1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Chăn nuôi gia cầm hay

7 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 344,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăn nuôi gia cầmMột con gà đang được chăn nuôi Chăn nuôi gia cầm làviệc thực hành chăn nuôicác loại chim thuần hóagia cầm chủ yếu gồmgà,gà tây nhà, vịt nhà,ngan,ngỗng,bồ câu nhà,chim cú

Trang 1

Chăn nuôi gia cầm

Một con gà đang được chăn nuôi

Chăn nuôi gia cầm làviệc thực hành chăn nuôicác loại

chim thuần hóa(gia cầm) chủ yếu gồmgà,gà tây nhà,

vịt nhà,ngan,ngỗng,bồ câu nhà,chim cútvà với mục

đích nuôi lấythịthoặc lấytrứngcung cấp thực phẩm

hoặc các sản phẩm khác Nuôi gà cũng là nguồn cung

cho trò chơiđá gà(chọi gà), làm cảnh

ịt các loại gia cầm cung cấp một số lượng lớn tỷ lệ

đạm cho mỗi bữa ăn của hàng tỷ người trên trái đất

và là một trong những loại thực phẩm thiết yếu Gia

cầm là loài cho sản phẩm thịt làm thực phẩm cho con

người phổ biến nhất trên thế giới, chiếm khoảng 30%

sản phẩm thịt trên toàn thế giới, đặc biệt làthịt gà(đứng

đầu vẫn là thịt lợn với 38%) Gia cầm được nuôi với số

lượng lớn nhất là gà Hơn 50 tỷ con gà được nuôi hàng

năm như một nguồn thực phẩm quan trọng, gà cho cả

thịt và trứng Tổng cộng, Chỉ riêng tạiAnhtiêu thụ hơn

29 triệu quả trứng mỗi ngày

1.1 Việc chăn nuôi

xxxxthumb|302x302px|Nuôi vịt thịt]] Đa số gia cầm được nuôi theo hình thứcchăn nuôi công nghiệpbằng

kỹ thuậtthâm canh eoViện Worldwatchthì 74% số thịt gia cầm và 68% số trứng được sản xuất theo lối này Ngoài ra còn có cách nuôi gàthả vườn Sự đối lập giữa hai phương pháp nuôi gà nêu trên đã dẫn đến các vấn

đề lâu dài củachủ nghĩa tiêu dùng đạo đức Phe ủng hộ thâm canh cho rằng phương pháp này giúp tiết kiệm đất đai và thức ăn nhờ tăng năng suất, động vật được chăm sóc với hệ thống thiết bị hiện đại được kiểm soát Phe phản đối cho rằng nuôi thâm canh gây hại cho môi trường, gây nên các nguy cơ đối với sức khỏe con người

và là việc làm vô nhân tính

Xu hướng hiện nay trên thế giới là thay đổi có cấu chăn nuôi theo hướng tăng tỷ lệ sản lượng thịt gia cầm và giảm tỷ lệ sản lượng thịt lợn làm giảm chi phí thức ăn, giảm tiêu hao nguồn nước Trong cơ cấu chăn nuôi hiện nay thì sản lượng thịt lợn sản xuất ra chiếm tỷ lệ cao nhất (74%), thịt gà đứng thứ hai (17%) và thịt bò đứng thứ ba (9%) Trong chăn nuôi gia cầm nếu đưa được đàn gia cầm đẻ trứng lên để mỗi một nhân khẩu có được 100 quả trứng/năm (hiện nay là 80 quả/năm) thì còn tăng thêm được nguồn protein trong bữa ăn, ngoài nguồn protein của thịt lợn thịt gà.[1]

Bảng 1: Tiêu tốn thức ăn trung bình o 1 kg hơi

(Nguồn:[1])

1.2 Sản lượng

Một dự báo đưa ra năm 2014 cho biết, tiêu thụ gia cầm trên toàn thế giới trong thập kỷ tiếp theo được dự báo

sẽ tăng nhanh hơn so với thịt lợn và thịt bò, tiêu thụ gia cầm sẽ tăng khoảng 9% giữa năm 2013 và 2022, so với mức tăng 3-4% đối với thịt bò và thịt lợn Việc tiêu thụ thịt gia cầm tập trung vào thịt gà.[2]Có những số liệu

từ năm 2007 cho thấy, xuất khẩu thịt gà giò của các thị trường chính ước tăng 4%, đạt 6,7 triệu tấn, trong đó

Mỹ chiếm 37% thị phần, Brazil và EU chiếm lần lượt 38% (giảm 1%) và 10%, trường chính dự đoán vẫn tăng 3%, đạt trên 5,3 triệu tấn Trong khi đó, năm 2007, việc nhập khẩuthịt gà tâycủa các thị trường chính có thể đạt 459.000 tấn, trong đó Mexico và EU được dự đoán đều tăng 5% Năm 2007, xuất khẩu thịt gà tây của các thị trường chính có thể tăng trên 5%, sau khi dự đoán giảm gần 10% năm 2006.[3]

Bảng 2: Tổng sản lượng trung bình tiêu thụ thịt gia

1

Trang 2

2 2 CÁC LOẠI

cầm (%) trong khu vực trên thế giới (kg/người/năm).

Nguồn:[2]

Việc tiêu thụ gà ởchâu Mỹvượt quá mức trung bình

thế giới, năm 2014 mức tiêu thụ ở châu Mỹ vượt quá 40

kg so với mức1 5 kg của thế giới Có nghĩa việc hấp thụ

thịt gà là khoảng 88% của các con số thịt gia cầm đưa

trung bình cho châu Mỹ vào khoảng 34 kg, so với con

số toàn cầu tại 13 kg Năm 2009, việc tiêu thụ thịt gia

cầm trung bình/mỗi người ở châu Mỹ khoảng 36 kg, so

với 5,5 kg ở châu Phi, nên tổng khối lượng của gia cầm

thịt tiêu thụ ở châu Mỹ là 33,2 triệu tấn, gấp 6 lần so

với 5,5 triệu tấn ở châu Phi.[2]

TạiMỹ, việc tiêu thụ thịt gà ở Mỹ giảm mạnh từ 46

kg/ đầu người trong năm 2006 xuống còn 42 kg trong

năm 2009 – tính theo thịt mổ Sau đó tăng đến gần 44

kg trong năm 2011, nhưng rồi lại giảm trở lại 42,5 kg

trong năm tiếp Năm 2013, dự kiến tăng đến 43,2 kg , và

ước tính sẽ tăng đáng kể, đến 44,2 kg cho năm 2014, khi

người tiêu dùng chuyển từ thịt bò sang tiêu thụ thịt gà

Vào năm 2022 dự kiến sẽ đạt 45,3 kg /mỗi người.[2]

ỞBrazil, mức tăng nhu cầu tiêu thụ thịt gà tăng vào

năm 2013, riêng trong năm 2007, đã từng có số liệu dự

ước xuất khẩu thịt gà giò của Brazil tăng 2%, đạt gần

2,6 triệu tấn.[3]Trong khi đó, Các vụ dịch cúm gia cầm

độc lực cao (HPAI) tại Mexico dường như không có tác

động tiêu cực đáng kể đến chăn nuôi gà Đã có dự bo

sản lượng thịt sản xuất năm 2013 tăng 0,5% so với năm

trước Sau khi cho phép một sự gia tăng nhỏ trong nhập

khẩu, tổng nguồn cung có thể tăng khoảng 1% Các nhà

chế biến Mexico đang nhắm tới nhu cầu ngày càng tăng

đối với các sản phẩm ăn sẵn theo yêu cầu của chuỗi siêu

thị quốc gia và khu vực.[2]

TạiViệt Nam, trong năm 2010, sản lượng thịt gà của

Việt Nam đứng thứ 15 trên tổng số 47 nước ở châu Á,

tuy nhiên, tỉ lệ tăng trưởng trong thập niên 2000 - 2010

chỉ ở mức vừa phải (tăng trung bình 28,4%).[4] Trong

những năm qua, chăn nuôi gia cầm luôn đạt mức tăng

trưởng cao nhất, bình quân giai đoạn 2008-2012, quy

mô đầu con tăng khoảng 5,6%/năm; sản lượng thịt tăng

12,9%/năm và sản lượng trứng tăng 10,1%/năm Đến

năm 2012, mức sản xuất gia cầm của Việt Nam đạt 50%

so với mức trung bình của thế giới.[5]

Tuy nhiên, lượng thịt tiêu thụ bình quân cho một người

lại tăng từ 5,3 kg (chiếm 12,6% tổng lượng thịt tiêu thụ)

năm 2008 lên 8,3 kg (chiếm 17,1% tổng lượng thịt tiêu

thụ) năm 2012, tương ứng lượng trứng tăng từ 58 quả

năm 2008 lên 83 quả năm 2012 nhưng trong nước thịt

gia cầm cũng mới chiếm chưa tới 20% trong tổng sản

lượng thịt tiêu thụ các loại[5] và đến cuối năm 2012,

không chỉ những hộ nuôi nhỏ lẻ mà cả những công ty

lớn trong ngành chăn nuôi gà đã giảm mạnh sản lượng

nuôi, lượng gà đã giảm khoảng 30% nên nguồn cung

thịt gà cho dịp tết giảm, thị trường Việt Nam cần đến

một lượng nhập khẩu lên đến 40.000 tấn thịt (chủ yếu

là thịt gà).[6]

2 Các loại

Một con gà đẻ sau 5 ngày kể từ khi ra khỏi chuồng nuôi nhốt

Trong ngành công nghiệp gia cầm có trên 50 tỷ con gà được nuôi hàng năm để làm thực phẩm, trứng và thịt như là một nguồn thực phẩm quan trọng và đóng góp rất lớn cho nền kinh tế.[7][8][9]Gà sống khoảng sáu năm hay hơn, tuy nhiên gà nuôi lấy thịt thông thường chỉ mất sáu tuần là đạt được kích cỡ giết thịt.[10] Gà nuôi thả vườn hay gà nuôi bằngthực phẩm hữu cơthường bị giết mổ khi đạt 14 tuần tuổi Một số giống gà có thể đẻ

300 trứng/năm; sách Kỷ lục Guinness 2011 dẫn ra kỷ lục

gà đẻ 371 trứng trong 364 ngày.[11]Khả năng đẻ trứng của gà lấy trứng bắt đầu giảm sau 12 tháng Gà mái -đặc biệt là những con được nuôi trong hệ thống lồng nối tiếp nhau - rụng đáng kể lông và tuổi thọ sụt giảm

từ bảy năm xuống dưới hai năm.[12]

Tại Anh và châu Âu, gà lấy trứng khi đó sẽ bị giết thịt

và dùng trong thực phẩm chế biến sẵn hoặc bán dưới dạng “gà để nấu súp”.[12]Ở một số quốc gia khác, thay

vì bị giết thịt thì gà thỉnh thoảng bị ép rụng lông để bắt

Trang 3

chúng đẻ trứng tiếp Người ta thực hiện việc này bằng

cách không cho gà ăn (có khi không cho uống) trong

khoảng 7 đến 14 ngày[13]hoặc một thời gian đủ dài để

làm gà sụt mất 25-35% cân nặng,[14] hoặc tối đa là 28

ngày trong điều kiện thí nghiệm.[15]Việc làm này kích

thích gà rụng lông và cũng là kích thích gà đẻ trứng

tiếp Năm 2003, có trên 75% số đàn gà ở Mỹ bị ép phải

rụng lông.[16]

Việc ấp trứng có thể diễn ra thành công dưới bàn tay

con người thông qua máy móc cung cấp môi trường

ấp chuẩn xác và có kiểm soát.[17][18][19][20]ời gian ấp

trung bình là 21 ngày nhưng có thể phụ thuộc nhiệt độ

và độ ẩm trong lò ấp Việc điều hòa nhiệt độ là yếu tố

tối quan trọng để đảm bảo ấp trứng thành công Chênh

lệch quá 1 ℃ so với nhiệt độ tối ưu 37,5 ℃ sẽ làm giảm

tỷ lệ trứng nở

Độ ẩm cũng có vai trò quan trọng bởi tốc độ bay hơi

nước của trứng phụ thuộc độ ẩm tương đối của môi

trường xung quanh.Độ ẩm tương đốinên được tăng

lên mức khoảng 70% trong vòng ba ngày cuối của kỳ

ấp để giữ cho màng trứng không bị khô sau khi gà con

mổ nứt vỏ Độ ẩm thấp cần được duy trì trong 18 ngày

đầu tiên nhằm đảm bảo mức bay hơi nước vừa đủ Vị

trí đặt trứng trong lò cũng có thể ảnh hưởng lên tỷ lệ

trứng nở Nhằm đạt kết quả tốt nhất, nên đặt trứng nằm

ngược (đầu hướng xuống) và thường xuyên đảo trứng

(ít nhất ba lần/ngày) cho đến trước khi trứng nở từ một

đến ba ngày Nếu không lật trứng thìphôibên trong có

thể sẽ bị dính vào vỏ, khiến gà nở ra bị khuyết tật

Ngoài ra, cũng cần thông gió đầy đủ cho trứng để cung

cấp đủ khíôxy cho phôi Trứng càng nhiều tuổi thì

càng cần thông gió nhiều hơn Các lò ấp thương mại

là những kệ ấp kích cỡ công nghiệp có khả năng chứa

đến 10.000 quả trứng cùng một lúc và đảo trứng một

cách hoàn toàn tự động Lò ấp trong gia đình là những

cái hộp chứa được từ 6 đến 75 quả Lò thường chạy bằng

điện Trong quá khứ lò ấp từng dùng dầu hoặc đèn dầu

để giữ ấm Gà dễ mắc các loạiký sinh, gồmchấy,bét,

ve,bọ chétvàgiun đũacũng như dễ mắc các bệnh tật

khác

Một số bệnh thường gặp trên gà là:

2.2 Nuôi gà tây

Nuôigà tây nhànhằm mục đích cung cấpthịt gà tây

Ở Mỹ, thịt gà tây đã trở thành món ăn không thể thiếu

trên bàn ăn của mỗi gia đình Mỹ dịp lễ Tạ ơn hayGiáng

sinh, thịt gà tây là thực đơn chính cho cả hai dịp này

Riêng lễ Tạ ơn có hơn 46 triệu con gà phải nằm trên bàn

ăn của các gia đình Mỹ, có đến 88% người Mỹ ăn gà tây

vào dịp lễ Tạ ơn Gà tây rất dễ nuôi Nó hiền lành và

chăm kiếm mồi Món ưa thích của gà tây lại là cỏ.[24]

Gà tây ăn nhiều loại cỏ, lá khác nhau Nó cũng ăn ngũ

cốc, đậu đỗ, cám bã Ngoài ra, nó ăn tới 30-40% là rau

xanh, cỏ lác Vì vậy, người nuôi gà tây thường chăn thả

trên những bãi cỏ, những cánh đồng hoặc nuôi nhốt trong những sân chơi rộng Điều quan trọng là nó cần nơi cao ráo, thoáng mát, không ẩm thấp Nó rất sợ tiết trời âm u, ướt át, lạnh lẽo Kiểu thời tiết đó rất dễ sinh bệnh Gà trưởng thành 28-30 tuần tuổi có thể đạt 5–6 kg/con trống và 3–4 kg/con mái và bắt đầu đẻ trứng

Gà tây chỉ khó nuôi ở giai đoạn từ 3 tháng tuổi Sau 3 tháng tuổi, nuôi chúng dễ hơn nhiều Chúng ăn khỏe, lớn nhanh và ít bị bệnh tật Gà tây nuôi 6-7 tháng thì bán tốt Tùy từng giống (gà tây đen, gà tây trắng hoặc

gà tây lông màu đồng) mà trọng lượng của chúng có thể đạt từ 10–20 kg/con Con đực lớn hơn con cái.[25]

Gà tây đẻ trứng và tự ấp, mỗi lứa đẻ từ 10-12 quả, trọng lượng trứng 60-65g/quả, thời gian ấp nở 28-30 ngày, tỉ

lệ ấp nở 65-70%, tỉ lệ nuôi sống 60-65%, sản lượng trứng 70-80 quả/mái/năm… Gà tây có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, tiết kiệm được lương thực, có thể trọng lớn, thời gian sinh trưởng dài, phẩm chất thịt ngon, chất lượng tốt, tỉ lệ protein cao (trên 22%), tỉ lệ mỡ rất thấp (dưới 0,5%) Giai đoạn úm gà con từ 1-4 tuần tuổi Về thức ăn: 1−2 ngày đầu nên cho gà ăn bắp xay

nhuyễn, từ ngày thứ ba trở đi bắt đầu cho ăn thức ăn hỗn hợp của gà con: Protein thô 22%, năng lượng trao đổi 2.900=3.000Kcal/kg Tuần thứ 1: 20-30 g/con/ngày Tuần thứ 2: 40-50 g/con/ngày Tuấn thứ 3:60-70g/con/ ngày Tuần thứ 4: 80-100 g/con/ngày Cho gà ăn nhiều lần trong ngày (ít nhất 4-5 lần/ ngày) Về nước uống Dùng nước sạch, mát cho gà uống, không để cho gà thiếu nước, trong tháng đầu nên bổ sung sinh tố tổng hợp: B-complex hoặc Ovimix cho gà uống

Giai đoạn gà choai 5-8 tuần tuổi thì về thức ăn cần yêu cầu Protein thô 20%, năng lượng trao đổi 2.800-2.900 Kcal/kg Tă có thể dùng thức ăn hỗn hợp hoặc thức ăn

tự trộn, nhưng phải cân đối đầy đủ các chất dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… Gà tây có khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt thức ăn thô xanh, cho nên ngay

từ giai đoạn này cần tập cho gà ăn rau xanh Cho ăn 3-4 lần/ngày Giai đoạn thả vườn 9-28 tuần tuổi đây là Giai đoạn nuôi thịt thả vườn, vườn nên trồng cây ăn trái, vừa có bóng mát, vừa có thêm thu nhập, có thể nuôi gà bằng chuồng sàn trên ao thả cá sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn Trong thực phẩm thì yêu cầu Protein thô 16-18%, năng lượng trao đổi 2800-2900 Kcal/kg thức ăn Tùy theo lượng thức ăn kiếm được ở vườn, ta có thể bổ sung thêm thức ăn cho gà nhiều hay ít vào buổi sáng và chiều Nuôi gà tây theo phương thức bán công nghiệp kết hợp thả vườn thì chất lượng thịt sẽ thơm ngon hơn

2.3 Nuôi vịt

Vịt nhàđược chăn nuôi tại nhiều nướcĐông Nam Á khoảng vài ngàn năm trước, trong đó cóViệt Nam.[26] Vịt có rất nhiều giá trị kinh tế, chúng cung cấp cho con ngườithịt vịt, trứng, lông Ngoài ra, vịt còn được dùng

để nuôi nhốt như một loài chim kiểng, hay phục vụ các màn xiếc trong Sở thú Hầu hết các loài vịt đều được thuần hóa từ loài vịt cổ xanh (Anas platyrhynchos) ở

Trang 4

4 2 CÁC LOẠI

Một con vịt nhà

vùng Mallard Nhiều loài vịt ngày nay có kích cỡ lớn

hơn so với thủy tổ của chúng (chiều dài từ cổ đến đuôi

của chúng vào khoảng 12 inch tức khoảng 30 cm) Năm

2002, theo báo cáo của Tổ chức Lương - Nông ế giới

(FAO), Trung ốc là thị trường tiêu thụ vịt dẫn đầu

thế giới, kế đến là Việt Nam và các quốc gia Đông Nam

Á khác

Do chăn nuôithủy cầmở Việt Nam gắn bó với nền sản

xuất lúa nước nên số lượng thủy cầm Việt Nam đứng

thứ hai thế giới, hiện Việt Nam có đàn thủy cầm lớn

thứ 2 thế giới với trên 80 triệu con trong đó Đồng bằng

sông Hồng chiếm 26,68%, Đồng bằng sông Cửu Long

chiếm 32,19% và khu vực Tây Bắc chiếm 2,17% trong

tổng đàn thủy cầm của Việt Nam Trong thập kỷ qua,

số vịt tăng bình quân 7%/năm, sản lượng trên 280.000

tấn thịt hơi/năm Trứng đạt trên 2 tỷ quả/năm Cơ cấu

giữa thủy cầm sinh sản và thủy cầm nuôi thịt thì thịt

chiếm 65 - 70%, thủy cầm sinh sản chiếm 30 - 35% Việt

Nam đang sở hữu một bộ giống thủy cầm rất phong

phú, đa dạng, có năng suất và chất lượng cao tuy nhiên

việc xuất khẩu thịt thủy cầm còn ít do hạn chế trong

khâu chế biến.[27]

Ngan nhà và Ngan bướu mũi đã được thuần hóa từ

nhiều thế kỷ trước ịt ngan cũng được ưa chuộng hơn

so với phần lớn thịt từ các giốngvịt nhà(có lẽ là hậu duệ

đã thuần hóa của vịt cổ xanh) do nạc hơn, chứ không

chứa nhiều mỡ như thịt vịt, độ nạc và mềm của thịt

ngan có thể so sánh với thịt bê Các giống ngan thuần

hóa thường có các đặc trưng bộ lông khác với của ngan

hoang Loại ngan có lông trắng thích hợp cho sản xuất

thịt Ngan mái nặng khoảng 2–5 kg (5-10 pao); ngan

trống nặng khoảng 5–8 kg (10-17 pao) Ngan thuần hóa

có thể sinh sản tới 3 lần mỗi năm Một số ngan nuôi đã

thoát ra ngoài hoang dã và hiện tại sinh đẻ ngoài khu vực bản địa của chúng, như ởTây ÂuvàHoa Kỳ Ngan có thể lai ghép chéo vớivịt nhàđể sinh ra con lai

vô sinh tức loài hỗn chủng (vịt Mulard) Ngan đực đã được lai ghép ở quy mô thương mại vớivịt máibằng cách thụ tinh tự nhiên hoặc nhân tạo Khoảng 40-60% trứng nở thành vịt Mulard được nuôi để lấy thịt Tương

tự, việc lai ghép giữa vịt cổ xanh trống với ngan mái

là có thể, dù con lai của chúng lại không cho thịt hay trứng với các đặc trưng mong muốn.[28]Các con lai này thường được dùng trong sản xuấtgan béo(foie gras) TạiIsrael người ta đã lai ghép ngan với vịt cổ xanh

để sản xuất các sản phẩm ăn kiêng của người Do ái (kosher) từ vịt Địa vị thức ăn kiêng của ngan là chủ

đề tranh luận của người Do ái trong trên 150 năm qua.[29]Ngan nuôi tại Việt Nam hiện nay là các giống (ngan dé, ngan trâu v.v)[30]củangan bướu mũiđã thuần hóa, với số liệu ước tính theoFAOlà khoảng 30.000 tới 100.000 con vào năm 1997.[31]

Ngỗng là loại gia cầm dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, ít mắc bệnh Nuôi ngỗng có nhiều thuận lợi với đặc thù của ngỗng là có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn xanh Con ngỗng được ví như một cỗ máy xén cỏ, khả năng vặt cỏ của ngỗng tốt hơn bò, ngỗng có thể vặt tận gốc cây cỏ,

cả phần củ rễ, ngỗng ăn tạp các loại cỏ và không chê cỏ non, cỏ già, cỏ dại từ cỏ tranh đến lục bình ngỗng đều

ăn được Ngỗng chỉ ăn cỏ, ăn rau là chính, ít dùng lương thực Nuôi trong 4-8 tháng ngỗng đã cho thu hoạch 4–

7 kg Có nhiều giống ngỗng như ngỗng trắng, ngỗng xám vằn, loại chân thấp, chân cao Nếu nuôi ngỗng đàn, nên chọn ngỗng xám vằn, chân to, đi khoẻ, chịu kiếm

ăn Ngỗng là loại gia cầm có khả năng tăng trọng rất nhanh, chỉ sau 10 - 11 tuần nuôi, khối lượng cơ thể đã tăng gấp 40 - 45 lần so với khối lượng cơ thể lúc mới

nở.[32]

Ở Pháp, Ngỗng được nuôi để lấyganđể làm nguyên liệu cho móngan ngỗng béo, Ngỗng được nuôi bằng cách bị buộc nhồi nhét ăn uống hạt bắp khô quá mức

để có bộ gan to Gan ngỗng béo được chế biến thành móngan xay Các tổ chức bảo vệ quyền động vật xem việc sản xuất món gan này là tàn nhẫn do cách thức buộc vịt, ngỗng ăn và ảnh hưởng xấu lên sức khỏe vịt, ngỗng do có bộ gan to quá cỡ

Trang 5

3 Chú thích

[1] “ay đổi cơ cấu đàn gia súc, gia cầm để giảm chi phí

thức ăn” Báo Nông nghiệp Việt Nam Truy cập 5 tháng

6 năm 2014

[2] “Tiêu thụ gà ở châu Mỹ vượt quá mức trung bình thế

giới VIỆN CHĂN NUÔI vien” Viện chăn nuôi - Bộ Nông

nghiệp & Phát triển Nông thôn Truy cập 5 tháng 6 năm

2014

[3] “ị trường gia cầm” Truy cập 5 tháng 6 năm 2014

[4] “Tổng quan số liệu thống kê trong ngành chăn nuôi gia

cầm năm 2000” Eva.vn Truy cập 5 tháng 6 năm 2014

[5] “Mức sản xuất gia cầm của Việt Nam đạt 50% so với mức

trung bình của thế giới” Báo điện tử Nhân dân Truy cập

5 tháng 6 năm 2014

[6] “Tết này sẽ ăn gà… nhập” Eva.vn 3 tháng 11 năm 2012

Truy cập 5 tháng 6 năm 2014

[7] “Compassion in World Farming - Poultry” Ciwf.org.uk

Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011

[8] Mackenzie Yang,Next, the Turducken: Scientists Say a

Duck Has Fathered a Chicken, TIME ngày 20 tháng 3

năm 2013

[9] Animal Death của Jay Johnston, Fiona Probyn-Rapsey,

Sydney University Press, 2013, ISBN 9781743320235,

trang 152]

[10] “Broiler Chickens Fact Sheet // Animals Australia”

Animalsaustralia.org Truy cập ngày 29 tháng 8 năm

2010

[11] Craig Glenday (2011), Guinness World Records 2011

(Guinness Book of Records (Mass Market)), Bantam,ISBN

9780440423102, tr 286

[12] Browne, Anthony (ngày 10 tháng 3 năm 2002).“Ten

weeks to live” e Guardian (London) Truy cập ngày

28 tháng 4 năm 2010

[13] Patwardhan, D and King, A., (2011) “Review: feed

withdrawal and non feed withdrawal moult”, World’s

Poultry Science Journal, 67: 253-268

[14] Webster, A.B., (2003) Physiology and behavior of the

hen during induced moult Poultry Science, 82: 992-1002

[15] Molino, A.B., Garcia, E.A., Berto, D.A., Pelícia, K., Silva,

A.P and Vercese F., (2009), “e Effects of Alternative

Forced-Molting Methods on e Performance and Egg

ality of Commercial Layers”, Brazilian Journal of

Poultry Science, 11: 109-113

[16] Yousaf, M and Chaudhry, A.S., (2008) “History,

changing scenarios and future strategies to induce

moulting in laying hens” World’s Poultry Science

Journal, 64: 65-75

[17] Joe G Berry “Artificial Incubation”(PDF) Oklahoma

Cooperative Extension Service, Oklahoma State

University Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010

[18] Phillip J Clauer “Incubating Eggs” (PDF) Virginia Cooperative Extension Service, Virginia State University Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010 [19] “Incubation Handbook” (PDF) Brinsea Products Ltd Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010

[20] “How To Hatch Chicken Eggs” www backyardchickens.com Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010

[21] Bệnh HISTOMONIAD ở gà?, Trang ông tin hỏi đáp khoa học kỹ thuật, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc

[22] Trương Tấn Liêm – Chi cục ú y tỉnh Bến Tre,Bệnh Niu-cát-xơn trên gà (bệnh gà rù), Website Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre

[23] Bệnh viêm rốn (Omphalitis) ở gà?, Trang ông tin hỏi đáp khoa học kỹ thuật, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc

[24] “Mưu sinh từ đồng vốn nhỏ - Kỳ 15: Triệu phú gà tây”

anh Niên Online Truy cập 2 tháng 6 năm 2014 [25] “1.001 cách làm ăn: Nuôi gà tây đỡ lo dịch” Báo điện

tử báo Nông thôn Ngày nay 28 tháng 3 năm 2014 Truy cập 2 tháng 6 năm 2014

[26] Kiple, Kenneth F.; Ornelas, Kriemhild Coneè (2000)

e Cambridge World History of Food Cambridge,

UK: Cambridge University Press.ISBN 0-521-40214-X

OCLC 44541840 [27] Phối hợp tổ chức Hội nghị thủy cầm thế giới lần 5 - Viện Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thông Việt Nam

[28] Holderread, David 2001, Guide to Raising Ducks, trang

97, Storey Publishing, North Adams, MA.ISBN 1-58017-258-X

[29] Bài viết trên Kashrut.com

[30] yết định số 67/2005/QĐ-BNN, ngày 31 tháng 10 năm 2005

[31] dad.fao.org

[32] “Kỹ thuật nuôi ngỗng trong nông hộ” Hội Nông dân

ảng Nam Truy cập 2 tháng 6 năm 2014

4 Tham khảo

• Sherwin, C.M., Richards, G.J and Nicol, C.J 2010.

A comparison of the welfare of layer hens in four housing systems in the UK British Poultry Science, 51(4): 488-499

• Chickens: Layer Housing, Michael C Appleby,

Encyclopedia of Animal Science doi:10.1081/ E-EAS-120019534

Trang 6

6 4 THAM KHẢO

• Appleby, M.C.; J.A Mench and B.O Hughes

(2004) Poultry Behaviour and Welfare

Wallingford and Cambridge MA: CABI

Publishing.ISBN 0-85199-667-1

• Breward, J., (1984) Cutaneous nociceptors in

the chicken beak Proceedings of the Journal of

Physiology, London 346: 56

• Gentle, M.J., (1992) Pain in birds Animal Welfare,

1: 235-247

• Gentle M.J., Hughes B.O and Hubrecht R.C.,

(1982) e effect of beak-trimming on

food-intake, feeding behaviour and body weight in

adult hens Applied Animal Ethology, 8: 147–157

• Duncan I.J.H., Slee G.S., Seawright E and Breward

J., (1989) Behavioural consequences of partial

beak amputation (beak trimming) in poultry

British Poultry Science, 30: 479–488

• Gentle M.J., Hunter L.N and Waddington D.,

(1991) e onset of pain related behaviours

following partial beak amputation in the chicken

Neuroscience Leers, 128: 113–116

• Gentle, M.J., Hughes, B.O., Fox, A and

Waddington, D., (1997) Behavioural and

anatomical consequences of two beak trimming

methods in 1- and 10-d-old domestic chicks

British Poultry Science, 38: 453-463

• Breward, J., (1985) An Electrophysiological

Investigation of the Effects of Beak Trimming in

the Domestic Fowl (Gallus gallus domesticus)

Ph.D thesis, University of Edinburgh

• Gentle, M.J., (1986) Beak trimming in poultry.

World’s Poultry Science Journal', 42: 268-275

• Breward, L and Gentle, M.J., (1985) Neuroma

formation and abnormal afferent nerve discharges

aer partial break amputation (beak trimming) in

poultry Experientia, 41: 1132-1134

• Devor, M and Rappaport, Z.H., (1990) Pain

Syndromes in Neurology., edited by H.L Fields,

Buerworths, London, p 47

• Lunam, C.A., Glatz, P.C and Hsu, Y-J., (1996).

e absence of neuromas in beaks of adult hens

aer conservative trimming at hatch Australian

Veterinary Journal, 74: 46-49

• Kuenzel, W.J (2001) Neurobiological basis of

sensory perception: welfare implications of beak

trimming Poultry Science, 86: 1273-1282

Làm giàu từ mô hình nuôi gà thả vườn

Người nuôi gà điêu đứng

Nuôi gà thu 1,2 tỷ đồng/năm

Người nuôi gà ngồi trên đống nợ

Trang 7

5 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh

• Chăn nuôi gia cầm Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83n_nu%C3%B4i_gia_c%E1%BA%A7m?oldid=26615527Người đóng góp: CommonsDelinker, Squall282, AlleinStein, Phương Huy, Cheers!-bot, enhitran, Alphama, AlphamaBot, itxongkhoiAWB,

Tuanminh01, TuanminhBot, Goodmorninghpvn và 5 người vô danh

• Tập_tin:BatteryChicken5DaysOutOfCage.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/8f/ BatteryChicken5DaysOutOfCage.jpgGiấy phép: CC BY 3.0 Người đóng góp: Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra Nghệ sĩ đầu tiên: Ronald Duncan, akaRonaldDuncan at en.wikipedia

• Tập_tin:Chicken_flaps_wings-UK.jpg Nguồn:https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/c1/Chicken_flaps_wings-UK.jpg

Giấy phép: CC BY-SA 2.0 Người đóng góp:Chicken!Nghệ sĩ đầu tiên:james from Luton, United Kingdom

• Tập_tin:White_domesticated_duck,_stretching.jpg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/74/White_ domesticated_duck%2C_stretching.jpgGiấy phép: CC BY-SA 2.0 Người đóng góp:Flickr : Stretching outNghệ sĩ đầu tiên:Ernst Vikne

Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

Ngày đăng: 20/07/2017, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w