1.1 Tổng quan văn học thời Trần Nước Việt dưới đời Trần xuất hiện nhiều thiên tài quân sự, tạo nên những chiến công sáng chói trong lịch sử dựng nước và giữ nước.. Có học giả bình luận r
Trang 1Văn học tran _le
Trang 2Mục lục
1.1 Tổng quan văn học thời Trần 1
1.2 Điều kiện phát triển 1
1.3 Sự xuất hiện của thơ văn chữ Nôm 1
1.3.1 Hàn uyên 1
1.3.2 ơ văn chữ Nôm đời Trần 2
1.4 Các thể loại và một số tác phẩm 2
1.5 Tác giả và tác phẩm tiêu biểu 2
1.5.1 Trần ốc Tuấn 2
1.5.2 Trần ang Khải 2
1.5.3 Trần ái Tông 3
1.5.4 Trần ánh Tông 3
1.5.5 Trần Nhân Tông 3
1.5.6 Chu Văn An 3
1.5.7 Trương Hán Siêu 3
1.5.8 Mạc Đĩnh Chi 3
1.5.9 Hồ ý Ly 3
1.5.10 Lê Trắc 3
1.5.11 Sử Hy Nhan 3
1.6 Liên kết ngoài 3
1.7 Chú thích 4
1.8 Liên kết ngoài 4
2 Văn học Việt Nam thời Tiền Lê 5 2.1 Khái quát 5
2.2 Tác phẩm 5
2.2.1 ơ sấm 5
2.2.2 Văn chương bang giao 5
2.2.3 Nam quốc sơn hà 6
2.2.4 ốc tộ 7
2.3 Xem thêm 8
2.4 am khảo 8
2.5 Liên kết ngoài 8
i
Trang 3ii MỤC LỤC
2.6 Chú thích 8
3 Văn học dân gian 9 3.1 Đặc trưng của văn học dân gian 9
3.1.1 Tính truyền miệng của văn học dân gian 9
3.1.2 á trình sáng tác tập thể (Tính tập thể) 9
3.1.3 Tính hiện thực của văn học dân gian 9
3.2 Hệ thống thể loại của văn học dân gian 9
3.2.1 ần thoại 9
3.2.2 Sử thi 9
3.2.3 Truyền thuyết 9
3.2.4 Cổ tích 10
3.2.5 Ngụ ngôn 10
3.2.6 Một số thể loại khác 11
3.3 Xem thêm 11
3.4 Chú thích 11
3.5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 12
3.5.1 Văn bản 12
3.5.2 Hình ảnh 12
3.5.3 Giấy phép nội dung 12
Trang 4Chương 1
Văn học Việt Nam thời Trần
Văn học đời Trần là giai đoạnvăn học Việt Namtrong
thời kỳlịch sửcủanhà Trần(1225-1400)
1.1 Tổng quan văn học thời Trần
Nước Việt dưới đời Trần xuất hiện nhiều thiên tài quân
sự, tạo nên những chiến công sáng chói trong lịch sử
dựng nước và giữ nước Tuy nhiên, nhân tài đời Trần
không chỉ giới hạn trong lãnh vực quân sự, mà còn có
rất nhiều nhân vật, nhà văn, thơ kiệt xuất trong lãnh
vực văn học Nếuthi cavàvăn chươnglà nền tảng của
tư tưởng Việt, tư tưởng từ đó được hệ thống hóa thành
nhân sinh quan vàtriết lýViệt, thì đóng góp của đời
Trần rất quan trọng trong việc phát huy một nền văn
hóa thuần túy Việt Nam Bắt nguồn từ một nhân vật
gốc gác ngư dân thuyền chài, không biết gì về văn học,
các triều đại nhà Trần đã để lại một nền văn học có
phần vượt trội, hơn hẳn đờinhà Lý Không những thế,
dưới các triều đại này việc phổ biếnchữ Nômvàốc
ngữ thicho ta thấyngười Việtđã bắt đầu phát huy một
nền văn hóa đầy tự tin và ý thức độc lập, vượt lên khỏi
ảnh hưởng sâu đậm củaTrung ốc
1.2 Điều kiện phát triển
Việt Điện U Linh Tập, phần dẫn nhập, bản Hán văn, 1959
Một trong những lý do văn học đời Trần có những
thành tựu tốt đẹp là do việc học được khuyến khích
không ngừng qua suốt các đời vua Năm Kiến Trung thứ tám (1232), vua ái Tông đã cải tổ lại việc thi
cử của đời Lý, mở kỳ thi ái học sinh để tuyển mộ người hiền; năm iên Ứng Chính Bình thứ năm (1243) vua đặt Phạm Ứng ần làm chức quan ượng thư tri ốc tử giám đề điệu, ra lệnh các con quan văn phải vào trường này học; năm iên Ứng Chính Bình thứ mười (1247) ái Tông lập thêm tam khôi:trạng nguyên,bảng nhãn,thám hoađể khuyến khích thí sinh; năm Nguyên Phong thứ ba (1253) ái Tông lập ốc học viện để giảng dạy, truyền chiếu toàn quốc cho các học giả, khuyên nên vào ốc học viện giảng đọcTứ thư Ngũ kinh Đời Nhân Tông năm iệu Bảo thứ ba (1281), vua lập nhà học ở phủ iên Trường, cử quan
về giảng dạy Đến đời Phế Đế, năm Xương Phù thứ bảy (1384) lập thư viện ở núi Lạn Kha , cử Trần Tông làm trưởng viện giảng dạy học trò, và vua Nghệ Tông thường đích thân thăm viếng Đời uận Tông, năm
ang ái thứ 10 vua ban chiếu cấp ruộng học cho các châu phủ có lợi tức, đặt quan Đốc học dạy dỗ các học trò Các việc trên đây cho thấy tuy trải qua nhiều tai biến binh đao, các vua nhà Trần không hề xao lãng trong việc khuyến khích sự học
Lý do thứ hai văn học đời Trần có những thành công tốt đẹp là do từ đời uận Tông trở về trước, việc học chú trọng về kinh thuật, đào tạo cho người học có bản lĩnh suy luận cơ bản, không chú trọng lối học từ chương
Do đó, nhà Trần có những học giả kiệt xuất nhưChu Văn An,Trương Hán Siêu, và những nhà tư tưởng độc lập nhưHồ ý Ly Có học giả bình luận rằng nhờ vậy văn học đời Trần "…có khí cốt, không ủy mị non nớt như các đời khác…”
1.3 Sự xuất hiện của thơ văn chữ Nôm
1.3.1 Hàn Thuyên
Trước đời Trần, văn chương ốc ngữ nước Việt chỉ
có tục ngữ,ca dao, hoặc các loại văn chương bình dân truyền khẩu eoKhâm định Việt sử thông giám cương mục, tháng tám, mùa thu năm iệu Bảo tứ tư đời Nhân 1
Trang 52 CHƯƠNG 1 VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRẦN
Tông (1282) có con ngạc ngư lớn xuất hiện ở sông
Phú Lương, vua sai quanHình bộ thượng thưNguyễn
uyên viết bài văn vất xuống sông đuổi cá Con cá
bỏ đi, vua xem việc nầy giống sự tíchHàn DũởTrung
ốc, nên ban lệnh đổi tên họ ông thànhHàn uyên
Ông có biệt tài làm được thơ phú bằng chữ quốc ngữ,
đặt raHàn luật eo Dương ảng Hàm thì Hàn luật
chính là Đường luật ứng dụng vào Việt ngữ, và công
Hàn uyên rất lớn, vì nhờ có ông áp dụng vào thơ phú
chữ Nôm, nhiều người bắt chước theo ông, nên nền văn
chương chữ Nôm được khởi đầu từ đây Tại Bách khoa
toàn thư Việt Nam viết: Nguyễn uyên là người đầu
tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật
(kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc).
1.3.2 Thơ văn chữ Nôm đời Trần
Sử chép nhiều người đời Trần bắt chước Hàn uyên
làm thơ phú quốc âm, gây thành phong trào làm thơ
phú và viết văn bằng chữ Nôm Các bài thơ văn này
nay đã thất truyền, nhưng sử còn ghi lại tên một số tác
giả và tác phẩm:
1 Hàn uyênviết Phi sa tập.
2 Nguyễn Sĩ Cố viết một số bài thơ văn chữ Nôm
3 Chu Văn Anviết ốc ngữ thi tập.
4 Hồ ý Lyviết ốc ngữ thi nghĩa.
5 Trong Nghĩa sĩ truyện củaHoàng Trừngcó ghi lại
năm bài văn nôm đời Trần chép sự việcNguyễn
Biểuđi sứ, ăn cỗ đầu người, bị tướng Trương Phụ
chém, như sau:
a) Bài thơ nôm vua Trần tặng Nguyễn
Biểu lúc đi sứ
b) Bài thơ nôm của Nguyễn Biểu họa
lại
c) Bài thơ nôm của Nguyễn Biểu viết
lúc ăn cỗ đầu người
d) Bài văn tế Nguyễn Biểu chữ nôm do
Trần Trùng ang viết
e) Bài kệ chữ nôm của vị sư chùa Yên
ốc (nơi Nguyễn Biểu bị hành hình)
khen ngợi chí khí của ông
1.4 Các thể loại và một số tác phẩm
1.5 Tác giả và tác phẩm tiêu biểu
1.5.1 Trần Quốc Tuấn
• Hị tướng sĩáng 12 năm Giáp ân1284, hiệu
iệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại
binhoát Hoantiến đánhChi Lăng,Trần ốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp Vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho vời ông vềHải Dương mà phán "ế giặc to như vậy, mà chống
với chúng thì dân sự tàn hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?" Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn Miếu Xã Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau hãy hàng‼" Vua nghe thế yên
lòng.Hưng Đạo Vươngtrở vềVạn Kiếphiệu triệu
20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng
hịch văn (' ), thường gọi là Hịch tướng sĩ)
để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sáchBinh thư yếu lược, chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2
• Binh thư yếu lượcDo Hưng Đạo Đại Vương Trần
ốc Tuấn soạn, đại ý ghi các điều cốt yếu từ các binh thư về việc dùng binh, giúp các tướng lãnh
và quân sĩ trau dồi khả năng quân sự
1.5.2 Trần Quang Khải
• Tòng giá hoàn kinh ( ) (còn được biết đến với các tên Tụng giá hoàn kinh sư, Tụng giá hoàn kinh sứ) doTrần ang Khảiviết sau khi quân dânnhà Trầnchiến thắng quân Nguyên lần thứ hai Bài thơ đại ý nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn Hiện còn hai bản lưu truyền, một củaTrần Trọng Kim, một củaNgô Tất Tố
• Phúc hưng viên( ) Sau khi chiến thắng quân Nguyên, ượng tướngTrần ang Khảivề hưu lúc tuổi già và nghỉ ngơi tại tư dinh của ông, có vườn riêng tên gọi “Phúc hưng viên” Bài thơ này đại ý tả cảnh nhàn nhã thời thanh bình Hiện còn một bản lưu truyền củaNgô Tất Tố
• Lưu gia độ( ) Bài thơ này đại ý tả cảnh khách qua bến đò Lưu gia, nhớ lại ngày xưa từng hộ tống
xa giá vua có dừng quân nơi đây, nay non sông thái bình, trở lại chốn cũ đầu đã bạc, thấy hoa mai nở trắng xóa như tuyết bên bờ sông Hiện còn một bản lưu truyền của Ngô Tất Tố
• Xuân nhật hữu cảm( ) gồm hai bài thơ xuân, hiện còn hai bản lưu truyền của Ngô Tất Tố Bài thứ nhất đại ý nói mùa xuân, một người đóng chặt cửa, ngồi nhìn mưa bụi bay trên hoa mai, nghĩ đến
ba phần ngày xuân đà bỏ phí hết hai, nay năm mươi biết sức đã suy, nhưng hào khí ngày nào vẫn còn, dùng vào chi hơn là đè ngọn gió Đông
mà làm một bài thơ Bài thứ hai nói cảnh đêm xuân gần tàn, dưới bóng trăng mờ thấy hơi lành lạnh ngọn gió đưa đến, sáng ra mấy chùm bông liễu trên không bay lạc vào gác, vài cành trúc đập
Trang 61.6 LIÊN KẾT NGOÀI 3
vào hiên như muốn quấy rầy giấc ngủ, xa xa hình
như đang mưa, trong gió đưa lại hơi mát làm mọi
sự tươi tỉnh Người sực nhớ giật mình, thấy mình
không còn xuân trẻ, nay chỉ có ba chén rượu giải
sầu, nhưng khi say cầm vỗ lại thanh gươm thời
trẻ, thấy nhớ ngọn núi xưa nơi đã tung hoành một
thời
1.5.3 Trần Thái Tông
• Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh
• Ký anh phong am Tăng Đức Sơn
• Ngưu Mã Bạch Cốt Tinh HOang Dong ai
• Bạch MÃ Sông Toàn Trì Việt ành ốc Khà Ái
1.5.4 Trần Thánh Tông
• Đề Huyền thiên động
• Hạ cảnh
1.5.5 Trần Nhân Tông
• Xuân hiểu
• Nguyệt
1.5.6 Chu Văn An
• ất trảm sớ(bài sớ xin chém bảy quyền thần)
Bài sớ này viết vào đời Dụ Tông, khiChu Văn An
làm quan trong triều và chứng kiến một số quan
lại hủ bại, bèn viết sớ xin vua chém các người này
Khi vua không nghe, ông từ quan về hưu và sau
đó không còn tham chính
1.5.7 Trương Hán Siêu
• Bạ Đằng giang phú(phú sông bạch đằng) Bài
nàyTrương Hán Siêu tả cảnh sông Bạch Đằng,
nhắc nhở công của quân dân nhà Trần đánh quân
Nguyên, và khuyên hậu duệ trong nước đời sau
nên biết gìn giữ giang sơn
• Linh tế tháp ký
• an Nghiêm tự bi vănbài này ghi việc xây dựng
trùng tu chùa an Nghiêm
1.5.8 Mạc Đĩnh Chi
• Ngọc tỉnh liên phú(Phú hoa sen ở giếng ngọc) Năm Hưng Long thứ hai mười hai (1304), đời Trần Anh Tông,Mạc Đĩnh Chiđi thi, đỗ trạng nguyên, khi vào chầu, vua thấy người ông nhỏ bé, lại xấu
xí, nên không vui Ông bèn viết bài phú hoa sen ở giếng ngọc, tự ví mình như loài hoa sen hiếm quý chỉ có người sành điệu mới biết thưởng thức Vua xem khen hay và bổ ông làm quan
1.5.9 Hồ Quý Ly
• ốc ngữ thi nghĩasách dùng chữ quốc ngữ chua nghĩaKinh iđể các giáo sư dạy hậu phi và cung nhân Sách nàyHồ ý Lychú giải theo ý mình, không theo lời chú thích trước củaChu Tử
• Minh đạo lục sách gồm 14 thiên, nay đã thất truyền, nhưng theo sử thì có rất nhiều tư tưởng mới mẻ về học thuật: (a) về đạo thống, Hồ ý
Ly chủ trương nên tônChu Cônglàm tiên thánh, giángKhổng Tửlàm tiên sư; (b) về kinh truyện, ông cho rằng sáchLuận ngữcó 4 việc đáng nghi ngờ; (c) về các danh nho người Hán, ông choHàn
Dũlà hạng đạo nho (ăn cắp văn người khác), Chu Mậu úc, Trình Di, Dương i, Chu Hy, là hạng học rộng nhưng tài kém, chỉ biết răm rắp theo ý
cũ.Ngô Tất Tố khi bàn về hiện tượng này cho
rằng "…những điều ông ta nói (trong Minh đạo lục)
chẳng những ở ta từ trước đến hồi gần đây chưa ai nghĩ tới, mà đến ở Tàu, trừ bọn anh nho sinh sau
ý Ly ba bốn thế kỷ, cũng chưa có ai dám nói…"
1.5.10 Lê Trắc
• Nội phụ
• Đô thành
1.5.11 Sử Hy Nhan
• Trảm xà kiếm phú
• Đại Việt sử lược
1.6 Liên kết ngoài
• Khái quát Văn học Lý-Trần, Đại học Sư phạm Cần
ơ, xem tại đây:
• Triết học Trần ái Tông, của Nguyễn Đăng ục,
xem tại đây:
Trang 74 CHƯƠNG 1 VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRẦN
1.7 Chú thích
1 ^Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần (VHĐT),
Ngô Tất Tố, Nhà xuất bản Đại Nam, Khai Trí,
Sàigòn, 1960, trang 6
2 ^Việt Nam Văn Học Sử-Yếu (VHSY), Dương ảng
Hàm, Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn,
1968, trang 232-238
3 ^ Việt Điện U Linh Tập, Mạnh Nghị Trần Kinh
Hòa, Nhà xuất bản Khai Trí, Sàigòn, 1959, phần
dẫn nhập, trang 5
4 ^VHĐT, sđd., trang 15-16
5 ^ Việt Nam Sử Lược (VNSL), Trần Trọng Kim,
Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971
trang 124 Có sách chép là năm iên-ứng
chính-bình thứ nhất (1238) thì mở khoa ái học sinh
(VHĐT, sđd., trang 14)
6 ^nay gọi núi Phật Tích hay núi non Tiên thuộc
xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
7 ^VHĐT, sđd., trang 16
8 ^VHĐT, sđd., trang 116-17
9 ^VHĐT, sđd., trang 6-13
10 ^VHSY, Dương ảng Hàm, sđd tr 235
11 ^VHSY, Dương ảng Hàm, sđd tr 236
12 ^VHSY, Dương ảng Hàm, sđd tr 237-238
13 ^VNSL, Trần Trọng Kim, sđd trang 139
14 ^VHSY, Dương ảng Hàm, sđd tr 235
15 ^VHĐT, sđd., trang 6
16 ^VHĐT, sđd., trang 7
17 ^VNSL, Trần Trọng Kim, sđd trang 147
18 ^VHĐT, sđd., trang 85-86
19 ^VHSY, Dương ảng hàm, sđd., tr 2, tr 292
20 ^ VHSY, Dương ảng hàm, sđd., tr 118, dẫn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển
9, chương 7, trang 26a
21 ^VHSY, Dương ảng hàm, sđd., tr 119,
22 ^VHSY, Dương ảng hàm, sđd., tr 293,
23 ^VHSY, Dương ảng hàm, sđd., tr 294
1.8 Liên kết ngoài
• Khái quát văn học Lý - Trần- Giáo trìnhĐại học
Cần ơ
Trang 8Chương 2
Văn học Việt Nam thời Tiền Lê
Văn học Việt Nam thời Tiền Lê là giai đoạn đầu tiên
của nềnvăn học Việt Nam, thời kỳ này đã xuất hiện các
tác phẩm nổi tiếng có đề tên tác giả người Việt Dưới
triều vuaLê Đại Hành, ngoài chiến tích phá Tống - bình
Chiêm lẫy lừng, còn có thành tựu lớn về văn chương
Hai áng thơ chính luận, hai kiệt tác không tiền khoáng
hậuNam quốc sơn hàvàốc tộđều là tác phẩm mở
đầu cho dòng văn học trung đại, đều là sự khai sáng
của tinh thần yêu nước và tinh thần nhân đạo, những
truyền thống lớn của văn hóa, văn học dân tộc.Nam
quốc sơn hàcó giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập,
cònốc tộ có giá trị như một bản tuyên ngôn hòa
bình Hai kiệt tác văn chương xuất hiện ở giai đoạn đầu
tiên của nền văn học dân tộc Việt Nam
2.1 Khái quát
Văn học thời Tiền Lê đóng góp quan trọng trong việc
khai mở nềnvăn học Việt Nam ời kỳ này đã xuất
hiện những tên tuổi nhưĐỗ Pháp uận,Khuông Việt
Trước đây, theo quán tính, người Việt thường gọi ơ
văn Lý - Trần hoặc Văn học thế kỷ X - XIV, gồm cả
trước tác của ba triều đại Ngô - Đinh - Lê Nhưng cả ba
triều đại này, ngoài những vần sấm thi ngang qua, thì
triều Ngô đã có gì, ngoài lời bàn củaNgô yềnvề kế
sách phá Hoằng ao, chưa đủ tiêu chí là một tác phẩm
văn học thành văn; triều Đinh cũng chưa thấy gì thêm,
ngoài lời sấm "Đỗ ích thí Đinh Đinh…” Chỉ còn triều
Tiền Lê, thờiLê Hoàn, với những phát hiện mới, có thể
khẳng định: Nhà Tiền Lê là một triều đại khai sáng văn
học dân tộc bằng hai kiệt tác thi ca Hán Nôm
ơ văn thời này, ngoài một số bài thơ - kệ của các
iền sư, thấy có ba chủ đề, đề tài nổi bật:
1 ơ sấm,
2 Văn chương bang giao,
3 Văn học yêu nước
2.2 Tác phẩm
2.2.1 Thơ sấm
ời này được xem là “vỡ tổ sấm ký"[1] Người xưa quan niệm sấm là những điều hiện ra, bày ra trước (Sấm giả -triệu dã); sấm lấy quỷ quyệt khéo léo làm lời nói kín, dự đoán lành dữ Sấm thời này là sản phẩm củathiền sư, đạo sĩ, nho giả, mỗi người đều có ý đồ riêng khi tung
ra những lời sấm, mỗi người đều có phần hiếu sự khi mượn lời thần bí báo trước sự cố cho rằng có ý nghĩa đổi đời sẽ xảy ra, nhưng phần chắc lại là khẳng định những biến cố đã xuất hiện Nói thế vì sấm có thể có những câu báo trước, nhưng hầu hết lại được đặt ra khi
đã xuất hiện các nhân vật và sự kiện lịch sử hữu quan Câu sấm vào loại sớm thời này là:
(Trần ốc Vượng dịch)
Việt sử lượcghi lời sấm xuất hiện vào năm 974, để báo trước sự kiện sẽ diễn ra vào năm 979,Đại Việt sử ký toàn thưcòn thêm cả chuyện12 sứ quânvà triều Lý xuất hiện bằng một khổ thơ 4 câu Về mặt văn học, có thể xem lời sấm trên đây là sự phản ánh xung đột chết chóc, và điều tiên tri Hoàng đế anh minh sẽ xuất hiện
iền sưVạn Hạnh“hễ nói ra điều gì, thiên hạ đều coi như lời sấm”[2], đã hơn một lần báo trướcNhà Lýsẽ thayNhà Tiền Lê
Sấm cho biết một nét sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo của cộng đồng, lý tưởng muôn đời của dân tộc: muốn có thánh đế minh vương để an nguy trị loạn Sự phồn thịnh của sấm thi, sấm ngữ, là nét đặc biệt của tinh thần thời đại
2.2.2 Văn chương bang giao
Với tinh thần tự chủ, tự cường, triều đạiLê Đại Hành
còn có danh tác của văn chương bang giao Văn học bang giao thời này mở đầu bằng một giai thoại Lý Giác,
sứ thần nhà Tống sang ta năm 987, bẻ bai hai câu thơ trong bài Vịnh nga của Lạc Tân Vương, để đùa anh lái
đò Pháp uận:
Không ngờ, anh lái đò ung dung ngâm tiếp, cũng cải biên đôi chữ, cho trọn vẹn áng thơ hay của Lạc Tân Vương thần đồng Đường thi, khi mười tuổi:
âm ý của Lý sứ thần "điển nhã" đến vậy, mà vẫn bị 5
Trang 96 CHƯƠNG 2 VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TIỀN LÊ
chú lái đò ngang “bắt bài” bằng tinh thần vô tốn (không
thua kém) tri thức văn hóa chung ở các nước đồng văn
trong vùng Khác với vẻ đẹp nên thơ của một thi thoại,
bài thơ lưu biệt củaLý GiáctặngPháp uận(lần này
thì với tư cách pháp sư cố vấn của triều đình) đã có sắc
thái chính trị.Pháp uậnđem thơ này dâng vua Vua
cho iền sư Khuông Việt xem.Khuông Việtnói: “ơ
này có ý tôn trọng bệ hạ không khác gì vua Tống” (Đại
Việt sử ký toàn thư) Đó chính là lời thơ ở hai câu kết:
Đến khi Giác ra về cùng năm 987, Khuông Việtlàm
bài từ theo điệu Vương lang quy để đưa tiễn, theo lệnh
Lê Hoàn.Khuông ViệttứcNgô Chân Lưu(933-1011),
theo sử sách là hậu duệ của Ngô yền, thờiĐinh Tiên
Hoàngđược lĩnh chức Tăng thống và được ban hiệu là
Khuông Việtđại sư (nhà sư lớn khuông phò nước Việt)
Dưới triềuLê Đại Hành, sư được vua kính trọng “phàm
các việc quân quốc của triều đình, sư đều được tham
dự" Khi giặc Tống xâm lược, vua sai sư đến đền cầu
đảo thần linh phù hộ, giặc sợ hãi tan chạy” Sư cùng
Pháp uậnđược cử ra tiếp sứ, dùng tài ứng đối ngoại
giao khiến Giác kính phục Bài Vương lang quy dưới
đây, thể hiện một tình cảm chân thành, một thái độ
thân mật, với giọng điệu trữ tình, vừa đằm thắm, hồn
hậu, vừa cứng cáp, sáng trong, vượt qua lối thơ bang
giao thù tạc nhiều sáo ngữ, lắm từ chương:
Bài từ, ngoài cảm xúc chân tình, làm nên giá trị như đã
nói trên, còn giàu ý nghĩa về thể loại Vương lang quy
là tác phẩm mở đầu cho thể tài từ khúc trong văn học
cổ, một thể tài đang thăng hoa để trở thành danh ngữ
Tống từ, tiếp nối Đường thi, Hán phú… Sư nước Việt
ngâm Tống từ tiễn Tống sứ của nước Đại Tống “Bài từ
tiễn sứ Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể vốc được”
(Lê ý Đôn) Tác phẩm quả thực có nhiều chữ hay, tứ
đẹp, vừa lụa là gấm vóc, vừa tao nhã điển chương Tất
cả nhằm thể hiện ý hướng: dùng ngôn từ nghệ thuật
chuyển tải đường lối bang giao hòa hợp Nam Bắc, một
cách chân tình lịch lãm Đường lối bang giao ấy là thừa
nhận vai trò bá quyền chủ tể của Bắc triều Đại Tống
và vị trí chư hầu, phiên quốc của nước Nam Bảo vệ
chính quyền tự chủ là bất di bất dịch, còn thần phục
thiên triều thì có thể uyển chuyển, linh hoạt, sáng tạo,
cập nhật, thậm chí giả vờ Sứ mệnh chính trị bang giao
của bài ca tiễn sứ đã được đại giaKhuông Việtthể hiện
thành công
Vương lang quy dù có là danh tác văn chương giàu ý
nghĩa lịch sử, thì người ta cũng khó đồng tình với Nhà
văn - Giáo sư Trần anh Đạm, khi ông lấy bài này,
sóng đôi với bàiốc tộ, xem đó là hai tuyệt tác mở
đầu lịch sử văn học Việt Nam thời cổ của hai thiền sư
thi sĩ thời này (Xem Hai thiền sư thi sĩ mở đầu văn học
cổ điển Việt Nam - Hồn Việt - Nhà xuất bản Văn học)
Dựa vào tư liệu mà giới nghiên cứu cổ Việt Nam học,
trong mươi năm gần đây phát hiện, Bùi Duy Tân cho
rằngốc tộvàNam quốc sơn hà mới là hai kiệt tác
ngang qua một đời vua:Lê Đại Hành
2.2.3 Nam quốc sơn hà
Chiến tích anh hùng của cộng đồng quốc giaĐại Cồ Việtthời đạiLê Hoàn, gắn với sự xuất hiện của một bài thơ huyền thoại:Nam quốc sơn hà Đầu những năm
90 của thế kỷ XX, nhân đi tìm tác phẩm đầu tiên của văn học dân tộc, để phản bác một ngộ nhận: Bạch vân chiếu xuân hải - bài phú khoa Tiến sĩ thời Đường của Khương Công Phụ (người Việt gốc Hoa, đời thứ ba, thi
đỗ lại trở về đất tổ, làm quan to, có lúc ngang Tể tướng thời Đường) là tác phẩm đầu tiên của văn học Việt, nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân đã chú ý đến xuất xứ của bài thơNam quốc sơn hà GS.Trần ốc Vượngmách cho những dòng viết của GS.Hà Văn Tấn, trong bài Lịch
sử, sự thật và sử học[3]
“Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà
là của Lý ường Kiệt Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát Có thể đoán rằng Lý ường Kiệt đã cho người ngâm thơ Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý ường Kiệt là tác giả của bài thơ Nhưng đó là đoán thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý ường Kiệt ế nhưng, cho đến nay mọi người dường như đều tin rằng đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật”
a xuất xứ[4]bàiNam quốc sơn hàcho thấy:
1 Không có một văn bản nào ghi nhận Lý ường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả bài thơ
2 Tất cả các văn bản đều ghi nhận bài thơ là của thần ần đây là Trương Hống, Trương Hát, tướng lĩnh củaTriệu ang Phục, bị Lý Phật tử
ép hàng, không chịu khuất phục, nên tự tử, trở thành phúc thần, được thờ phụng ở gần 300 ngôi đền ven các triền sông Cầu, sông ương…
3 ần đọc thơ của thần, âm phù dương gian trợ quốc an dân, chống ngoại xâm, dẹp nổi loạn, trừ tai hoạn, kể đã nhiều lần Nổi bật là hai lần thần trực tiếp đọc thơ giúp các tướng lĩnh đánh giặc cứu nước Lần thứ nhất giúp Lê Hoàn chống Tống (981), lần thứ hai giúp Lý ường Kiệt chống Tống (1076) Văn bản bài thơ đọc hai lần khác nhau, và cũng khác nhau ở hầu hết các dị bản còn lại.[5]
4 Bài thơ không hề được tuyển vào các tuyển tập thơ
ca chữ Hán thời xưa, trước sau nó vẫn là thành
Trang 102.2 TÁC PHẨM 7
phần cơ hữu trong truyền thuyết dân gian.Nam
quốc sơn hàchắc là do nhân sĩ thời tự chủ sáng
tác, song đã được dân gian hóa, được hoàn thiện
dần theo đặc trưng tập thể truyền miệng Rồi sau
được cố định trong thần tích, thần phả, truyện ký,
nhưng vẫn lưu truyền trong dòng đời, qua nhiều
thế hệ, âm phù con cháu đánh giặc cứu nước Cho
nên, phải coi đó là bài thơ thần, tác giả là khuyết
danh cũng được, nhưng là vô danh, hoặc vô danh
thị thì khoa học hơn
5 Từ trong những văn bản đáng tin cậy trên đây,
có thể thấy: ngộ nhận Lý ường Kiệt là tác giả
Nam quốc sơn hàcủa Trần Trọng Kim trong Việt
Nam sử lược xuất bản từ 1919-1920, là do tự ý, chứ
không dựa vào bất kỳ một tư liệu Hán Nôm nào
Sau đó, hầu hết các học giả đều sai theo, cho mãi
đến hết thế kỷ thứ XX, có Hoàng Xuân Hãn, Đặng
ai Mai hoài nghi
Về thời điểm xuất hiện của bài thơ Nam quốc sơn hà
cũng như truyền thuyết Trương Hống - Trương Hát,
như một tác phẩm nhân gian truyền miệng Tư liệu còn
lại cho ta biết thần phù trợ người trừ tai ngữ hoạn nhiều
lần, ở nhiều nơi vào những năm tháng khác nhau từ
Ngô - Đinh - Lê xuống đến Lý - Trần Song, thần trực
tiếp đọc thơ âm phù đánh giặc ngoại xâm, thì chỉ có
hai lần Lần giúp Lý ường Kiệt, nhiều người đã biết,
lần giúp Lê Hoàn được kể như sau: Năm iên Phúc
nguyên niên (980) đời Lê Đại Hành, Hầu Nhân Bảo, Tôn
Toàn Hưng cầm đầu đạo quân xâm lược nước Nam Đến
sông Đại an, hai bên đối lũy, cầm cự với nhau.Lê Đại
Hànhđược mộng báo của thần Trương Hống - Trương
Hát: “Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước
ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng
nhà vua đánh giặc để cứu sinh linh” Canh ba đêm sau,
trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng… hai đạo âm
binh áo trắng, áo đỏ cùng xông vào trại giặc mà đánh
ân Tống kinh hoàng “ần nhân tàng hình ở trên
không, lớn tiếng ngâm rằng:
ân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan…
Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần,
truy phong cho hai vị thần nhân, sai dân phụng thờ,
huyết thực hưởng đời đời (Lĩnh Nam chích quái - Trần
ế Pháp - Vũ ỳnh - Kiều Phú)
Dựa vào tư liệu trên đây và nhiều văn bản truyền
thuyết, thần tích được ghi chép lại trong có bài thơ
thần Nam quốc sơn hà, một số nhà nghiên cứu cho
rằng bài thơ đã xuất hiện đầu thời tự chủ Nhưng không
phải là thời đã giành được chính quyền, nhưng vẫn tự
xưng và tự phong là Tiết độ sứ từ Khúc ừa Dụ đến
Dương Đình Nghệ Cũng không phải triều Ngô yền
đã xưng vương, thể hiện ý thức tự chủ, sánh ngang
với các chư hầu của thiên triều Ngô Sĩ Liên chép bài
thơ này vào kỷ nhà Lý, nên có người thời sau tưởng là
thơ Lý ường Kiệt ậm chí cũng không thể là triều
Đinh, dầu cho thời này, vua đã dám xưng làĐinh Tiên
Hoàng, sánh so ngang ngửa với Tần ủy Hoàng ngày
xưa và hoàng đế Trung Hoa cùng thời Hơn nữa, thời này chưa có ngoại xâm lăm le ngoài cõi, chưa cần lời
lẽ “tuyên ngôn” Mà là ở thời Hoàng đếLê Hoàn, như PGS.TS Trần Bá Chí khẳng định: Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập, chỉ có thể ra đời sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, nhưng không phải vào thời Ngô yền còn loạn lạc, chưa tức vị, trước khi chống Nam Hán, mà
là ở thời Lê Đại Hành chống Tống khi thể chế, ngôi vị
đã vững vàng, an định[6] Nguyễn ị Oanh trong một công trình nghiên cứu trên Tạp chí Hán Nôm (Số 1 -2002), bài Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà cũng chỉ ra rằng: bài thơ Nam quốc sơn hà vốn xuất hiện thờiLê Hoàn, như nhiều sách Lĩnh Nam chích quái đã ghi chép, nhưng nhà sử họcNgô Sĩ Liên, theo quan điểm Nho giáo chính thống, ghét cái vô luân của
Lê Hoàn, ưa lòng trung nghĩa của Lý ường Kiệt, nên
đã đem thơ thần phù trợ vua Lê gán cho phù trợ tướng Lý; nay nên trả bài thơ về cho sĩ dân thời đạiLê Hoàn Nam quốc sơn hà được coi như bản tuyên ngôn độc lập, vừa khẳng định chủ quyền, lãnh thổ, ngôi vị Nam
đế, vừa thể hiện niềm tin ta thắng, địch thua, dựa vào thiên lý và chính nghĩa, là chủ đề của bài thơ, cũng là sự thăng hoa của tinh thần dân tộc thời phá Tống - bình Chiêm của triều đạiLê Đại Hành Nhận định như thế là phù hợp với quy luật và tiến trình phát triển văn hoá, văn học, của lịch sử dân tộc
2.2.4 Quốc tộ
Kiệt tác thứ hai, ở triều đại Hoàng đế Lê Hoàn là một bài ngũ ngôn tuyệt cú của nhà sưPháp uận, danh gia đã
đề cập tới ở phần trên, khi tiếp sứ Lý Giác eo iền uyển tập anh, tác phẩm duy nhất còn giữ lại được văn bản bài thơ, thìĐỗ Pháp uận(915-990) học rộng, có tài văn thơ, lời nói phần nhiều hợp với sấm ngữ “Trong buổi đầu, khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp, sư có công dựng bàn, hoạch định sách lược Khi thiên hạ thái bình,
sư không nhận chức của triều đình phong thưởng Vua
Lê Đại Hànhlại càng thêm kính trọng, thường không gọi tên mà gọi Đỗ Pháp sư, thường ủy thác cho sư các công việc văn hàn… Vua từng hỏi sư về vận nước ngắn dài, sư đáp:
Trong văn bản chữ Hán, bài thơ không có tên Các tập thi tuyển thời xưa không tuyển bài này ơ văn Lý -Trần (tập I) có lẽ là tập sách giới thiệu bài thơ đầu tiên, với nhan đề: Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn (Trả lời nhà thơ hỏi về vận nước) Tổng tập văn học Việt Nam (Tập 1) xuất bản 1980, đặt tên bài thơ làốc tộ(Vận nước, hoặc Ngôi nước) Đây là bài thơ có tên tác giả xuất hiện sớm nhất, nên được các sách văn học sử, tổng tập, tuyển tập và cả sách giáo khoa văn học đặt vào vị trí khai sáng cho văn học cổ dân tộc Một số sấm thi, sấm ngữ và cả Nam quốc sơn hà thường là khuyết danh hoặc vô danh, nên chưa thể xác định được năm tháng tác phẩm ra đời ơ kệ của một số thiền sư nặng về