1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mô hình kinh doanh hay1

10 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 458,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình kinh doanhMô hình kinh doanh là một khái niệm trừu tượng của một tổ chức, nó có thể là một khái niệm, văn bản và/hoặc đồ hoạ của cấu tạo tương quan, hợp tác, sự sắp xếp tài chính

Trang 1

Mô hình kinh doanh

Mô hình kinh doanh là một khái niệm trừu tượng

của một tổ chức, nó có thể là một khái niệm, văn bản

và/hoặc đồ hoạ của cấu tạo tương quan, hợp tác, sự sắp

xếp tài chính được thiết kế và được phát triển bởi một tổ

chức hiện tại và trong tương lai, cũng như tất cả các sản

phẩm chính và/hoặc các dịch vụ mà công y cung cấp,

hoặc sẽ cung cấp, dựa vào sự sắp xếp cần thiết đó để đạt

được mục tiêu và mục đích chiến dịch của nó”[1]Khái

niệm này được đúc kết bởi Al - Debei, El - Haddadeh

và Avison (2008), nó chỉ ra rằng sự dự định giá trị, mô

hình giá trị (cơ sở hạ tầng của tổ chức và kiến trúc công

nghệ mà hướng theo sự vận động của sản phẩm, dịch

vụ và thông tin), giá trị tài chính (thông tin mô hình

liên quan tới tổng chi phí của chủ đầu tư, phương pháp

giá và cấu trúc doanh thu), và mạng giá trị chỉ rõ cấu

tạo chính hoặc kích thước của mô hình kinh doanh .[2]

Do đó một mô hình kinh doanh mô tả lý do, cách thức

mà một tổ chức tạo ra, cung cấp và nắm giữ giá trị[3]

trong kinh tế, xã hội, văn hoá hoặc các tình huống khác

á trình của cấu trúc mô hình kinh doanh là một phần

Trong lý thuyết và thực tế, “mô hình kinh doanh” thì

được sử dụng cho một phạm vi rộng các mô tả chính

thức và không chính thức để đại diện cho các khía cạnh

chính của kinh doanh, bao gồm mục đích, quá trình

kinh doanh, khách hàng mục tiêu, các đề xuất, chiến

lược, cơ sở hạ tầng, cấu trúc tổ chức, nguồn tài nguyên,

thực hiện giao dịch, quá trình tổ chức và chính sách

bao gồm văn hoá Các tài liệu đã cũng cấp rất đa dạng

về các giải thích và định nghĩa của một mô hình kinh

doanh Sự nhìn nhận và phân tích hệ thống của người

quản lý dựa trên một khảo sát xác định mô hình kinh

doanh như là thiết kế cơ cấu tổ chức để ban hành với

một cơ hội thương mại.[4]Mở rộng thêm về logic thiết

kế này nhấn mạnh việc sử dụng sự tường thuật và kết

hợp trong mô tả mô hình kinh doanh như một cơ chế

mà các nhà doanh nghiệp tạo nên một công ty phát

triển vượt trội.[5]

Các mô hình kinh doanh được sử dụng để mô tả và phân

loại các loại hình kinh doanh, đặc biệt là cấu tạo doanh

nghiệp, nhưng nó cũng được sử dụng bởi các nhà quản

lý bên trong công ty để phát hiện các khả năng cho sự

phát triển tương lại Các mô hình kinh doanh phổ biết

có thể mở rộng như là “công thức” cho các nhà quản lý

sáng tạo.[6]Các mô hình kinh doanh cũng được đề cập

đến trong một số trường hợp trong bối cảnh tính toán

cho mục đích báo cáo công khai

1 Lịch sử

a từng năm, các mô hình kinh doanh ngày càng trở nên phức tạp Mô hình kinh doanh mồi và móc nhử (the bait and hook business model) cũng được đề cập như là

mô hình kinh doanh “dao cạo và lưỡi dao” - razor and blades business model hoặc là mô hình các sản phẩm đi kèm - tired products business model) đã được giới thiệu vào những năm đầu thế kỉ 20 Nó liên quan đến việc đưa

ra các sản phẩm cơ bản với giá bán thấp, thường là tại điểm thua lỗ (mồi - bait), sau đó đưa ra số lượng sản phẩm đinh kỳ đền bù để bù lại hoặc các sản phẩm liên quan hoặc các dịch vụ (móc câu - hook) Ví dụ như là: dao cạo râu (mồi) và lưỡi dao (móc câu); điện thoại di động (mồi) và mạng truyền (móc câu), máy in vi tính (mồi) và mực in đổ vào (móc câu); và máy quay cameras (mồi) và phim rửa (móc câu) Một biến thể của mô hình này làAdobe, một người phát triển phần mềm đã đưa

ra phần mềm đọc tài liệu miễn phí nhưng lại phải trả phí hàng trăm đô la cho người viết tài liệu

Từ 1950, các mô hình kinh doanh mới đến từ cửahàng

tiến là Wal - Mart và Hypermarkets Năm 1970, các

mô hình kinh doanh mới ra đời từFedEx và Toys R Us; và 1980 từ Blockbuster, Home Depot, Intel và Dell Computer; năm 1990 từ Southwest Airlines, Netflix,

Ngày nay, các loại mô hình kinh doanh có thể phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng Ví dụ, doanh nghiệp dựa vào internet có thể tạo ra các mô hình mới

mà phụ thuộc chủ yếu vào sự xuất hiện của công nghệ mới nổi Sử dụng công nghệ, các doanh nghiệp có thể đạt một số lượng lớn khách hàng với chi phí thấp êm vào đó, sự tăng lên của đầu tư ngoài quốc gia và toàn cầu hoá có nghĩa là các mô hình kinh doanh phải tính toán chiến lược nguồn lực, chuỗi cung phức tạp và dịch chuyển tới hợp tác, cấu trúc quan hệ hợp đồng .[7]

2 Lý thuyết và thực nghiệm của các

mô hình kinh doanh 2.1 Logic thiết kế và sự gắn kết câu chuyện

Logic thiết kế nhìn nhận mô hình kinh doanh như là một đầu ra của việc tạo nên cấu trúc tổ chức hoặc thay đổi hiện tại để theo đuổi một cơ hội mới Gery George và Adam Bock (2011) đã tiến hành một xem xét

1

Trang 2

toàn diện và khảo sát các nhà quản lý để hiểu làm thế

nào họ nhận thấy các thành phần của một mô hình

kinh doanh Trong sự phân tích đó, các tác giả chỉ ra

rằng có một sự logic thiết kế đứng đằng sau việc các

doanh nghiệp và nhà quản lý nhận thức và giải thích

về mô hình kinh doanh của họ Mở rộng ra với thiết kế,

George and Bock (2012) sử dụng trường hợp nghiên cứu

và số liệu khảo sát IBM trên các mô hình kinh doanh

của các công ty lớn, để miêu tả làm thế nào các CEO và

các doanh nghiệp tạo ra những câu chuyện trong một

phương pháp chặt chẽ để chuyển đổi doanh nghiệp từ

một cơ hội này sang cơ hội khác Họ cũng chỉ ra rằng

khi câu chuyện không mạch lạc hoặc các thành phần

của câu chuyện bị lệch, nghĩa là các doanh nghiệp này

có xu hướng thất bại Họ đề xuất các cách mà các nhà

doanh nghiệp hoặc CEO có thể tạo ra các câu chuyện

mạnh cho sự thay đổi

2.2 Sự bổ trợ của các mô hình kinh doanh

giữa các công ty hợp tác

Nghiên cứu sự hợp tác và truy cập các nguồn bên ngoài

của công nghệ, Hummel et al (2010) nhận thấy rằng

quyết định dựa vào các đối tác kinh doanh, nó thực

sự quan trọng để chắc chắn rằng cả hai mô hình kinh

doanh của các bên là bổ trợ nhau.[8]Ví dụ, họ tìm thấy

rằng việc nhận ra các động lực giá trị của các đối tác

tiềm năng bằng cách phân tích các mô hình kinh doanh

là quan trọng, và nó cũng có lợi ích khi tìm thấy các

công ty hợp tác mà hiểu rõ các khía cạnh chính của mô

hình kinh doanh của mình.[9]

Trường đại học Tennessee tiến hành nghiên cứu trong

mối quan hệ hợp tác kinh doanh cao Các nhà nghiên

cứu hệ thống hoá các nghiên cứu vào một mô hình

nguồn được biết đến như là Vested (cũng được đề cập

đến như là Nguồn Vested - Vested Outsoursing) Vested

là một mô hình kinh doanh lai tìm nguồn cung ứng mà

người mua và các bên cũng cấp trong một nguồn ngoài

hoặc mối quan hệ kinh doanh tập trung vào giá trị chia

sẻ và các mục tiêu để tạo ra một sự sắp xếp mà nó hợp

tác cao và lợi ích chung với nhau [10]

doanh.

Khoảng từ năm 2012, một vài nghiên cứu và thực

nghiệm đã đưa ra giả thuyết về một cái gọi là “ mô hình

kinh doanh lỏng” - liquid business model [11][12]

Framework)

Al - Debei và Avison (2010) Khuôn khổ V4 BM - 4 kiểu

mẫu chính đóng vào trong mười sáu yếu tố chính: giá

trị sự cải tiến, giá trị kiến trúc, giá trị mạng liên kết và giá trị tài chính[2]

• Giá trị sự cái tiến: Kiểu mẫu này nhấn mạnh rằng

một mô hình kinh doanh nên bao gồm một sự mô

tả của các sản phẩm/ dịch vụ mà một tổ chức kỹ thuật số đặt ra, hoặc sẽ đưa ra, đi kèm với các thông tin liên quan êm vào đó, các mô hình kinh doanh cũng cần mô tả các yếu tố kết hợp trong việc chào bán, như là sự tự nhiên của phân đoạn định vị thị trường theo sở thích ưu tiên

• Giá trị kiến trúc: mô tả mô hình như là một thiết

kế cấu trúc toàn diện của một tổ chức bao gồm cấu trúc công nghệ, cơ sở hạn tầng tổ chức và cấu hình của họ

• Giá trị Mạng liên kết: miêu tả công ty chéo hoặc

liên tổ chức quan điểm theo mô hình hoặc đạt được nhiều sự chú ý trong mô hình kinh doanh

• Giá trị tài ính: mô tả thông tin liên quan tới chi

phí, phương pháp giá, và cấu trúc doanh thu

3.2 Chuyển từ ống tới các nền tảng

Sangeet Paul Choudary (2013) phân biệt giữa hai nhóm chính của mô hình kinh doanh trong một bài báo của tạp chí Wired [13]Choudary tương phản ống (mô hình kinh doanh tuyến tính) với nền (mô hình kinh doanh liên kết) Trong trường hợp của ống, các công ty tạo ra hàng hoá và dịch vụ, đẩy chúng ra ngoài và bán nó tới các khách hàng Giá trị đã được sản xuất thượng nguồn

và tiêu thụ hạ nguồn Đó là một dòng chảy tuyến tính, giống như là dòng chảy trong ống nước Không như các ống nước, nền tảng không chỉ tạo và đẩy ra ngoài Nó cho phép người dùng tạo và thu về giá trị

Trong một thị trường đồng hồ mở,[14] Choudary, Van Alstyne và Parker giải thích thêm làm thế nào các mô hình kinh doanh chuyển từ ống sang nền, dẫn tới sự gián đoạn của các ngành công nghiệp còn lại

3.3 Các mô hình kinh doanh nền

Có ba yếu tố dẫn tới dự thành công của mô hình kinh doanh nền Toolbox tạo ra sự kết nối bởi làm nó đơn giản cho người khác để cắm vào nền tảng Cơ sở hạ tầng này có thể kết nối giữa các bên tham gia Magnet tạo ra sức kéo mà thu hút người tham gia vào nền tảng Với các nền tảng giao dịch cả người sản xuất và khách hàng có thể thể hiện để đạt tới khối lượng quan trọng Người làm diêm nuôi dưỡng dòng chảy giá trị bằng cách tạo sự kết nối giữa nhà sản xuất và khách hàng Dữ liệu

là tại trung tâm của làm diêm thành công và phân biệt nền tảng từ các mô hình kinh doanh khác[15]t Chen (2009) nhận định rằng mô hình kinh doanh phải được tính vào năng lực củaWeb 2.0, như là trí tuệ tập

Trang 3

thể, hiệu ứng mạng, người dùng tạo ra nội dung và

khả năng của hệ thống tự nâng cấp Ông ấy đề xuất

rằng ngành công nghiệp dịch vụ như hàng không, giao

thông, vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, thông tin và

công nghệ truyền thông và trò chơi trực tuyến sẽ có thể

đạt nhiều lợi nhuận trong mô hình kinh doanh được

thừa hưởng mà được tính vào đặc điểm của Web 2.0

Ông ấy cũng nhấn mạnh rằng Mô hình kinh doanh

2.0 được đưa vào không chỉ là hiệu ứng công nghệ của

Web2.0 mà còn là hiệu ứng mạng liên kết Ông ấy đưa

ra ví dụ về câu chuyện thành công củaAmazontrong

việc tạo ra doanh thu khổng lồ mỗi năm bằng việc phát

triển nền tảng mở rộng hỗ trợ cho một cộng đồng của

công ty mà tài sử dụng dịch vụ thương mại theo nhu

cầu của Amazon.[16]

Malone et al.[17] đã tìm thấy một số mô hình kinh

doanh, như đã định nghĩa, đã thực hiện tốt hơn các mô

hình khác trong tập dữ liệu bao gồm các doanh nghiêp

lớn nhất Hoa Kỳ, trong thời kỳ 1998 tới 2002, khi họ

không chứng minh liệu sự tồn tại của mô hình kinh

doanh là quan trọng

Trong bối cảnh của phần mềm - Cluster, mà được tài trợ

bởi Bộ Liên Bang Đức về giáo dục và nghiên cứu, một

mô hình kinh doanh thành công cho các công ty phần

mềm đã được phát triển Nó hỗ trợ thiết kế và phân tích

mô hình kinh doanh phần mềm Khái niệm và các dữ

liệu cơ bản của công cụ này đã được công bố trong các

ấn phẩm khoa học khác nhau

Khái niệm của mô hình kinh doanh đã được hợp tác

trong tiêu chuẩn tính toán Ví dụ, Hội đồng chuẩn mực

kế toán quốc tế (International Accounting Standards

Board - IASB) sử dụng “mô hình kinh doanh thực để

quản lý tài sản tài chính” như một yếu tố để quyết định

liệu các tài sản nào có thể đo lường tại chi phí phân bổ

hoặc tại giá trị hợp lý tại tiêu chuẩn tính toán công cụ

tài chính, IFRS 9.[18][19][20][21]Trong đề xuất 2013 của

họ cho tính toán công cụ tài chính, Hội đồng chuẩn

mực kế toán quốc tế cũng công bố công dụng tương

tự cho mô hình kinh doanh trong viêc phân loại các

công cụ tài chính Khái niệm của mô hình kinh doanh

đã được giới thiệu trong thuế thu nhập hoãn lại dưới

Các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (International

Financial Reporting Standards) với 2010 sửa đổi tới IAS

12 giải quyết trì hoãn thuế liên quan đến đầu tư bất

động sản.[22].[23][24][25]

Cả hai IASB và FASB có đề xuất sử dụng khái niệm

của mô hình kinh doanh trong khái niệm của báo cáo

một thu nhập cho thuê của bên cho thuê và chi phí

thuê trong dự án hợp tác của họ trên tính toán cho

người thuê.[26][27][28][29][30]Trong mô hình kế toán cho

thuê 2016, IFRS 16, IASB chọn không bao gồm một

yếu tố của “ tiện ích chuẩn một mình” trong định

nghĩa cho thuê bởi vì “thưc thể các thể đạt được các kết luận khác nhau trong hợp đồng mà bao gồm các quyền giống nhau dề sử dụng, dựa trên sự khác biệt giữa nguồn lực khách hàng hoặc mô hình kinh doanh của bên cung ứng [31] Khái niệm cũng đề xuất như

là một cách tiếp cận để quyết định cách đo lường và phân loại khi tính toánhợp đồng bảo hiểm.[32][33]Kết quả đưa lại là tình trạng tăng lên của các khải niệm

mô hình kinh doanh đã nhận được trong bối rảnh của báo cáo tài chính, Nhóm tư vấn báo cáo tài chính Châu u (European Financial Reporting Advisory Group

- EFRAG), mà khuyênliên minh châu Âutrong chứng thực các chuẩn mực báo cáo tài chính, bắt đầu một sự

án trong “ Vai trò của các mô hình kinh doanh trong báo cáo tài chính” vào năm 2011 .[34]

5 Thiết kế mô hình kinh doanh

iết kế mô hình kinh doanh đề cập tới hoạt động thiết

kế mô hình kinh doanh của một công ty Nó là một phần của sự phát triển kinh doanh và quá trình chiến lược kinh doanh và liên quan tới phương pháp thiết kế

5.1 Định nghĩa mô hình kinh doanh

Al - Debei and Avison (2010) định nghĩa một mô hình kinh doanh như là một đại diện trừu tượng của một tổ chức Nó có thể là một khái niệm, câu chữ, và / hoặc là một hình ảnh của tất cả các kiến thức chính liên quan,

hệ thống liên kết, và sắp xếp tài chính được thiết kế và phát triển bởi một tổ chức hiện tại và trong tương lai, như là các sản phẩm chính và/ hoặc các dịch vụ mà tổ chức cung cấp, hoặc sẽ cung cấp, dựa trên các sự sắp xếp đó mà cần để đạt mục tiêu và mục đích chiến lược của họ.[35]Định nghĩa này đề cập đến giá trị cải tiến, giá trị cấu trúc, giá trị tài chính và giá trị mạng liên kết khớp với cấu tạo chính hoặc kích thước của các mô hình kinh doanh .[2]

5.1.1 Sự cân nhắc kinh tế

Al - Debei and Avison (2010) cân nhắc giá trị tài chính như là một trong các kích thước chính của mô hình kinh doanh mà mô tả các thông tin liên quan đến chi phí, phương pháp định giá, cấu trúc doanh thu Stewart and Zhao (2000) đã định nghĩa mô hình kinh doanh như

là một nhận đinh của lmaf thế nào một công ty có thể kiếm tiền và chấp nhận dòng chảy lợi nhuận của nó qua thời gian.[36]

5.1.2 Sự cân nhắc thành phần

Osterwalder et al (2005) cân nhắc mô hình kinh doanh như là kế hoạch chi tiết mà bằng cách nào một công

ty thực hiện việc kinh doanh.[37]Slywotzky (1996) đề

Trang 4

cập mô hình kinh doanh như là tổng của việc làm thế

nào mà một công ty thu thập các khách hàng, xác định

và tạo sự khác biệt các sản phẩm đưa ra, xác định các

nhiệm vụ mà họ cần thể hiện và họ sẽ thuê ngoài, cấu

hình tài nguyên, đi tới thị trường, tạo ra các tiện ích

cho khách hàng và nắm bắt lợi nhuận”[38]

5.1.3 Kết quả chiến lược

Mayo and Brown (1999) xem mô hình kinh doanh như

là “một thiết kế của hệ thống chính phụ thuộc lẫn nhau

mà tạo ra và chịu đựng các công ty cạnh tranh "[39]

sự phát triển của mô hình kinh

doanh

Zo and Amit (2009) xem xét thiết kế mô hình kinh

doanh từ quan điểm của chủ đề thiết kế và nội dung

thiết kế Chủ đề thiết kế đề cập tới động lực điều khiển

tạo ra giá trị chi phối hệ thống và nội dung thiết kế

kiểm tra các chi tiết lớn hơn, các hoạt động cần được

thể hiện, sự kết nối và trình tự các hoạt động và ai sẽ

thể hiện các hoạt động .[40]

hình kinh doanh

Environment

Environment-Strategy-Structure-Operations (ESSO) Business Model Development

(copyright: Dr Michael Lim 2010)

Operations

Strategy

PESTEL and Opportunities and Threats

- How do they affect us and our Customers, Competitors & Suppliers

Structure

•Hierarchy

•Community (flat)

•Mixed

•Key activities

•Key resources

•Key competitors

•Key suppliers and partners

•Key customers- segment, channel

(e.g direct, franchise)

•Cost and Revenue

Knowledge Management

•Knowledge in people’s heads

•Documents, Databases and Resource Planning Programs

•Strategy, Structure and Operations

Operational Competitive priorities

•Cost

•Quality

•Time

•Flexibility

•Innovation

•Affective

Market opportunities Competitive advantage Resource based view Market access e.g government contracts Customer base– broad or narrow/ focused/ niche

Design Copyright: Dr Michael Lim (2010)

Lim, M 2010 Environment-Strategy-Structure-Operations (ESSO) Business Model Knowledge Management Module at Bangor University, Wales Available at:

http://www.communitiesofinnovation.com/L/Dr_Michael_Lim_%20Business_Model_Knowledge_Creation_and_Innovation_Lecture%209.ppt

(last accessed 02/12/10)

Môi trường-Chiến Lược-Cấu trúc- Cấu tạo (ESSO) Sự phát

triển mô hình kinh doanh

Phát triển một khuôn khổ cho sự phát triển của

mô hình kinh doanh với sự nhất mạnh vào thiết kế

chủ đề, Lim (2010) đề xuất Môi trường-Chiến

lược-Cơ cấu-Hoạt động

(Environment-Strategy-Structure-Operations - ESSO), Sự phát triển mô hình kinh doanh

mà đưa vào tròn sự xem xét liên kết của chiến lược tổ

chức với cấu trúc, hoạt động, các yếu tố môi trường của

tổ chức trong sự đạt được lợi thế so sánh trong sj toongr

hợp chi phí, chất lượng, thời gian, sự linh động, sự cái

tiến và hiệu quả .[41]

6.2 Thiết kế nội dung nhấn mạnh của thiết

kế mô hình kinh doanh

iết kế mô hình kinh doanh bao gồm mô hình và sự

mô rả của các phần công ty:

• Giá trị cải tiến

• Phân khúc khách hàng mục tiêu

• Các kênh phân phối

• Các mối quan hệ với khách hàng

• Cấu hình giá trị

• Các chức năng chính

• Mạng liên kết hợp tác

• Cấu trúc chi phí

• Mô hình doanh thu

iết kế mô hình kinh doanh là khác biệt với mô hình kinh doanh Các mẫu cũ đề cập để xác định logic kinh doanh công ty tại mức độ chiến lược, trọng khi sau này

đề cập đến thiết kế quá trình kinh doanh tại mức độ mở rộng

Một cấu trúc thiết kế mô hình kinh doanh có thể tại điều kiện cho quá trình thiết kế và mô tả của một mô hình kinh doanh công ty

Daas et al (2012) đã phát triển một hệ thống hỗ trợ quyết định (Decision Support System - DSS) cho thiết

kế mô hình kinh doanh Trong nghiên cứu của họ, hệ thống hỗ trợ quyết định (DSS) đã được phát triển đề giúp đỡSaaStrong quá trình đó, dựa trên một thiết kê tiếp cận bao gồm một quá trình thiết kế mà được hướng dẫn bởi các phương pháp thiết kế đa dạng.[42]

7 Các ví dụ của mô hình kinh doanh

Trong lịch sử đời đầu của mô hình kinh doanh, các kiểu loại mô hình kinh doanh đã được định nghĩa như là nền móng hoặc người môi giới Tuy nhiên, các kiểu loại hình nay thường mô tả chỉ một khía cạnh của kinh doanh (thường là mô hình doanh thu) Tuy nhiên, những hiểu biết gần đây về các mô hình kinh doanh lại tập trung mô tả một mô hình kinh doanh như là khối toàn diện, thay vì chỉ một vài khía cạnh đặc trưng Các ví dụ dưới đây cung cấp một cái nhìn tổng quát cho nhiều loại hình mô hình kinh doanh trong sự trao đổi

kể từ sự phát minh ra cụm từ: mô hình kinh doanh

• Mô hình kinh doanh kết hợp truyền thống và điện

tử (Bricks and clicks business model)

Trang 5

Mô hình kinh doanh mà một công ty liên

quan tới sự hiện diện của trực tuyến (online

-clicks) và truyền thống (offline - bricks) Một

ví dụ của mô hình Bricks and Clicks là khi

một chuỗi các cửa hàng cho phép người dùng

gọi đồ ăn trực tuyến, nhưng để họ chọn món

tại cửa hàng địa phương

• Mô hình kinh doanh tập thể (Collective Business

Models)

Hệ thống, tổ chức và liên đoàn thường sáng

tác liên quan đến một số lượng lớn các công

ty kinh doanh, người giao dịch hoặc chuyên

gia trong cùng một lĩnh vực hoặc liên quan

tới cùng một lĩnh vực của sự cô gắng, mà các

nguồn, chia sẻ thông tin hoặc cung cấp các

lợi ích khác cho các thành viên Ví dụ, một

công viên khoa học hoặc trại hè công nghệ

cung cấp một nguồn dữ liệu chia sẻ (ví dụ:

phòng sạch sẽ và các thiết bị thí nghiệm) để

các bên đạt vị trí tại cơ sở của nó, và tìm kiếm

thêm để tạo nên một cộng đồng tiến bộ giữa

các công ty và nhân viên của họ [43]

• Mô hình cắt giảm trung gian (Cuing out the

middleman model)

Việc cắt giảm trong một chuỗi cung: “cắt

giảm trung gian” ay vì đi qua các kênh

phân phối truyền thống, mà có một vài kiểu

trung gian (như là nhà phân phối, nhà đại lý,

nhà môi giới hoặc đại ly), các công ty có thể

trao đổi trực tiếp với mỗi khách hàng hoặc

thông qua Internet

• Mô hình bán hàng trưc tiếp (Direct Sales Model)

Bán hàng trực tiếp là tiếp thị và bán các sản

phẩm tới khách hàng trực tiếp, tránh xa các

đai lý cố đinh tại địa phương Việc bán hàng

được tạo ra thông qua kế hoạch các bên, các

buổi thương thuyết một - một và các hiệp

định liên hệ cá nhân Một quyển sách có định

nghĩa là “ Các bài thuyết trình cá nhân trực

tiếp, buổi thương thuyết và bán hàng các sản

phẩm và dịch vụ tới các khách hàng, thường

trong nhà của họ hoặc công việc của họ "[44]

• Mô hình kinh doanh phân phối (Distribution

business models): đa dạng

• Giá trị gia tăng đại lý bán lẻ (Value - Added

Reseller)

Gia trị gia tăng đại lý bản lẻ là một mô hình

mà một doanh nghiệp làm ra một vài thứ mà

được bán bởi một doanh nghiệp khác nhưng với sự thay đổi là có giá trị được thêm vào sản phẩm hoặc dịch vụ gốc Sự thay đổi hay thêm vào chủ yếu là ngành công nghiệp cụ thể trong tự nhiên hoặc là rất quan trọng trong phân phối Các doanh nghiệp đi theo

mô hình VAR phải phát triển mạng lưới VAR

Đó là một trong những mô hình kinh doanh tập thể mới nhất mà có thể giúp phát triển vòng tròn nhanh nhất và được thừa nhận bởi nhiều công ty công nghệ, đặc biệt là phần mềm

• Tự do ra vào (Free in, free out)

Mô hình kinh doanh mà làm việc bởi sự trao đổi một khoản phí cho một dịch vụ của khách hàng đầu tiên, trong khi đưa ra dịch vụ miễn phí cho khách hàng tiếp theo

Nhượng quyền thương mại là một mô hình

mà sử dụng mô hình kinh doanh thành công của một công ty khác Với các bên nhượng quyền, nhượng quyền thương mại là một sự sẵn có để tạo dựng nên các chuỗi cửa hàng

để phân phối hàng hoá và tránh sự đầu tư và trách nhiệm pháp lý cho một chuỗi Sự thành công của bên nhượng quyền thương mại là sự thành công của việc nhượng quyền Nhượng quyền được đề cập là có một động cơ thúc đẩy lớn hơn là một nhân viên trực tiếp bởi vì anh

ta hoặc cô ta có một cổ phần trực tiếp trong việc kinh doanh

• Mô hình kinh doanh nguồn (sourcing business model)

Một mô hình kinh doanh nguồn là một kiểu

mô hình kinh doanh mà được áp dụng cụ thể cho các mối quan hệ kinh doanh, nơi mà có nhiều hơn một bên tham gia cần làm việc với các bên khác để đạt thành công Nó là sự kết hợp của hai khái niệm: khuôn khổ hợp đồng một công ty sử dụng với nhà cung cấp của

nó (giao dich, quan hệ, dựa trên đầu tư) và

mô hình kinh tế được sử dụng (giao dịch, sản lượng hoặc dựa trên đầu ra)

• Mô hình kinh doanh Freemium (Freemium

business model)

Mô hình kinh doanh mà làm việc bằng cách

đề xuất các dịch vụ Web cơ bản, hoặc một sản phẩm kỹ thuật số cơ bản tải về, miễn phí, trong khi phải trả một khoản tiền cho một tính năng đặc biệt hoặc nâng cấp [45]

Trang 6

• Chi trả những thứ bạn có thể (Pay what you can

- PWYC) là một mô hình kinh doanh không lợi

nhuận hoặc có lợi nhuân mà nó không dựa vào giá

sản phẩm, nhưng thay vào đó yêu cầu khách hàng

phải trả những thứ mà họ cảm thấy sản phẩm hoặc

dịch vụ có giá trị với họ [46][47][48]Nó thường được

sử dụng như là một chiến thuật quảng cáo [49]

nhưng cũng là một phương pháp thông thường

trong kinh doanh Đó là một sự đang dạng trong

nền kinh tế quà tặng và trợ cấp chéo, trong đó, nó

phụ thuộc vào sự trao đổi qua lại và niềm tin để

thành công

“ Chi trả nhưng thứ bạn muốn” (Pay what you want

-PWYW) thì thỉnh thoảng được sử dụng tương tự nhưng

“ chi trả nhưng thứ bạn có thể” thì thường được định

hướng nhiều hơn để làm từ nhiện hoặc định hướng mục

đích xã hội, dựa trên khả năng có thể chi trả, trong khi “

chi trả những thứ bạn muốn” thường định hướng rộng

hơn để tổng hợp các giá trị nhận thức với sự sẵn sàng

và khả năng chi trả

Các ví dụ khác của mô hình kinh doanh là

• Mô hình kinh doanh đấu giá (Auction business

model)

• Mô hình kinh doanh tất cả trong một (All-in-one

business model)

• Cho thuê hoá học (Chemical Leasing)

• Mô hình kinh doanh chi phí thấp (Low-cost carrier

business model)

• Mô hình kinh doanh trung thành (Loyalty

business models)

• Mô hình kinh doanh độc quyền (Monopolistic

business model)

• Mô hình kinh doanh tiếp thị đa cấp (Monopolistic

business model)

• Mô hình kinh doanh hiệu quả mạng lưới (Network

effects business model)

auction business model)

• Mô hình kinh doanh nội dung trực tuyến (Online

content business model)

• Mô hình kinh doanh hợp tác truyền thông trực

tuyến (Online media cooperative)

• Mô hình kinh doanh bảo hiểm (Premium business

model)

• Mô hình nguồn mở chuyên gia (Professional

open-source model)

• Mô hình kinh doanh hình tháp ảo (Pyramid

scheme business model)

• Mô hình kinh doanh lưỡi dao và dao cạo (Razor

and blades business model)

• Mô hình kinh doanh sản phẩm cổ phần hoá

(Servitization of products business model)

• Mô hình kinh doanh đăng ký (Subscription

business model)

8 Khuôn khổ mô hình kinh doanh

Công nghệ cộng đồng làm trung tâm đã xác định

“khung” cho mô hình kinh doanh Những khuôn khổ

cố gắng để xác định một cách tiếp cận nghiêm ngặt để xác định dòng giá trị kinh doanh Nó không phải là rõ ràng, tuy nhiên, đến mức độ nào khuôn khổ như vậy

là thực sự quan trọng đối với việc lập kế hoạch kinh doanh khuôn khổ mô hình kinh doanh đại diện cho khía cạnh cốt lõi của bất kỳ công ty; chúng liên quan đến “tổng thể về cách thức một công ty chọn những khách hàng định nghĩa và phân biệt dịch vụ của nó, xác định nhiệm vụ nó sẽ thực hiện bản thân và những người đó sẽ thuê ngoài, cấu hình tài nguyên của nó,

đi vào thị trường, tạo ra tiện ích cho khách hàng, và nắm bắt lợi nhuận.[50]Một khuôn khổ kinh doanh liên quan đến các yếu tố nội bộ (phân tích thị trường, các sản phẩm / dịch vụ xúc tiến, phát triển sự tin tưởng; ảnh hưởng xã hội và chia sẻ kiến thức) và các yếu tố bên ngoài (đối thủ cạnh tranh và các khía cạnh công nghệ).[51]Một định nghĩa nghệ thuật xem xét trên các khuôn khổ mô hình kinh doanh có thể được tìm thấy trong Krumeich et al (2012).[52]Trong phần tiếp theo một số khuôn khổ được giới thiệu

• Mô hình tham chiếu kinh doanh

Mô hình tham chiếu kinh doanh là một mô hình tham chiếu, tập trung vào các khía cạnh kiến trúc của kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ hoặc cơ quan chính phủ

• Mô hình kinh doanh linh kiện

Kỹ thuật được phát triển bởi IBM để mô hình

và phân tích một doanh nghiệp Nó là một đại diện hợp lý hoặc bản đồ của các thành phần kinh doanh hay “khối xây dựng” và có thể được mô tả trên một trang duy nhất Nó có thể được sử dụng để phân tích sự liên kết của chiến lược doanh nghiệp với khả năng và các khoản đầu tư của tổ chức, xác định khả năng kinh doanh cần thiết hoặc chồng chéo, vv

• Công nghiệp hóa của mô hình kinh doanh dịch vụ

Trang 7

Although Webvan failed in its goal of disintermediating the

North American supermarket industry, several supermarket

chains (like Safeway Inc.) have launched their own delivery

services to target the niche market to which Webvan catered.

Mô hình kinh doanh được sử dụng trong

chiến lược quản lý và tiếp thị dịch vụ mà đối

xử với cung cấp dịch vụ như là một quá trình

công nghiệp, làm thủ tục tối ưu hóa công

nghiệp

• Mô hình kinh doanh Canvas

Phát triển bởi A Osterwalder, Yves Pigneur,

Alan Smith, và 470 học viên đến từ 45 quốc

gia, mô hình kinh doanh vải [3][53] llà một

trong những khuôn khổ sử dụng nhiều nhất

để mô tả các yếu tố của mô hình kinh doanh

á trình thiết kế mô hình kinh doanh là một phần của

chiến lược kinh doanh iết kế mô hình kinh doanh và

sự cải tiến đề cập đến cách một doanh nghiệp (hoặc một

mạng lưới các công ty) định nghĩa logic kinh doanh của

mình tại cấp chiến lược

Ngược lại, các doanh nghiệp thực hiện các mô hình

kinh doanh của họ ở cấp độ hoạt động, thông qua các

hoạt động kinh doanh của họ Đây là hoạt động quá

trình cấp, khả năng, chức năng và cơ sở hạ tầng (ví

dụ, quy trình kinh doanh của họ và mô hình hóa quy

trình kinh doanh), cơ cấu tổ chức của họ (ví dụ như

organigrams, công việc, nguồn nhân lực) và hệ thống

(ví dụ như kiến trúc công nghệ thông tin, dây chuyền

sản xuất)

Do đó, một mô hình kinh doanh hoạt động khả thi và

khả thi đòi hỏi sự liên kết ngang với các hoạt động kinh

doanh cơ bản .[54]

Các thương hiệu là một hệ quả của mô hình kinh doanh

và có một mối quan hệ cộng sinh với nó, bởi vì các mô

hình doanh nghiệp xác định lời hứa thương hiệu, và vốn chủ sở hữu thương hiệu trở thành một tính năng của mô hình ản lý này là một nhiệm vụ của tiếp thị tích hợp

Các thuật ngữ chuẩn và ví dụ về mô hình kinh doanh không áp dụng cho hầu hết các tổ chức phi lợi nhuận, bởi vì các nguồn thu nhập của họ thường không giống như những người hưởng lợi Các mô hình kinh phí hạn thường được sử dụng thay [55]

Mô hình này được xác định bởi các tổ chức tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị, cũng như bộ ranh giới cho các tổ chức, những sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ cung cấp, khách hàng những gì hay thị trường nó sẽ nhắm mục tiêu, và những

gì cung cấp và phân kênh nó sẽ sử dụng Trong khi mô hình kinh doanh bao gồm các chiến lược cấp cao và hướng chiến thuật để làm thế nào tổ chức sẽ thực hiện các mô hình, nó cũng bao gồm các mục tiêu hàng năm

mà thiết lập các bước cụ thể tổ chức dự định sẽ thực hiện trong năm tới và các biện pháp để hoàn thành dự kiến của họ Mỗi trong số này là có thể sẽ là một phần của tài liệu nội bộ có sẵn cho các kiểm toán viên nội bộ

10 Tìm đọc thêm

11 Tham khảo

for the documentation of strategic goals and objectives [2] Al-Debei, M M., & Avison, D (2010)

[3] Business Model Generation, Alexander Osterwalder,

Yves Pigneur, Alan Smith, and 470 practitioners from

45 countries, self published, 2010 [4] George,G and Bock AJ 2011

[5] George,G and Bock AJ 2012

[6] Baden-Fuller, Charles; Mary S Morgan (2010)

“Business Models as Models” Long Rang Planning 43

(2/3): 156–171

[7] Unpacking Sourcing Business Models: 21st Century Solutions for Sourcing Services, e University of Tennessee, 2014

[8] Karl M Popp and Ralf Meyer (2010) Profit from Soware Ecosystems: Business Models, Ecosystems and Partnerships in the Soware Industry Norderstedt,

[9] Hummel, E., G Slowinski, S Mahews, and E Gilmont 2010

Trang 8

[10] Vitasek, Kate.

[11] Pedersen, Kristian Bonde; Svarre, Kristoffer Rose;

[12] Henning, Dietmar (ngày 11 tháng 2 năm 2012)

Socialist Web Site International Commiee of the

Fourth International (ICFI) Truy cập ngày 24 tháng

2 năm 2015 e “liquid” model now being pursued

is not limited to IBM […] It is no accident that

IBM is looking to Germany as the country to pilot

this model Since the Hartz welfare and labour

“reforms” of the former Social Democratic Party-Green

government (1998-2005), Germany is at the forefront

in developing forms of precarious employment […]

e IBM model globalises the so-called employment

contract, increasingly replacing agency working as the

preferred form of low-wage labour Companies assign

key tasks to subcontractors, paying only for each

project

[13] Why Business Models fail: Pipes vs.

[14] What Twier knows that Blackberry didn't, Choudary,

Van Alstyne, Parker, MarketWatch

tháng 1 năm 2013

[16] Chen, T F 2009

[17] Do Some Business Models Perform Beer than Others?,

Malone et al., May 2006

[18] International Financial Reporting Standard 9: Financial

áng 10 năm 2010 tr A312

regarding Classification and Measurement of Financial

cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

cfo.com Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

áng 12 năm 2010 Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

2013 tr 174 Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2013

[23] International Accounting Standard 12: Income Taxes.

tháng 12 năm 2010 tr A508

năm 2011

năm 2011

tr 31 Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

1 tháng 8 năm 2012 Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012

tr 30 Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2013

cập ngày 11 tháng 6 năm 2013

(PDF) HUB global insurance group Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

PricewaterhouseCoopers Summary of the Meeting”

2010 Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

the proactive project on the Role of the Business Model

Advisory Group Ngày 15 tháng 12 năm 2010 Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011

[35] Al-Debei, M M., El-Haddadeh, R., & Avison, D (2008) [36] Lee, G K and R E Cole 2003

[37] Osterwalder, A., Pigneur, Y and C L Tucci 2005 [38] Slywotzky, A J 1996

[39] Mayo, M C and G.S Brown 1999

[40] Zo, C and R Amit 2009

[41] Lim, M 2010

[42] Daas, D., Hurkmans, T., Overbeek, S and Bouwman, H 2012

[43] M van der Borgh, M Cloodt & AGL Romme (2012)

[44] Michael A Belch George E Belch Advertising and Promotion: An Integrated Marketing Communications Perspective, 7/e., McGraw-Hill/Irwin, 2006

[45] JLM de la Iglesia, JEL Gayo, "Doing business by selling free services".

[46] Gergen, Chris; Gregg Vanourek (ngày 3 tháng 12 năm

Times Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2009

Trang 9

tháng 3 năm 2009

ngày 10 tháng 3 năm 2009

tháng 3 năm 2009

[50] Slywotzky, A J (1996)

[51] Ferri Fernando, D'Andrea Alessia, Grifoni Patrizia

(2012)

[52] J Krumeich, T Burkhart, D Werth, and P Loos.

[53] e Business Model Ontology - A Proposition In A Design

Science Approach

[55] William Foster, Peter Kim, Barbara Christiansen

Trang 10

12 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh

12.1 Văn bản

AlphamaBot, TuanminhBot, Én bạc AWB, Ha Tran 3009 và 3 người vô danh

12.2 Hình ảnh

• Tập_tin:Environment-Strategy-Structure-Operations_(ESSO)_Business_Model_as_designed_by_Dr_Michael_Lim_2010.pdf

29_Business_Model_as_designed_by_Dr_Michael_Lim_2010.pdf Giấy phép: CC BY 3.0 Người đóng góp: http://www communitiesofinnovation.com/L/Dr_Michael_Lim_%20Business_Model_Knowledge_Creation_and_Innovation_Lecture%209.ppt

Nghệ sĩ đầu tiên: Dr Michael Lim

Coolcaesar tại Wikipedia Tiếng Anh

12.3 Giấy phép nội dung

Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

Ngày đăng: 21/07/2017, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w