1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử thành phố hồ chí minh

15 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 516,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử ành phố Hồ Chí Minhành phố Hồ Chí Minh là tên gọi chính thức từ tháng 7 năm 1976 khi được ốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên từ Sài Gòn.. Đến ngày 3 tháng

Trang 1

Lịch sử ành phố Hồ Chí Minh

ành phố Hồ Chí Minh là tên gọi chính thức từ tháng 7 năm 1976 khi được ốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên từ Sài Gòn Hiện nay tên gọi Sài Gòn vẫn được dùng bởi đông đảo quần chúng nhân

dân và được nhắc đến như tên bán chính thức của thành phố này

Địa danh Sài Gòn trên 300 năm và từng được dùng để chỉ một khu vực với diện tích khoảng 1 km² (Chợ Sài Gòn)

có đôngngười Hoasinh sống trong thế kỷ thứ 18 Địa bàn đó gần tương ứng với khuChợ Lớnngày nay

Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi chép “Rai Gon

ong” (Sài Gòn ượng) và “Rai Gon Hạ" (Sài Gòn Hạ)

eo Phủ Biên Tạp Lục củaLê ý Đônviết năm 1776, năm 1674 ống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánhCao Miênvà phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”) Đây là lần đầu tiên chữ

“Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam Vì thiếu chữ viết nênchữ Hán“Côn” được dùng thế cho “Gòn” Nếu đọc theoNômlà “Gòn”, còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là “Côn”

Sau đó danh xưng Sài Gòn được dùng để chỉ các khu vực nằm trong lũy Lão Cầm (năm1700), lũy Hoa Phong

(năm1731) và lũy Bán Bí (năm1772), chỉ với diện tích 5 km²

Ngày 11 tháng 4 năm 1861, sau khi chiếm được thành Gia Định, Phó Đô đốcLéonard Charnerra nghị định xác

định địa giới thành phố Sài Gòn (tiếng Pháp: Ville de Saigon) bao gồm cả vùng Sài Gòn và Bến Nghé Đến ngày 3

tháng 10 năm 1865, quyền thống đốc Nam Kỳ, chuẩn đô đốcPierre Rozeđã ký nghị định quy định lại diện tích của thành phố Sài Gòn chỉ còn 3km2 tại khu Bến Nghé cũ, đồng thời cũng quy địnhthành phố Chợ Lớn(tiếng

Pháp: Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ Từ đó tên gọi Sài Gòn chính thức dùng để chỉ vùng đấtBến Nghé,

và tênChợ Lớnđể chỉ vùng Sài Gòn cũ Sau năm 1956, tên gọi Sài Gòn được dùng chung để chỉ cả hai vùng đất này

Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 người Pháp là Aubaret và Francis Garnier eo Aubaret, Histoire et description

de la Basse-Cochinchine, và Garnier, Cholen, thì năm1778người Hoa ởCù lao Phố(Biên Hòa) vì giúp đỡnhà Nguyễnnên bị quânnhà Tây Sơntìm kiếm phải rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), chọn vùng đất ở giữa đườngMỹ ođi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, ngày sau thành phốChợ Lớn Năm1782họ lại bị quân nhà Tây Sơn tìm kiếm một lần nữa Ít lâu sau họ xây dựng lại, đắp đê cao nên đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, phát âm theo giọngảng Đônglà “ầy Ngồn” hay “ì Ngòn”, đọc theo âmHán-Việtlà "Đề Ngạn” ( ) Hiện tại, Đề Ngạn ( ) vẫn được dùng trong tiếng Hoa để chỉ khu vực Chợ Lớn

Họ dùng danh từ “Tây Cống” ( ) hoặc “Xây-cóon”, “Xi-cóon” để ám chỉ vùngngười Việtở tứcchợ Bến ành ngày nay “Xi-cóon” hay “Tây Cống” ( ) là xóm Việt, Sài Gòn của người Nam, không phải xóm người Hoa trong Chợ Lớn, tức ầy- Ngồnn, chữ viết đọc là Đề Ngạn ( )

uyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và ái Văn Kiểm đồng ý ả thật, trên phương diện ngữ âm, thì “ầy Ngòn”, “Xi Coón” rất giống “Sài Gòn” Tuy nhiên, giả thuyết này về sau bị chứng minh tính bất hợp lý khi phát hiện tài liệu ghi lại tên gọi Sài Gòn đã được sử dụng từ trước 1778

1

Trang 2

2.2 Củi và Bông gòn

Có thuyết nói rằng “Sài Gòn” bắt nguồn từ chữ “Sài” theochữ Hánlà củi và “Gòn” làchữ Nômchỉcây bông gòn

“Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ, Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ởchùa Cây Maivà các vùng lân cận… eo ý tôi, hình như tên đó là của ngườiCao Miênđặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố Tôi chưa tìm

ra được nguồn gốc đích thực của tên đó.”

(Trương Vĩnh Ký, Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et

Reconnaissance X Saigon, Imprimerie Coloniale 1885)

Tương tự có nhiều thuyết cho rằng “Sài Gòn” từ chữ “Prey Kor” (Rừng Gòn) hay “Kai Gon” (Cây Gòn) mà ra Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn

Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ “rừng gòn”

ở vùng Sài Gòn, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả Trương Vĩnh Ký Ngay vào thời của Trương Vĩnh Ký (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó không có phát triển gì lắm Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở Sài Gòn

êm nữa là cây gòn thời đó dùng làm hàng rào chứ không làm củi Và theo Lê Trung Hoa trong Địa Danh thì

“sài” chỉ xuất hiện trong các từ ghépHán-Việt, như “sài Tân” chứ chưa bao giờ được dùng như một từ đơn, nên không thể nói “củi” được, là “sài” được, hay là “củi gòn” là “Sài Gòn” được

Vậy, thuyết Sài Gòn là “củi gòn” đã bị bác bỏ bởi thực tế địa lý và ngữ học

Dọc theo con đườngNam tiếncủa dân tộc Việt Nam có nhiều bến bên các dòng sông: Bến Vân đồn, Bến ủy, Bến Hải, Bến an, Bến Ván, Bến óc, Bến Đình, Bến Tranh, Bến Tre, Bến Súc, Bến Tắm Ngựa, Bến ành,Bến

ành… Một số địa danh bị biến đổi như Bến Ván đã được đổi ra Bản Tân, Bến óc đã đổi ra Mễ Tân Rất có thể địa danh Bến Củi đã được đổi ra Sài Tân hoặc Sài Ngạn (do người ảng Đông sống ở khu vực này gọi bến

(bờ) bằng chữ Ngạn, củi gỗ là Sài “Sài Ngạn” (được phát âm như là “Xây-cóon” hay “Xi-cóon”) có lẽ do phát âm

trại thành “Sài Gòn”

Tuy nhiên giả thuyết này bị phát bỏ vì mơ hồ và thiếu thuyết phục, vì tên gọi Sài Gòn được ghi chép từ ngay trước khi người Hoa bỏ Cù Lao Phố về Sài Gòn

Dựa theo lịch sử và phát âm có thuyết cho là “Sài Gòn” là được phiên âm từ “Prei Nokor” hay từ “ầy Ngồn”

mà ra Prei Nokor nguyên là dinh của phó vươngChân Lạpthuộc vùngChợ Lớntớichùa Cây Mai, là dấu vết của một “thành phố" có từ thời Tiền Angkor (theo nhà sử học Pháp Louis Malleret) Tuy nhiên không có tài liệu nào khẳng định rằng nơi đây từng tồn tại khu dân cư trướcthế kỷ 16

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này Trong tiểu giáo trình Địa lý Nam Kỳ, ông đã công bố một

danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokor

Hai ông Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm

eo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế Tới năm 1674, Cao Miên có biến, chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đánh và phá luỹ Sài Gòn Vậy, từ 1623 tới

1674, vùng Prei Nokor, hay Sài Gòn, đã phát triển lắm

Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theotiếng Phạnmà người Miên mượn),

có nghĩa là “thị trấn ở trong rừng”, “Prei” hay “Brai” là “rừng”, “Nokor” hay “Nagara” là “thị trấn” Đây là vùng

mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế

Trang 3

2.5 Những tên gọi khác dùng để chỉ vùng đất Sài Gòn 3

eo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành “Sài”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “gòn”

2.5 Những tên gọi khác dùng để chỉ vùng đất Sài Gòn

Trước đó Sài Gòn có nhiều tên khác nữa, đầu tiên là ù Nại bao gồm hầu hết vùng phía Đông Nam Bộ ngày nay (rộng khoảng 20,000-25,000 km²) Đến năm 1698, Sài Gòn có tên là Huyện Tân Bình, lúc này chỉ khoảng

5,000 km² và có đường biên giới phía Tây làsông Sài Gòn

Đường phố Sài Gòn năm 1915

Trang 4

3.1 Thời cổ đại

Vào thời kỳ cổ đại, khu vực nay là ành phố Hồ Chí Minh thuộc quốc gia cổPhù Nam Đầuthế kỷ 17trên một khu vực rộng lớn, dân cư thưa thớt, nằm trong khu vực tranh chấp ảnh hưởng giữaChân LạpvàChiêm ành chỉ ghi nhận 2 ngôi làng nhỏ của người Chân Lạp Một tên Prei Nokor (Sài Gòn), một mang tên Kas Krobei (Bến Nghé)

Năm1623,Chúa Nguyễnsai một phái bộ tới yêu cầu vuaChey Cheha IIcho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé) Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam điCao MiênvàXiêm La Cùng khi đó, người Việt bắt đầu tập trung sinh sống tại xung quanh hai đồn này Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành trung tâm của khu thị tứ trên bến dưới thuyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất

Vào khoảng năm1658, Chân Lạp đứng trên bờ vực khủng hoảng đã cầu viện chúa Nguyễn nhằm chống lạingười

ái Năm1679, chúa Nguyễn cho phép một nhómngười Hoatị nạn triều Mãn anh, gồm hơn 3.000 người đến

cư trú ởBiên Hòa(Đồng Nai) và Mỹ o[1]

Năm1698, chúa Nguyễn cử Lễ ành HầuNguyễn Hữu Cảnhvào Nam, thiết lập chính quyền, các đơn vị hành chính, chia đặt tỉnh lỵ v.v., chính thức xác lập chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất mới Nguyễn Hữu Cảnh lấy

xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nghĩa là ảng Bình mới), đặt ra hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định)[2], cho quan vào cai trị Từ đó, xứ Sài Gòn trở thành huyện Tân Bình và huyện sở đặt ở làng Tân Khai, là trụ sở của dinh Phiên Trấn Những xóm làng đầu tiên của Sài Gòn

là xóm Hòa Mỹ (tức xóm ủy Trại, gần đường Cường Để), xóm Tân Khai (đường mé sông khoảng cầu Mống), xóm Long Điền, xóm an, xóm Bàu Sen (cây Mai), xóm Phú Giáo, xóm Lò Bún, xóm Cây Củi, xóm Rẫy Cải, xóm Ụ Ghe Sài Gòn trở thành một thị trấn đông đúc với hơn một vạn dân và là thủ phủ của dinh Phiên Trấn

anh Hà là xã đầu tiên của người Hoa ở, vùng Đồng Nai vàMinh Hươnglà xã đầu tiên của người Hoa tại Tân Bình

Năm1790, chúa Nguyễn Phúc Ánh cho đắp thành Gia Định[3]ở làng Tân Khai, lập Gia Định Kinh, làm nơi đóng

đô củaNguyễn Ánhchống quân Tây Sơn Sau khi thống nhất đất nước, năm1802, vuaGia Longcho lập kinh đô

ở Huế, đổi Gia Định Kinh lại thành Gia Định Trấn Đây là một đơn vị hành chính quản trị cả năm trấn Phiên An,

Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh anh và Hà Tiên Do dễ gây ra sự nhầm lẫn về danh xưng Trấn, nên năm 1808,

Gia Long cho thành lậpGia Định ành, một cơ quan hành chính cấp cao, thay mặt hoàng đế quản trị 5 trấn

Tại Bắc Hà, Gia Long cũng cho thành lập một đơn vị hành chính tương đương là Bắc ành.

Năm 1832,Minh Mạnggiải tán Gia Định ành, chia lại 5 trấn do Gia Định ành quản lý lại thành 6 tỉnh, gọi chung là Nam Kỳ Lục tỉnh Phiên An trấn trở thành tỉnh Phiên An

Sau cuộc khởi nghĩa củaLê Văn Khôi, thành y bị phá hủy Một thành mới nhỏ hơn gọi làthành Phụngđược xây dựng ành này không chống nổi cuộc vây hãm của quân Pháp vài năm sau đó

Sau khi chiếm được Sài Gòn vào năm1859,người Phápđã gấp rút quy hoạch xây dựng Sài Gòn thành một đô thị lớn nhiều chức năng (hành chính, quân sự, kinh tế, cảng, v.v.) Ngày 11 tháng 4 năm 1861, Phó Đô đốcLéonard Charnerra nghị định xác định địa giới thành phố Sài Gòn (tiếng Pháp: Ville de Saigon) lúc đó: phía đông làsông Sài Gòn, phía bắc làrạch ị Nghè, phía nam làrạch Bến Nghé, phía tây từ chùa Cây Mai đến đồn Kỳ Hòa, diện tích 25 km² eo đó, ngày 30 tháng 4 năm 1862, trung tá công binhCoffynđã cho soạn dự án mở rộng thành phố Sài Gòn[4], và được thống đốc đầu tiên của Nam Kỳ, Chuẩn đô đốcLouis Bonard Tuy nhiên, dự án này chỉ được triển khai một thời gian ngắn thì bị bỏ dở Ngày 14 tháng 8 năm 1862, Bonard lại ký yết định số 145 về

quy định tổ chức hành chính tỉnh Gia Định, theo đó tỉnh Gia Định (tiếng Pháp: Province de Gia-dinh) gồm 3 phủ (tiếng Pháp: département), mỗi phủ có ba huyện (tiếng Pháp: arrondissement), dưới huyện có tổng, dưới tổng có

xã, thôn, lý, ấp Về cơ bản vẫn giữ cách phân chia hành chính của triều Nguyễn Địa bàn thành phố Sài Gòn theo quy hoạch của Coffyn nằm trải rộng trên cả hai huyện Bình Dương và Tân Long, đều cùng phủ Tân Bình

Để điều chỉnh lại, ngày 3 tháng 10 năm 1865, quyền thống đốc Nam Kỳ, chuẩn đô đốcPierre Rozeđã ký nghị định quy định lại diện tích của thành phố Sài Gòn chỉ còn 3km2 (nằm gọn trong khu vựcquận 1ngày nay), đồng thời cũng quy địnhthành phố Chợ Lớn(tiếng Pháp: Ville de Cholon) trong một nghị định khác, với diện tích

Trang 5

3.3 Thời Pháp xâm chiếm Nam Kỳ 5

Người Pháp đã xây dựng ở Sài Gòn một thành phố tao nhã và sôi động được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hay “Paris của Phương Đông”

1km2 (nằm gọn trongquận 5hiện nay) Giữa 2 thành phố là các thôn xã như Phú ạnh, ái Bình, Tân Hòa, Phước Hưng, Nhơn Giang, Tân Kiểng, An Bình, An Đông, Hòa Bình… vẫn thuộc 2 huyện Bình Dương và Tân Long như cũ

Sau khi chiếm được thêm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ, Phó Đô đốcde La Grandièrexóa bỏ cách phân chia địa giới hành

chính cũ của triều Nguyễn, hủy bỏ cấp tỉnh và phủ, chia toàn cõi Nam Kỳ thành 25 arrondissement, lúc này được gọi là địa hạt hay quận thay cho các huyện trước đây Địa bàn của thành phố Sài Gòn và thành phốChợ Lớn, cùng các xã thôn ở giữa đều thuộcđịa hạt (hay ận) Sài Gòn Trước đó, de La Grandière cũng đã ban hành nghị định số 53 ngày 4 tháng 4 năm 1867, quy định về việc “Tổ chức một ủy ban thành phố Sài Gòn” Sau đó, ngày 8 tháng 7 năm 1869, Chuẩn đô đốcGustave Ohierđã ban hành nghị định số 131, đổi tên Ủy hội thành phố

(tiếng Pháp: Commission municipale) thành Hội đồng thành phố (tiếng Pháp: Conseil municipal), do một viên

ị trưởng (Maire) đứng đầu Hội đồng và một số sửa đổi chi tiết về thành phần nhân sự của Hội đồng.

Năm 1876, Chuẩn đô đốcVictor Auguste Duperré, Tổng chỉ huy quân Pháp tạiNam Kỳ[5], ra nghị định phân chia

toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là circonscription administrative, mỗi khu vực ấy lại gồm nhiều tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement administratif ) Sài Gòn là một trong 4 khu vực hành chính lớn

và gồm 5hạt Sài Gòn(đến năm 1885 mới đổi thànhhạt Gia Định), Tây Ninh, ủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa Ngày 8 tháng 1 năm 1877,Tổng thống Pháp Mac Mahonra “Sắc lệnh về tổ chức cấp thành phố của ành phố

Sài Gòn” (nguyên văn: Dercet concernant l'organissation municipale de la Ville de Saigon), ban hành ngày 16 tháng

5 năm 1877 eo đó, thành phố Sài Gòn được nâng cấp thành công xã (nguyên văn La Ville de Saigon est éigée

en commune) ời kỳ này, địa giới của thành phố Sài Gòn đã được mở rộng hơn: phía tây nam đến khu vực Cầu

Ông Lãnh, phía đông bắc đến khu công viên Lê Văn Tám hiện nay

Ngày 20 tháng 10 năm 1879, thống đốc dân sự đầu tiên của Nam Kỳ,Le Myre de Vilersđã ký nghị định “thành

lập một Hội đồng thành phố Chợ Lớn” (nguyên văn: Institution d'un cóseil municipal à Cholon).

Ngày 17 tháng 12 năm 1894, một nghị định đã mở rộng địa giới thành phố Sài Gòn về phía Bắc đến khu vực Hòa Hưng ngày nay Diện tích thành phố được mở rộng hơn 4km2, thuộc địa giới của quận 1 vàquận 3ngày nay Năm 1899, Toàn quyền Joseph AthanasePaul Doumera nghị định đổi tên gọi “hạt” thành “tỉnh” (province) và

chia Nam Kỳ thành 3 miền, với 20 tỉnh và 3 thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, thành phố tự trị Cap Saint Jacques và Côn Đảo không thuộc tỉnh nào[6] ành phố Sài Gòn nằm giữa địa giới của tỉnhGia Định, còn thành phố Chợ Lớn nằm giữa địa giới của tỉnhChợ Lớn

Trang 6

Sài Gòn thời Pháp thuộc với xe ngựa và những cột Morris đặc trưng Pháp

Bản đồ du lịch Sài Gòn vào khoảng năm 1920.

Trang 7

3.4 Thời kỳ 1945-1954 7

Đến năm 1910, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn đã được mở rộng thêm diện tích, sát nhập các xã thôn ở giữa thuộc 2 tỉnh Gia Định và Chợ Lớn, bắt đầu tiếp giáp nhau tại vị trí nay là đường Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn

iện uận Sài Gòn cũng được mở rộng về phía Nam, bao gồm cả địa bànquận 4và một phầnquận 7ngày nay.[7]

Ngày 27 tháng 4 năm 1931, khu Sài Gòn-Chợ Lớn (tiếng Pháp: Région de Saigon - Cholon) được thành lập lại theo

sắc lệnh của Tổng thống Pháp Đứng đầu khu Sài Gòn-Chợ Lớn là một Khu trưởng, doToàn quyền Đông Dương

bổ nhiệm Khu trưởng là Chủ tịch Hội đồng ản trị khu Sài Gòn-Chợ Lớn, quản trị chung cả hai thành phố

ành phố Chợ Lớn được mở rộng hơn sát nhập thêm một số vùng của tỉnh Chợ Lớn, nhưng thành phố Sài Gòn thu hẹp, cắt trả khu vực từ kinh Bàu Đồn đến Kinh Tẻ (nay thuộc quận 7) về cho quận Nhà Bè Tổng diện tích của cả khu tăng lên 51 km2 Trong thời gian chuyển tiếp chức ị trưởng của mỗi thành phố tạm thời vẫn giữ, nhưng nhiều quyền hạn của chức vụ này chuyển sang cho Khu trưởng Đến năm 1934 bãi bỏ chức ị trưởng của hai thành phố, nhưng còn duy trì hoạt động của hai Tòa ị chính (còn gọi là Dinh Xã Tây) Sài Gòn và Chợ Lớn để xử lý công việc hành chính

Ngày 19 tháng 12 năm 1941, các Tòa ị chính của hai thành phố cũ: Sài Gòn và Chợ Lớn bị giải thể Toàn Khu Sài Gòn-Chợ Lớn được chia thành 5 quận, bao gồm:

• ận I (nay thuộc một phần quận 1)

• ận II (nay thuộc một phần quận 1)

• ận III

• ận IV (nay là địa bànquận 5vàquận 8)

• ận V (nay là địa bàn thuộcquận 6)

Khi Việt Nam độc lập (1945), nơi đây được gọi là thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn Vào ngày23 tháng 9năm 1945, ở đây xảy ratrận Sài Gòn-Chợ Lớngiữa quân đội của Chính quyềnViệt Nam Dân chủ Cộng hòavới quân đội Pháp được hỗ trợ bởi Anh-Ấn Sau khi tái chiếm được Đông Dương, năm 1948 chính quyền Pháp tại Đông Dương đã chia thành phố thành 6 quận hành chính, đến năm 1952, tăng thành 7 ận VI được thành lập từ một phần của quận Nhà Bè thuộc tỉnh Gia Định (nay làquận 4)

Giữa những năm1954và1975, sauHiệp định Genève, Sài Gòn được chính quyềnViệt Nam Cộng hòaxây dựng làm thủ đô

Năm 1955, ủ tướngNgô Đình Diệmđã đổi tên Khu Sài Gòn-Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn Sau khi trở thành Tổng thống, ngày 22 tháng 10 năm 1956,Ngô Đình Diệmký sắc lệnh số 143-NV đổi "Đô thành Sài Gòn-Chợ Lớn” thành "Đô thành Sài Gòn” Sau đó, lại ra sắc lệnh số 74-TTP ngày 23 tháng 3 năm 1959 ấn định quy chế quản trị Sài Gòn: Tổng thống trực tiếp bổ nhiệm Đô trưởng và các quận trưởng trong đô thành Bốn ngày sau, lại có thêm nghị định số 110-NV chia lại các quận, theo đó Đô thành Sài Gòn được chia lại thành 8 quận, được đánh số từ 1 đến 8:

• ận 1: địa giới quận I cũ

• ận 2: địa giới quận II cũ

• ận 3: địa giới quận III cũ

• ận 4: địa giới thuộc quận VI cũ

• ận 5: phần địa giới thuộc quận IV cũ, phía bắc Kênh Tàu hủ[8]

• ận 6: một phần địa giới của quận V cũ

• ận 7: một phần địa giới của quận V cũ

Trang 8

Sài Gòn vào tháng 1 năm 1968 với những chiếc xe hơi điển hình của thời điểm đó

• ận 8: phần địa giới thuộc quận IV cũ, phía nam Kênh Tàu hủ

Dưới quận là phường, dưới phường là khóm

áng 12 năm 1966, quận 1 sát nhập thêm hai phường mới lập: An Khánh và ủ iêm, từ xã An Khánh thuộc quận ủ Đức, tỉnh Gia Định kế cận tách ra áng 1 năm 1967, hai phường mới của quận I lại tách ra, lập thành

ận 9 của Đô thành Sài Gòn có 2 phường

áng 7 năm 1969 thành lập ận 10, ận 11 trên cơ sở tách một phần ận 3, ận 5 và ận 6 Lúc này thành phố có diện tích 67,53 km² với dân số khoảng 2 triệu người, gốm 11 quận và 60 phường

Vào thập niên 1950-60, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, với viện trợ của Mỹ, Sài Gòn được đầu tư xây dựng

hạ tầng, cùng với chiến dịch tuyên truyền “Hòn ngọc Viễn Đông” (e Pearl of the Far East)[9]hay “Paris Viễn

Đông” (Paris de l'Extrême-Orient), kết quả là một hạ tầng cơ sở được xây dựng khá hoàn chỉnh Tuy nhiên, do

chiến cuộc leo thang từ giữa cuối thập niên 1960, chính quyền Sài gòn cùng người Mỹ đã cho xây dựng ồ ạt các công trình phục vụ chiến tranh

Trung tâm thành phố có một số công trình, khu phố được xây dựng to đẹp và sang trọng, tuy nhiên, các công trình này chủ yếu doPhápxây dựng từ thập niên 1940, các khu nhà mới rất ít được xây dựng kể từ sau năm 1950, trong khi đó dân cư nông thôn đổ về thành thị tìm việc và tránh chiến sự khiến Sài Gòn dần trở thành mộtkhu

ổ chuộtkhổng lồ[10] Khảo sát cho thấy khoảng 40% dân số khu vực Sài Gòn khi đó (tức khoảng 1,2 triệu người) phải sống tạikhu ổ chuộtvới những điều kiện về y tế, vệ sinh rất kém[11]

Rồi sau đó là phong trào "thương phế binh cắm dùi" của cựu chiến binh quốc gia vào đầu thập niên 1970, khiến cho kiến trúc Sài Gòn không còn như ban đầu Phong trào này khởi phát từ những cuộcbiểu tìnhcủa thương binh đòi chính phủ Sài Gòn cấp đất xây nhà cho họ như đã hứa, nó bùng phát tương đối khá mạnh Với mục đích

là “cắm dùi”, các nhóm biểu tình rào dây, đóng cọc chiếm những khoảng đất khang trang ở hai bên lề đường,

kể cả chỗ sát với hàng rào các biệt thự ậm chí có những nơi vỉa hè rộng rãi chỗ được tráng xi măng, cũng

bị những người trong nhóm chiếm cứ để chia nhau “Chiến dịch cắm dùi” đã lan tràn rõ rệt nhất như tại khúc đường Hồng thập tự (gầnbệnh viện Từ Dũ) tới khúc đường xe lửa gần rạp Cải lương Kim-chung); Khúc đất trống dọc đường Lý ái Tổ; đường Nguyễn Tri Phương, Võ Tánh (chợ-lớn), đại lộ Hùng vương… Chính phủ Sài Gòn không dám giải tán họ vì sợ lực lượng quân nhân bất bình, coi như sự đã rồi Các khu ven trung tâm bắt đầu trở nên lộn xộn với nhiềukhu ổ chuột, nhà tạm, chợ trời… tự phát mọc lên.[12]

Trang 9

3.6 Thống nhất và mở rộng địa giới 9

Ngày30 tháng 4năm1975,ân Giải Phóng Miền Namtấn công và Sài Gòn thất thủ Chính quyềnViệt Nam Cộng hòabị giải thể vàChính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam- nằm dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam- quản lý miền Nam Ngày 10 tháng 5 năm 1975, Hội nghị Ban ường vụ ành ủy Sài Gòn - Gia Định xác định ành phố Sài Gòn - Gia Định là một cơ cấu hành chính thống nhất, bao gồm toàn

bộ Đô thành Sài Gòn, toàn bộ tỉnhGia Định, quận Phú Hòa của tỉnh Bình Dương và quậnCủ Chicủa tỉnhHậu Nghĩacũ Toàn thành phố bao gồm 21 quận, trong đó 14 quận nội thành: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,Phú Nhuận (nguyên là xã Phú Nhuận, thuộc quận Tân Bình cũ, được tách ra và nâng cấp thành quận), Bình Hoà (nguyên

là xã Bình Hòa, quận Gò Vấp cũ), ạnh Mỹ Tây (nguyên là xã ạnh Mỹ Tây, quận Gò Vấp cũ); 7 quận ngoại thành: ủ Đức, Nhà Bè, Bình Chánh, Tân Bình (trừ xã Phú Nhuận, Gò Vấp (trừ Bình Hòa và ạnh Mỹ Tây), Hóc Môn, Củ Chi (gồm quận Phú Hòa của tỉnh Bình Dương và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa cũ)

Cảnh khu đô thị Phú Mỹ Hưng tại Nam Sài Gòn

Ngày2 tháng 7năm1976,ốc hộiđầu tiên của nước Việt Nam thống nhất đổi tên nước thànhCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Namđồng thời đặt lại tên cho thành phố theo tên của chủ tịch đầu tiên của nước,Hồ Chí Minh Cho đến nay, tên cũ Sài Gòn vẫn được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt trong các ngữ cảnh không chính thức Đối với người dân có gốc ở Sài Gòn lâu đời, và đặc biệt là cộng đồngngười Việt hải ngoại, cái tên Sài Gòn vẫn là cái tên mà họ yêu chuộng và dùng hàng ngày Để kỷ niệm cái tên Sài Gòn và nhắc nhủ cộng đồng người Việt về quê hương của họ, nhiều nơi có người Việt hải ngoại sinh sống, đường phố, cơ sở kinh doanh, và khu chợ được đặt tên là khu Sài-gòn-bé (Saigon, Lile-Saigon, New Saigon)

Địa bàn thành phố về cơ bản giống như nghị quyết ngày 10 tháng 5 năm 1975 của ành ủy Sài Gòn - Gia Định

và có một số điều chỉnh Các quận ngoại thành ủ Đức, Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi đổi thành các huyện Sát nhập một phần nhỏ thuộc tỉnh Long An vào Huyện Hóc Môn, sát nhập quận Giải thể ận Gò Vấp

cũ và thành lập quận Gò Vấp mới trên cơ sở 3 xã Hạnh ông, An Nhơn và ông Tây Hội ận Tân Bình cũ cũng bị giải thể và thành lập ận Tân Bình mới trên cơ sở các xã Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Phú ọ Hòa và

Trang 10

Tân Phú của quận Tân Bình cũ Hai quận Bình Hòa và ạnh Mỹ Tây hợp lại thành quận Bình ạnh ận 9 giải thể, trả 2 phường (đổi thành 2 xã) về huyện ủ Đức, ận 1 và ận 2 nhập thành ận 1 mới, ận 8 và

ận 7 nhập thành ận 8 mới Diện tích 11 quận nội thành và ven đô là 142,7 km2 chia ra 267 phường Khu vực ngoại thành có 5 huyện diện tích tự nhiên 1.152,8 km2 chia ra 77 xã

Ngày 29 tháng 12 năm 1977, thành phố sáp nhập thêmhuyện Duyên Hảicủa tỉnhĐồng Nai Ngày 18 tháng 12 năm 1991, huyện đổi tên thànhCần Giờ

Nghị định 03/CP ngày 6 tháng 1 năm 1997 quyết định giải thể huyện ủ Đức để thành lập các quận ủ Đức (trên cơ sở các xã Linh Đông, Linh Trung, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chính, thị trấn

ủ Đức, một phần các xã Hiệp Phú, Tân Phú, Phước Long), ận 2 (trên cơ sở các xã An Phú, An Khánh, ủ

iêm, Bình Trưng, ạnh Mỹ Lợi) và ận 9 (trên cơ sở các xã Long Bình, Long ạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, Long Phước, Long Trường, Phú Hữu, Phước Bình, phần còn lại của các xã Tân Phú, Phước Long, Hiệp Phú và Bình Trưng) Huyện Nhà Bè chia tách để thành lập ận 7 (trên cơ sở các xã Tân y Đông, Tân y Tây, Tân

uận Đông, Tân uận Tây, Phú Mỹ và một phần thị trấn Nhà Bè) Huyện Hóc Môn cũng chia tách để thành lập ận 12 (trên cơ sở các xã ạnh Lộc, An Phú Đông, Tân ới Hiệp, Đông Hưng uận, Tân ới Nhất, một phần các xã Tân Chánh Hiệp và Trung Mỹ Tây) Toàn thành phố lúc bấy giờ có 17 quận, 5 huyện với 303 phường, xã, thị trấn

Ngày 5 tháng 11 năm 2003, với nghị định 130/2003/NĐ-CP, quận Tân Bình chia tách để thành lập thêmận Tân Phú(trên cơ sở các phường 16, 17, 18, 19, 20 và một phần các phường 14, 15) Huyện Bình Chánh cũng chia tách để thành lậpận Bình Tân(trên cơ sở các xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông, Tân Tạo và thị trấn An Lạc) Sau đợt điều chỉnh này, tính đến 2007, toàn thành phố có 19 quận và 5 huyện, 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn, với tổng diện tích 2.095,01 km², dân số 6.650.942 người eo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số thành phố là 7.162.864 người

• Vào tháng 05/1975 dân số thành phố Sài Gòn - Gia Định (đến tháng 07/1976 đổi tên thành ành phố Hồ

Chí Minh) là 3.498.120 người (thống kê của chính quyền thành phố)

• Dân số ành phố Hồ Chí Minh theo các kết quả điều tra dân số chính thức như sau:

• Ngày 1/10/1979 (Điều tra toàn quốc): 3.419.977 người.[13]

• Ngày 1/4/1989 (Điều tra toàn quốc): 3.988.124 người.

• Ngày 1/4/1999 (Điều tra toàn quốc): 5.037.155 người.

• Ngày 1/10/2004 (Điều tra thành phố): 6.117.251 người.

• Ngày 1/4/2009 (Điều tra toàn quốc): 7.162.864 người.

• eo số liệu điều tra của Tổng cục ống kê ngày 1/4/2010, dân số thành phố là 7.382.287 người.[14]

• eo số liệu của Cục ống kê ành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2010 là 7.396.446

người, mật độ 3.531 người/km2 [15]

• eo số liệu điều tra của Tổng cục ống kê ngày 1/4/2011, dân số thành phố là 7.549.341 người[16]

• eo số liệu của Cục ống kê ành phố Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm 2011 là 7.521.138

người, mật độ 3.590 người/km2 [17]

• eo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009 ành phố Hồ Chí Minh có dân số 7.162.864 người, gồm

1.824.822 hộ dân trong đó: 1.509.930 hộ tại thành thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ Phân theo giới tính: Nam có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 người chiếm 52,03% Những năm gần đây dân số thành phố tăng nhanh; trong 10 năm từ 1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2.125.709 người, bính quân tăng hơn 212.000 người/năm, tốc độ tăng 3,54%/năm, chiếm 22,32% số dân tăng thêm của cả nước trong vòng 10 năm Với 572.132 người, tương đương với dân số một số tỉnh như: ảng Trị, Ninh uận, quận Bình Tân có dân số lớn nhất trong số các quận cả nước Tương tự, huyện Bình Chính với 420.109 dân là huyện có dân số lớn nhất trong số các huyện cả nước Trong khi đó huyện Cần Giờ với 68.846 người, có dân số thấp nhất trong số các quận, huyện của thành phố[18] Không chỉ là thành

Ngày đăng: 12/07/2017, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w