Các học trò của ông nói về giai đoạn ông đi các nước truyền bá đạo học: Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng “ầy Khổng Tử của chúng ta mỗi khi đến một nước nào đều được tham dự vào công việc chính s
Trang 1Khổng phu tử[1] (tiếng Trung: 孔夫子) hoặc
Khổng tử (tiếng Trung: 孔子)
Khổng phu tử*[1](tiếng Trung: 孔夫子) hoặc Khổng
tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu
thế cho Khổng Khâu (chữ Hán: 孔丘;27 tháng 8, 551
TCN -11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲
尼) Ông được suy tôn như một trong những nhà khai
sángNho giáo, đồng thời làgiảng sưvàtriết gialỗi lạc
bậc nhất cõiÁ Đông*[2]*[3]*[4]
Trí tuệ và công đức của Khổng Tử được đúc kết trong
mỹ tự Vạn thế sư biểu*[5](chữ Hán: 萬世師表) hoặc
Đại thành í thánh tiên sư*[6](chữ Hán: 大成至聖先
師)
• Nguyên danh: Khổng Khâu (孔丘).
• Biểu tự: Trọng Ni (仲尼).
• ụy hiệu: Bao thành tuyên Ni công (褒成宣尼
公; năm 1 triềuHán Bình Đế), Văn Tuyên vương
(文宣王; năm 739 triềuĐường Huyền Tông), Đại
thánh Văn Tuyên vương (大聖文宣王, năm 1008
triềuTống Chân Tông), Chí thánh tiên sư (至聖先
師; năm 1560 triềuMinh ế Tông), Đại thành chí
thánh Văn Tuyên vương ánh sư (大成至聖文宣
王聖師; năm 1645 triềuanh ế Tổ)*[7]
• Khi dịch sách Trung Hoa sang ngôn ngữ Tây
dương, cáctu sĩ dòng Tênđã chuyển âm Kǒng ūzǐ
thành Confucius.
2.1 Ấu thơ
Khổng Khâu sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình,
nướcLỗ*[8](nay là huyện Khúc Phụ, tỉnhSơn Đông,
Trung Hoa) cuối thờiXuân u Nhiều sử ký nói rằng
ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời
vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ nướcTốngdi
cư đến nước Lỗ
Cha ông làKhổng Hộtlấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh
ra ông Năm lên ba, Khâu mồ côi cha Bà Nhan Chinh
Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã
đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ,
mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ
mẹ, nhưng rất ham học Ông từng nói "… Lúc nhỏ bị nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều việc nhỏ mọn Người quân tử cần biết nhiều như vậy không? Không cần biết nhiều nghề như vậy * [9]" Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử đó sống một cuộc sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ
2.2 Làm quan
Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa Sau đó, qua làm chức
Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự
Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được
các môn đồ gọi bằng phu tử Năm 25 tuổi thì ông chịu
tang mẹ Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước Lỗ
Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đếnLạc Dương, kinh đô
nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi Học trò làNam Cung átnghe vậy, liền 1
Trang 22 2 TIỂU SỬ
về tâu vớiLỗ Chiêu Công Vua liền ban cho ông một
cỗ xe song mã và vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử
và Nam Cung át đi Lạc Dương Đến nơi, Khổng Tử
quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật
lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế
iên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế ần
Nông và ần Hậu ổ Nơi nào có quan hệ đến việc tế
lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận
Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về
nước Lỗ Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều
nên học trò xin theo học càng lúc càng đông Nhưng
vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước Được mấy
năm, trong nước Lỗ,ý Bình Tửkhởi loạn Ông theo
Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề Tề Cảnh Công
mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục,
muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan
Tướng quốc nước Tề làYến Anhngăn cản không cho
Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên
cứu cho tường tận Đạo học của ánh hiền Lúc đó ông
được 36 tuổi
2.3 Ngao du
Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn
học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các
tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó Có nơi
ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi
thường Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước:
Vệ, Khuông, Trần, Tống, ái, Sở, mong thuyết phục
các vua chư Hầu chịu đem Đạo của ông ra ứng dụng
để đem lại thái bình cho dân chúng Nhưng Đạo của
ông là Vương Đạo (đạo trị quốc) nên đi ngược ý đồ Bá
Đạo (đạo chinh phạt) của các vua chư hầu và quyền lợi
của các quan Đại phu nên các vua chư hầu đều không
dám dùng ông Ông từng cảm thán "Ai mà không phải
đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không
có ai đi theo đạo này ? * [10]" Khi bị vây ở đất Khuông,
Khổng Tử nói "Sau khi vua Văn Vương mất, tất cả mọi
văn hóa, lễ nhạc đều không phải ở nơi ta cả ư ? Nếu trời
muốn cho nền văn hóa này mất đi, thì sao khi vua Văn
Vương chết, lại ủy thác cho ta nắm giữ nền văn hóa này
làm gì ? Còn nếu trời đã không muốn để mất nền văn hóa
này, thì người Khuông kia làm gì được ta ?"*[11] Sau 14 năm đi chu du các nước không thành công, ông trở về nước Lỗ, có quan Đại Phuý Khang tửsai Công Hoa
ra đón ông Phu nhân của Khổng Tử là bà ượng an
đã mất trước đó một năm Các học trò của ông nói về giai đoạn ông đi các nước truyền bá đạo học:
Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng “ầy Khổng Tử của chúng ta mỗi khi đến một nước nào đều được tham dự vào công việc chính sự của nước đó.
Đây là do thầy chúng ta yêu cầu hay do người ta chủ động mời thầy
?"
Tử Cống nói:“ầy chúng ta có đức tính ôn, lương, cung, kiệm, nhường, nên mới được vinh dự đặc biệt đó.
Phương pháp đề xuất yêu cầu được tham gia chính sự của thầy chúng
ta hoàn toàn khác với phương pháp xin việc của người khác.”*[12]
( Luận ngữ )
Đến năm thứ 9 đời vuaLỗ Định công, ông được 51 tuổi, được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung
Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông làm khuôn mẫu Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 TCN), ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ởy
Âmmà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước
a năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ ượng thư) coi việc hình án Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật
tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng
ốc), coi việc Chính trị trong nước Ông cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần iếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính Ông chỉnh đốn
kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chánh trị mỗi ngày một tốt lên Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị
Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại Vua Tề theo kế, lập ra Bộ Nữ Nhạc mà đem dâng vua Lỗ Khổng
Tử biết vua Tề có ý dùng chuyện hưởng lạc để làm suy bại chính sự nước Lỗ nên khuyênLỗ Định côngđừng nhận, nhưng Định công không nghe ả nhiên vua Lỗ sau khi nhận Bộ Nữ Nhạc sinh ra lười biếng mà chán ghét Khổng Tử Lỗ Định công không nghe lời can gián của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chánh, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho quyền thần Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không
Trang 32.4 Soạn sách 3
được, chán nản xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các
nước chư hầu Đạo làm quan của ông thể hiện qua lời
ông nói vớiNhan Hồi"Dùng ta thì ta giúp làm nên sự
nghiệp, không dùng thì ta ở ẩn Chỉ có ta và ngươi có thể
làm được điều này mà thôi * [13]"
2.4 Soạn sách
Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học
và bắt tay vào soạn sách Ông cũng chỉnh lý lại các bản
nhạc nước Lỗ khiến cho nhạc nhã và nhạc tụng mỗi
loại có vị trí thích đáng của nó*[14] Có thể nói Khổng
Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu
tiên trong lịch sử giáo dục Trung ốc Trước thời ông,
trường học hoàn toàn là của triều đình và thường chỉ
thu nhận con em của gia đình quý tộc Khổng Tử sáng
lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ bất kể xuất
thân sang hèn, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân,
đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống
hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại Tổng số
môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới 3.000 người (Tam
thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng
tài giỏi, nên gọi làất thập nhị hiền Trong số học trò
của Khổng Tử,Nhan Hồilà người hiếu học nhất nhưng
không may chết sớm*[15] Khổng Tử nói "Nhan Hồi ư!
Lòng dạ của trò ấy trong ba tháng không lúc nào xa rời
đạo nhân Các trò khác không được như vậy, chỉ là ngẫu
nhiên làm việc nhân thôi * [16]" Nhan Uyên, một học
trò của Khổng Tử, ngậm ngùi than rằng "Đạo của thầy
càng ngước trông lên càng thấy cao, càng nỗ lực nghiên
cứu càng thấy sâu Mới chiêm nghiệm thấy ở phía trước,
đột nhiên lại hiện phía sau lưng ầy khéo dẫn dắt dần
từng bước trước sau giảng cho ta thấu triệt ầy dùng
đủ loại văn chương, làm cho tri thức của ta thêm phong
phú, lại biết dùng lễ tiết để đưa hành vi của ta dần vào
khuôn phép, khiến cho mình dù muốn thôi cũng không
thôi được, đã đua hết tài lực ra học thế mà vẫn trông
thấy đạo của thầy ta như đang đứng sững trước mặt.
Ta dẫu muốn theo đến cùng, mà vẫn không tài nào đạt
được như yêu cầu của thầy ta * [17]" Khổng Tử nói về
hoạt động dạy học của ông "Ta chẳng gặp được người đạt mức trung dung để truyền đạo nên buộc lòng phải tìm đến hạng cuồng giả, quyến giả Cuồng giả có tinh thần tiến thủ mãnh liệt yến giả biết giữ lòng ngay thẳng, không bao giờ làm chuyện bất nghĩa."*[18] Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư
bị tản mát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn Do vậy, Khổng Tử thực hiện san định lại các kinh sách của ánh hiền đời trước, lập thành 6 cuốn sách:Kinh i,Kinh ư,Kinh
Lễ, Kinh Nhạc,Kinh Dịch,Kinh Xuân u Mỗi cuốn lại nói về một vấn đề khác nhau, từ thi ca, nghi lễ, bói toán cho tới sử học Việc Khổng Tử tự mình biên soạn
6 bộ sách đã thể hiện hiểu biết sâu rộng và tinh thần làm việc miệt mài của ông, có thể coi đây là một dạng
Bách khoa toàn thưđầu tiên trong lịch sử Trung ốc
6 cuốn sách này gồm:
1 Kinh i (詩經 Shī Jīng): Sưu tầm các bài thơ dân
gian có từ trước Khổng Tử Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt
rõ ràng Một lần, Khổng Tử hỏi con trai“Học Kinh
i chưa ?", nó đáp“chưa”.Khổng Tử nói“Không học Kinh i thì không biết nói năng ra sao”(sách
Luận ngữ)
2 Kinh ư (書 經 Shū Jīng): Lưu lại các truyền
thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng
Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân nhưNghiêu,uấn
chứ đừng tàn bạo nhưKiệt,Trụ
3 Kinh Lễ (禮記 Lǐ Jì): Chép các lễ nghi thời trước.
Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội Khổng Tử
nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sáchLuận Ngữ)
4 Kinh Dịch (易經 Yì Jīng): Nói về các tư tưởng triết
học Trung Hoa dựa trên các khái niệmâm dương,
bát quái… Đời Chu,Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là oán từ Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch Khổng Tử giảng giải rộng thêm oán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi
là oán truyện và Hào truyện
5 Kinh Xuân u (春秋 Chūn Qiū): Chép các biến cố
xảy ra ởnước Lỗ, quê của Khổng Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa
6 Ngoài ra còn có Kinh Nhạc bàn về nhạc thuật
và nhạc khí, nhưng nguyên bản đã bị thiêu hủy
Trang 44 3 NHÂN CÁCH
trongChiến tranh Hán-Sở, chỉ còn đôi chút làm
thành một thiên trong Kinh Lễ, gọi là Nhạc ký.
Tuy nhiên, giới học giả cũng cho rằng, so với 5
cuốn còn lại thì sách này có phẩm chất thấp nhất
Tựu trung, 6 cuốn sách chỉ còn lại 5 mà hậu thế gọi là
Ngũ kinh Hiện nay, Ngũ kinh giữ vị trí đặc biệt quan
trọng trong các tác phẩm cổ điển Trung Hoa, nhờ có nó
mà tới 2.500 năm sau người ta vẫn hiểu biết tường tận
về đời sống của đời thái cổ Trong 6 cuốn sách, Khổng
Tử chú các lời nói của ánh hiền đời trước, xếp đặt lại
cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là
với Kinh Dịch, ông chú giải rất kỹ Sau đó, Khổng Tử
viết raKinh Xuân u, chép những việc của nước Lỗ
và của nhà Chu liên hệ với các nước chư Hầu từ đời
Lỗ Ẩn Côngnguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời
Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng là 242 năm
Khổng Tử thấy thời thế loạn lạc, chính đạo mờ mịt, các
tà thuyết dấy lên, những sự hung bạo rất nhiều, con
giết cha, bề tôi phản nghịch, cho nên ông lấy làm lo
sợ mà làm ra sách Xuân u, để định sự chính danh,
thưởng phạt theo đạo lý Đây là cuốn kinh mà Khổng
Tử tâm đắc nhất, là một trong những tác phẩm sử học
đầu tiên của Trung Hoa, trước cảSử ký
Xem hình thể bề ngoài thìKinh Xuân ulà một bộ sử
biên niên, lời lẽ vắn tắt, lắm chỗ hình như không có ý
nghĩa gì cả, nhưng xét rõ đến tinh thần thì là bộ sách
triết lý về việc chính trị Phép của Kinh Xuân u là
trị kẻ gian ác, dù còn sống hay chết rồi, trị ngay đến
bản thân, cốt để răn kẻ ác, khuyến khích trung nghĩa,
còn đến con cháu xa thì là để khuyến thiện, bỏ ác theo
thiện Khổng Tử đã vận dụng bút pháp để khen chê, để
phân biệt người thiện kẻ ác hết sức minh bạch và đanh
thép, nên người đời sau gọi đó là những búa rìu giáng
lên kẻ gian tà, răn đe chúng suốt ngàn đời sau:
Trong kinh Xuân u, được một
chữ khen thì vinh hơn cái áo hoa
cổn vua ban, bị một chữ chê thì
nhục hơn phải tội rìu búa (Nhứt tự
chi bao, vinh ư hoa cổn; nhứt tự chi
biếm, nhục ư phủ việt)
Từ khi Khổng Tử nêu cao cái nghĩa
trong Kinh Xuân u, bọn loạn
thần tặc tử trong thiên hạ đều phải
khiếp sợ (Khổng Tử tác Xuân u
nhi loạn thần tặc tử cụ).
2.5 Cuối đời
Mùa Xuân năm Lỗ Ai côngthứ 14 (481 TCN), tương
truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân
què chân trái phía trước Đức Khổng Tử đến xem rồi
bưng mặt khóc, ông than rằng:“Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo
của ta đến lúc cùng) SáchXuân uchép đến đây thì
hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân u là Lân kinh.
Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi
vừa hát:“ái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi ái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông làTử Cống
liền đến hỏi thăm, ông nói:“Ta biết mình sắp chết”.Đến
ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (tháng 4 năm479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73
tuổi Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện
đồ thư, một đời ta thế là hết * [19]" Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ ủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi làKhổng Lâm, thuộc huyệnKhúc Phụ, tỉnhSơn Đông
3 Nhân cách 3.1 Phẩm hạnh
Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học Bất cứ việc gì, ông cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi Tánh ông ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận,
đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vàoiên mệnh Ông tin rằng con người được sinh ra trên đời này là có lý do, bản thân ông được Trời giao cho sứ mệnh góp sức xây dựng nên một xã hội quý trọng đạo đức và lòng hiếu học, và ông đã giành cả đời nỗ lực cho sứ mệnh đó Ông là người nhân hậu, khiêm nhường, giản dị, chân thành, giàu tình cảm, ôn hòa mà nghiêm túc, uy nghi nhưng không thô bạo, cung kính mà an nhàn*[20] Ông sống thanh đạm, trọng nghĩa khinh tài Khổng Tử nói
"Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, khi ngủ co cánh tay mà gối đầu, niềm vui cũng ở trong đó rồi Còn như dùng phương pháp không chính đáng để đạt được giàu có và phú quý, ta coi như đám mây trôi vậy"*[21] Một người
ở xứ Đạt Hạng nói "Khổng Tử thật là vĩ đại, học rộng nhưng rất tiếc lại chẳng có danh tiếng gì!" Khổng Tử nghe được liền nói với học trò rằng "Ta làm cái gì ? Đánh xe ư ? Bắn tiễn ư ? Ta làm nghề đánh xe vậy! * [22]" Khi Khổng Tử ở nhà dáng dấp rất thoải mái, trên mặt biểu lộ thần thái hết sức hoài vui*[23] Khi ăn uống ở nhà có tang, Khổng Tử không bao giờ ăn no Hôm nào Khổng Tử đi phúng viếng đám tang, thì suốt ngày hôm
đó không đàn hát nữa.*[13]Ông đối xử với các học trò bằng tình thương như cha đối với con còn các học trò kính trọng ông như người cha thứ hai của họ Trong quan hệ thầy trò, ông gần gũi với họ và hết sức chân
thành Ông từng nói với các học trò "Các ngươi cứ tưởng
ta còn giấu các ngươi điều gì sao? Ta đâu có giấu điều gì.
Ta không có điều gì làm mà không cho các ngươi biết.
Ta, Khổng Khâu là con người như vậy * [24]" Ba việc mà Khổng Tử hết sức thận trọng là trai giới, chiến tranh và bệnh tật*[25]
Ông là người thông kim bác cổ nhưng chưa bao giờ tự nhận mình là người hiểu biết nhiều, ông biết rằng hiểu biết của một người chỉ là hạt cát so với kho tàng kiến
Trang 53.1 Phẩm hạnh 5
thức của nhân loại Khổng Tử nói "Ta có nhiều hiểu biết
ư? Không! Ta không hiểu biết nhiều Có một nông dân hỏi
ta một vấn đề mà lúc đầu ta không biết tí nào cả nhưng
ta đem hai mặt của vấn đề lật đi lật lại, suy nghĩ tìm
hiểu, rồi giải thích tường tận cho người ấy hiểu rõ * [26]"
Khổng Tử thường hay nói về Kinh i, Kinh ư và
thực hành Kinh Lễ đều là những lời thanh nhã cả*[27]
Khổng Tử ít khi nói đến lợi, mệnh trời và nhân*[28],
không bao giờ bàn luận những chuyện quái dị, bạo lực,
phản loạn, quỷ thần*[29] Tử Lộ hỏi về việc tế lễ quỷ
thần Khổng Tử nói "Chưa biết phụng thờ con người làm
sao có thể phụng thời quỷ thần ?" Tử Lộ lại hỏi "Con
mạnh dạn hỏi thầy về đạo lý của sự chết" Khổng Tử
nói "Chưa biết đạo lý của sự sống sao biết đạo lý của sự
chết".*[30]
Khổng Tử không dùng màu xanh da trời và màu đỏ nâu
để viền quần áo, không dùng màu đỏ và màu tím Mùa
nóng, Khổng Tử mặc áo đơn bằng vải mỏng nhất định
phải có áo lót ở trong Mùa lạnh, thì mặc áo da cừu màu
đen ở trong, mặc áo dài màu đen ở ngoài; hoặc mặc áo
da hươu màu trắng ở trong, thì mặc áo dài màu trắng
ở ngoài; còn nếu mặc áo da cáo màu vàng ở trong thì
mặc áo dài vàng ở ngoài ường ngày áo da mặc ở nhà,
may dài hơn lễ phục một ít, ống tay phải ngắn hơn ống
tay trái một ít để tiện lợi khi làm việc Khi ngủ nhất
thiết phải mặc áo ngủ dài bằng một nửa người Áo da
cáo da hạc mặc làm việc ở nhà có lông dày và ấm Khi
mãn tang Khổng Tử thường hay đeo ngọc Nếu không
là áo xiêm mặc để đi tế lễ và đến công đường làm việc
thì may giản dị hơn Không mặc áo da cừu màu đen
và đội mũ màu đen đi điếu tang Mồng một hàng tháng
Khổng Tử đều mặc triều phục vào chầu vua Đến kỳ trai
giới, Khổng Tử giữ mình sạch sẽ, mặc áo vải tinh khiết
màu trắng, áo ngủ dài gấp rưỡi thân mình Khi trai giới
nhất định thay đổi bữa ăn thường ngày, nơi ở cũng thay
đổi sang chỗ khác Tuy không cầu kỳ cao lương mỹ vị
nhưng Khổng Tử yêu cầu rất cao đối với thực phẩm
Khổng Tử thích ăn gạo giã trắng, ăn thịt thái mỏng
Khổng Tử không ăn lương thực để lâu ngày, thức ăn đã
hôi thiu, rau quả đã héo úa, thịt cá sống đã đổi màu,
thức ăn có mùi vị khó ngửi, nấu sống hay nát quá, thức
ăn chín quá, thực phẩm không đúng mùa vụ, thức ăn
nêm mắm muối gia vị không đúng kiểu cách, thịt thái
không vuông vắn ức ăn, thịt cá trên mâm cỗ nhiều,
Khổng Tử không bao giờ ăn quá mức bình thường Chỉ
có rượu là không giới hạn tửu lượng nhưng yêu cầu giữ
mình không được say Rượu và thịt khô mua ở chợ về
là không dùng Mỗi bữa đều ăn thêm gừng nhưng chỉ
vừa đủ Khi dự lễ ở tông miếu, Khổng Tử không để thịt
cách đêm Khi tế tại nhà riêng, Khổng Tử không để lại
thịt tế quá ba ngày, chiếu trải không ngay ngắn không
ngồi, khi ăn cơm không mạn đàm với người khác, khi
ngủ không nói chuyện với ai Dù chỉ ăn cơm canh bình
thường nhưng trước khi ăn Khổng Tử nhất định dành
một ít để thờ cúng, thành tâm như khi trai giới.*[31]Khi
ngủ Khổng Tử không duỗi thẳng tay chân như người
chết Bình thường ở nhà, Khổng Tử không trang điểm
trau chuốt dung mạo.*[32]
Khi Khổng Tử uống rượu với người trong làng, ông đợi các cụ cao tuổi rời khỏi mâm rồi mới rời sau Khi người làng làm lễ nghênh thần tống quỷ ông mặc triều phục đứng ở thềm phía Đông Khi nhờ người chuyển lời thăm hỏi của mình đến bạn mình ở nước khác, Khổng Tử vái người mình nhờ hai lạy để tiễn người ấy Vua ban tặng Khổng Tử thức ăn chín, Khổng Tử nhất định trải chiếu ngay ngắn rồi mới ăn Vua ban tặng cho thực phẩm sống, ông nấu xong đem cúng tế tổ tiên rời mới ăn Vua ban tặng cho vật sống, Khổng Tử nhất định giữ lại
để nuôi Khi ngồi hầu cơm bên vua khi vua đang tế lễ, Khổng Tử nếm trước Khổng Tử ốm tại nhà, khi vua đến thăm, Khổng Tử chuyển đầu hướng về phía Đông, đem triều phục đắp lên người với dây đai ở trên Khi vua triệu Khổng Tử đến gặp, ông đi bộ tới ngay, không đợi xe.*[33]Bạn bè mất mà không có ai thân thuộc lo
liệu, Khổng Tử nói "Việc này do ta chịu trách nhiệm".
Khi bạn bè tặng lễ phẩm, dẫu quý như xe ngựa nhưng không phải là vật cúng tế được thì khi nhận Khổng Tử cũng không bao giờ bái tạ Khổng Tử nhìn thấy người mặc áo tang thì thay đổi thái độ tỏ lòng thương xót Khổng Tử nhìn thấy người đội mũ miện, mặc lễ phục hoặc người mù luôn đối xử với họ rất lịch sự Ngồi xe đang đi trên đường, gặp người mặc tang phục, Khổng
Tử cúi người về phía trước gật đầu như muốn chia sẻ nỗi buồn của tang chủ Khổng Tử gặp người cầm sổ sách của nhà nước cũng cúi chào như vậy để tỏ lòng kính trọng người thi hành công vụ Khổng Tử khi làm khách, thấy chủ nhà dọn mâm thịnh soạn thì đứng lên cảm tạ lòng hiếu khách của chủ nhân rồi mới cầm đũa Khi có sấm to bão lớn, Khổng Tử cũng thay đổi thái
độ, nét mặt hiện vẻ lo lắng sợ thiên tai gây họa cho dân.*[34]
Khổng Tử câu cá không bao giờ đánh bằng lưới, khi bắn chim không bao giờ bắn con đã về tổ nghỉ ngơi
ấp trứng*[35] Khổng Tử cùng ngồi hát với người khác, nếu phát hiện ai hát hay thì nhất định mời họ hát lại một lần nữa để mình cùng được hát theo*[36] Khi nhìn thấy người mặc tang phục, người đội mũ miện mặc lễ phục và người mù, mặc dù họ còn rất trẻ thì Khổng
Tử cũng nhất định dừng lại, nếu phải đi qua trước mặt
họ thì đi rất nhanh*[37] Khổng Tử không bao giờ mắc phải bốn sai lầm: không dựa vào ý riêng; không phán đoán khẳng định, áp đặt; không cố chấp; không tự cho mình là đúng cả*[38] Một lần có người chỉ ra sai lầm
của Khổng Tử, ông nói "Ta thật may mắn, giả dụ có sai lầm thì người ta cũng biết được"*[39] Khổng Tử là
người am hiểu lễ nhạc Ông nói "Khi nhạc sư Chí mới
ra làm quan, tấu bản nhạc phổ theo bài thơ an ư, tới khúc cuối cùng, tiếng nhạc dào dạt, nghe vui thích, thuận tai lắm thay! * [40]"
Khổng Tử khi ở quê hương, đứng trước mặt cha anh, bạn bè thì hết sức khiêm tốn, kính cẩn vâng lời, chẳng
hề tranh với ai điều gì Khổng Tử rất ít nói, có lúc tựa như chẳng biết nói năng gì Nhưng khi ra nơi tông miếu triều đình, giải quyết công việc, Khổng Tử ăn nói rất lưu loát, mạch lạc, chững chạc đâu ra đấy; duy có điều lời lẽ
Trang 66 3 NHÂN CÁCH
rất cẩn thận, không tùy tiện bao giờ Ở triều đình, khi
nói chuyện với quan đại phu dưới quyền, Khổng Tử
rất cương nghị, thẳng thắn; khi nói chuyện với quan
đại phu bậc trên luôn luôn giữ thái độ hòa nhã Khi vua
đến Khổng Tử tỏ ra hết sức cung kính rụt rè, trong lòng
như có điều gì chưa yên tâm, không thể hiện cử chỉ nào
thất lễ Khi vua triệu đến tiếp khách quý, tiếp chỉ xong,
sắc mặt Khổng Tử thay đổi ngay, tỏ ra hết sức nghiêm
trang Trước mặt tân khách, Khổng Tử tỏ ra hết sức
chu đáo, cẩn thận, chân bước nhanh hơn Đứng chào
khách, Khổng Tử chắp hai tay cúi đầu chào khách bên
trái rồi bên phải, còn quần áo mặc khi tiếp khách thì
ngay ngắn, phía sau cũng chỉnh tề như phía trước Khi
dẫn khách vào Khổng Tử lanh lẹ đi trước dẫn đường,
hai cánh tay thẳng, tựa hồ như chim duỗi cánh Khi
khách cáo từ ra về, Khổng Tử liền trở vào tâu với vua
rằng "Khách không còn ngoảnh mặt lại nữa" ý muốn
thưa rằng mọi việc tiếp đãi, bàn luận đã hết sức chu
đáo Khi bước vào cửa cung điện nơi vua và đại thần
hội họp Khổng Tử hết sức kính cẩn hơi có vẻ lo lắng
cảm thấy mình bé nhỏ như không có chỗ dung thân,
như chưa xứng đáng với thân phận của mình Khổng
Tử khi đi ngang qua ngai vua thì sắc mặt hơi đổi, chân
bước nhanh hơn, nói năng khe khẽ như không đủ lời
Khi vén áo bước lên công đường Khổng Tử cúi mình
nín thở Khi trở ra, xuống một bậc thềm thì sắc mặt thư
giãn, trở nên vui vẻ thư thái; xuống đến bậc thềm chót
thì rảo bước, đưa hai tay như chim xòe cánh Khi trở lại
chỗ của mình, Khổng Tử lại giữ vẻ cung kính Khổng
Tử lĩnh mệnh vua đi sứ các nước, hai tay cầm thẻ Ngọc
Khuê dâng lên vua chư hầu rất cung kính, dường như
nâng không nổi vậy Khổng Tử giơ cao Ngọc Khuê lên
như để vái chào, rồi hạ xuống ngang ngực, báo hiệu
chuẩn bị dâng lễ; nét mặt tỏ ra kính sợ, chân bước rón
rén như phải vịn vào vật gì mới đi nổi Khi dâng lễ vật
của vua sắc mặt Khổng Tử tươi tắn, ôn hòa, trang trọng
Khi dâng lễ của riêng mình thì hết sức thoải mái vui
tươi.*[41]
3.2 Tâm nguyện
Ngay từ thời trẻ, Không Tử đã đặc biệt yêu thích văn
hóa cổ đại, ông thấy rằng giá trị văn hóa cổ đại rất cao
xa và sâu sắc, cảm nhận được“cõi lòng cao thượng của
cổ nhân” Đây là yếu tố ảnh hưởng tới tư tưởng của
Khổng Tử một cách tự nhiên, hướng tư tưởng phẩm
chất của Khổng Tử đến một trình độ tự giác cao“yết
chí học tập, phát huy văn hóa truyền thống , chịu trách
nhiệm trước lịch sử, lập chí cho sự nghiệp lớn sống vì
thiên hạ!”
Ông sống trong thời kỳ trật tự xã hội đã suy đồi, chư
hầu lấn quyền thiên tử, đại thần tiếm đoạt ngôi chư
hầu dẫn đến cảnh chém giết nhau hỗn loạn, không còn
đạo lý, kỷ cương Đau lòng trước cảnh này Khổng Tử
than: "Các dân tộc Di Địch lạc hậu ở biên giới còn có
vua, không như các dân tộc Hoa Hạ ở Trung Nguyên cứ
như thể chẳng có vua gì cả! * [42]" Đạo đức xã hội thời
ông sống cũng đã suy đồi Tử Lộ hỏi về phẩm đức của
một người toàn tài Khổng Tử nói "Có trí tuệ như Tang
Vũ Trọng, liêm khiết như Mạnh Công Xước, dũng cảm như Biện Trang Tử, tài nghệ như Nhiễm Cầu, lại nắm được lễ nhạc, được như vậy xem như là một người toàn tài" Khổng Tử lại nói tiếp "Bây giờ muốn trở thành một người toàn tài thì chẳng cần phải như vậy nữa Chỉ cần nhìn thấy lợi thì trước hết hãy nghĩ đến nghĩa, gặp việc nguy nan không tiếc thân mình, lời hứa ngày thường dù lâu cũng không bao giờ quên, được như vậy xem như là một người toàn tài rồi"*[43]
Ông mong muốn tái lập lại trật tự xã hội, làm cho mọi người trở nên tốt đẹp hơn, đối xử với nhau hòa hảo,
thân ái Một lần Khổng Tử tâm sự với học trò "Nguyện vọng của ta là muốn cho người già được nuôi dưỡng đầy
đủ, bạn bè tin cậy lẫn nhau, trẻ nhỏ được quan tâm chăm sóc * [44]" Chính vì thế ông luôn muốn dùng tài năng
của mình giúp nước, giúp đời Khổng Tử nói "Nếu có người bổ dụng ta làm quan quản lý nhà nước thì một năm cũng đã tương đối rồi, ba năm nhất định có nhiều thành tích hơn nữa"*[45] Bản thân ông lại thích cuộc sống an nhàn, tự do tự tại Khi Khổng Tử hỏi chí hướng
của học trò ông là Tăng Tích, người này thưa "áng ba cuối xuân mặc trang phục mùa xuân, cùng hẹn với năm sáu bạn trẻ, sáu bảy em nhỏ đến sông Nghi tung tăng bơi lội tắm mát, lên đài cầu mưa Vũ Vu nhảy múa hứng gió, vừa đi vừa ngâm vịnh mà trở về nhà." Khổng Tử ngậm ngùi than rằng "Ta tán thành cách suy nghĩ của con.".*[46]
Trong suốt cuộc đời dạy học, viết sách và du thuyết của
mình, Khổng Tử luôn tự vấn bản thân "Im lặng nhớ kỹ những điều đã học được; kiên trì học tập không biết chán, dạy bảo người khác không biết mệt mỏi Trong ba việc này ta đã làm được việc nào ?*[47]", "Ở triều đình thì tôn kính các bậc công khanh; ở nhà thì hiếu để với cha anh; gặp việc tang chẳng dám không có lễ tiết cho chu toàn; rượu chè không đến nỗi quá say mà lèm nhèm Những việc đó ta đã làm được việc nào chăng ? * [48]" Ông nói
"Đức hạnh không tu dưỡng, học vấn không giảng giải, nhìn thấy việc nghĩa không làm, tự có điều sai không chịu sửa chữa, những điều này là nỗi lo của ta.*[49]"
Phương châm sống của ông là "Lập chí vì đạo, giữ vững lấy đức, noi theo điều nhân, vui chơi trong lục nghệ"*[50] SáchTrung Dungnói về Khổng Tử "Khổng Tử tôn sùng tiếp nối đạo đức của vua Nghiêu, vua uấn; noi theo và làm sáng tỏ phép tắc của vua Văn Vương, vua Vũ Vương, trên thuận thiên thời, dưới hợp địa lý Đức của Khổng
Tử vĩ đại như trời đất, không có cái gì không chứa nổi, không có cái gì không che chở; lại giống như bốn mùa thay nhau luân chuyển, như mặt trời, mặt trăng thay nhau tỏa sáng.*[51]" còn ông chỉ khiêm tốn tự nhận
"Một thôn có chục nhà thì nhất định có một người trung tín như ta, chỉ khác không ham học như ta * [52] Ta không phải là người sinh ra đã biết tất cả, mà do hâm mộ đạo nghĩa đời xưa, nên cần mẫn học tập mà có được tri thức như hiện nay*[53] Về tri thức văn hóa thì ta cũng chỉ bằng người khác Nếu nói về làm một người quân tử tu
Trang 74.1 Đạo đức 7
thân hành đạo trong thực tiễn thì ta vẫn chưa làm được
bao nhiêu*[54] Nếu khoác cho ta hai chữ thánh nhân
ta đâu dám nhận Nhưng thực hiện theo công việc của
bậc thánh và bậc nhân thì ta từ trước đến nay chưa biết
chán, dạy học trò chưa bao giờ biết mệt mỏi, chỉ có vậy
thôi * [54] ".
ái Sử CôngTư Mã iên từng ca ngợi Khổng Tử:
“Núi cao cúi phục, thiên nhiên cũng kính nể ngừng khoe
sắc đẹp iên hạ biết không đuổi kịp được ông nhưng
luôn hướng theo ông! Từ bậc quân vương đến thường
dân lúc đó đều ca ngợi ông Tuy chỉ là người mặc áo vải
nhưng ông đời đời được tôn vinh, những người học đều
coi ông là thầy, có thể nói ông là bậc thánh hiền !”.
Mộ phần của Khổng Tử tại nguyên quán Khúc Phụ Khổng miếu ,
mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ Khổng nay là một di sản
thế giới do UNESCO công nhận.
Dù Khổng giáo thường được người Trung ốc tin theo
như một tôn giáo, vẫn tồn tại những cuộc tranh luận về
việc liệu đó có phải là một tôn giáo không, bởi Khổng
giáo ít đề cập tới các vấn đềthần họchayduy linh(quỷ
thần,kiếp sau, vân vân)
Các triết lý của Khổng Tử được chấp nhận chủ yếu bởi
nó dựa trên nền tảng quan điểm phổ thông trong xã hội
Trung ốc Triết học của ông nhấn mạnh sự tu dưỡng
đức hạnh cá nhân và cai trị bằngđạo đức: “tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ", đưa ra các quy tắc trong các mối quan hệ xã hội, đề cao "Đạo Trung Dung”và các đức tính “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” Khổng Tử
đề cao mối quan hệ gia đình,thờ cúng tổ tiên, trẻ kính trọng già, vợ tôn trọng chồng, và gia đình là căn bản cho một xã hội lý tưởng Ông đã tuyên bố rõ nguyên
tắc nổi tiếng, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác) Ông
cũng luôn lấy những điều tốt đẹp trong quá khứ ra làm chuẩn mực, và khuyên người Trung ốc, đặc biệt là tầng lớp cai trị, tự đổi mới mình dựa trên những hình mẫu những vị vua hiền trong quá khứ
Nói về triết học của đức Khổng Tử, có hai chủ thuyết là
nhân sinh quan và vũ trụ quan Nhân sinh quan có hai
mặt là cơ xuất thế và cơ nhập thế Cơ nhập thế là nói về mười lăm đức, con người phải cóđạo đức, nếu không
có đức con người có khác gì cầm thú Còn về cơ xuất thế là tánh mạng song Cụ thể trong Trung iên dịch,
là cơ năng chuyển hóa từ hậu thiên trở về với iên tiên Trong quẻ Bát uần Càn có câu, Càn đạo biến hóa các Chánh tánh mạng, bảo hiệp ái hòa mải lợi trinh… Con người có tánh, tức là có tâm hồn là thần trí của ta nó là thể vô hình còn mạng ta, tức là hình thể xác thân là khí huyết BênĐạo Giáogọi là ần Khí, bênPhật giáogọi là Tâm tức
Về vũ trụ quan của ông thể hiện bằng tám quẻ: Càn
là Trời, Khôn là Đất, Ly là mặt Nhật, Khảm là mặt Nguyệt… Như vậy triết lý tự nhiên của ông rất siêu hình
Tư Mã iênđã đánh giá Khổng Tử như sau: “Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung
ốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu
chuẩn Có thể gọi là bậc Chí ánh vậy”.
4.1 Đạo đức
Lý thuyết đạo đức của Khổng tử dựa trên ba quan niệm chính:
Khi Khổng tử trưởng thành, lễ được xem là ba khía cạnh
sau trong cuộc đời: hiến tế cho thần thánh, thiết chế chính trị và xã hội, và hành vi hàng ngày Lễ được xem
là quy phạm đạo đức và hành vi mà iên thượng (Trời) chế định cho con người, lấy đó mà biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm
Đối với Khổng tử, Nghĩa (義 [义]) là nguồn gốc của Lễ.
Nghĩa chính là cách hành xử đúng đắn Trong khi làm
việc vì lễ, vị kỷ cá nhân chưa hẳn đã là xấu và người cư
xử theo lễ một cách đúng đắn là người mà cả cuộc đời dựa trên trí Tức là thay vì theo đuổi quyền lợi của cá nhân mình, người đó cần phải làm những gì là hợp lẽ
và đạo đức Trí là làm đúng việc vì một lý do đúng đắn
Nghĩa dựa trên quan hệ qua lại Một ví dụ sống theo
Trang 88 4 TRIẾT LÝ
Nghĩa là tại sao phải để tang cha mẹ ba năm sau khi
chết Lý do là vì cha mẹ đã phải nuôi dưỡng chăm sóc
đưa trẻ toàn bộ trong suốt ba năm đầu đời, và là người
có trí phải đền đáp lại bằng cách để tang ba năm
Cũng như Nghĩa xuất phát từ Lễ, thì Nghĩa cũng xuất
phát từ Nhân (仁) Nhân là cách cư xử tốt với mọi
người Nhân là trung tâm của các đức tính: tình cảm
chân thật, ngay thẳng; hết lòng vì nghĩa; nghiêm trang,
tề chỉnh; rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần
mẫn Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa,
đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi
Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên lòng vị tha
và hiểu những người khác thay vì là việc cai trị dựa
trên luật pháp có được như một quyền lực thần thánh
Để sống mà được cai trị bằng Nhân thì thậm chí còn
tốt hơn là sống trong luật pháp của Nghĩa Để sống có
nhân thì ta theo nguyên tắc vàng của Khổng tử: ông
đã tranh luận rằng người ta phải luôn đối xử với người
khác đúng như những gì họ muốn người khác đối xử
với họ Đức hạnh theo Khổng tử là dựa trên việc sống
hài hòa với mọi người
Khổng Tử nói: “Muốn nhân mà không muốn học thì bị
cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị
cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì
bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn
học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà
không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương
mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh
suất”.
Ông áp dụng nguyên tắc trên như sau:“Kỷ sở bất dục,
vật thi ư nhân - Cái gì mà ta không muốn thì đừng làm
cho người khác”
Dựa theo mức độ tu dưỡngđạo đức, Khổng Tử chia loài
người thành ba hạng:
• ánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và
chuyển giao chân lý minh triết
• ân tử: Người cao nhã, kẻ phấn đấu để làm điều
chân chính
• Tiểu nhân: Kẻ “hèn mọn”, hành động không
màng tới đạo đức
Khổng Tử nói:“Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời,
sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân Kẻ tiểu nhân
không biết mệnh trời, nên không sợ, mà còn khinh nhờn
bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân Người
quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu
căng mà không ung dung”.
Trong cuốnLuận Ngữ, Khổng Tử tự coi mình là một
“người truyền đạt lại cái đã có mà không phát minh ra
thứ gì khác” Ông rất nhấn mạnh trên tầm quan trọng
của sự học, và chương mở đầu Luận Ngữ cũng đề cập
tới việc học Vì thế, ông được người Trung ốc coi
là vị Đại Sư ay vì tìm cách xây dựng một lý thuyết
mang tính hệ thống vềcuộc sốngvàxã hội, ông muốn các môn đồ của mình phải suy nghĩ sâu sắc cho chính mình và lặng lẽ nghiên cứu thế giới bên ngoài, chủ yếu thông qua các cuốnkinhcũ và qua các sự kiện quá khứ
có liên quan (nhưKinh Xuân u) hay những tình cảm của nhân dân trong quá khứ (nhưKinh i)
Sự giáo hóa của Khổng Tử chủ yếu là làm sao cho sáng
tỏ cái đức sáng của con người, chớ không đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người Nền giáo dục hiện đại, nhiều nơi làm ngược lại: đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức chứ không quan tâm đến giáo dục đạo đức lối sống, cho nên cái Tâm của học trò không được mở mang khiến họ dễ thành kẻ xấu Đó
là điều mà Khổng Tử tối kỵ, ông xem đó là dạy tiểu xảo chứ không phải dạy người
Khổng Tử coi việc dạy học là để mưu cầu lợi ích cho nhân dân chứ không phải để mưu lợi cá nhân Ông nói
"Chỉ cần tự mình dâng lên một xâu thịt khô làm lễ xin học, thì ta chưa từng bao giờ từ chối ai làm học trò của
ta * [55]" Nội dung giáo dục của Khổng Tử đối với học trò có bốn mặt là văn, hạnh, trung, tín*[56] Người làng
Hỗ Hương rất khó cùng trò chuyện Một đứa trẻ làng ấy đến yết kiến Khổng Tử xin vào học Học trò của Khổng
Tử cảm thấy nghi hoặc không hiểu nổi Khổng Tử nói
"Ta tán thành mặt tiến bộ của họ, không tán thành mặt yếu kém của họ Chẳng việc gì phải đối xử quá đáng với
họ Người ta thanh khiết tốt đẹp đến với mình thì nên tán thành sự thanh khiết tốt đẹp của họ, không nên cứ truy cứu việc quá khứ của họ.*[57]"
Ở thời đại của sự phân chia, hỗn loạn và những cuộc chiến tranh không dứt giữa các nước chư hầu, ông muốn tái lậpiên Mệnhđể có thể thống nhất “thiên hạ" (天下, mọi thứ dưới gầm trời, ở đây nghĩa là Trung
ốc) và mang lại hòa bình, thịnh vượng cho nhân dân
Vì thế Khổng Tử thường được coi là người đã đề xướng
chủ nghĩa bảo thủ, nhưng khi xem xét kỹ những đề xuất của ông ta thấy ông đã sử dụng (và có thể cố ý bóp méo) những định chế và lễ nghi trong quá khứ nhằm đặt ra một hệ thống chính trị mới của riêng mình Ông mơ ước về sự khôi phục một vương quốc thống nhất mà những vị vua phải được lựa chọn xứng đáng theođạo đức(nhưvua Nghiêu,vua uấn) chứ không phải theo dòng họ Những người cai trị phải hành động vì nhân dân, và họ phải đạt tới mứchoàn thiện Một vị vua như vậy có thể dùngđạo đứccủa mình giáo hóa nhân dân thay vì áp đặt mọi người bằng pháp luật và quy định Nhiều khía cạnh tư tưởng của Khổng Tử vẫn còn lưu truyền và phát huy đến tận ngày nay Có được sự trường tồn đó, là ở tinh thần đam mê học hỏi và thái
độ nghiêm túc đối với việc học của Khổng Tử Ông nói:
“Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình” eo Ông, đã không học thì thôi chứ đã học là phải “Học cho rộng, hỏi cho kỹ;
Trang 94.1 Đạo đức 9
nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng tỏ, làm cho hết
sức Có điều không học nhưng đã học điều gì thì phải học
cho kỳ được Có điều không hỏi, nhưng khi đã hỏi điều
gì thì phải hỏi cho thật hiểu Có điều không nghĩ nhưng
đã nghĩ điều gì thì phải nghĩ cho ra Có điều không phân
biệt nhưng đã phân biệt điều gì thì phải phân biệt cho
minh bạch Có điều không làm nhưng đã làm điều gì thì
phải cố hết sức mà làm cho bằng được… Nếu quả theo
được đạo ấy thì tuy ngu mà cũng thành sáng, yếu đuối
rồi cũng thành ra khoẻ mạnh”.
Khổng Tử cũng nhấn mạnh trên cái mà ông gọi là“Lễ
và Nhạc”, coi hai thứ đó là những trụ cột của sự cân
bằng chotrật tựvà sựhài hòa Lễ là các yêu cầu và quy
phạm trong việc đối nhân xử thế; còn Nhạc (âm nhạc,
văn nghệ) là để thống nhất mọi con tim cùng chung
vui, cũng là để giữ gìn đức hạnh Ông nói thêm rằng lễ
không chỉ là cúng tế, và âm nhạc không chỉ là âm thanh
của dùi đánh vào chuông Cả hai còn là cách truyền
đạt giữa lòng nhân của một người và hoàn cảnh xã hội
của anh ta; cả hai yếu tố đó đều tăng cường các mối
quan hệ xã hội, như Ngũ ường(năm mối quan hệ
chủ yếu): quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu
thê (vợ chồng), huynh đệ (anh em) và bằng hữu (bạn
bè) Các trách nhiệm luôn được cân bằng, và nếu một
thần dân phải tuân lệnh vua, thì thần dân cũng phải
can ngăn khi nhà vua sai lầm
Khổng Tử chú trọng vào sự tu dưỡngđạo đứccá nhân
trước tiên, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai
trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: “Tu thân, Tề gia, Trị
quốc, Bình iên hạ" Ông nhấn mạnh vào Ngũ thường:
“Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” Nhân là lòng từ thiện,
Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay
quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ
dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy
nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói Người
ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối
loạn
Những bài giảng của Khổng Tử sau này được các môn
đồ của ông hệ thống thành một bộ văn bản tỉ mỉ về
những quy định và cách thức thực hiện nghi lễ Nhiều
thế kỷ sau khi ông đã qua đời, cả Mạnh Tửvà Tuân
Tửđều viết những cuốn sách quan trọng, và lúc ấy,
một triết lý đã được tạo dựng đầy đủ, gọi là Khổng
giáo Sau hơn 1.500 năm, học giảChu Hiđã diễn giải ý
tưởng Khổng giáo theo một cách hoàn toàn mới, được
gọi làTân Khổng giáo, để phân biệt với những ý tưởng
trong cuốn Luận Ngữ Tân Khổng giáo đã có ảnh hưởng
sâu rộng ở Trung ốc,Triều Tiên,Việt Namvà nhiều
nước châu Á khác cho tới tận thế kỷ 20
Tư Mã iênđã có lời bình về Khổng Tử:“Trong kinh
“i”có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao
khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo
khiến người ta tuân theo Từ xưa tới nay trong thiên hạ,
ân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều Họ khi
đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi
thì chẳng còn lại chút gì Khổng Tử là một người bình
dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy.
Từ iên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về“Lục Nghệ" thì đều xem học thuyết ấy của Khổng
Tử là chuẩn tắc cao nhất Có thể nói Khổng Tử là một
ánh nhân chí cao vô thượng”.
Một trong những giáo lý sâu sắc nhất của Khổng Tử, một trong những điều khó hiểu nhất từ quan điểm phương Tây, có thể là việc ông sử dụng những câu chuyện cách ngôn chứ không giảng giải trực tiếp cách
cư xử cho các môn đồ.Đạo đứccủa ông có thể được coi
là một trong những kiểu đạo đức cao nhất Cách dạy
“gián tiếp”này được sử dụng rất nhiều trong các bài giảng của ông thông qua những lờiám chỉ,nói bóng gió, và thậm chí là sựlặp thừa Điều này giải thích tại sao khi nghiên cứu cần đặt các bài giảng của ông vào đúng ngữ cảnh Một ví dụ là câu chuyện sau:
Từ triều về nhà, nghe tin chuồng ngựa cháy, Khổng Tử nói,“Có ai bị thương không?" Ông không hề hỏi
về Ngựa.
Luận Ngữ
Câu chuyện không dài, nhưng có tầm quan trọng rất lớn Ở thời ông, một con ngựa có thể đắt gấp 10 lần một nô lệ Khi không hỏi tới ngựa, Khổng Tử thể hiện
sự quan tâm lớn nhất của mình: con người Vì thế, theo nhiều nhà bình luận cả Đông và Tây, những bài giảng của Khổng Tử có thể được coi là một biến thể kiểu Trung Hoa củaChủ nghĩa nhân đạo
Có lẽ bài giảng nổi tiếng nhất của ông lày tắc vàng:
Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào
có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?"
ầy đáp: “Có lẽ là chữ ứ (恕)chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác?"
Luận Ngữ
(Điều mình không muốn đừng bắt người phải chịu thì gọi là ứ 恕)
Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã
đề xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với những kiến giải sâu sắc Có thể nói với hệ thống phương pháp giáo dục này Khổng Tử xứng đáng là một nhà giáo dục lớn Khổng Tử đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học rất độc đáo, có thể khái quát lại gồm:
• Một là: Phương pháp đối thoại gợi mở, giảng dạy
bằng cách trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người
học Ông nói: “Kẻ nào chẳng phấn phát lên để
Trang 1010 5 VINH DANH
hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được.
Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta
chẳng khai phát cho được Kẻ nào đã biết rõ một
góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn
ba góc kia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa.”
• Hai là: Phương pháp kết hợp học đi đôi với hành,
lời nói kết hợp với việc làm, là thực hành điều đã
học và đem tri thức của mình vận dụng vào trong
cuộc sống Ông nói:“Người quân tử trước học văn
chương (như Kinh i , Kinh ư ) đặng mở rộng trí
thức của mình; kế đó, người nương theo lễ giáo mà
kiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý.
- ân tử bác học ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ
phất bạn hỹ phù".
• Ba là: Phương pháp "ôn cũ biết mới”, thường
xuyên rèn luyện, tu dưỡng và học tập Ông thường
nhắc rằng: “Người nào ôn lại những điều đã học,
do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người đó có
thể làm thầy thiên hạ đó - Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ
vi sư hỹ" eo Khổng Tử, muốn tiến bộ người học
phải luôn cố gắng nỗ lực, siêng năng trau dồi tri
thức cho mình, phải luôn có thái độ cầu tiến, vượt
lên Người học nhất định phải có thái độ khách
quan trong học tập, không được vị kỷ tư dục, võ
đoán, cố chấp, tự phụ chủ quan - “Vô ý, vô tất, vô
cố, vô ngã".
Khổng Tử đã đưa ra hệ thống các phương pháp giáo
dục, phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của
người học Những phương pháp đó đến nay vẫn có ý
nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả cao trong giáo dục
Trong quá trình giáo dục, Khổng Tử nhấn mạnh: cả
thầy và trò đều phải có nghĩa vụ to lớn với nhau Trò
phải tôn kính thầy, dẫu sau này có thành đạt, quyền
cao chức trọng đến đâu chăng nữa cũng không được bỏ
rơi lễ nghĩa, vẫn luôn phải cung kính thầy Ngược lại,
người thầy thì phải có tư cách mẫu mực để làm gương
cho trò Người thầy có can trực, đạo đức, như thế mới
có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước
TrongLịch sử Việt Namcó chuyện kể rằng:Phạm Sư
Mạnhsau khi đỗ đạt, làm quan to ở triều, về thăm thầy
làChu Văn An Dọc đường qua khu chợ đang họp, ông
ra uy để lính thét dân phải dẹp đường Biết chuyện, Chu
Văn An giận Phạm Sư Mạnh làm quan mà tỏ ra hách
dịch với dân, làm trái lời thầy dạy, nên không cho gặp
mặt Dù đã là quan lớn triều đình, Phạm Sư Mạnh vẫn
phải quỳ gối cả buổi trước cửa nhà thầy để xin tha lỗi,
về sau cũng hành xử khiêm nhường không dám hách
dịch nữa
4.2 Chính trị
Tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tư tưởngđạo đức
của ông Ông cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ
cai trị bằng “Lễ nghĩa” và đạo đức tự nhiên của con
người, chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc Ông
đã giải thích điều đó tại một trong những đoạn quan
trọng nhất ở cuốn Luận Ngữ: “Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào
là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng.”
(Tứ ư - Luận Ngữ, Nhà xuất bản ân đội Nhân dân 2003) Sự“biết sỉ nhục”là sự mở rộng củatrách nhiệm, nơi mà hành động trừng phạt đi trước hành động xấu
xa, chứ không phải đi sau nó như trong hình thức luật pháp củaPháp gia
Trong khi ủng hộ ý tưởng về một vị Hoàng đế đầy quyền lực, nguyên nhân là vì tình trạng hỗn loạn ở Trung ốc thờiXuân u, các triết lý của Khổng Tử chứa đựng một số yếu tố hạn chế sự lạm quyền của những nhà cai trị eo ông người cầm quyền phải có đạo đức, đặt nhân nghĩa lên hàng đầu và đặt lợi ích của dân chúng cao hơn lợi ích bản thân Ông cho rằng lời lẽ phải luôn ngay thật; vì thế tính trung thực có tầm quan trọng hàng đầu Sự thành thật có thể làm cảm động
lòng người, quy tụ thiên hạ Ông nói "Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người * [58]" ậm chí Khổng Tử còn ca ngợi người lãnh đạo biết nhường
quyền lực cho người tài đức hơn mình Ông nói "ái
Bá là con người có đức hết mực Nhiều lần ông ta đem thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân chúng biết mà ca ngợi công đức của mình * [59]"
Khi bàn luận về mối quan hệ giữa thần dân và nhà vua (hay giữa con và cha), ông nhấn mạnh sự cần thiết phải
có sự tôn trọng của người dưới với người trên Điều này không có nghĩa là người dưới phải răm rắp tuân theo mọi mệnh lệnh từ người trên như nhiều người hiện nay suy diễn sai mà người dưới phải đưa ra lời khuyên cho người trên nếu người trên có hành động sai lầm Tư tưởng này được học trò của ông làMạnh Tửphát triển thêm khi nói rằng nếu nhà vua không coi trọng nhân dân và có những hành vi gây hại cho đất nước, ông ta sẽ mấtiên mệnhvà sẽ phải bị lật đổ Vì thếhành động giết bạo chúakhông bị coi là phản nghịch mà là đúng đắn, bởi vì tư cách của kẻbạo chúagiống một kẻ cướp hơn là một vị vua Ngược lại người trên cũng phải dùng
lễ nghĩa đối xử với người dưới nếu không sẽ bị xem là
vô đạo
5 Vinh danh 5.1 Bản quán
Ngay sau khi Khổng Tử mất, cố hươngKhúc Phụ(曲
阜) trở thành nơi hành hương để người đời bày tỏ lòng kính ngưỡng Hiện đây vẫn là một địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng, nhiều người Trung ốc thường xuyên