời kỳ Hồ

Chí Minh cùng Trung ươngĐảng Cộng sản Việt

Namlãnh đạo nhân dânViệt Namvừa tiến hành

cuộc kháng chiến chống thực dânPháp, vừa xây

dựng chế độ dân chủ nhân dân (1945 - 1954) mà

đỉnh cao là chiến thắngĐiện Biên Phủ; tiến hành

cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây

dựngchủ nghĩa xã hộiở miền Bắc ời kỳ này nổi

bật là các nội dung như: Tư tưởng kết hợp kháng

chiến với kiến quốc; tiến hành đồng thời hai chiến

lược cách mạng khác nhau, đó là cách mạng giải

phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội

chủ nghĩa ở miền Bắc nhằm một mục tiêu chung

trước mắt là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ

quốc Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân,

toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính Xây

dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà

nước của dân, do dân, vì dân Xây dựng Đảng Cộng

sản với tư cách là một Đảng cầm quyền…[19]

Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam

định nghĩa:

Định nghĩa trên là một bước tiến mới trong nhận thức

củaĐảng Cộng sản Việt Namvề tư tưởngHồ Chí Minh,

làm định hướng cho các nhà nghiên cứu tiếp tục đi

sâu tìm hiểu về tư tưởng của Hồ Chí Minh, đặc biệt

là xác định nội dung giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh

với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành

động cho toàn Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân tộc

Việt Nam.[22]Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận trung

tâm của chuyên ngành “Hồ Chí Minh học” thuộc ngành

Khoa học chính trị Việt Nam Hồ Chí Minh đã xây dựng

được hệ thống lý luận toàn diện vềcách mạng Việt

Namphù hợp với thực tiễn của đất nước và dòng chảy

thời đại Hệ thống đó bao gồm một số nội dung cơ bản sau:[22]

• Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng

con người;

• Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết

hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

• Sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân

tộc;

• yền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước

thật sự của dân, do dân, vì dân;

• ốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang

nhân dân;

• Phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng

cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;

• Đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí

công vô tư;

• Chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;

• Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ,

đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày

tớ trung thành của nhân dân…[22][23]

1.6 Nghiên cứu, giảng dạy và học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh

1.6.1 Hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam diễn ra năm 1991 tại Hà Nội đã xác

định: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.[24]

Từ đây Tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy trong tất cả trường đại học như một bộ môn bắt buộc đối với tất cả các sinh viên thuộc mọi ngành học Những lớp tập huấn - đồng thời thảo luận giữa các chuyên gia

- chính thức cho môn học này bắt đầu từ năm 1997 tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

Các nhà nghiên cứu trong nước và những đồng chí của

Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về Tư tưởng Hồ

Chí Minh như Tìm hiểu một số vấn đề trong tư tưởng của Chủ tị Hồ Chí Minh (1982) doLê Mậu Hãnchủ

biên; Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh (1993) của

tập thể tác giảViện Hồ Chí Minh; ế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí sống mãi (1991), Về tư tưởng Hồ Chí Minh (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cá mạng Việt Nam (1997) củaVõ Nguyên Giáp; Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh (1998) củaPhạm Văn Đồng; Sự hình thành

về căn bản tư tưởng Hồ Chí Minh (1997) củaTrần Văn Giàu; Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh (1998) củaHoàng Tùng.[25]

Trang 5

Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh do Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia xuất bản

1.6.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu và học tập

Mục đích nghiên cứu học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh

là nhằm áp dụng vào con đường xây dựng đất nước

Việt Nam vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh.[26] Đối với thế hệ trẻ

nói chung, với học sinh, sinh viên trong các trường cao

đẳng và đại học nói riêng, Đảng và Nhà nước Việt Nam

nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng giáo dục chính trị,

tư tưởng, đạo đức cách mạng, đặc biệt là giáo dục tư

tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao lý luận, phương

pháp tư duy biện chứng, góp phần đào tạo sinh viên

thành những chiến sĩ đi tiên phong trong công cuộc bảo

vệ và xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn và

to đẹp hơn như Di chúc của Hồ Chí Minh để lại: "Đoàn

viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng

hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.

Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho

họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ

nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ

cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất

cần thiết".[26][27]

1.6.3 Chính sách ưu đãi của Nhà nước

Hiện nay bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường

đại học đang thiếu giáo viên nhưng ngành Tư tưởng Hồ

Chí Minh lại có số lượng thí sinh đăng ký dự thi ít, tỷ lệ chọi và điểm chuẩn thấp so với các ngành còn lại.[28]Do

đó Chính phủ Việt Nam có Nghị định 74 miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập trong các cơ sở giáo dục quốc dân cho một số đối tượng học sinh, sinh viên; trong đó sinh viên chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh được miễn học phí.[29]Mặc dù có miễn giảm học phí, nhưng chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn không phải lựa chọn của nhiều sinh viên.[30]

2 Nội dung cơ bản

2.1 Về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

2.1.1 Về vấn đề dân tộc

Dân tộc là một vấn đề rộng lớn.Karl Marx,Friedrich Engelskhông đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc, vì thời

đó ở Tây Âu vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản; hơn nữa, các ông chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về vấn đề dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.[31]

Trong giai đoạnđế quốc chủ nghĩa(cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20), cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một

bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,[32]nhờ đó V.I Lênin có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận Tuy cả C Mác,

Ph Ăngghen và V.I Lênin đã nêu lên những quan điểm

cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc

và vấn đề giai cấp, tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc xác định chiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa, nhưng

từ thực tiễn cách mạng vô sản ở châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn đề giai cấp Điều kiện những năm đầu thế kỷ XX trở đi đặt ra yêu cầu cần vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa trong

đó có Việt Nam; chính Hồ Chí Minh là người đã đáp ứng yêu cầu đó.[31]

Ngày19 tháng 6năm1919, thay mặt Hội những người

An Nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã mang tớiHội nghị Hòa bình VersaillesbảnYêu sách của nhân dân An Nam

gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng củaTổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilsoncho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ởĐông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị.[33]an điểm của Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc chịu ảnh hưởng của lý luận Mác-Lênin, đặc biệt là lý luận của Lênin về vấn đề dân tộc

và thuộc địa Báo L’Humanité số ra hai ngày 16 và 17-7-1920 đăng

toàn văn bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương

Trang 6

6 2 NỘI DUNG CƠ BẢN

về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa " của V.I.Lênin

dưới đầu đề chạy suốt trang một Luận cương lập tức

thu hút sự chú ý đặc biệt của Nguyễn Ái ốc Nguyễn

Ái ốc đã đọc đi đọc lại nhiều lần và “qua lăng kính

chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người tìm thấy ở đó con

đường đi đúng đắn giải phóng đất nước khỏi ách thực

dân”.[13]Sau này Nguyễn Ái ốc nhớ lại: “Trong Luận

cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu Nhưng cứ đọc

đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần

chính Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động,

phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến

phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói

to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi

đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho

chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".[34]Từ

đó Nguyễn Ái ốc (Hồ Chí Minh) hoàn toàn tin theo

Lênin, tin theo ốc tế thứ ba.[13]

Hồ Chí Minh đã tiếp thu những lý luận của Chủ nghĩa

Mác-Lênin về vấn đề dân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh

đã vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin

cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa, trong

đó có Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân

tộc thể hiện ở các điểm chính sau:

• Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm

phạm của các dân tộc.Hồ Chí Minhviết trong Bản

Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa: "Tất cả các dân tộc trên thế giới

sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có

quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".[35]

Mục đích của việc dành độc lập dân tộc là đem lại

hạnh phúc, tự do cho nhân dân Chủ tịch Hồ Chí

Minh cho rằng "Ngày nay chúng ta đã xây dựng

nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhưng nếu

nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do,

thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì".[36]

Chủ nghĩa yêu nướcvà tinh thần dân tộc là một

động lực to lớn của đất nước Hồ Chí Minh đã từng

nhận xét: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.

Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến

nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần

ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng

mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,

khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ

cướp nước”[37]

• Kết hợp nhuần nhuyễndân tộcvớigiai cấp, độc

lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu

nước với chủ nghĩa quốc tế: “Các dân tộc ở đó (ở

phương Đông) không bao giờ có thể ngẩng đầu lên

được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới…

Ngày mà hàng trăm triệu người châu Á bị nô dịch

và áp bức sẽ thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện

của một nhóm bọn thực dân tham tàn và chính họ

sẽ hình thành được một lực lượng đồ sộ vừa có thể

thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ

nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc , vừa giúp đỡ

những người anh em phương tây trong sự nghiệp giải phóng”[38]

2.1.2 Về cách mạng giải phóng dân tộc

ất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng

tỏ rằng, những con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn

cờ tư tưởng phong kiến hoặc tư tưởng tư sản đã không đáp ứng được yêu cầu khách quan là giành độc lập, tự

do của dân tộc do lịch sử đặt ra Hồ Chí Minh rất khâm phục tinh thần cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối, nhưng ông không tán thành các con đường cứu nước ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.[39]

Sau khi tiếp cận lý luận của Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước, đó là con đường cách mạng

vô sản Như vậy là, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản Từ đó, Hồ Chí Minh quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó.[39]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thể hiện ở các điểm chính sau:

• Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi

phải đi theo con đường cách mạng vô sản Con đường cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao hàm những nội dung chủ yếu sau:

• Tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và

dần dần từng bước "đi tới xã hội cộng sản”

• Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp

công nhân mà đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản

• Lực lượng cách mạng là khối đoàn kết toàn

dân, nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và lao động trí óc

• Sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là một

bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế.[39]

• Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới

phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn giải phóng dân tộc thành công trước hết phải có đảng cách mệnh Ông phân tích:

cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ, phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu, phải hiểu phong triều thế giới, phải bày sách lược cho dân… Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh.[40]

• Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao

gồm toàn dân tộc Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của nhân dân trong khởi nghĩa vũ trang Ông coi sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng là then chốt bảo đảm thắng lợi

Trang 7

2.2 Về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 7

• Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành

chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng

lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Các nhà

nghiên cứu trong nước đánh giá, đây là một luận

điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn;

một cống hiến rất quan trọng của Hồ Chí Minh

vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

đã được thắng lợi của phong trào cách mạng giải

phóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một

thế kỷ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.[41]

• Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành

bằng con đường cách mạng bạo lực Trong đó có

hai vấn đề:

• Bạo lực cách mạng trong cách mạng giải

phóng dân tộc ở Việt Nam Tư tưởng bạo lực

cách mạng và tư tưởng nhân đạo hòa bình

thống nhất biện chứng với nhau trong tư

tưởng Hồ Chí Minh Ông chủ trương, yêu

nước, thương dân, yêu thương con người,

yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý, tranh

thủ mọi khả năng hòa bình để giải quyết

xung đột, nhưng một khi không thể tránh

khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến

hành chiến tranh, kiên quyết dùng bạo lực

cách mạng, dùng khởi nghĩa và chiến tranh

cách mạng để giành, giữ và bảo vệ hòa bình,

vì độc lập tự do.[42]

• Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong

cách mạng giải phóng dân tộc Trước những

kẻ thù lớn mạnh, Hồ Chí Minh chủ trương

sử dụng phương châm chiến lược đánh lâu

dài Hồ Chí Minh nói, muốn thắng lợi phải

trường kỳ gian khổ, muốn trường kỳ phải tự

lực cánh sinh Mặc dù rất coi trọng sự giúp đỡ

quốc tế nhưng Hồ Chí Minh luôn đề cao sức

mạnh bên trong, phát huy đến mức cao nhất

mọi nỗ lực của dân tộc, đề cao tinh thần độc

lập tự chủ Độc lập tự chủ, tự lực tự cường

kết hợp với tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế

là một quan điểm nhất quán trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Trong hai cuộc kháng chiến

chống Pháp và chống Mỹ, ông đã động viên

sức mạnh của toàn dân tộc, đồng thời ra sức

vận động, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn

và có hiệu quả, cả về vật chất và tinh thần,

kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời

đại để kháng chiến thắng lợi.[42]

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tuyên truyền cho cuộc vận động “Học theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh”

2.2.1 Về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Hầu hết các cách tiếp cận, định nghĩa của Hồ Chí Minh

về chủ nghĩa xã hội được diễn đạt, trình bày một cách dung dị, mộc mạc, dễ hiểu và mang tính phổ thông, đại chúng Hồ Chí Minh quan niệm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân chính là chủ nghĩa xã hội chứ ông không lý luận nhiều về việc nhà nước phải kiểm soát tư liệu sản xuất

eo Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, một số định nghĩa cơ bản mà Hồ Chí Minh đã đề cập về chủ nghĩa

xã hội:[44]

- Định nghĩa tổng quát, xem xét chủ nghĩa xã hội, chủ

nghĩa cộng sản như là một chế độ xã hội hoàn chỉnh, bao

gồm nhiều mặt khác nhau của đời sống, là con đường giải phóng nhân loại cần lao, áp bức

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách chỉ ra một mặt

nào đó của nó (kinh tế, chính trị, văn hóa…).

- Định nghĩa bằng cách xác định mục tiêu của chủ nghĩa

xã hội, chỉ rõ phương hướng, phương tiện để đạt được mục tiêu đó.

- Định nghĩa chủ nghĩa xã hội bằng cách xác định động

lực xây dựng nó: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.[44]

• Từ những định nghĩa của Hồ Chí Minh đã phản

ánh đầy đủ những đặc trưng cốt lõi của chủ nghĩa

xã hôi Khái quát những đặc trưng này, chúng ta thấy nội dung của nó bao hàm hết thảy mọi mặt đời sống xã hội, làm hiện diện ra một chế độ xã hội ưu việt Đó là:[44]

• Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có lực

lượng sản xuất phát triển cao, gắn liền với sự phát triển tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và văn hóa, dân giàu, nước mạnh

• ực hiện chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản

xuất và thực hiện nguyên tắc phân phối theo

Trang 8

8 2 NỘI DUNG CƠ BẢN

lao động

• Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ,

nhân dân lao động là chủ và nhân dân lao

động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân

và vì dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn

dân mà nòng cốt là liên minh công nông

-lao động trí óc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo

• Chủ nghĩa xã hội có hệ thống quan hệ xã hội

lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn

áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối

lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc,

giữa thành thị và nông thôn, con người được

giải phóng, có điều kiện phát triển toàn diện,

có sự hài hòa trong phát triển của xã hội và

tự nhiên

• Chủ nghĩa xã hội là của quần chúng nhân

dân và do quần chúng nhân dân tự xây dựng

lấy.[44]

• Như vậy ta có thể thấy khái niệm chủ nghĩa xã hội

trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nhiều ý nghĩa

khác nhau, chủ yếu tập trung vào các nội dung

sau:

• Chủ nghĩa xã hội như là một phong trào lịch

sử mang tínhchính trị xã hội

• Chủ nghĩa xã hội làhệ tư tưởngcủagiai cấp

công nhân, ở đây, Hồ Chí Minh hiểu chủ

nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa

Mác-Lênin

• Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của hình

tháikinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa

• Chủ nghĩa xã hội vàchủ nghĩa cộng sảnlà

một chế độ xã hội đối lập vớichế độ tư bản

mà hình thức xấu xa, tàn bạo nhất của nó là

chủ nghĩa thực dân, cảchủ nghĩa thực dân

cũvàchủ nghĩa thực dân mới.[45]

2.2.2 Về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đều khẳng định tính tất

yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó

trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh

tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa eo quan điểm của các

nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì có hai con

đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Con đường thứ

nhất là con đường quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã

hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao.[46]

Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến hóa

của xã hội loài người dựa trên những điều kiện kinh tế

- xã hội do chủ nghĩa tư bản tạo ra chứ không phải là

kết quả của việc áp đặt một mô hình kinh tế - chính trị

lên xã hội eo ông "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng

sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,

không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn

theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay Những điều kiện của phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang tồn tại[47]" Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp hoặc các nước tiền tư bản với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.[46]Đây là quan điểm của Lenin và Stalin

Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình

thực tế của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định con

đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.[46] Ta có thể rút gọn lại nội dung về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Hồ Chí Minh được thể hiện qua các điểm chính sau:

• Phải thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc

trước, sau đó mới từng bước xây dựng chủ nghĩa

xã hội.[46]

• Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

phải đi lên bằng con đường gián tiếp.[46]

eo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triểntư bản chủ nghĩa Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời

kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh

tế - xã hội quá thấp kém của Việt Nam.[46]Chính vì thế thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài.[48][49] Trong cuộc đấu tranh này, toàn xã hội phải nỗ lực dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời phải học tập kinh nghiệm xây dựng Chủ nghĩa xã hội

và tận dụng mọi sự giúp đỡ của những nước xã hội chủ nghĩa tiên tiến nhưLiên Xôvà các nước Đông Âu.[50]

Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

eo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất hiện đại Do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:[46][51]

Trang 9

2.3 Về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 9

• Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật

cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề về kinh

tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã

hội.[46][51]

• Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết

hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây dựng làm

trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt,

lâu dài.[46][51]

Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần

của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tính chất phức

tạp và khó khăn của nó được Hồ Chí Minh lý giải trên

các điểm sau:[46]

• ứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm

đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến

trúc thượng tầng Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải

quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.

• ứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã

hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chưa có kinh

nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Đây là công

việc hết sức mới mẻ đối với Đảng ta, nên phải vừa

làm, vừa học và có thể có vấp váp và thiếu sót Xây

dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp

hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.

• ứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước

ta luôn luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài

nước tìm cách chống phá.[46]

Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ.

• Chính trị: giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo

của Đảng Củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc

thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông

dân và trí thức, do Đảng cộng sản lãnh đạo; củng

cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính

trị cũng như từng thành tố của nó.[52]

• Kinh tế: nhấn mạnh việc tăng năng suất lao động

trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ

nghĩa Lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu,

củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối giữa

các ngành sản xuất xã hội Phát triển thành phần

kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho

chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ

nghĩa Năm 1953, trong tác phẩm ường thức

ính trị, Hồ Chí Minh chỉ ra 6 thành phần kinh

tế ở nước ta (vùng tự do), để xây dựng và phát

triển nền kinh tế có nhiều thành phần như trên,

Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng

và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt: Một là,

công tư đều lợi; Hai là, chủ thợ đều lợi; Ba là, công

nông giúp nhau; Bốn là Lưu thông trong ngoài

Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và

sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân

ta phải ủng hộ nó Đối với những người phá hoại

nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế thì phải trừng trị Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh

tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ, nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân,[53]đến năm

1959 ông chủ trương vẫn cho phép những nhà tư sản công thương sở hữu tư liệu sản xuất, tiến dần đến việc xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa bằng cách khuyến khích những người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ tổ chức hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, khuyến khích

và giúp đỡ những nhà tư sản công thương cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.[54]Có quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.[55][56][57]

Đối với những người lao động cá thể và các nhà tư bản, cũng tại báo cáo nói trên, Hồ Chí Minh viết:

• Văn hóa - xã hội: nhấn mạnh vấn đề xây dựng con

người mới.[52]

2.3 Về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

2.3.1 Về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành từ những cơ sở quan trọng sau đây:

• ứ nhất là truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh

thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam Đây

là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

• ứ hai là quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin

coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sảnmuốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc;liên minh công nônglà cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có

cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu

tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng

Trang 10

10 2 NỘI DUNG CƠ BẢN

của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà

cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư

tưởng của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

• ứ ba là tổng kết những kinh nghiệm thành công

và thất bại của các phong trào cách mạng Việt

Nam và thế giới

Trước Cách mạng tháng 8, khác với những lãnh tụ

Đảng Cộng sản khác ở Việt Nam luôn coi liên minh

công nông là lực lượng nòng cốt, chủ chốt của cách

mạng vô sản, coi nhẹ tiềm năng cách mạng của các giai

cấp tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam Hồ Chí Minh

là người rất quan tâm đến việc tập hợp sự ủng hộ của

những giai cấp tầng lớp xã hội không phải là lực lượng

chủ chốt của cách mạng vô sản như tư sản, địa chủ,

tiểu thương, trí thức… ời kỳ này chính những đồng

chí của Hồ Chí Minh đã phê phán đường lối cải lương

“liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ" của Hồ Chí

Minh, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Đệ

Tam ốc tế.[59][60]

Ngay sau khi nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòatuyên

bố thành lập, giai đoạn 1945 - 1946, tình thế đất nước ở

vào hoàn cảnh vô cùng hiểm nghèo, được ví như ngàn

cân treo sợi tóc Chính trong hoàn cảnh này, Hồ Chí

Minh đã thể hiện tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc của

ông, giúp đất nước vượt qua cơn hiểm nghèo, giữ vững

được nền độc lập non trẻ Hồ Chí Minh đã gạt bỏ các

bất đồng chính trị giữa các phe phái sang một bên, tập

hợp các đảng phái chính trị để thành lập Chính phủ với

mục tiêu phụng sự quốc gia, dân tộc Trong đó mục tiêu

độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu

an điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

bao gồm:

• Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến

lược quyết định thành công của cách mạng

• Đại đoàn kết là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu

của cách mạng

• Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

• Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất,

thành lực lượng vật chất có tổ chức thể hiện khối

đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất

dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong tác phẩm “Nên Học Sử Ta”, Hồ Chí Minh đã viết:

“Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn

kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do.

Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước

ngoài xâm lấn Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết

mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi…"[61]

2.3.2 Về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tham gia phong trào cộng sản quốc tế tại thời điểm Việt Nam chưa có bất cứ tổ chức chính trị nào theo Chủ nghĩa Cộng sản Ông là thành viên của tổ chức

ốc tế Cộng sản III, là người đã thống nhất các tổ chức đảng cộng sản riêng rẽ ở Việt Nam thành một chính đảng duy nhất theo chỉ thị của ốc tế III Chính Hồ Chí Minh là người kết nối phong trào cách mạng vô sản Việt Nam và phong trào cách mạng vô sản quốc

tế ông qua Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung ốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác Rất nhiều lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam quan trọng đã được Hồ Chí Minh tổ chức sang Liên Xô hoặc Trung ốc đào tạo

về chính trị và quân sự

a khảo sát thực tế, từ kinh nghiệm bản thân,Hồ Chí Minhđã nhận thức được rằng: chủ nghĩa đế quốc là

một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa Muốn đánh thắng chúng, phải thực hiện khối liên minh chiến đấu giữa lao động ở các thuộc địa với nhau và giữa lao động ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc; nếu tách riêng mỗi lực lượng thì không thể nào thắng lợi được Điểm

vượt lên của Hồ Chí Minh so với các lãnh tụ yêu nước

và chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX chính là ở đó, nó nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về sức mạnh của phong trào cộng sản trên thế giới và nhu cầu liên kết với phong trào đó để giành độc lập dân tộc.[62]

an điểm của Hồ Chí Minh về sự liên kết giữa phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng tại các nước khác cũng là phương châm cơ bản của phong

trào cộng sản quốc tế thể hiện qua khẩu hiệu "Vô sản

tất cả các nước đoàn kết lại" Kết hợp sức mạnh dân tộc

với sức mạnh thời đại là một cách diễn đạt sự liên kết

đó Nội dung của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bao gồm:

• Đặt cách mạng Việt Nam trong sự gắn bó với cách

mạng vô sản thế giới

• Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính

với chủ nghĩa quốc tế trong sáng

• Giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là

chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình

• Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng

là bạn với tất cả mọi nước dân chủ

eo Hồ Chí Minh, “phải làm cho các dân tộc thuộc địa,

từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn

và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương

Ngày đăng: 13/08/2017, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w