1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT học TRẦN lê bảo KHÁNH TCHH k15 1

28 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 192 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người. Đạo đức đã được con người nghiên cứu từ rất lâu. Nó gắn liền với cuộc sống của con người và có mặt trong tất cả các mối quan hệ của con người. Mối quan hệ giữa người với người chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các qui tắc đạo đức xã hội. Qua các thời kỳ, phương thức sản xuất ngày càng phát triển đã làm thay đổi bản chất mối quan hệ con người: con người có nhiều mối quan hệ hơn, rộng hơn, phức tạp hơn,... Từ đó, các qui tắc đạo đức xã hội cũ cũng trở nên không còn hiệu lực đối với cuộc sống lao động; nó cần có thêm những qui tắc ứng xử mới phù hợp hơn để hướng dẫn hành vi con người trong mối quan hệ mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì công cuộc đổi mới cũng đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề xuống cấp của đạo đức. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện này, em chọn “Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC

Đề tài:

“Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay”

Người thực hiện: Trần Lê Bảo Khánh Người hướng dẫn: TS Phạm Đào Thịnh Lớp: TCNH K15.1

Khoá: 2015-2017

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC

1.1 Khái niệm về đạo đức 3

1.2 Nguồn gốc của đạo đức 3

1.2.1 Các quan niệm trước Mác về đạo đức 3

1.2.2 Quan niệm của Mác về đạo đức 4

1.3 Vai trò của đạo đức 4

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ 6

2.1 Đạo đức qua các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử 6

2.1.1 Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy 6

2.1.2 Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ 7

2.1.3 Đạo đức trong xã hội phong kiến 7

2.1.4 Đạo đức trong xã hội tư bản 8

2.1.5 Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa 9

2.2 Đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 9

2.2.1 Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường 10

2.2.2 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức 13

CHƯƠNG 3: ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 15

3.1 Thực trạng đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay trong nền kinh tế thị trường 15

Trang 4

trường 17

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 173.2.2 Đề cao, chú trọng công tác giáo dục đạo đức 183.2.3 Tôn trọng và phát huy các chuẩn mực đạo đức xã hội, truyềnthống 19

KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người Đạo đức đã

được con người nghiên cứu từ rất lâu Nó gắn liền với cuộc sống của conngười và có mặt trong tất cả các mối quan hệ của con người Mối quan hệgiữa người với người chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các qui tắc đạo đức

xã hội Qua các thời kỳ, phương thức sản xuất ngày càng phát triển đã làmthay đổi bản chất mối quan hệ con người: con người có nhiều mối quan hệhơn, rộng hơn, phức tạp hơn, Từ đó, các qui tắc đạo đức xã hội cũ cũng trởnên không còn hiệu lực đối với cuộc sống lao động; nó cần có thêm nhữngqui tắc ứng xử mới phù hợp hơn để hướng dẫn hành vi con người trong mốiquan hệ mới

Trong công cuộc đổi mới đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trungbao cấp sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu tolớn Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của nhândân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, bên cạnhnhững thành quả đạt được thì công cuộc đổi mới cũng đang đặt ra cho chúng

ta nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề xuống cấp của đạođức Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở

nước ta hiện này, em chọn “Sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài

tiểu luận của mình

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài này chủ yếu dựa trên lý luận triết học nhìn nhận sự biến đổi củađạo đức tương ứng với các hình thái kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Từ

Trang 6

những lý luận đó, nhìn nhận và đánh giá sự biến đổi giá trị đạo đức trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay nhằmđưa ra những giải pháp cơ bản để xây dựng một nền đạo đức phù hợp vớikinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là

sự kết hợp sử dụng các phương pháp như: phương pháp lôgic và lịch sử,phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh,…Trên cơ sở đó kết hợp hài hòa giữa các phương pháp để làm rõ vấn đề cầnnghiên cứu một cách hiệu quả nhất, trong đó có kế thừa có chọn lọc những tàiliệu có sẵn trong kho tàng lý luận

Trang 7

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC 1.1 Khái niệm về đạo đức

Khái niệm đạo đức theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác

“Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, là tổng hợpnhững quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điềuchỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội và của người khác trong mối quan hệgiữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội.”

1.2 Nguồn gốc của đạo đức

1.2.1 Các quan niệm trước Mác về đạo đức

Những tư tưởng về đạo đức đã xuất hiện cách đây hơn 26 thế kỷ, pháttriển từ thấp đến cao, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thông qua

sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tư tưởng đạo đức có trước Tư tưởng vềđạo đức trước Mác có nhiều quan niệm khác nhau

Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội là những hình tháibiểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Do vậy, nhữngchuẩn mực là do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạođức của con người đều là biểu hiện của cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên

Và tiêu chuẩn để thẩm định thiện – ác chính là sự phán xét của đấng siêunhiên đó

Quan niệm về đạo đức của những nhà triết học duy tâm như: Platon(427 - 347 TCN), I Kant (1724 - 1804), P Heeghen (1770 - 1831), tuykhông mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”

để lý giải về nguồn gốc và bản chất của đạo đức Chính vì vậy, quan niệm vềđạo đức của họ có trước và độc lập với những hoạt động với những hoạt độngmang tính xã hội của con người Hay nói cách khác, họ đã thần bí hóa đạođức

Các nhà duy vật như: Đêmôcrit (460 - 370 TCN), Êpyquya (431 - 270

Trang 8

TCN), L.Phơbach (1084 - 1872), đã nhìn thấy được đạo đức trong quan hệgiữa người với người và chống lại sự thần bí của đạo đức mà chủ nghĩa duytâm đã áp đặt cho nó Tuy nhiên, do hạn chế về mặt điều kiện lịch sử và vềthế giới quan nên đối với các nhà triết học duy vật, con người chỉ là một thựcthể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên

giai cấp, dân tộc và thời đại.

Những người theo quan điểm Đác-Uyn lại tầm thường hóa chủ nghĩaduy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồngnhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức về thựcchất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ xãhội

1.2.2 Quan niệm của Mác về đạo đức

Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác và Ăngghen quan niệm đạođức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó bên ngoài xã hội, bênngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của nhữngnăng lực “tiên thiên”, mà đạo đức được sinh ra trước hết là từ nhu cầu phốihợp hành động của con người trong lao động sản xuất vật chất, trong đấutranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển.Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệđạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng pháttriển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp

Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,

là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan

hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệuquả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người

càng có đạo đức Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy

Trang 9

chừng nào con người còn tồn tại” (Mác, Ăngghen toàn tập T3, NXB CTQG,

H 1995, tr 43)

1.3 Vai trò của đạo đức

Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của conngười Đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảmbảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển Sống trong xã hội, con ngườiphải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thứchoạt động phù hợp nhằm kết hợp lợi ích của mình với lợi ích cộng đồng Từ

đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng

Trang 10

CHƯỚNG 2

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ 2.1 Đạo đức qua các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử

Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử

xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định Do đó, sự phát triển của các hìnhthái kinh tế xã hội từ thấp đến cao đã dần dần làm cho đạo đức ngày càngđược hoàn thiện

2.1.1 Đạo đức trong xã hội công xã nguyên thủy

Trong chế độ công xã nguyên thủy, đời sống xã hội chủ yếu dựa trênchế độ công hữu về tài sản Tài sản của người nguyên thủy chỉ là một số công

cụ và đồ tiêu dùng do mỗi người tự chế tạo một cách thô sơ Trong xã hộicông xã nguyên thủy không có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượngngười bóc lột người, con người không có đầu óc làm giàu, Họ cùng nhau háiquả, đánh bắt cá, làm nhà, kỷ luật và quy tắc lao động được duy trì bằng sứcmạnh của số đông người trong bộ tộc uy tín và sự tôn kính đối với người tộctrưởng

Việc coi trọng, tuân thủ các hành vi ứng xử trong giao tiếp và các hoạtđộng cụ thể của cộng đồng là biểu hiện ý thức đạo đức của người nguyênthủy Mỗi người thực hiện bất kỳ một hành vi đạo đức nào bao giờ cũng theothói quan, đối với họ việc bắt chước các mẫu hoạt động đạo đức là một yêucầu bắt buộc Nhờ đó các tập quán, phong tục, các điều cấm kị, lễ nghi, cácđịnh kiến, dư luận xã hội đã tồn tại rất lâu đời trong cuộc sống

Trình độ phát triển rất thấp về kinh tế - xã hội và văn hóa của con ngườinguyên thủy đã làm cho họ có một số đặc điểm gần giống như một loài độngvật như hoạt động ăn thịt người ở thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyênthủy, hoạt động đó chỉ mất khi nền kinh tế và văn hóa của xã hội phát triểncao hơn, và trở thành một hoạt động thất đức

Trang 11

2.1.2 Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ

Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ tiến bộ hơn một bậc so với chế

độ công xã nguyên thủy do có sự xuất hiện của giai cấp dẫn tới sự tan vỡ của

ý thức đạo đức thống nhất trong nội bộ cộng đồng xã hội

Việc xuất hiện quan hệ sản xuất mới là chủ nô chiếm hữu tư liệu sảnxuất và người nô lệ Loài người đã bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới

Đó là đạo đức của nô lệ và đạo đức của chủ nô, hai nền đạo đức này đối lập

với nhau về cơ bản Tầng lớp người giàu (chủ nô) tự cho mình là người “có

đức hạnh, người thượng lưu, quí tộc” còn những người nghèo (nô lệ) là

những người “không có phẩm hạnh, người thấp hèn, hạ đẳng”.

Sự nô dịch của số ít (do giàu có mà trở thành mạnh) đối với số đông (donghèo khổ mà trở thành yếu) giờ đây được bảo đảm bởi một lực lượng xã hộimới – nhà nước, tình trạng bình đẳng nhường chỗ cho đẳng cấp Nó quy địnhnội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay gắt: chủ - tớ, trên –dưới, mệnh lệnh – phục tùng, tốt của người giàu – xấu của người nghèo

Tính chất đó quy định các nội dung khác nhau của quan niệm về tốt –xấu trong giai cấp này hay giai cấp kia Cuộc sống tôi tớ chỉ được đánh giángang với giá trị của các vật dụng, các con vật

Chế độ nô lệ dạy người nô lệ phải phục tùng tuyệt đối Những đạo đứccao cả của người nô lệ như: lòng dũng cảm, chí khí, nhân phẩm…đã bị chủ nôxem như lời thách thức, sự bất kính

2.1.3 Đạo đức trong xã hội phong kiến

Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất Khác với nô lệ,người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào laođộng cá nhân đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết Tuy nhiên,địa chủ vẫn có quyền đuổi nông dân ra khỏi lãnh địa của mình, nhưng không

có quyền giết họ Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội phong kiến, nhưngđịa vị người nông dân cũng thấp kém và lệ thuộc như nô lệ Sự phụ thuộc về

Trang 12

kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địachủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến.

Trong xã hội phong kiến tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức: đạo đức củagiai cấp phong kiến, đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động.Trong đó, đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến là đạo đức của giai cấpphong kiến

2.1.4 Đạo đức trong xã hội tư bản

Chế độ tư bản là một bước tiến của xã hội, vì nó đập tan xiềng xích củachế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng chiếm hữu của phong kiến, mở ra thị trườngtrong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiếnlên

Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bảndẫn đến biến đổi cả hệ thống đạo đức xã hội Chủ nghĩa cá nhân tư sản lànguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản Quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa kích thích các nhà tư bản làm giàu và định hướng trong ý thức, hành viđạo đức của họ Họ coi việc làm giàu bằng mọi cách và mọi giá là hoạt độngchính, là mục đích cao nhất của cuộc sống Các nhà tư bản bốc lột người côngnhân trên cơ sở bốc lột giá trị thặng dư bằng nhiều thủ đoạn khác nhau

Xã hội tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nềnsản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao độngphát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt Ngoài những mặt tích cực

đó, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn

đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, conngười trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm

2.1.5 Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau:đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức củanhững lực lượng xã hội khác Các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào

Trang 13

nhau, đan xen và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường pháttriển xã hội trên cơ sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ, triệt tiêu mặt lạc hậu,

mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xãhội xã hội chủ nghĩa

Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội bịtiêu diệt thì đạo đức cộng sản cũng được toàn dân thừa nhận, nó trở thành đạođức thống trị

Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạođức loài người So với những đạo đức trước đây, đạo đức cộng sản là mộthình thái đạo đức tiên tiến nhất vì đạo đức cộng sản vì đời sống vật chất, tinhthần của con người mà tiêu diệt thế giới bóc lột và lập nên chủ nghĩa cộngsản, giải phóng con người khỏi áp bức, bốc lột, bất công

2.2 Đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm Thực chất củađổi mới kinh tế là tập trung chuyển đổi mô hình kinh tế từ mô hình kinh tế tậptrung quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường là hình thái kinh tế, trong đó toàn bộ các yếu tố

“đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường Sự phát triển củakinh tế thị trường góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất Từ

đó tạo điều kiện cho nền sản xuất lớn có tính xã hội hoá cao ra đời; đồng thờichọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ quản

lý có trình độ, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

Kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dùng

là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có

sự quản lí của nhà nước, theo định hướng XHCN Hiện nay, nền kinh tế thị

Trang 14

trường ở nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển, vấn đề đặt ra là cầnphải hoàn thiện hơn nữa về cơ chế, chính sách quản lý phù hợp với địnhhướng XHCN Trong suốt chặn đường đổi mới đã qua, chúng ta đã khẳngđịnh hướng đi của mình là một lựa chọn đúng đắn Khẳng định này thể hiện rõnét qua những thành tựu to lớn đã đạt được thời gian đổi mới trên tất cả cáclĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.

2.2.1 Vai trò của đạo đức trong nền kinh tế thị trường

Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của ý thức xã hội,một mặt bị quy định bởi cơ sở hạ tầng của tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng cótính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồntại xã hội Vì vậy trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa đạo đức có vai trò rất to lớn

Một là, đạo đức góp phần định hướng mục tiêu chủ nghĩa xã hội

Hiện nay nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Ở đây xã hội mới không phải là sự cộng sinh giữa chủ nghĩa

tư bản và chủ nghĩa xã hội mà là sự phản ánh tổng thể các mối quan hệ biệnchứng của các nhân tố xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu của

sự định hướng, vừa hiện diện từ đầu ngay trong sự định hướng đó với biểuhiện là những nhân tố hợp thành mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Những nhân

tố đó là “nhà nước của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo,cùng với kinh tế hợp tác trở thành nền tảng”, “tăng trưởng kinh tế gắn liền vớitiến bộ và công bằng xã hội”

Như vậy, mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa của cách mạng nước tađồng nhất với mục tiêu của chủ nghĩa nhân đạo là làm cho mọi người đều cócơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hai là, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngay từ trong bản chất đã chứa đựng yếu tố luân lý đạo đức

Ngày đăng: 01/09/2017, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w