1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

DINH DƯỠNG 6-11

27 439 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dinh Dưỡng Cho Trẻ Từ 6 Đến 11 Tuổi
Trường học Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Dinh Dưỡng
Thể loại Nghiên Cứu Đề Án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 665,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của những người làm dinh dưỡng ở nước ta là phải xây dựng đượcbữa ǎn cân đối hợp lý, giải quyết tốt vấn đề an toàn lương thực thực phẩm,sớm thanh toán bệnh suy dinh dưỡng protei

Trang 1

I.Tổng quan:

I.1 Những quan niệm trước đây về khoa học dinh dưỡng

I.2 Những vấn đề lớn về dinh dưỡng hiện nay

II Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi

II.1 Đặc điểm và vai trò của việc dinh dưỡng hợp lý cho trẻ tiểu học

II.1.1 Đặc điểm

II.1.2 Vai trò của bữa ăn cân đối

II.3 Đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho trẻ ở độ tuổi tiểu học

II.3.1 Các chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ

II.3.2 Các thực phẩm liên quan được sử dụng trong thực đơn

II.4 Một số hội chứng,bệnh ở lứa tuổi này và biện pháp phòng chống II.4.1 Hội chứng chán ăn

II.4.2 Béo phì

II.4.3 Suy dinh dưỡng

II.5 Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ

II.6 Xây dựng thực đơn cho trẻ

III Kết luận và kiển nghị:

IV Tài Liệu Tham Khảo

Trang 2

I Tổng quan :

I.1 Những quan niệm trước đây về khoa học dinh dưỡng:

Từ trước công nguyên các nhà y học đã nói tới ǎnuống và cho ǎn uống là một phương tiện để chữabệnh và giữ gìn sức khỏe Hypocrát (460-377)trước công nguyên đã chỉ ra vai trò của thức ǎn làbảo vệ sức khỏe và khuyên chúng ta cần phải chú ýtùy theo tuổi tác, thời tiết, công việc mà nên ǎnnhiều hay ít, ǎn một lúc hay rải ra nhiều lần

Hypocrat nhấn mạnh về vai trò của thức ǎn trongđiều trị Ông viết "Thức ǎn cho bệnh nhân phải làmột phương tiện điều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải códinh dưỡng".Và ông cũng nhận xét "Hạn chế và ǎn thiếu chất bổ rất nguyhiểm đối với người mắc bệnh mạn tính"

Ở nước ta Tuệ Tĩ nh thế kỉ thứ XIV trong sách "Nam dược thần hiệu" đã đềcập nhiều đến tính chất chữa bệnh của thức ǎn và có những lời khuyên ǎnuống trong một số bệnh và ông đã phân biệt ra thức ǎn hàn nhiệt

Hải Thượng Lãng Ông cũng là một danh y Việt Nam thế kỉ XVIII cũng rất

chú ý tới việc ǎn uống của người bệnh Ông viết Có thuốc mà thông có ǎn

uống thì cũng đi đến chỗ chết Đối với người nghèo không những ông thǎm

bệnh, cho thuốc không lấy tiền mà còn trợ giúp cá gạo và thực phẩm cần

thiết cho người bệnh Đặc biệt trong cuốn Nữ Công Thắng Lãm còn ghi cả

200 món ǎn

I.2 Những vấn đề lớn về dinh dưỡng hiện nay:

Về mặt dinh dưỡng thì thế giới hiện nay đang sống ở hai thái cực trái ngượcnhau cũng như bên bờ vực thẳm của sự thiếu ǎn, hoặc bên bờ vực thẳm của

sự thừa ǎn

Trên thế giới hiện nay vẫn còn gần 780 triệu người của các nước đang pháttriển không có đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cơbản hàng ngày và có tới 192 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng protein

Phần lớn nhân dân các nước đang phát triển bị thiếu vi chất; 40 triệu trẻ em

bị thiếu vitamin A gây khô mắt và có thể dẫn tới mù lòa Trong đó có 200triệu người bị bướu cổ, 26 triệu người bị thiểu trí và rối loạn thần kinh và 6triệu bị đần độn Tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2,5 kg ở các nước pháttriển là 6% trong khi ở các nước đang phát triển lên tới 19% Tỷ lệ tử vong

Trang 3

có liên quan nhiều đến suy dinh dưỡng như ở các nước phát triển chiếmkhoảng 2%, trong khi đó ở các nước đang phát triển là 12% và các nướckém phát triển thì tỷ lệ này lên tới 20% (Tỷ lệ này được tính với 100 trẻ sinh

ra sống trong nǎm)

Theo ước tính của FAO thì sản lượng lương thực trên thế giới có đủ để đảmbảo nhu cầu nǎng lượng cho toàn thể nhân loại Nhưng vào những nǎm cuốicủa thập kỷ 80 thì chỉ có khoảng 60% dân số thế giới được đảm bảo trên

2600 Kcal/người/ngày và vẫn còn 11 quốc gia có mức ǎn quá thấp dưới

2000 Kcalo/người/ngày

Hậu quả của nạn thiếu ǎn về mặt kinh tế rất lớn Theo cuốn sách "Giá trịcuộc sống", nếu một người chết trước 15 tuổi thì xã hội hoàn toàn lỗ vốn,nếu có công việc làm ǎn đều đặn thì một người phải sống đến 40 tuổi mới trả

xong hết các khoản nợ đời, phải lao động và sống ngoài 40 tuổi mới làm lãi

cho xã hội

Ghosh cũng đã tính là ở ấn Độ, 22% thu nhập quốc dân đã bị hao phí vàođầu tư không hiệu quả, nghĩa là để nuôi dưỡng những đứa trẻ chết trước 15tuổi

Thiếu ǎn, thiếu vệ sinh là cơ sở cho các bệnh phát triển Ở Châu Phi mỗinǎm có 1 triệu trẻ em dưới 1 tuổi chết vì sốt rét Trực tiếp hay gián tiếp trẻ

em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị chết do nguyên nhân thiếu ǎnchiếm tới 50% Ziegler nghiên cứu về tai họa của nạn thiếu ǎn, đặc biệt làchâu Phi đã đi đến kết luận "Thế giới mà chúng ta đang sống là một trại tậptrung hủy diệt lớn vì mỗi ngày ở đó có 12 nghìn người chết đói" Ngược lạivới tình trạng trên ở các nước công nghiệp phát triển lại đứng bên bờ vựcthẳm của sự thừa ǎn, nổi lên sự chênh lệch quá đáng so với các nước đangphát triển

Ví dụ: Mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người hàng ngày ở các nước đang

phát triển là 53 gam thì ở Mỹ là 248 gam Mức tiêu thụ sữa ở Viễn Đông là51gam sữa tươi thì ở châu âu là 491 gam, úc là 574 gam, Mỹ là 850

Về nhiệt lượng ở Viễn Đông là 2300 Kcalo, ở châu âu 3000 Kcalo, Mỹ 3100Kcalo, úc 3200kcalo Nếu nhìn vào mức tiêu thụ thịt cá thì sự chênh lệchcàng lớn, 25% dân số thế giới ở các nước phát triển đã sử dụng 41% tổngprotein và 60% thịt cá của toàn thế giới

Trang 4

Lấy mức ǎn của Pháp làm ví dụ tiêu biểu về mức tiêu thụ thực phẩm nǎm

1976 tính bình quân đầu người là 84 kg thịt ( nǎm 1980 là 106 kg ), 250 quảtrứng, 42 kg cá, 15 kg pho mát, 19 kg dầu mỡ, 9 kg bơ, 36 kg đường, 3kgbánh mì, 73 kg khoai tây, 101 kg rau, 58 kg quả, 101 lít rượu vang, 71 lítbia Mức ǎn quá thừa nói trên đã dẫn đến tình trạng thừa dinh dưỡng TheoBour 20% dân Pháp bị bệnh béo phì, béo quá mức dẫn đến hiện tượng tíchlũy mỡ bao bọc ở các cơ quan tǎng lên, thậm chí cả ở tim làm cho khả nǎng

co bóp của tim yếu đi

Nước ta đang phấn đấu thoát khỏi tình trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng,một công việc không phải là dễ dàng sau nhiều nǎm chiến tranh Song việcgiải quyết vấn đề dinh dưỡng ở nước ta không phải là việc phấn đấu đuổi kịpcác nước về mức tiêu thụ các thực phẩm từ thịt, bơ sữa, dầu mỡ và chất béo

Mà chủ yếu là giải quyết vấn đề về đạm và protein cho người dân.Vì khônghẳn một mẫu thực phẩm tiêu thụ của các nước phát triển không hẳn là tốt

Nhiệm vụ của những người làm dinh dưỡng ở nước ta là phải xây dựng đượcbữa ǎn cân đối hợp lý, giải quyết tốt vấn đề an toàn lương thực thực phẩm,sớm thanh toán bệnh suy dinh dưỡng protein nǎng lượng và các bệnh có ýnghĩa cộng đồng liên quan đến thiếu các yếu tố vi chất

II Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi:

II.1 Đặc điểm và vai trò của nhu cầu dinh dưỡng

hợp lý cho trẻ tiểu học:

II.1.1 Đặc điểm

Năng lượng được xem là nhu cầu số 1: Năng lượng

cần cho hoạt động cơ thể và cần đủ để tích luỹ tạo ra

sự lớn của tổ chức cơ thể Trẻ em mau lớn hay chậm

lớn phụ thuộc vào năng lượng tích luỹ (ngoài năng

lượng hoạt động) Cứ 6,2 calo tương đương với 1g thể trọng.

Năng lượng tiêu hao ở tuổi nhi đồng, thiếu niên gồm ba mặt:

+ Năng lượng trao đổi cơ sở

+ Năng lượng hoạt động và nhiệt năng đặc thù thức ăn

+ Năng lượng cung cấp cho quá trình sinh trưởng và phát dục

Tỉ lệ phần trăm năng lượng cung cấp cho quá trình sinh trưởng và phát dụctùy vào các lứa tuổi khác nhau mà có những đặc điểm khác nhau:

 Từ 3-6 tuổi là 15-16%

 Từ 7-12 tuổi là 10%

 Từ 13-17 tuổi là 13-15%

Trang 5

- Theo Tiêu Chuẩn Vệ Sinh Dinh Dưỡng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới thì:

II.1.2 Vai trò của bữa ăn cân đối:

Dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng có thể nói là vào bậc nhất trong cuộcsống của mỗi con người Tuy nhiên, vấn đề quan trọng này lại quá thôngdụng, đến mức hầu như người ta không còn chú ý đến vai trò của nó trongcuộc sống Điều này có thể tạm chấp nhận trong thời gian trước đây, khi màcuộc sống còn quá khó khăn, nhu cầu về dinh dưỡng của con người chỉ góigọn trong tiêu chuẩn là có đủ thức ăn cần thiết để duy trì sự sống và làmviệc Còn trong điều kiện hiện nay, khi mà tình hình kinh tế xã hội ngàycàng khả quan hơn, con người ngày càng có điều kiện hơn để tiếp cận vớicuộc sống mới, trong đó việc ăn uống trở thành một thú vui hơn là một nhucầu, thì việc trang bị những kiến thức tối thiểu về dinh dưỡng để có thể lựachọn và áp dụng cho bản thân hoặc gia đình mình một chế độ ăn uống hợp

lý, bảo đảm sức khỏe đang trở nên ngày càng cần thiết

Học sinh tiểu học là những đối tượng đặc biệt đối với những người làm côngtác dinh dưỡng Đây là lứa tuổi cơ thể và tâm lý trẻ bắt đầu chuyển qua mộtgiai đoạn mới rất quan trọng cho việc phát triển thể chất và tinh thần của trẻ

học hỏi được rất nhiều nên nhu cầu về năng lượng cung cấp cho việchọc tập tăng lên Cơ thể trẻ tuy phát triển chậm lại về mặt cân nặng vàchiều cao, không còn phát triển một cách vượt bậc như trong nhữngnăm đầu đời, nhưng đây lại là giai đoạn mà cơ thể trẻ tích lũy nhữngchất dinh dưỡng cần thiết chuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhanhchóng thứ hai trong cuộc đời là lứa tuổi dậy thì, nên việc cung cấpchất dinh dưỡng cho trẻ cần được lưu ý cẩn thận

Trang 6

 Về mặt tâm lý, giai đoạn này trẻ bắt đầu xâm nhập vào cuộc sống xãhội dưới nhiều hình thức khác nhau (học hỏi, xem sách báo, TV.)Đồng thời ở giai đoạn này tâm lý trẻ thường có những chuyển biếnquan trọng, phát sinh những nhận thức và hành động có thể ảnh hưởngquan trọng đến hành vi dinh dưỡng sau này.

Trong tình hình xã hội chung hiện nay, nền kinh tế thị trường tác động mạnh

mẽ đến sự phân hóa xã hội, đã hình thành nên 2 thái độ dinh dưỡng tráingược nhau và đều nguy hại như nhau: Bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡngvẫn chiếm một tỉ lệ đáng kể cho dù đã cải thiện nhiều so với thời gian trướcđây, đã thấy xuất hiện và đang ngày càng phát triển tình trạng dư thừa dinhdưỡng dẫn đến béo phì Có thể nói "Dinh dưỡng hợp lý là một hành lang antoàn nhỏ hẹp nằm giữa hai bờ vực thẳm của thiếu thốn và dư thừa"

II.2 Đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho trẻ ở giai doạn 6 đến 11 tuổi :

Ở độ tuổi lên sáu, trẻ cần được bổ sung đầy đủ dưỡng

chất để cơ thể phát triển toàn diện hơn Những thực

phẩm không cung cấp đủ chất dinh dưỡng hoặc không

thích hợp sẽ ảnh hưởng đến trí thông minh của trẻ

Đặc biệt khi xây dựng chế độ ăn uống cho trẻ, chúng

ta cần phải tính đến những nhu cầu của cơ thể gắn với sự phát triển chiềucao, sự thay đổi các điều kiện môi trường bên trong cơ thể, sự phát triển thểlực và trí tuệ Do vậy, một chế độ ăn uống tối ưu cần phải có sự cân bằnggiữa tiếp nhận và tiêu hao các chất dinh dưỡng cơ bản

II.2.1 Các thành phần cần thiết cho sự phát triển của trẻ:

Protit: Cá và sữa là hai thực phẩm giàu protit tốt nhất cho cơ thể trẻ Xếp ở

vị trí thứ hai là protit từ thịt, vị trí thứ 3 là các loại protit có xuất xứ từ thựcvật Mỗi ngày, trẻ cần phải tiếp nhận 75 - 90g protit Đối với những protit cóxuất xứ từ động vật khoảng 40 - 45g

Trong khẩu phần cùa trẻ ở lứa tuổi đến trường nhất thiết phải có một số loạithực phẩm sau: sữa hoặc sữa chua, cá, thịt, trứng

Chất béo: Cần chú ý cung cấp đầy đủ lượng chất béo

trong khẩu phần ăn hàng ngày đó là các chất béo có

trong thịt, sữa và cá

Trang 7

Chất béo động vật hấp thụ khó hơn các chất béo thực vật và không chứa cácloại axit béo, các loại vitamin cần thiết cho cơ thể Lượng chất béo cần thiếtcho trẻ ở độ tuổi đi học là 80 - 90g / ngày, chiếm 30% khẩu phần ăn hàngngày Đồng thời trong khẩu phần hàng ngày của bé cũng cần phải bổ sung :dầu ooliu, dầu thực vật và thịt lợn

Carbohydrat: Carbohydrat cần để cung cấp thêm năng

lượng cho cơ thể Các carbohydrat phức tạp rất có lợicho cơ thể Mỗi ngày, trong khẩu phần ăn của trẻ cầnphải có 300 - 400g carbohydrat, trong đó lượngcarbohydrat đơn giản chỉ cần dưới 100g

Các thực phẩm cần thiết có chứa carbohydrat là: bánh

mỳ, khoai tây, mật ong, hoa quả khô, đường

Tóm lại sự kết hợp của ba nhóm chất này cần tuân theo tỷ lệ P : L : G =1:1:4

Glucose: Não có thể phát triển tùy vào lượng glucose (đường trong máu).

Đây được xem như nguồn "nhiên liệu" cần thiết Bỏ một bữa ăn sáng có thểgây ra thiếu hụt glucose, đồng thời làm suy giảm nhận biết, khó tập trung

Gan của trẻ chỉ tồn trữ lượng glucose này khoảng 4 giờ Do đó, bé cần được

ăn uống đầy đủ trước khi đến trường Ở nhà, các bữa ăn của trẻ nên cáchnhau từ 4 đến 5 giờ để giữ lượng đường quân bình trong máu và đủ để nãohoạt động đúng chức năng

Đặc biệt trong bữa ăn của trẻ phải đảm bảo một lượng vitamin và khoángchất nhất định để hình thành các chức năng cho cơ thể

Acid folic: Chất này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát

triển các hồng cầu và bạch cầu Vì thế, nếu bé nào cơ thể thiếu quá nhiềuacid folic sẽ nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi hoặc mau quên, dễ bị kíchđộng, sau khi tập trung học trong một thời gian ngắn

Vitamin B: Loại vitamin này đóng vai trò "giải mã" năng lượng trong

glucose Thiếu hụt vitamin B, trẻ dễ "đổi tính", trở nên hung hăng, hiếuchiến, dễ thất vọng, chán nản

Trang 8

Không có loại thức ăn nào cung cấp đủ nhóm vitamin B, vì vậy, bạn phảichọn nhiều loại thức ăn khác nhau Ngoài ra, có thể cho bé uống bổ sungvitamin B theo chỉ định của bác sĩ.

Vitamin A: Dưỡng chất này đóng góp một phần không

nhỏ trong việc phát triển và củng cố hệ thần kinh

Vitamin A còn được tìm thấy dưới dạng beta-carotene

trong các loại rau cải có lá màu xanh đậm, những loại

trái cây có sắc vàng

Kẽm: Sự thiếu hụt kẽm trong cơ thể bé có thể ảnh hưởng đến khả năng nhận

biết hoặc có thể làm khả năng này suy kém đi Thịt và hải sản là nguồn cungcấp kẽm rất lớn Ngoài ra, bạn có thể cho trẻ dùng thêm các loại đậu, ngũcốc nguyên hạt, bí đỏ

Chất sắt: Tình trạng thiếu chất sắt chủ yếu ở trẻ em, sắt đóng vai trò vận

chuyển oxy trong máu đến các tế bào Thiếu chất này, trẻ sẽ giảm tập trung,mất nhiệt huyết để đối đầu với thử thách và giảm động lực học hỏi

Có thể chọn ngũ cốc cho bữa điểm tâm để tăng cường chất sắt cho cơ thể trẻ.Ngoài ra, trong bữa chính, bé nên dùng nhiều thịt có màu đỏ, cá hồi, cá ngừ,thịt gà, rau cải có lá xanh đậm

Calcium: Calcium là một khoáng chất đóng vai trò rất

quan đối với sự phát triển của xương Nguồn cung cấpcalcium là sản phẩm từ sữa, bơ, yaourt, nước cam, rauxanh, sản phẩm đậu nành 500-600ml sữa mỗi ngày làlượng thích hợp cung cấp đủ calcium cho trẻ

Folate: Đây là một loại vitamin quan trọng đối với sự phát

triển của cơ thể Nguồn cung cấp: ngũ cốc, rau xanh và đậu

các loại Bữa ăn sáng với bột ngũ cốc là một con đường tốt

để tăng cường folate

II.2.2 Các thực phẩm liên quan cần thiết sử dụng trong thực đơn:

Một bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng phải bao gồm đủ 4 nhóm thực phẩm chínhgồm: đường bột, béo, đạm, vitamin và khoáng chất Bữa ăn Viêt Namthường cho trẻ ăn chủ yếu là bột các loại nên bột là nguồn năng lượng chính(70 - 80%) của nhiều gia đình Muốn có 1000 Calo cho trẻ phải ăn đến 200 -

Trang 9

230g bột Với trẻ em tuổi càng nhỏ việc ăn bột là một gánh nặng cho nêntrong đảm bảo năng lượng cần chú ý đến Dầu - Mỡ Đó là nguồn cung cấpnăng lượng cao lại vừa là chất hoá tan các loại vitamin A, D, E, rất cần chotrẻ.

Năng lượng khi cung cấp không đủ, dù bữa ăn có cân đối, trẻ cũng bị suydinh dưỡng hoặc cấp tính, hoặc trường diễn

Tuy nhiên, việc thay đổi thực đơn giúp tạo cảm giác ngon miệng cũng quantrọng không kém việc cung cấp đủ dinh dưỡng Dưới đây là các loại thựcphẩm được phân chia theo các nhóm chính mà từ đây chúng ta có thể thayđổi thực đơn nhưng vẫn đảm bảo đủ dinh dưỡng giúp hoàn thiện sự pháttriển cho trẻ

Nhóm Giá trị dinh dưỡng Các loại thực phẩm

Chất béo

Protein, calcium,carbohydrate, vitamin vàkhoáng chất

Bơ, sữa, các sảnphẩm từ bơ, sữaChất đạm Protein, sắt, vitamin vàkhoáng chất

Thịt - cá các loại,trứng, các loại hạt,đậu

Vitamin và

khoáng chất

Vitamin và khoáng chất,bao gồm cả vitamin A,C; chất xơ

Tất cả các loại rau,trái cây (bao gồm cảtươi, khô và nước ép)

Sau đây là một số thực phẩm có chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất màbạn có thể áp dụng để chế biến các món ăn trong thực đơn hàng ngày củatrẻ

Trang 10

- Thực phẩm giàu vitamin A: cà rốt, ớt đỏ, hành, rau bina, rau xanh.

- Thực phẩm giàu vitamin C: cà chua, khoai tây, rau mùi, rau thìa là, cam,quýt, quả phúc bồn tử

- Thực phẩm chứa nhiều vitamin E: gan, trứng, gạo

- Thực phẩm giàu vitamin B: sữa, váng sữa, gan, thịt, trứng, bắp cải, táo, càchua, các loại cây họ đậu

- Các loại muốn khoáng và vi chất: muối i ốt, sắt, flo, coban, đồng…

II.3 Một số hội chứng thường gặp ở lứa tuổi này và biện pháp phòng chống:

II.3.1 Hội chứng chán ăn

Nguyên nhân gây ra tính chán ăn của trẻ:

- Nguyên tắc thực hiện cần tinh tế và kiên trì

- Tuyệt đối không nên tạo ra 1 sự thay đổi quá lớn về chế độ ăn mà cần tăngdần dần để đạt được lượng nhu cầu ở tuổi của trẻ

- Không nên uống quá nhiều loại thuốc để điều trị triệu chứng lâm sàng.Bước đầu chỉ nên có sự can thiệp nhỏ, áp dụng các tiến trình chăm sóc vànuôi dưỡng tại nhà theo đúng chỉ dân của bác sĩ dinh dưỡng

II.3.2 Béo phì

Nguyên nhân:

- Do yếu tố di truyền bẩm sinh

- Sự thiếu hoặc ít hoạt động thể lực, gây ra sự tồn

động các chất sinh nhiệt lượng carburants dư

thừa, tích lai dưới dạng các khối mỡ

- Thói quen ăn uống thiếu khoa học của gia đình

đóng vai trò rất quan trọng

Trang 11

- Ngoài ra, nguyên nhân ít gặp là do căn bệnh về nội tiết(Prader-Willi)như sự hoạt động không tốt của các tuyến thượng thận tuyến giáp…

Biện pháp ngăn ngừa:

- Cần có một chế độ ăn hợp lý, cố gắng giảm đậm độ năng lượng củathức ăn chứa nhiều chất béo (lipid), đường ngọt mà tăng cường ăn nhữngloại thức ăn có nhiều glucid phức hợp và rau quả

- Tăng cường hoạt động thể lực và lối sống năng động (chơi thể thao, tậpthể dục, lao động)

- Nên thường xuyên theo dõi cân nặng của bản thân để tự điều chỉnh

II.3.3 Suy dinh dưỡng

Nguyên nhân:

- Thiếu ăn, bữa ăn thiếu số lượng, thiếu các chất cần

thiết để phát triển

- Do người mẹ bị suy dinh dưỡng Người mẹ trước và

trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến bị

SDDà đứa trẻ sinh ra nhẹ cân,còi cọc…

- Các bệnh nhiễm khuẩn như: viêm đường hô hấp, tiêu

chảy, các bệnh ký sinh trùng…

- Thiếu chăm sóc hay đứa trẻ bị bỏ rơi

Biện pháp phòng chống SDD:

- Thực hiện tốt việc nuôi con bằng sữa mẹ

- Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý

- Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng tốt khi trẻ bị ốm

- Theo dõi cân nặng của trẻ bằng biểu đồ tăng trường

- Phòng chống nhiễm giun sán ở trẻ em

- Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai

- Đưa trẻ đi khám và tư vấn dinh dưỡng theo định kỳ

Bảng tăng trưởng cân nặng và chiều cao ( theo tiêu chuẩn NCHS)

Trang 12

Tuổi Cân nặng(kg) Chiều cao(cm)

II.4 Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ:

Từ 6 tuổi trẻ bắt đầu đi học, các chất dinh dưỡng cung cấp hàng ngày chotrẻ qua thức ǎn không chỉ để trẻ phát triển về thể chất, mà còn cung cấpnǎng lượng cho trẻ học tập Trung bình trẻ từ 7-

12 tuổi cần khoảng 35-50g protein / ngày Vì

vậy ǎn uống hợp lý ở lứa tuổi này giúp trẻ thông

minh, khoẻ mạnh và phòng chống được bệnh

tật

Nhưng ở lứa tuổi này, nếu cho trẻ ǎn uống quá mức sẽ dẫn đến thừa cân

và béo phì, tình trạng này đang có xu hướng gia tǎng trong những nǎmgần đây, nhất là ở các thành phố lớn Ngược lại nếu ǎn không đủ trẻ sẽ bịcòi cọc, hay ốm đau, bị thiếu máu hay buồn ngủ, ngủ gật trong giờ họcdẫn đến học kém và chán học

Để cung cấp đầy đủ năng lượng trong ngày cho trẻ ta có thể bố trí bữa ăncủa trẻ ra nhiều bữa nhỏ nhằm tránh tình trạng ăn vặt của ttrẻ, ăn quá no

và giúp trẻ dễ tiêu hóa hơn

Trang 13

Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của tuổi này

g)

Chấtkhoáng

Ngày đăng: 06/07/2013, 01:25

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của tuổi này - DINH DƯỠNG 6-11
Bảng 1 Nhu cầu dinh dưỡng của tuổi này (Trang 13)
w