1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

D D MẸ MANG THANG

30 326 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dinh Dưỡng Cho Bà Mẹ Mang Thai
Tác giả Vũ Thị Anh, Võ Đăng Lân, Trương Kim Trọng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai:Mầm sống mới trong cơ thể người mẹ hoàn toàn dựa vào sự tuần hoàn máu của "bà bầu" để hấp thu oxy và các chất dinh dưỡng, từ đó hoàn thành quá trình chuyển

Trang 1

Chế độ dinh dưỡng dành cho

Trang 2

Phần I Dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai:

Mầm sống mới trong cơ thể người mẹ hoàn toàn dựa vào

sự tuần hoàn máu của "bà bầu" để hấp thu oxy và các chất dinh dưỡng, từ đó hoàn thành quá trình chuyển hóa, phát triển

Dinh dưỡng của người mẹ là dinh dưỡng của mầm sống mới, bà bầu thiếu dinh dưỡng có nghĩa là nguồn chất chuyển hóa của bào thai bị thiếu hụt, quá trình sinh trưởng, phát triển của bào thai sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Việc bồi bổ cũng phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thai nhi thì mới đạt hiệu quả cao

Thường chia làm 3 giai đoạn dinh dưỡng :

Trang 3

Ở thời kỳ đầu mang thai (giai đoạn 3 tháng đầu), thai nhi

phát triển tương đối chậm, do vậy nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng chỉ cần đáp ứng giống như trước khi mang thai, nghĩa là

đủ dinh dưỡng hợp lý cung cấp cho người mẹ cả về đạm,

đường, mỡ và các yếu tố vi lượng như khoáng chất và các

vitamin

Ở thời kỳ giữa mang thai (được 4-7 tháng): Giai đoạn

này thai nhi phát triển mạnh, do đó đòi hỏi nhu cầu về các loại chất dinh dưỡng tăng lên rất cao Nếu như không đáp ứng

lượng dinh dưỡng cần thiết sẽ xuất hiện nhiều hiện tượng khó chịu như thiếu máu, chuột rút

Trong thời kỳ này, người mẹ cần ăn nhiều các thức ăn giàu dinh dưỡng như trứng, thịt nạc, cá, đậu, sữa, rau xanh và trái

cây để tăng cường đạm, đường, các khoáng chất đặc biệt là

canxi, sắt, kẽm, iốt, axit folic, sêlen , các vitamin đặc biệt là

nhóm B, vitamin C, A, D, E ăn ít mỡ, nhưng lại cần ăn cá nhiều

Trang 4

Khi mang thai ở tuần thứ 15, mỗi ngày nên uống 2g canxi

để huyết áp luôn giữ ở mức thấp hơn trung bình trong suốt thai

kỳ

Thời kỳ cuối mang thai (được 8-9 tháng), thai nhi phát

triển nhanh hơn, song lượng dinh dưỡng cần được tích trữ trong thai nhi cũng cao nhất ở giai đoạn này Vì vậy nhu cầu về chất dinh dưỡng trong từng bữa cơm cũng rất cao, nên người mẹ

phải ăn đa dạng thức ăn giàu dinh dưỡng để bảo đảm nhu cầu phát triển nhanh chóng của thai nhi

Khi xây dựng một thực đơn cho bữa ăn đầy đủ chất cần

phải hội tụ 3 nguyên tắc:

- Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: chất đạm, chất béo, chất bột đường, các vitamin và muối khoáng, chất xơ

- Cần đủ nước cho cơ thể để chuyển hóa các chất thông qua các phản ứng sinh hóa trong cơ thể, giải phóng năng lượng,

thực hiện quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể, đào thải các cặn bã, chất độc trong cơ thể qua đường niệu, mồ hôi, hơi

thở , điều hòa thân nhiệt, tuần hoàn huyết dịch Vì vậy, nước chiếm hầu hết trong cơ thể và các tế bào kể cả tế bào xương, thần kinh

Trang 5

- Thực phẩm phải an toàn : Thịt, cá, hải sản, trái cây phải

tươi sống, thực phẩm chế biến sẵn như sữa chua, xúc xích,

ruốc bảo đảm không có hóa chất, biến đổi gen Các loại rau

quả khi chế biến không làm nhàu nát để khi rửa không làm mất các vitamin tan trong nước như nhóm B, C, PP, acid folic Thay đổi thực đơn thích hợp để vừa đủ chất lại ngon miệng, kích thích

ăn uống

Thực phẩm nên tránh

Các loại động vật có vỏ như trai, sò, vẹm, cua, hến và tôm

v.v Trong thời gian mang thai tuyệt đối không nên ăn gỏi cá

Tránh ăn một số loại thực phẩm khác như patê, khoai lên mầm, cafein, rượu, trứng sống, trứng chế biến chưa chín, thịt

súc vật sống, phó mát xanh, cá biển sống sâu dưới lòng đại

dương như cá mập, cá kiếm, cá ngừ

Trang 6

Thực phẩm nên ăn

Các loại hạt tươi sống như quả hồ đào, hạt điều, đậu, đỗ,

vừng v.v đây là những nguồn thực phẩm có chứa hàm lượng các dưỡng chất cao Tuy nhiên đây cũng là nguồn thực phẩm

giàu mỡ, nhưng các chất mỡ này lại có tác dụng rất tốt cho việc phát triển trí não và thần kinh của trẻ sơ sinh Trong số những loại thực phẩm dạng hạt này, các loại hạt tươi sống được xem là tốt nhất

Chuối: Theo rất nhiều nghiên cứu khoa học thì chuối là thực

phẩm rất bổ dưỡng cho con người Nếu phụ nữ mang thai ăn

nhiều chuối sẽ có tác dụng tốt cho việc giảm thiểu hiện tượng co thắt, nhất là ở phụ nữ cao tuổi Lý do là chuối có chứa nhiều

magiê khoáng, có tác dụng làm thư giãn cơ bắp, kích hoạt quá trình co bóp trong khi trở dạ sinh con bằng cách giảm căng dạ con và tạo năng lượng cho quá trình sinh đẻ Ăn nhiều chuối

kèm với một nhóm hạt điều hay đậu, đỗ có thể làm cân bằng

lượng đường trong máu, duy trì sức khỏe dẻo dai và không bị mệt

Trang 7

Thực phẩm giàu vitamin B: Vitamin B, kể cả axit folic là

những dưỡng chất vô cùng cần thiết để giúp cơ thể tạo ra tế bào máu, giúp não trẻ phát triển tốt, cân bằng năng lượng trong cơ thể người mẹ Những nguồn thực phẩm giàu vitamin B như các loại thực phẩm dạng hạt nguyên, kể cả gạo, mì, kê, ngũ cốc, lạc, vừng, đậu đỗ, rau lá xanh thẫm, chuối, lê, thịt gà, cá hồi, sữa

Trứng: Theo một số nghiên cứu thì ăn lòng đỏ trứng gà

trong giai đoạn mang thai có thể làm tăng trí thông minh cho đứa trẻ trong tương lai, lý do là lòng đỏ trứng gà có chứa một loại

mỡ rất quan trọng làm tăng trí thông minh và trí nhớ của trẻ Tuy nhiên, không nên lạm dụng quá nhiều mà chỉ nên ăn không quá

5 quả/tuần

Trang 8

Một khẩu phần hợp lý với người có thai trong 6 tháng cuối phải bảo đảm mỗi ngày được cung cấp 2.550 Kcalo (bình thường 2.200 Kcalo), 1,5-2g protein/kg, 0,7-1g lipid (mỡ và dầu)/kg, 6-7 glucid/kg; có đủ vitamin, chất khoáng

và vi chất Với những gia đình kinh tế eo hẹp, cũng phải

cố gắng dành ưu tiên cho người mẹ trong 3 tháng cuối của thai kỳ sao cho mỗi ngày được bổ sung thêm 350

Kcalo, 15g protein, 0,2mg vitamin B1, 0,2mg vitamin B2, 2,3mg vitamin PP; bảo đảm cung cấp 30mg vitamin C,

750 microgam vitamin A, 10 đơn vị vitamin D, 1-1,2g

canxi, 14-28mg sắt

Trang 9

Rau quả là nguồn chủ yếu cung cấp cho cơ thể vitamin, chất khoáng và vi chất dinh dưỡng Lượng vitamin C trong rau

muống tính theo mg là 20; rau ngót 143, rau dền: 26; lượng

caroten trong cà chua: 1,90, cà rốt 0,85-7,65, gấc 18,3, hành lá: 4,80, rau dền 1,44, rau muống 2,50, rau thơm 2,80, đu đủ chín 1,30, muỗm 3,05

Trong suốt thai kỳ, người mẹ cần tăng 10-12kg Trong đó,

ba tháng đầu tăng 1kg, ba tháng giữa tăng 4-5kg và ba tháng

Trang 10

Nhóm thực phẩm 4 tháng đầu 5 tháng cuối Mẹ cho con bú

Nhóm ngũ cốc, khoai 1 lon ½ 1 lon ¾ 1 lon ½

Nhóm rau lá xanh và rau khác: 350 - 400g 400 - 450g 300 - 400g

Nên ăn 1/2 dưới dạng nước ép tươi, 1/2 dưới dạng xào, luộc, hoặc trong canh

Rau lá càng xanh đậm, rau trái, củ càng đậm màu sắc xanh, đỏ, vàng, cam càng giàu vitamin

Nhóm nước mắm, nước chấm 1,5 - 2 muỗng 2 - 3 muỗng 1 - 1,5 muỗng

Nhóm trái cây tráng miệng: 2 trái chuối 3 trái chuối 2 - 3 trái

Có thể thay thế chuối = 300-350g đu đủ

= 2 trái cam hay quýt

= 2 trái vú sữa

= 1/2 trái bưởi

Trang 11

Phần II

I.Sữa mẹ được tạo ra như thế nào ?

Sữa được tạo ra nhờ 2 chất trong cơ thể mẹ: prolactin và

oxytoxin

1 Prolactin - chất kích thích tạo sữa

Prolactin là một chất do não của mẹ tiết ra khi bé mút vú

mẹ Chất này có tác dụng kích thích tạo sữa Do vậy, bé

càng mút vú, mẹ sẽ càng tạo nhiều sữa và không cần phải

bỏ cữ bú nào của trẻ với ý định để dành sữa cho bữa bú

sau Nếu bà mẹ không cho bé bú hoặc bú ít thì vú sẽ giảm và ngưng tiết sữa

Khi bé không bú hết, lượng sữa tồn đọng trong vú sẽ là chất ức chế, ngăn cản sự tạo sữa Vì vậy, mẹ phải vắt hết sữa bằng tay hoặc bằng bơm để giúp sữa tiếp tục được tạo ra

Prolactin được tiết ra nhiều về đêm, nên cho bú đêm nếu

bé đòi bú

Trang 12

2. Oxytoxin - chất kích thích sữa trong vú được

sự gắn bó tình cảm với trẻ và cho trẻ bú sớm Việc cho trẻ bú

sớm còn giúp cho dạ con (tử cung) co hồi tốt và làm ngưng chảy máu sau khi sinh

Trang 13

3 Quá trình xuống sữa

Sau khi sinh, vú mẹ tiết ra một ít sữa non có màu vàng nhạt

và sánh Sau đó, mẹ sẽ cảm thấy hai vú căng đầy, gọi là xuống sữa Sự xuống sữa sẽ xảy ra nhanh nếu bé được cho bú ngay sau khi sinh Thời gian tiếp theo, mẹ có cảm giác bầu vú ít căng hơn, nhưng sữa vẫn đang tiếp tục được sản xuất và đủ cho bé ít nhất từ 4 đến 6 tháng tuổi

Trang 14

II Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ:

Sữa mẹ luôn là thức ăn tốt nhất cho bé, ngay cả khi mẹ bị bệnh, có thai, có kinh hay gầy ốm Sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng mà trẻ cần trong khoảng thời gian 4-6 tháng tuổi

 Chất đạm và chất béo trong sữa mẹ dễ tiêu hóa và

dễ hấp thụ, có men lypase giúp tiêu hóa chất mỡ

 Đường lactose trong sữa mẹ nhiều hơn các loại sữa khác Đó là chất thiết yếu cho cơ thể đang phát triển của bé

 Chất sắt trong sữa mẹ dễ hấp thu nên bé bú mẹ sẽ

không bị thiếu máu do thiếu sắt

 Sữa mẹ có đầy đủ các loại vitamin và lượng nước cần thiết cho bé ngay cả khi thời tiết nóng Nếu bé được bú mẹ hoàn toàn, không cần bổ sung thêm nước, vitamin hoặc nước trái cây trong vòng 4 tháng đầu

Trang 15

 Sữa mẹ chứa đủ lượng canxi và phốt phát, giúp bé

phát triển tốt

 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não tối ưu Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ đạt chỉ số phát triển trí tuệ MDI = 108

 Sữa mẹ giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.

 Tiện lợi và tiết kiệm: Sữa mẹ có sẵn và ít tốn kém

hơn nuôi con bằng sản phẩm thay thế

 Gắn bó tình cảm giữa mẹ và con

 Giúp mẹ co hồi tử cung sớm sau khi sinh

 Vóc dáng người mẹ nhanh chóng trở về bình thường

 Giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư buồng trứng ở

mẹ

 Giảm khả năng thụ thai trở lại của người mẹ

Trang 16

III Những thay đổi của sữa mẹ:

1 Sữa non:

Là sữa đầu tiên được tạo ra từ vú Vú bắt đầu tạo sữa non (đặc, dính, vàng hay trắng) vào tuần thứ 16 của thời kỳ mang thai Vì sữa non có rất ít nên một số bạn lần đầu tiên làm mẹ

nghĩ rằng mình “không có sữa” Sữa non tuy ít nhưng lại rất bổ

Đó là thức ăn lý tưởng cho bé sơ sinh vì:

Sữa non có chứa một lượng lớn kháng thể giúp bảo vệ bé chống lại bệnh tật trong những tháng đầu tiên

Sữa non là nguồn dinh dưỡng rất đậm đặc, chứa nhiều protein và muối khoáng

Chỉ có một lượng ít sữa non nên bé sơ sinh thực tập bú mẹ

dễ dàng hơn: Mút, nuốt và thở cùng lúc một cách nhịp nhàng Khi bé quen dần động tác bú, cơ thể bạn sẽ tiết sữa nhiều hơn

để đáp ứng nhu cầu của bé.

Trang 17

Sữa non có nhiều chất bảo vệ cơ thể, giúp bé chống nhiễm khuẩn và dị ứng

Trang 18

2 Sữa trung gian:

Thành phần bắt đầu ổn định, lượng đạm giảm, đường lactose, chất béo và năng lượng gia tăng

protein, lactose, vitamin, chất khoáng và nước

Sữa cuối: Là sữa ở cuối cữ bú, có màu trắng đục vì chứa nhiều chất béo

Cần cho bé bú hết một bên vú rồi mới chuyển sang vú khác

để nhận được chất béo có nhiều năng lượng, giúp bé tăng cân tốt

Bé bú mẹ ít bị tiêu chảy, ít bị nhiễm khuẩn đường hô hấp như viêm họng, viêm phổi

Trang 19

IV Chế độ ăn của mẹ :

Khi cho con bú, nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng cho mẹ cao hơn cả khi mang thai

Người mẹ cần ăn uống đầy đủ và cân đối, không nên kiêng khem quá mức Mỗi ngày bạn cần ăn nhiều thức ăn từ mỗi

nhóm sau:

+ Thịt, cá, gà, trứng, bơ … + Các loại hạt, đậu

+ Trái cây và nước quả

+ Rau cải xanh và rau quả có màu vàng

+ Bánh mì, ngũ cốc, gạo, mì nui

+ Sữa và phô mai

Những điều cần tránh:

+ Cà phê, thuốc lá, rượu bia

+ Thức ăn nhiều gia vị như ớt, hành, tỏi, tiêu …+ Không lao động quá mức

Trang 20

1 Cố gắng ăn những thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng

Bạn nên kềm chế cơn thèm với những thứ trước đây bạn thích nhưng có chứa ít hàm lượng calo nhé

2 Cân bằng chế độ dinh dưỡng hàng ngày với lượng

protein, chất béo, cacbonhydrate vừa đủ

3 Mỗi ngày cung cấp thêm hàm lượng calo, không quá

500g

4 Uống nhiều nước vì khi cho con bú cơ thể sẽ bị thiếu

nước Trước mỗi lần cho con bú, nên uống một cốc nước, tuyệt đối tránh dùng cà phê hay các thức uống khác như: bia, rượu, trà…Nên uống 8 cốc nước mỗi ngày

5 Nếu bạn nghiện hoặc thèm rượu hoặc uống vì bất kỳ lý

do gì thì chỉ uống khi đảm bảo không cho con bú sau đó một vài giờ, và không uống quá 1 hoặc 2 cốc/ngày

Trang 21

6 Trong chế độ ăn uống hàng ngày nên chú ý tới lượng calci và sắt Để giúp cho cơ thể bạn hấp thụ chất sắt tốt hơn, kết hợp thực phẩm giàu chất sắt với thực phẩm chứa vitamin C

7 Vẫn tiếp tục duy trì “nạp” lượng vitamin giống như trước khi sinh Dành chút thời gian phơi nắng hàng ngày để làm tăng

lượng vitamin D trong cơ thể bạn

mà bạn đang thực hiện chế độ ăn chay thì nên tìm cách cung cấp đủ các dưỡng chất, vitamin cần thiết

Nếu như trẻ hay khóc hoặc đau bụng thì có lẽ trẻ rất nhạy cảm với chế độ ăn uống của bạn đấy (đặc biệt trong gia đình bạn có “tiền sử” bị dị ứng thức ăn) Thủ phạm có thể là các thực phẩm chế biến từ sữa, cà phê, thực phẩm có chứa chất acid và

Trang 22

Trong suốt thời kỳ mang thai, mẹ cần tăng từ 10 đến 12 kg, (trong đó, 3 tháng đầu tăng 1-2 kg, 3 tháng giữa tăng 4-5 kg, 3 tháng cuối tăng 5-6 kg)

Trong ba bữa ăn chính hằng ngày, mỗi bữa nên ăn thêm 1 bát cơm Ăn thêm 1-2 bữa phụ như củ khoai, bắp ngô, trái chuối, bánh giò, quả trứng hay ly sữa Ưu tiên các thực phẩm có nhiều canxi, phốt pho như sữa, thịt, cá, tôm, cua, rau xanh (để giúp cho sự tạo xương của thai nhi) và có nhiều đạm, chất sắt như gan, thịt, cá, trứng, sữa, lạc, vừng, đậu đỗ (để phòng thiếu

máu)

Nên ăn các thực phẩm có nhiều đạm và giàu tiền sinh tố A

Đó là các loại rau màu xanh đậm và màu đỏ như rau ngót, rau muống, rau lang, xà lách, mùng tơi, rau dền; các loại quả chín có màu vàng cam như chuối, đu đủ, cam, xoài

Trang 23

V Một số món ăn tăng tiết sữa:

1 Canh móng giò, hoàng kỳ: Móng giò 500 g, hoàng kỳ 30

g, đương quy 15 g, thông thảo 4 g Tất cả cho vào nồi hầm nhừ, cho thêm ít rượu và mấy lát gừng nấu thêm chút nữa là ăn

được, ăn hết cả nước lẫn cái Ăn trong 5-7 ngày

2 Sườn lợn hầm sơn giáp : Sườn lợn 500 g, xuyên sơn

giáp 10 g, hoàng kỳ 30 g Tất cả nấu cùng đến nhừ, thêm chút rượu vào, ăn thịt uống canh Cần ăn 4-5 ngày

3 Thịt cừu hầm đương quy : Thịt cừu 500 g, đương quy

20 g, cho cả vào hầm nhừ, sau thêm chút rượu và mấy lát gừng tươi, ăn thịt uống canh Ăn trong 4-5 ngày

4 Canh móng giò : Móng giò 1 cặp, gia vị vừa đủ, luộc chín

vớt ra, giữ nước cho mì vào, ăn mì nước với móng giò Cần ăn trong 7-10 ngày

Trang 24

5 Canh móng giò, thông thảo : Móng giò 1 chiếc, thông thảo 2 g,

cho vào cùng luộc nhừ, nêm gia vị vừa miệng, ăn thịt, uống

nước canh Mỗi ngày ăn 1 lần, cần ăn 4-6 ngày

6 Canh móng giò, lá quýt, thanh bì : Móng giò 500 g, lá quýt diệp

10 g, thanh bì 10 g, nấu chín nhừ ăn thịt uống nước canh Ăn trong 5-7 ngày

7 Canh mạch nha, cá diếc : Cá diếc sống 1 con, mạch nha 20 g,

nấu chín, nêm đủ gia vị, ăn cá uống nước canh Cần ăn 5-7

ngày

8 Canh cá diếc, thông thảo : Cá diếc sống 1 con, thông thảo 3 g,

đương quy 5 g, nấu cùng, chín ăn cá, uống nước canh Cần ăn 5-7 ngày

9 Gà mái hầm hoàng kỳ: Gà mái 1 con, hoàng kỳ 50 g, cho hầm

nhừ pha chút rượu và mấy lát gừng, ăn cái uống nước canh

Cần ăn 4-5 lần, ngày 1 lần, có thể ăn cách nhật

Trang 25

Đối với bà mẹ nuôi con bú, nǎng lượng cung cấp tỷ lệ với lượng sữa sản xuất, nhưng nói

chung, ở bà mẹ nuôi con 6 tháng đầu, nǎng

lượng cần đạt được 2750 Kcal/ngày, như vậy, nǎng lượng tǎng thêm mỗi ngày là 550 Kcal

(tương đương với 3 bát cơm mỗi ngày).

Cần cho trẻ bú sớm 30 phút sau khi sinh, cho trẻ bú hoàn toàn 4 tháng đầu, không nên cai sữa trước 12 tháng, nên cho trẻ bú đến 18-24 tháng

Trang 26

VI Mẹ cần lưu ý:

1 Không được cho con bú khi:

- Dùng thuốc trị bệnh ung thư

- Trị bệnh bằng các chất phóng xạ.

2 Nên tạm ngưng cho bú khi:

- Dùng các thuốc tâm thần hoặc thuốc chống co giật (barbiturate, diazepam) vì trẻ có thể bị lơ mơ hoặc hoạt động cơ bắp bị yếu đi

- Uống một số thuốc kháng sinh như cloramphenicol, metronidazole, tetracyclin, ciprofloxacin

Nên theo dõi vàng da ở trẻ nếu mẹ sử dụng sulfonamide, cotrimoxazone, fansidar, dapsone Mẹ không nên dùng những thuốc làm giảm tiết sữa như thuốc tránh thai có oestrogen, thuốc lợi niệu

Ngày đăng: 06/07/2013, 01:25

w