1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kinh doanh điện tử 123

15 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 460,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ương mại hình thành sự trao đổisản phẩmvà các dịch vụ giữa cácdoanh nghiệp, nhóm và cá nhân và có thể được hình dung như là một trong những hoạt động quan trọng trong bất cứ doanh nghiệ

Trang 1

Kinh doanh điện tử

Trang 2

1 Kinh doanh điện tử 1

1.1 Các phân nhóm 1

1.2 Các mô hình 2

1.2.1 Phân loại theo nhà cung cấp và người tiêu dùng 2

1.3 An toàn trong kinh doanh điện tử 2

1.3.1 Các cách bảo mật trong kinh doanh điện tử 2

1.3.2 Các biện pháp an ninh phổ biến cho hệ thống Kinh doanh điện tử 4

1.3.3 Các giải pháp bảo mật 5

1.4 Xem thêm 6

1.5 am khảo 6

2 Kinh doanh đa cấp 8 2.1 Lịch sử 8

2.1.1 Ổn định và bùng nổ 8

2.1.2 Tại Việt Nam 8

2.2 Luật pháp 9

2.3 Các mô hình trả thưởng 9

2.3.1 Mô hình nhị phân - Mô hình ma trận 9

2.3.2 Mô hình bậc thang li khai 10

2.4 Sản phẩm 11

2.5 Hình tháp ảo 11

2.6 Kinh doanh đa cấp ở Việt Nam 11

2.6.1 Lừa đảo 12

2.7 am khảo 12

2.8 Liên kết ngoài 12

2.9 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 13

2.9.1 Văn bản 13

2.9.2 Hình ảnh 13

2.9.3 Giấy phép nội dung 13

i

Trang 3

Chương 1

Kinh doanh điện tử

Kinh doanh điện tử, hay còn gọi là "eBusiness" hoặc

"e-business" (viết tắt từ chữ Electronic business), hay

Kinh doanh trên Internet, có thể được định nghĩa như

là mộtứng dụngthông tin và công nghệ liên lạc (ITC)

trong sự hỗ trợ của tất cả các hoạt động kinh doanh

ương mại hình thành sự trao đổisản phẩmvà các

dịch vụ giữa cácdoanh nghiệp, nhóm và cá nhân và có

thể được hình dung như là một trong những hoạt động

quan trọng trong bất cứ doanh nghiệp nào.ương mại

điện tửtập trung vào việc sử dụngITCđể mở các hoạt

động bên ngoài và mối quan hệ của thương mại với các

cá nhân, nhóm và các doanh nghiệp khác.[1]

uật ngữ“Kinh doanh điện tử" (e-business) được đặt

lần đầu bởi nhómtiếp thị Internetcủa tập đoànIBM

năm 1996.[2][3]

Các phương thức kinh doanh điện tử cho phép cáccông

tyliên kết các hệ thống xử lý dữ liệu bên trong và bên

ngoài một cách hiệu quả và mềm dẻo, để hoạt động gần

gũi hơn với nhà cung cấp và đối tác, và để làm thỏa mãn

hơn nhu cầu và mong đợi của khách hàng công ty

Trong thực tế, kinh doanh điện tử rộng lớn hơnthương

mại điện tử Trong khi kinh doanh điện tử ám chỉ đến

việc tập trung các chiến lược với sự nhấn mạnh các

chức năng xảy ra trong việc dùng các khả năng điện

tử, thương mại điện tử là một tập con (phần) của toàn

bộ tổng thể chiến lược kinh doanh điện tử ương mại

điện tử tìm kiếm các dòng lợi nhuận thông quaWorld

Wide Webhay Internet để xây dựng và nâng cao các

mối quan hệ với khách hàng và đối tác và để phát triển

tính hiệu quả của việc sử dụng các chiến lượcEmpty

Vessel ông thường, thương mại điện tử liên quan đến

các hệ thống ứng dụng quản lý tri thức

Kinh doanh điện tử liên quan đến các quá trình doanh

nghiệp trong toàn bộ chuỗi dây chuyền giá trị:mua

bán điện tử,quản lý dây chuyền cung ứng, quá trình

đặt hàng điện tử, quản lý dịch vụ khách hàng, và cộng

tác với đối tác thương mại Các chuẩn kỹ thuật áp dụng

cho kinh doanh điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho việc

trao đổi dữ liệu giữa các công ty Các giải pháp phần

mềm kinh doanh điện tử cho phép tích hợp các quy

trình kinh doanh liên hoàn nội bộ Kinh doanh điện

tử có thể được tiến hành bằng cách dùngWorld Wide

Web, Internet,mạng nội bộ, extranetvà một số cách

kết hợp các hình thức này

Về cơ bản, thương mại điện tử (EC) là quá trình mua bán, chuyển nhượng, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và/hoặc thông tin thông quamạng máy tính, bao gồm Internet ương mại điện tử cũng có thể có lợi ích từ nhiều khía cạnh bao gồm quá trình kinh doanh, dịch

vụ, học tập, cộng tác vàcộng đồng ương mại điện tử

hay bị nhầm lẫn với kinh doanh điện tử (e-business). 1.1 Các phân nhóm

xxxxnhỏ|300px|Giao diện chụp màn hình của hệ thống

quản lý quan hệ khách hàng WebCRM ]]

Các ứng dụng có thể chia thành các danh mục:

1 Hệ thống kinh doanh nội bộ:

ản lý quan hệ khách hàng

Hoạch định tài nguyên doanh nghiệp

Hệ thống quản lý tài liệu

ản lý nguồn nhân lực

2 Doanh nghiệp thông tin liên lạc và hợp tác:

VoIP

Hệ thống quản lý nội dung

E-mail

Voice Mail

Hội thảo Web

Luồng công việc kỹ thuật số(orản lý quá trình thương mại)

3 ương mại điện tử -Doanh nghiệp với Doanh nghiệp(B2B) hayDoanh nghiệp với Khách hàng

(B2C):

Cửa hiệu Internet

ản lý dây chuyền cung ứng

Tiếp thị trực tuyến

Tiếp thị offline

1

Trang 4

Giao diện đăng ký tài khoản màn hình mã nguồn mở Zen cart

cung cấp ứng dụng cửa hiệu trực tuyến

1.2 Các mô hình

Khi các tổ chức tham gia mạng Internet, các công ty

phải quyết định mô hình kinh doanh điện tử nào phù

hợp với mục đích của mình.[4]Mộtmô hình kinh doanh

được định nghĩa như sản phẩm của tổ chức,dịch vụ

(kinh tế)và các luồng thông tin, và nguồn lợi nhuận và

các lợi ích cho nhà cung cấp và người tiêu dùng Khái

niệm của mô hình kinh doanh điện tử giống như vậy

như sử dụng trực tuyến Danh sách sau là các mô hình

kinh doanh điện tử hiện tại được thông qua:

Cửa hiệu trực tuyến(cửa hàng trực tuyến)

ương mại điện tử

Mua sắm trực tuyến

Trung tâm thương mại điện tử

Đấu giá ngược(Đấu giá trực tuyến)

Cộng đồng ảo

Nền tảng hợp tác

ị trường Amazon

Chuỗi giá trị tích hợp

Chuỗi giá trị ảo

ông tin môi giới

Viễn thông

an hệ khách hàng

tiêu dùng

Việc phân chia thành nhà cung cấp/nhà sản xuất và

người tiêu dùng/khách hàng được liệt kê trong

e-businessestheo các danh mục:

Doanh nghiệp với Doanh nghiệp(B2B)

Doanh nghiệp với Khách hàng(B2C)

Doanh nghiệp với Nhân viên(B2E)

Doanh nghiệp với Chính phủ(B2G)

Chính phủ với Doanh nghiệp(G2B)

Chính phủ với Chính phủ(G2G)

Chính phủ với Công dân(G2C)

Khách hàng với Khách hàng(C2C)

Khách hàng với Doanh nghiệp(C2B)

online-to-offline(O2O)

1.3 An toàn trong kinh doanh điện tử

Các hệ thống kinh doanh điện tử có nhiều mối lo ngại

về bảo mật hơn các hệ thống kinh doanh truyền thống,

vì vậy các hệ thống này cần được bảo vệ đầy đủ trước các nguy cơ bị tấn công Có một lượng lớn khách hàng truy cập hệ thống kinh doanh điện tử hơn hệ thống thương mại truyền thống.Người tiêu dùng, nhà cung cấp, và nhiều người khác sử dụng bất kỳ hệ thống kinh doanh điện tử một cách thường xuyên và mong đợi thông tin quan trọng sẽ được bảo mật Cáchackerlà một trong những mối lo về bảo mật của kinh doanh điện tử Các vấn đề liên quan đến bảo mật nói chung trong kinh doanh điện tử bao gồm lưu trữ thông tin riêng và quan trọng của doanh nghiệp và khách hàng,

dữ liệu chứng thực, toàn vẹn dữ liệu Một số phương pháp bảo mật bao gồm: bảo mật vật lý, lưu trữ dữ liệu, truyền dữ liệu,phần mềm diệt virus,tường lửavà một vài loạimã hóathông tin.[5][6]

1.3.1 Các cách bảo mật trong kinh doanh

điện tử

Tính riêng tư và bảo mật

Tính riêng tư và bảo mật là phương cách mà các doanh nghiệp chuyển giao thông tin cá nhân cho các doanh nghiệp, cá nhân khác.[7]Với bất kỳ doanh nghiệp nào, những thông tin riêng tư phải được đảm bảo lưu giữ an toàn và chỉ có thể truy cập bởi người có thẩm quyền Tuy nhiên, điều này đặc biệt trở nên khó khăn khi giao dịch với doanh nghiệp điện tử Bảo mật thông tin như vậy có nghĩa là bảo vệ an toàn bất kỳ hồ sơ điện tử và các tập tin tránh khỏi các truy cập trái phép, cũng như đảm bảo an toàn trong việc truyền tải và lưu trữ dữ liệu thông tin Các công cụ như là mã hóa vàtường lửacó thể giúp đáp ứng yêu cầu này trong kinh doanh điện

tử.[6]

Trang 5

1.3 AN TOÀN TRONG KINH DOANH ĐIỆN TỬ 3

Thẻ Visa với số PIN giao dịch là “123” Số PIN cần phải được

người dùng bảo mật cẩn thận và không được cho ai biết để đảm

bảo giao dịch điện tử an toàn.

Tính xác thực

Giao dịch điện tử đặt ra những thách thức lớn cho việc

thiết lập tính xác thực, bởi vì những thông tin điện tử có

thể dễ dàng thay đổi và sao chép Trong một giao dịch

kinh doanh điện tử, cả hai bên đều muốn có sự đảm

bảo rằng bên kia chính là những người mà họ muốn

gặp (hoặc là đúng với danh xưng bên kia tự nhận), đặc

biệt là khi một khách hàng đặt một đơn đặt hàng và sau

đó thanh toán qua phương cách điện tử Một cách phổ

biến để đảm bảo điều này là giới hạn sự truy cập vào

một mạng lưới hay khu vực tin cậy bằng cách sử dụng

công nghệmạng riêng ảo(VPN) Sự thiết lập tính xác

thực này sẽ càng an toàn hơn, khi sử dụng một kết hợp

những kỹ thuật, như là những kỹ thuật liên kết với việc

kiểm tra “một cái gì đó mà bạn biết” (nghĩa là mật khẩu

hoặc số PIN), “cái gì đó bạn có" (tức là thẻ tín dụng),

hoặc ""một cái gì chứng minh bạn” (tức là chữ ký kỹ

thuật số hoặc các phương pháp nhận dạng giọng nói)

Tuy nhiên, trong kinh doanh điện tử, “một cái gì chứng

minh bạn” cũng có thể kiểm tra và xác nhận mạnh mẽ

qua việc kiểm tra “một cái gì đó bạn có" của người mua

(tức là thẻ tín dụng) và “một cái gì đó mà bạn biết” (tức

là số thẻ).[6]

Tính toàn vẹn dữ liệu

Tính toàn vẹn dữ liệu dùng để trả lời câu hỏi “ông

tin có thể bị thay đổi hay mất đi hay không?" Điều này

dẫn đến việc phải bảo đảm thông nhận được giống hệt

thông tinđã gửi Một doanh nghiệp cần phải tự tin rằng

dữ liệu không thay đổi trong quá trình chuyển đi, cho

dù cố ý hoặc do tai nạn Để giúp tính toàn vẹn dữ liệu

đảm bảo,tường lửabảo vệ dữ liệu được lưu trữ nhằm

ngăn cản sự truy cập trái phép, trong khi chỉ đơn giản

là sao lưu dữ liệu và cho phép phục hồi dữ liệu khi cần

thiết hoặc khi các thiết bị hư hỏng.[6]

Tính không phủ nhận

Điều này liên quan đến sự tồn tại bằng chứng trong một

giao dịch Một doanh nghiệp phải nhận được bảo đảm

là người nhận hay người mua không thể chối hoặc phủ nhận là một giao dịch đã được thực hiện, điều này có nghĩa là phải có các bằng chứng đầy đủ để chứng minh giao dịch đã hoàn chỉnh Một cách để giải quyết vấn đề không thể phủ nhận (chối) này làchữ ký điện tử.[6]Một giao dịch với chữ ký điện tử của người nhận, có thể coi như một món hàng gửi bảo đảm, chắc chắn tin nhắn hoặcvăn bản, tài liệu đã đến tay và được ký nhận bởi một ai đó, và từ khi một chữ ký điện tử chỉ được tạo ra bởi một cá nhân nhất định, cho nên người đó sẽ không thể phủ nhận rằng họ đã ký và nhận hàng.[8]

Kiểm soát truy cập

Mô phỏng tường lửa bảo vệ hệ thống mạng nội bộ ( LAN )

Khi một tài nguyên điện tử và thông tin bị giới hạn chỉ dành cho một số cá nhân được ủy quyền, một doanh nghiệp và khách hàng của mình có thể phải đảm bảo rằng không ai khác có thể truy cậphệ thốnghay thông tin Có nhiều kỹ thuật liên quan dến việc đảm bảo này bao gồm:tường lửa, truy cập đặc quyền, nhận dạng người dùng và các kỹ thuật chứng thực (nhưmật khẩu

và chứng chỉ kỹ thuật số), Mạng riêng ảo (VPN) và nhiều kỹ thuật khác.[6]

Tính sẵn sàng

Điều này liên quan đến việc luôn sẵn sàng cung cấp thông tin thích hợp cho khách hàng khi họ cần Các thông điệp cần được chuyển một cách xác thực và kịp thời, và thông tin cần được lưu trữ và có thể truy cập khi cần thiết Bởi vì tính sẵn sàng của dịch vụ là quan trọng với cácwebsitekinh doanh điện tử, các biện pháp phải được tiến hành để ngăn chặn sự gián đoạn dịch vụ, chẳng hạn như khi bị cúp điện và hư hỏng thiết bịvật

lý Ví dụ, các biện pháp để giải quyết vấn đề này bao gồm sao lưu dữ liệu, hệ thống phòng cháy, hệ thống nguồn cung cấp điện không bị gián đoạn (UPS), bảo vệ chống virus, cũng như đảm bảo rằng có đủ năng lực để

xử lý các yêu cầu đặt ra khi mạng lưới bị quá tải[6]

Trang 6

1.3.2 Các biện pháp an ninh phổ biến cho

hệ thống Kinh doanh điện tử

Rất nhiều hình thức khác nhau để bảo vệ an toàn cho

các doanh nghiệp điện tử Một số hướng dẫn an toàn

nói chung bao gồm cả các khu vực bảo mật (thiết bị)

vật lý, lưu trữ dữ liệu, truyền dữ liệu, phát triển ứng

dụng, và quản trị hệ thống

An toàn mang tính vật lý

Phòng máy chủ Wikipedia với hệ thống đèn trần và điều hòa

nhiệt độ.

Mặc dù kinh doanh điện tử được thực hiệntrực tuyến,

nhưng vẫn có một số biện pháp an ninh mangtính vật

lýmà có thể bảo đảm an toàn cho tổng thể Các khu

vực đặtmáy chủvàmáy tính cá nhân trong công ty

phải được bảo vệ và giới hạn tiếp cận với nhân viên và

các đối tượng không có phận sự

Ví dụ, phòngmáy chủchỉ dành cho các cá nhân có thẩm

quyền được phép ra vào, và chắc chắn rằng các phần

xung quanh phòng (trần, cửa sổ, ống dẫn khí, sàn nhà )

đảm bảo không ai có thể dễ dàng xâm nhập được.[5]Tốt

nhất là các thiết bị quan trọng nên giữ trong phòng kín

(không có cửa sổ) và có điều hòa không khí.[9]

Bảo vệ chống lại các tai nạn của thiên nhiên cũng

không kém phần quan trọng trong việc bảo mật vật lý

cũng như bảo vệ chống lại người sử dụng trái phép Ví

dụ phòng phải chống đượclũ lụtbằng cách đặt các thiết

bị lên trên cao so với mặt sàn Hơn nữa, trong phòng

cần phải có thiết bị phòng cháy chữa cháy Các tổ chức,

công ty, doanh nghiệp cần phải có một kế hoạch sẵn

sàng chữa cháy, trong trường hợp việc này xảy ra.[5]

Ngoài việc giữ cho cácmáy chủvà máy tính an toàn,

việc an ninh vật lý của các thông tin nhạy cảm cũng

quan trọng Điều này bao gồm các thông tin khách

hàng như: sốthẻ tín dụng, chi phiếu,số điện thoại, các

thông tin riêng tư của tổ chức, doanh nghiệp nào đó

và nhiều thông tin quan trọng khác Một biện pháp an

ninh khác là lưu giữ bản sao lưu vật lý hay điện tử của

các dữ liệu trong ngăn kéo hoặc tủ khóa kỹ Cửa ra vào

và cửa sổ dẫn đến khu vực này phải nên khóa an toàn Nhân viên nào cần sử dụng thông tin này như là một phần công việc, sẽ được cấp mật mã khóa.[5]

ông tin quan trọng có thể được giữ an toàn bằng cách sao lưu dữ liệu của cáctập tinvà cập nhật thường xuyên Cách tốt nhất là giữ các bản sao lưu ở một vị trí an toàn riêng biệt khác để đề phòng trường hợp xảy

ra thảm họa tự nhiên hoặc vi phạm an ninh tại trụ sở chính.[5]

“Một trang web dự phòng” (Failover) nên được xây

dựng trong trường hợp có một vấn đề với trang web chính Trang web này nên xây dựng có kiến trúc giống

hệ thống trang chính vềphần cứng,phần mềm, và các tính năngbảo mật Khu vực dự phòng được sử dụng

để thay thế khu vực chính trong trường hợp hỏa hoạn hoặcthiên tai Việc kiểm tra “trang web hay khu vực dự phòng” cũng rất quan trọng để đảm bảo sự hoạt động hữu hiệu khi có nhu cầu.[9]

Hệ thống an ninh hiện đại, như tại trụ sở chính của công ty Tidepoint, có thể bao gồm kiểm soát ra vào,

hệ thống báo động, vàtruyền hình mạch kín (closed-circuit television) Một dạng kiểm soát ra vào đó làhệ thống nhận dạng khuôn mặt(hoặc tính năng khác như

vân tay,bàn tay,…) Điều này cho phép đúng nhân viên củacông tyđược phép vào, và mang tính thuận tiện cho nhân viên khi không cần mang theo chìa khóa hoặc thẻ nhận dạng Hệ thống máy quay phim (camera) phải nên được đặt khắp tòa nhà và tất cả các lối ra vào Hệ thống báo động cũng được xem là một biện pháp bảo vệ chống trộm cắp.[10]

Lưu trữ dữ liệu

Lưu trữ dữ liệu là một khía cạnh rất quan trọng trong tất cả doanh nghiệp, đặc biệt là với kinh doanh điện tử, nơi chứa nhiều dữ liệu được lưu trữ theo phương thức điện tử Dữ liệu được bảo mật không nên lưu trữ tạimáy chủkinh doanh điện tử mà phải chuyển đến một máy tínhvật lýkhác Nếu có thể, máy tính không được kết nối trực tiếp vớiInternetvà cũng cần lưu trữ tại ví trí

an toàn ông tin lưu trữ phải có định dạngmã hóa.[5]

Nếu có thể thì bất kỳ thông tin mang tính “nhạy cảm” không nên lưu trữ Nếu bắt buộc phải làm vậy, dữ liệu chỉ nên lưu tại một vài máy tính mà ít người truy cập Phải có sự đo lường các biện pháp an ninh để bảo vệ thông tin (như khóa riêng) êm nữa, thông tin chỉ nên lưu trữ trong khoảng thời gian ngắn, nếu không cần thông tinđó nữa thì phải xóa ngay để tránh rơi vào tay kẻ xấu Tương tự, việc lưu trữ phòng hờ và sao lưu dữ liệu phải giữ cẩn thận với các biện pháp an ninh Nếu không còn dùng các bản backup nữa thì cần phải xóa ngay.[5]

Trang 7

1.3 AN TOÀN TRONG KINH DOANH ĐIỆN TỬ 5

Primary storage

Central processing unit

Logic

unit

Registers

Cache

memory

Memory bus

Main memory

Random access memory 256-1024 MB

Mass storage device

Hard disk

20-120 GB

Input/output channels

Removable media drive

CD-RW, DVD-RW drive

Removable medium

CD-RW

650 MB

Tertiary storage

Robotic access system

Removable

medium

Removable

media

Mô hình cấu trúc lưu trữ dữ liệu

Trao đổi dữ liệu và phát triển ứng dụng

Tất cả thông tin nhạy cảm được truyền tải cần phải

mã hóa Các doanh nghiệp có thể từ chối khách hàng

không chấp nhận mức mã hóa này Các thông tin quan

trọng và nhạy cảm không nên gửi quae-mail Nếu thật

sự muốn gửi thì nênmã hóa.[5]

Việc chuyển và hiển thị thông tin bảo mật nên hạn chế

mức có thể.[5] Ví dụ, thẻ thông tin thẻ tín dụngcủa

người sử dụngchỉ nên hiện thị vài số đầu tiên như:

3456xxxxxxxxxx để bảo mật thông tin khách hàng và

giúp họ biết được thông tin thẻ của mình

Mã nguồn phải giữ ở nơi bí mật và không nên cho bất

kỳ ai xem.[5]Các ứng dụng và thay đổi phải được thử

nghiệm trước khi đưa lên mạng Internet để tương thích

và tin cậy.[5]

Quản trị hệ thống

Bảo mật trên cáchệ điều hànhmặc định nên được chú

ý ngay lập tức Các bản vá lỗi và nâng cấp phần mềm

cần được lưu trữ trong nhật ký Tất cả các thay đổi cấu

hình cần được lưu trữ lại trong nhật ký và cập nhật kịp

thời.[5]

Người quản trị hệ thống phải theo dõi các hoạt động

đáng ngờ bên trong công việc kinh doanh bằng cách

kiểm tra thông tin tập tin nhật ký và nghiên cứu các

lỗi đăng nhập không thành công Họ cũng có thể kiểm

toán các hệ thống kinh doanh điện tử để tìm tất cả các

lỗ hổng trong các biện pháp an ninh.[5]

Điều quan trọng là lập kế hoạch đảm bảo an ninh không những tại chỗ mà còn thử nghiệm các biện pháp bảo mật để đảm bảo rằng chúng thực sự hoạt động hiệu quả.[9] Với việc sử dụng các kỹ thuật xã hội, những người không liên quan không thể có được thông tin

bí mật Đội ngũ nhân viên phải được đào tạo về nhận thức kỹ thuật xã hội và cách để đối phó với thông tin nhạy cảm.[5]

Kinh doanh điện tử có thể dùngmật khẩuđể bảo mật việc đăng nhập vào tài khoản, truy cập thông tin bảo mật của nhân viên và khách hàng Để thiết lập mật khẩu có độ mạnh cao, mật khẩu phải chứa ký tự, số và

ít nhất có chiều dài là 7 đến 8 ký tự Mật khẩu không nên chứa thông tin cá nhân (ví dụ như tên, ngày sinh) Mật khẩu nên được thay đổi khác nhau thường xuyên Chỉ có khách hàng mới biết mật khẩu và không lưu trữ mật khẩu lung tung Người dùng nếu đăng nhập quá

số lần cho phép thì tài khoản sẽ bị tự động khóa để tránh trường hợphackerdùng phần mềm dò tìmmật khẩu.[5][9]

1.3.3 Các giải pháp bảo mật

Khi nói tới các giải pháp bảo mật, trong kinh doanh điện tử, có một số mục đích để thực hiện như tính toàn vẹn dữ liệu, chứng thực tốt và sự riêng tư

Tính truy cập và toàn vẹn dữ liệu

Có một vài phương thức để ngăn việc truy cập dữ liệu được lưu trữtrực tuyến Một cách là dùngphần mềm diệt virus Đây là cách mà hầu hết mọi người dùng để bảo vệ dữ liệu bất kể loại dữ liệu gì Kinh doanh điện tử nên áp dụng điều này để chắc rằng thông tin gửi đi và nhận về trong hệ thống là an toàn.[6]

Một cách thứ hai là bảo vệ dữ liệu dùngtường lửavà mạng bảo vệ Tường lửa dùng để ngăn các truy cập trái phép vào mạng Tường lửa cũng có khả năng ghi lại nhật ký các thông tin đăng nhập vào mạng và đưa ra cảnh báo Doanh nghiệp dùngmạng wificần phải có nhiều cách bảo vệ khác nhau vì mạng wifi dễ bị truy cập trái phép.[6]

Một các khác là dùng hệ thống dò tìm xâm nhập Hệ thống cảnh báo nếu phát hiện sự xâm nhập Công ty có thể đặt “bẫy” hoặc “các điểm nóng” (hot spot) để đánh lừa và có thể biết ai đang cố gắng xâm nhập vào khu vực.[6]

Mã hóa

Mã hóa, hay thực ra là một phần củamật mã, liên quan

Trang 8

A B C D E

<<<5

<<<30

F

Wt

Kt

Phương thức mã hóa SHA-1

đến việc chuyển đổivăn bảnhoặc tin nhắn thành một

loại mã mà không thể đọc được Những thông điệp này

được giải mã để có thể hiểu hoặc sử dụng cho ai đó Có

một khóa để nhận dạng dữ liệu cho cá nhân hay công ty

cụ thể nào đó Với mã hóakhóa công cộng(chung), có

hai khóa được dùng Một làkhóa chung, một làkhóa

riêng Khóa chung được dùng cho quá trình mã hóa,

khóa riêng dùng cho giải mã Mức độmã hóathực tế

có thể được điều chỉnh và cần phải dựa trên các thông

tin Khóa có thể là một chuỗi cácký tựđơn giản ngẫu

nhiên hay một sự kết hợp phức tạp các chữ cái Điều

này là tương đối dễ thực hiện vì cóphần mềmmà công

ty có thể mua Một công ty cần phải chắc chắn rằng

khóa của họ đã được đăng ký với một chứng chỉ cho

phép.[6]

Chứng chỉ điện tử

Điểm mấu chốt củachứng chỉ điện tửlà việc nhận dạng

người chủ sở hữu của một văn bản, tài liệu Các công

ty dùng các chứng chỉ này theo nhiều cách khác nhau

Chứng chỉ điện tử có thể được dùng để thay thếtên

đăng nhậpvàmật khẩu Mỗi nhân viên có thể được truy

cập các tài liệu khi cần thiết cho dù đang ở bất cứ đâu

Chứng chỉ điện tử đượcmã hóavà chứa một số thông

tin phức tạp hơn mã hóa thông thường Các chứng chỉ

này dùng thông tin quan trọng trongmã nguồnđể chắc

chắn việc chứng thực tài liệu có tính tin cậy cũng như

tính toàn vẹn dữ liệu được mã hóa.[6]

Chứng chỉ điện tử không được dùng phổ biến vì đôi khi

các chứng chỉ này gây bối rối cho người sử dụng Các

chứng chỉ có thể rắc rối khi dùng cáctrình duyệtkhác

nhau, điều đó có nghĩa chúng cần dùng các chứng chỉ

khác nhau á trình được tương thích để dễ sử dụng

các chứng chỉ này hơn.[6]

Chữ ký điện tử

Cách cuối cùng trong việc bảo mậtthông tin trực tuyến

có thể là dùngchữ ký điện tử Nếu một văn bản có chữ

ký điện tử thì không ai có thể chỉnh sửa thông tin mà không bị phát hiện eo cách này, nếu thay đổi nội dung, nó có thể điều chỉnh cho độ tin cậy sau sự thật Một tin nhắn tóm tắt được dùng cho một tài liệu với một giá trị duy nhất Giá trị sau đó được mã hóa với khóa riêng của người gửi.[6]

1.4 Xem thêm

ương mại điện tử

Các ứng dụng thương mại toàn cầu

Ứng dụng Web

B2C

1.5 Tham khảo

[1] Beynon-Davies P (2004) E-Business Palgrave, Basingstoke.ISBN 1-4039-1348-X

[2] Gerstner, L (2002) Who says Elephants Can't Dance?

Inside IBM’s Historic Turnaround pg 172.ISBN 0-06-052379-4

[3] Amor, D (1999) e e-business (r)evolution Upper

Saddle River:Prentice Hall [4] Paul Timmers, (2000), Electronic Commerce - strategies

& models for business-to-business trading, pp.31, John Wiley & Sons, Ltd,ISBN 0-471-72029-1

[5] University of Pisburgh, comp e-Business Resource Group Security Guidelines Publication ngày 5 tháng

8 năm 2003

[6] Industry Canada | Industrie Canada Industry Canada,

24 Aug 2010 Web 30 Nov 2010 <http://www.ic.gc.ca/ eic/site/dir-ect.nsf/eng/h_uw00348.html>

[7] Westfall, Joseph “Privacy: Electronic Information and the Individual.” Santa Clara University Markkula Center for Applied Ethics, 2010 Web 30 Nov 2010

<http://www.scu.edu/ethics/publications/submitted/ westfall/privacy.html>

[8] “What Is Nonrepudiation? - Definition.” Information Security: Covering Today’s Security Topics TechTarget, 4 Sept 2008 Web 30 Nov 2010

<http://searchsecurity.techtarget.com/sDefinition/ 0,,sid14_gci761640,00.html>

[9] Sollicito, Michelle J “How to Perform a Security Audit -Part 1.” InformIT Pearson Education, Informit, 21 Dec

2001 Web 30 Nov 2010 <http://www.informit.com/ articles/article.aspx?p=24608&seqNum=4>

Trang 9

1.5 THAM KHẢO 7

[10] Fickes, Michael “B2B security.” Access Control &

Security Systems Integration 43.10 (2000): 37-40

OmniFile Full Text Mega Web 30 Nov 2010

Trang 10

Kinh doanh đa cấp

Kinh doanh tiếp thị mạng lưới (tiếng Anh: Multi-level

MarketingTiếp thị đa cấp) hoặc Kinh doanh theo mạng

(Network Marketing) hay Bán hàng đa cấp ính

thống (tên gọi thông dụng tại Việt Nam) là thuật ngữ

chung dùng để chỉ một phương thức marketing sản

phẩm kinh doanh/bán hàng trực tiếp đến tayngười

tiêu dùng, họ có thể trực tiếp đến mua hàng tạicông ty

(hoặc qua một nhà phân phối duy nhất) mà không phải

thông qua cácđại lýhaycửa hàng bán lẻ

Kinh doanh đa cấp đã và đang gây ra nhiều tranh cãi

trong xã hội Ở Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều

vụ lừa đảo liên quan đến kinh doanh đa cấp.[1] Có

nhiều bài viết nghi ngờ hoạt động của nhiều công ty

kinh doanh đa cấp ở Việt Nam,[2][3][4]với thủ đoạn lừa

đảo.[5][6]

2.1 Lịch sử

Nguồn gốc bán hàng đa cấp còn có nhiều tranh cãi, tuy

vậy trong thập niên 1920 đã có nhiều công ty đa cấp,

năm 1930 đã có công ty California Vitamin Company

(sau đổi tên thành Nutrilite), và California Perfume

Company (sau đổi tên thành Avon Products)

Tuy nhiên vào đầuthập niên 1970, việc bán hàng đa

cấp lại chịu sức ép từ nhiều phía khác nhau Năm1975,

tronghội đồng liên bang Hoa Kỳcó những người phản

đối kinh doanh đa cấp và quy kết nó với cái gọi là "hình

tháp ảo" - một hình thức kinh doanh bất hợp pháp Đây

là đòn đánh đầu tiên củachính phủvào kinh doanh đa

cấp Công ty Amway trong bốn năm liền phải theo hầu

tòa (từ năm 1975-1979) Sau cùng, cuối năm 1979 toà

án thương mại Liên Bang Hoa Kỳ công nhận phương

pháp kinh doanh của Amway không phải là “hình tháp

ảo” và được chấp nhận về mặt luật pháp Từ đó Bộ luật

đầu tiên về kinh doanh đa cấp đã ra đời tại Mỹ Từ năm

1940 đến 1979 chỉ có khoảng 30 công ty kinh doanh

theo mạng ra đời tại Mỹ, đây là giai đoạn được gọi tên

là làn sóng thứ nhất

Từ 1979-1990 (làn sóng thứ hai) là thời kì bùng nổ của

kinh doanh theo mạng

Từ năm 1990, nhờ sự tiến bộ vượt bậc củacông nghệ

vàtruyền thông, kinh doanh theo mạng mangmàu sắc

mới, các nhà phân phối có thể đơn giản hoá công việc của mình nhờ vàođiện thoại, internet… Ở giai đoạn

này - mà theo các chuyên gia gọi là làn sóng thứ ba

- nhà phân phối giỏi không cần phải là mộtnhà hùng biệnvà đi lại nhưcon thoigiữa các mạng lưới Bất kỳ

ai cũng có thể sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình để tham gia công việc và làm việc ở bất cứ đâu

2.1.2 Tại Việt Nam

Đầuthế kỉ 21, kinh doanh đa cấp bắt đầu bước chân vào thị trườngViệt Nam Kinh doanh đa cấp có nhiều công ty lừa đảo núp bóng và một bộ phận không nhỏ nhà phân phối sai trái đã làm cho dư luận bắt đầu lên tiếng phản đối kinh doanh đa cấp

Một số lý do khác là do động thái của chính quyền quá chậm so với sự phát triển của ngành nghề và sự hạn chế về tầm nhìn, nhận thức của người dân (một phần

đả phá kịch liệt, một phần nhẹ dạ tin vào các công ty bất chính)

Đến thời điểm cuối năm 2004, tại Việt Nam đã có khoảng 20 Công ty bán hàng đa cấp phân phối sản phẩm chủ yếu về ngành chăm sócsức khoẻvàsắc đẹp

Để hoà nhập với xu hướng chung củathế giớicũng như đáp ứng tình hình thực tế tại Việt Nam, hành langpháp

lývề kinh doanh theo mạng đã dần hình thành:

• Ngày ngày 1 tháng 7 năm 2005,luật Cạnh tranhcó hiệu lực thi hành trong đó có những điều khoản quy định về bán hàng đa cấp

• Ngày ngày 24 tháng 8 năm 2005, Nghị định

110/2005/NĐ-CP củachính phủvề ản lý hoạt động bán hàng đa cấp được ban hành phần nào đã tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ các công

ty và nhà phân phối chân chính Tuy nhiên, nghị định vẫn còn nhiều kẽ hở khiến cho một số công

ty lợi dụng

• Ngày ngày 8 tháng 11 năm 2005,Bộ thương mại

ban hành thông tư hướng dẫn một số nội dung tại 8

Ngày đăng: 30/07/2017, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w