Tổng quan về luật tư pháp quốc tế tại nước Công hòa Pháp Phần 2 tập trung vào việc giới thiệu các quy định trong nước (Pháp) và các quy định hiện hành của Liên minh châu Âu trong việc xác định thẩm quyền xét xử trong các tranh chấp quốc tế.
Trang 1TỔNG QUAN VỀ LUẬT TƯ PHÁP QUỐC TẾ TẠI
NƯỚC CỘNG HÒA PHÁP PHẦN 2: CÁC QUY ĐỊNH CỤ THỂ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ QUA VIỆC VẬN DỤNG QUY CHẾ BRUXELLES I BIS MỤC LỤC: I PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA QUY CHẾ BRUXELLES I BIS 2
1 Giới thiệu chung 2
2 Trường hợp áp dụng 2
2.1 Tiêu chuẩn về phạm vi áp dụng theo nội dung (Critère rationae materiae) 3
2.2 Tiêu chuẩn về thời gian áp dụng (Critère rationae temporae) 4
2.3 Tiêu chuẩn về không gian áp dụng (Critère rationae loci) 6
II CÁC QUY ĐỊNH NỔI BẬT CỦA QUY CHẾ BRUXELLES I BIS 7
1 Việc xác định thẩm quyền chung 7
2 Các thẩm quyền đặc biệt 9
3 Xác định thẩm quyền liên quan đến việc bảo vệ cho “bên yếu thế” 12
4 Thẩm quyền bắt buộc (độc quyền) 13
5 Việc xác định thẩm quyền trong các trường hợp đặc biệt 15
5.1 Điều 35 Quy chế Bruxelles I bis 15
5.2 Thẩm quyền dựa trên ý chí của các bên 15
6 Việc xác định thẩm quyền trong trường hợp có nhiều bị đơn 16
III CÁC VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN QUỐC TẾ 17
1 Vấn đề trùng tố 17
1.1 Vấn đề trùng tố theo quy định của luật quốc gia (Pháp) 17
1.2 Vấn đề trùng tố theo quy định của pháp luật của Liên minh châu Âu 18
1.3 Trường hợp giữa các tranh chấp có mối liên hệ mật thiết 20
2 Vấn đề miễn trừ đối với Nhà nước (các cơ quan đại diện Nhà nước) 21
Trang 2I PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA QUY CHẾ BRUXELLES I BIS
1 Giới thiệu chung
Bruxelles I bis là một tập hợp các quy tắc xác định thẩm quyền xét xử trong
một tình huống tư pháp quốc tế được ban hành bởi Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu (còn gọi là Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan ra quyền quyết định trong Liên minh châu Âu) Đây là hai cơ quan lập pháp quyền lực nhất của Liên minh châu Âu và có vai trò quyết định cho sự ra đời của quy chế Bruxelles I bis
Quy chế số 1215/2012 ngày 12/12/2012 (Bruxelles I bis) tập trung vào việc
xác định thẩm quyền xét xử và việc công nhận thi hành các bản án của tòa án trong lĩnh vực dân sự và thương mại và có hiệu lực bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu kể từ ngày 10/01/2015
Quy chế này là một bản sửa đổi của Quy chế số 44/2001 của Hội đồng
Liên minh châu Âu ngày 22/12/2000 liên quan đến việc xác định thẩm quyền xét
xử và công nhận thi hành các bản án trong lĩnh vực dân sự và thương mại
(Bruxelles I)
Đối tượng mà Quy chế Bruxelles I bis nhắm đến là các xung đột, tranh chấp xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu Ngoài ra, Quy chế còn đặt ra các điều kiện qua đó cho phép công nhận và thi hành một bản
án được tuyên bởi một quốc gia thành viên tại một quốc gia thành viên khác Mục đích là nhằm đơn giản hóa các vấn đề liên quan đến tư pháp quốc tế trong khối Liên minh châu Âu
So với Quy chế Bruxelles I, Bruxelles I bis có một số thay đổi quan trọng liên quan đến phạm vi áp dụng, các quy tắc giải quyết trong trường hợp trùng tố và việc bãi bỏ quyết định cho thi hành một bản án được tuyên ở nước ngoài
2 Trường hợp áp dụng
Để xem xét một tình huống tư pháp quốc tế có thể áp dụng Quy chế Bruxelles I bis để giải quyết, cần phân tích 03 tiêu chuẩn:
Trang 3Thứ nhất, tiêu chuẩn về phạm vi áp dụng theo nội dung (Critère rationae materiae)
Thứ hai, tiêu chuẩn về thời gian áp dụng (Critère rationae temporae)
Thứ ba, tiêu chuẩn về không gian áp dụng (Critère rationae loci)
2.1 Tiêu chuẩn về phạm vi áp dụng theo nội dung (Critère rationae materiae)
Đối với tiêu chuẩn về phạm vi áp dụng theo nội dung, câu hỏi đặt ra là Quy chế Bruxelles I bis được áp dụng trong lĩnh vực nào của tư pháp quốc tế?
Như đã trình bày, Quy chế Bruxelles I bis được áp dụng trong lĩnh vực dân
sự và thương mại Nhưng vấn đề là làm thế nào để hiểu một cách chính xác hai lĩnh vực này? Liệu trong trường hợp giữa các chủ thể tranh chấp có sự tham gia của một bên là Nhà nước (cơ quan công quyền) thì Quy chế Bruxelles I bis có được áp dụng hay không?
Trong nội dung của mình, Quy chế Bruxelles I bis không đưa ra một định nghĩa cụ thể nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chính xác vấn đề này thông qua việc diễn giải của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu tại bản án số 29/76
“Eurocontrol” năm 1976 Theo đó khi Nhà nước có liên quan và là một bên tranh
chấp, vẫn có thể được xác định là trong lĩnh vực dân sự và thương mại1, trừ trường hợp cơ quan công quyền tham gia với tư cách là một cơ quan đang thực thi quyền lực công cộng Khi đó, tranh chấp không còn nằm trong lĩnh vực dân sự và thương mại nữa mà đã rơi vào lĩnh vực hành chính công và Quy chế Bruxelles I bis sẽ không được áp dụng Cũng cần lưu ý rằng Quy chế Bruxelles I bis có một điều chỉnh nhỏ so với Quy chế Bruxelles I liên quan đến sự tham gia của Nhà nước Thể hiện qua việc Quy chế sẽ không áp dụng đối với các trường hợp liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước đối với các thiếu sót trong việc thực thi quyền lực công cộng
1 Ở đây cần xem xét đến bản chất của đối tượng tranh chấp và tư cách tham gia của Nhà nước, nếu tình huống liên quan đơn thuần là một vấn đề dân sự hay thương mại thông thường và không phải một tình huống thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hành chính thì Quy chế Bruxelles I bis vẫn được áp dụng trong trường hợp Nhà nước là một bên tranh chấp (tham khảo thêm bản án ―Land Berlin‖ 2013 và bản án ―Fahnenbrock 2015‖)
Trang 4Vấn đề thứ hai liên quan đến các trường hợp khác mà Quy chế Bruxelles I bis sẽ không được áp dụng được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 12 Theo đó Quy chế sẽ không được áp dụng trong các trường hợp liên quan đến:
Vấn đề thừa kế, hôn nhân gia đình, năng lực pháp lý của cá nhân;
Vấn đề liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng;
Vấn đề phá sản, xử lý nợ và các thủ tục tương tự;
Vấn đề trọng tài;
Vấn đề bảo hiểm xã hội
2.2 Tiêu chuẩn về thời gian áp dụng (Critère rationae temporae)
Quy chế Bruxelles I bis có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 10/01/2015 (Điều 813
)4 Vì vậy, đối với các tình huống tư pháp quốc tế diễn ra trước thời điểm này sẽ áp dụng các quy định của Quy chế Bruxelles I
Đối với tiêu chuẩn này, có một số vấn đề cần quan tâm:
Thứ nhất, làm thế nào để định nghĩa được ngày bắt đầu của hành động khởi kiện?
Trong vấn đề này, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu đã cho rằng cần phải
có sự tham khảo đối với các quy định của pháp luật trong nước, nói cách khác là luật của quốc gia nơi đặt tòa án giải quyết Một vấn đề khác cần quan tâm liên quan đến vấn đề trùng tố Ở đây việc xác định chính xác thời điểm khởi kiện là rất
2
Khoản 2 Điều 1: ―Sont exclus de son application:
a) l’état et la capacité des personnes physiques, les régimes matrimoniaux ou les régimes patrimoniaux relatifs aux relations qui, selon la loi qui leur est applicable, sont réputés avoir des effets comparables au mariage; b) les faillites, concordats et autres procédures analogues;
c) la sécurité sociale;
d) l’arbitrage;
e) les obligations alimentaires découlant de relations de famille, de parenté, de mariage ou d’alliance;
f) les testaments et les successions, y compris les obligations alimentaires résultant du décès.‖
Trang 5quan trọng nhằm xác định chính xác đâu là tòa án nhận được yêu cầu xét xử đầu tiên Đây là một cơ sở rất quan trọng để xác định thẩm quyền xét xử của tòa án
Thứ hai, liên quan đến việc thỏa thuận trước về tòa án có thẩm quyền xét
xử của các bên
Ở đây, câu hỏi đặt ra là nếu các bên đã có một thỏa thuận về việc xác định tòa án có thẩm quyền xét xử trước ngày 10/01/2015 thì liệu Quy chế Bruxelles I bis có được áp dụng hay không?
Trong trường hợp này, câu trả lời là có nếu như việc đệ đơn khởi kiện được thực hiện vào thời điểm mà Quy chế Bruxelles I bis đã có hiệu lực thi hành Nói cách khác, thỏa thuận của các bên không ảnh hưởng đến việc áp dụng Quy chế Bruxelles I bis mà vấn đề nằm ở thời điểm khởi kiện của các bên
Thứ ba, liên quan đến vấn đề công nhận và thi hành một bản án giữa các quốc gia
Ở đây, câu hỏi đặt ra là đối với việc công nhận và thi hành một bản án giữa các quốc gia, liệu các quy định của Quy chế Bruxelles có được áp dụng trong trường hợp mà vào thời điểm bản án được tuyên tại một quốc gia thì quốc gia còn lại vẫn chưa trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu?
Vấn đề này đã được giải thích trong một bản án của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu vào năm 2012 (bản án ―Wolf Naturprodukte GmbH‖) Đây là một tình huống liên quan đến việc công nhận và thi hành một bản án giữa Áo và Slovakia Theo đó vào thời điểm mà bản án được tuyên ở Áo thì Slovakia vẫn chưa trở thành thành viên của Liên minh châu Âu Trong trường hợp này, Tòa án Công
lý Liên minh châu Âu đã phán quyết rằng để được áp dụng các quy định của Quy chế Bruxelles, đòi hỏi rằng Quy chế phải có hiệu lực áp dụng vào thời điểm mà bản án được tuyên ở cả hai quốc gia có liên quan Nói cách khác là đòi hỏi cả hai quốc gia đều phải là thành viên của Liên minh châu Âu vào thời điểm mà bản án được tuyên thì Quy chế Bruxelles mới được áp dụng
Trang 62.3 Tiêu chuẩn về không gian áp dụng (Critère rationae loci)
Như đã trình bày, Quy chế Bruxelles I bis giới hạn áp dụng trên lãnh thổ thuộc Liên minh châu Âu Chính vì vậy, các câu hỏi liên quan đến không gian áp dụng của văn bản này cũng đóng vai trò rất quan trọng
Thứ nhất, các vấn đề liên quan đến không gian địa lý của Liên minh châu
Âu
Ở đây, có một số câu hỏi được đặt ra đối với Vương quốc Anh, Cộng hoà Ai-len và Đan mạch Đối với Đan Mạch, trước đây quốc gia này không áp dụng các quy định của Quy chế Đến ngày 18/6/2014, Đan Mạch đã biểu lộ sự tự nguyện
áp dụng các quy định của Quy chế Bruxelles I bis và vấn đề ở đây liên quan đến pháp luật về thể chế của Liên minh châu Âu
Thứ hai, liệu Quy chế Bruxelles I bis có được áp dụng trong một tranh chấp có “yếu tố nước ngoài” hay không?
Liên quan đến vấn đề này, có một số khó khăn nhất định liên quan đến việc định nghĩa một ―yếu tố nước ngoài‖ trong trường hợp của Liên minh châu Âu Theo nguyên tắc có thể thấy rằng để được áp dụng Quy chế Bruxelles I bis, tranh chấp cần phải xảy ra giữa ít nhất 02 quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu Tuy nhiên, vào năm 2005, trong bản án ―Owusu‖, Tòa án Công lý Liên minh châu
Âu đã quyết định rằng việc áp dụng Quy chế Bruxelles để giải quyết tranh chấp (vào thời điểm này vấn đề liên quan đến Công ước Bruxelles) có thể bao gồm một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu và một quốc gia thứ ba Qua đó có thể thấy phạm vi áp dụng rất rộng của Quy chế Bruxelles I bis
Sở dĩ có sự khó khăn này là do Quy chế Bruxelles I bis không quy định rõ ràng phạm vi áp dụng về mặt không gian Khi đó, chỉ qua thực tế áp dụng thì chúng ta mới có thể xác định chính xác được phạm vi áp dụng của văn bản này Theo đó trên thực tế, chỉ cần xuất hiện một tiêu chí được quy định trong Quy chế Bruxelles I bis được thực hiện trên lãnh thổ của Liên minh châu Âu là đủ để áp dụng văn bản này
Trang 7Tóm lại, Quy chế Bruxelles I bis sẽ được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Khi bị đơn thường trú trên lãnh thổ của Liên minh châu Âu
Khi đối tượng tranh chấp có một mối liên hệ mật thiết với một quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu mà ở đó các tòa án thuộc quốc gia này xác lập thẩm quyền duy nhất (độc quyền)5
Khi các bên đã có thỏa thuận trước về việc xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tòa án được chỉ định thuộc một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu
Khi xuất hiện một bên yếu thế hơn trong tranh chấp (ví dụ như người lao động hay người tiêu dùng) đang thường trú trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên và họ mong muốn khởi kiện tại tòa án nơi mình thường trú6 Tóm lại, để xem xét rằng Quy chế Bruxelles I bis có được áp dụng hay không, chúng ta cần kiểm tra tiêu chuẩn về phạm vi áp dụng theo nội dung và tiêu chuẩn
về thời gian áp dụng, sau đó là tiêu chuẩn về không gian áp dụng cho từng trường hợp cụ thể
II CÁC QUY ĐỊNH NỔI BẬT CỦA QUY CHẾ BRUXELLES I BIS
1 Việc xác định thẩm quyền chung
Việc xác định thẩm quyền chung được quy định tại Điều 4 Quy chế Bruxelles I bis Theo đó, nơi thường trú của các bên đóng vai trò chủ đạo trong việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa án Cụ thể, tòa án của quốc gia thành viên nơi thường trú của các bên sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Ở đây, chúng ta hoàn toàn không đặt nặng vấn đề quốc tịch của các bên Câu hỏi duy nhất đặt ra là làm thế nào để xác định chính xác đâu là nơi thường trú của các đương sự?
Về vấn đề này, Quy chế Bruxelles I bis đã phân biệt hai trường hợp cụ thể liên quan đến cá nhân và pháp nhân tại Điều 62 và 63 Theo đó:
5 Ví dụ như các vấn đề liên quan đến bất động sản (đã đề cập trong phần 1)
6 Đây là một biện pháp bảo vệ cho bên yếu thế trong tranh chấp, sẽ được giới thiệu trong các nội dung tiếp sau
Trang 8Đối với cá nhân, Điều 62 Khoản 17
quy định rằng để xác định một cá nhân có đang thường trú trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên hay không, các thẩm phán cần vận dụng các quy định trong nước để điều chỉnh (quy định dẫn chiếu ngược về luật quốc gia) Như vậy, trong trường hợp của nước Pháp, chúng ta sẽ cần vận dụng Điều 1028 Bộ luật Dân sự Pháp để xác định nơi thường trú của cá nhân
Đối với pháp nhân, việc xác định sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 63 Khoản 19
, theo đó nơi thường trú của pháp nhân được xác định tại:
Nơi đặt trụ sở đã đăng ký hợp pháp;
Nơi đặt trụ sở chính (tổng hành dinh); hoặc
Nơi đặt cơ sở chính của pháp nhân
* Trường hợp không xác định được nơi thường trú của các bên:
Đối với tình huống này, có thể vận dụng các bản án của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu để xác định Cụ thể:
Tại bản án ―Hypotecni banka‖ năm 2011, Tòa án Công lý Liên minh châu
Âu đã tuyên bố rằng trong trường hợp nơi thường trú hiện tại không thể xác định nhưng nếu có thể xác định và công nhận được nơi thường trú cuối cùng của đương
sự nằm trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu, thì nơi thường trú cuối cùng đó sẽ là căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử của tòa án
Ngoài ra, cũng có thể vận dụng bản án ―Cornelius de Visser‖ năm 2012 để
xác định Theo đó nếu bị đơn là công dân của một nước thành viên thuộc Liên minh châu Âu nhưng hiện tại không thể xác định được nơi thường trú chính xác và nếu tòa án thụ lý không thể kết luận là bị đơn cư trú ngoài Liên minh châu Âu thì vẫn xem như bị đơn đang cư trú trong lãnh thổ thuộc Liên minh châu Âu
a) leur siège statutaire;
b) leur administration centrale; ou
c) leur principal établissement.‖
Trang 92 Các thẩm quyền đặc biệt
Đại diện bởi quy định tại Điều 7 Quy chế Bruxelles I bis Các thẩm quyền này thể hiện quyền của nguyên đơn trong việc đệ đơn khởi kiện, theo đó trong các lĩnh vực cụ thể, nguyên đơn có quyền lựa chọn việc khởi kiện bị đơn tại một tòa án thuộc một quốc gia thành viên khác, với mục đích nhằm tạo điều kiện cho một tòa
án có liên hệ mật thiết hơn với nội dung tranh chấp có thể đứng ra giải quyết vụ việc Cụ thể:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 7 Khoản 1 Quy chế Bruxelles I bis10, trong lĩnh vực hợp đồng, tòa án nơi thực hiện nghĩa vụ được yêu cầu sẽ có thẩm quyền giải quyết Ngoài ra, liên quan đến nơi thực hiện nghĩa vụ, Quy chế Bruxelles I bis cũng đã phân biệt rõ 02 trường hợp có liên quan, bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ Theo đó:
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, nơi thực hiện nghĩa vụ là nơi (tại một quốc gia thành viên) mà hàng hóa đã hoặc sẽ phải được chuyển tới;
Đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ, là nơi mà dịch vụ đã hoặc sẽ phải được cung ứng
Liên quan đến Điều 7 Khoản 1, có một vấn đề luôn phải làm rõ đó là việc định nghĩa chính xác khái niệm về lĩnh vực hợp đồng nhằm phân biệt với các tình huống thuộc lĩnh vực ngoài hợp đồng Theo đó khái niệm này đã được diễn giải
bởi Tòa án Công lý Liên minh châu Âu trong một bản án vào năm 1992, ―Jakob
Handte‖ Theo đó lĩnh vực hợp đồng đòi hỏi phải có một cam kết tự do ràng buộc
và phải thực hiện của một bên đối với bên còn lại Tuy nhiên, có một vấn đề là Quy
Trang 10chế Bruxelles I bis lại khơng quy định rõ về các chứng từ cĩ giá trị hợp đồng nên trên thực tế việc vân dụng đơi khi cũng gặp khĩ khăn
Một khái niệm khác cũng cần làm rõ đĩ là khái niệm về nơi thực hiện nghĩa
vụ Trên thực tế, một hợp đồng cĩ thể xuất hiện nhiều nơi thực hiện nghĩa vụ và trong trường hợp này Tịa án Cơng lý Liên minh châu Âu đã tuyên bố rằng nơi thực hiện nghĩa vụ chính sẽ được xem là cơ sở để xác định thẩm quyền
Thứ hai, theo quy định tại Điều 7 Khoản 2 Quy chế Bruxelles I bis11, trong tình huống liên quan đến hành vi vi phạm (lĩnh vực ngồi hợp đồng), việc khởi kiện cĩ thể được thực hiện tại tịa án nơi mà tác nhân gây thiệt hại được sinh ra hoặc cĩ nguy cơ được sinh ra Cũng cần lưu ý là phải đảm bảo điều kiện rằng bị đơn đang thường trú trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu
Tương tự như lĩnh vực hợp đồng, trong trường hợp này, việc xác định chính
xác khái niệm hành vi vi phạm cũng rất quan trọng, theo đĩ tại bản án ―Kalfelis‖
năm 1988, tịa án đã giải thích cụ thể rằng một hành vi vi phạm sẽ được đánh giá đối với một tình huống liên quan đến việc quy trách nhiệm cho bị đơn và khơng liên quan đến lĩnh vực hợp đồng
Liên quan đến vấn đề này, cĩ một câu hỏi được đặt ra là những hành vi vi phạm mang tính ―phức tạp‖ sẽ được giải quyết như thế nào? Ở đây, sự ―phức tạp‖ thể hiện qua việc cĩ một sự khác nhau liên quan đến lãnh thổ của các quốc gia cĩ liên quan đến vụ việc, trong đĩ tác nhân gây thiệt hại xuất phát từ một quốc gia và
thiệt hại xảy ra tại một quốc gia khác Đối với vấn đề này, bản án ―Mines de
potasse d’Alsace‖ năm 1976 đã tuyên bố rằng nguyên đơn cĩ quyền lựa chọn
trong việc khởi kiện tại tịa án của quốc gia nơi tác nhân gây thiệt hại sinh ra hoặc tại tịa án của quốc gia nơi mà nguyên đơn phải chịu tổn thất Lưu ý rằng quyền lựa chọn nơi xét xử này khơng được áp dụng cho các nạn nhân chịu thiệt hại một cách gián tiếp
11 Điều 7 Khoản 2: ―en matière délictuelle ou quasi délictuelle, devant la juridiction du lieu ó le fait dommageable s’est produit ou risque de se produire;‖
Trang 11Bên cạnh đĩ, sự phức tạp cịn được thể hiện qua các hành vi vi phạm trên mơi trường internet Ngày nay, các vấn đề liên quan đến các hành vi xâm hại đến quyền hợp pháp của cá nhân diễn ra trên mơi trường internet xuất hiện rất nhiều Một ví dụ cụ thể liên quan đến các thơng tin gây thiệt hại cho danh dự, nhân phẩm của một cá nhân là nếu so với báo giấy thì phạm vi ảnh hưởng của internet cao hơn gấp nhiều lần vì ai cũng cĩ thể tiếp xúc với các thơng tin này Chính vì vậy, thơng qua bản án ―eDate advertising: O Martinez‖, tịa án đã mở rộng phạm vi diễn giải của Điều 7 Khoản 2 Quy chế Bruxelles I bis rằng ngồi tịa án nơi cư trú của bị đơn, việc khởi kiện cịn cĩ thể được thực hiện tại:
Tịa án của quốc gia thành viên nơi phát tán các thơng tin gây thiệt hại quyền hợp pháp của các cá nhân;
Tịa án của quốc gia thành viên nơi mà nạn nhân đang cĩ các quyền lợi chính cần được bảo vệ;
Các tịa án tại các quốc gia thành viên nơi cĩ thể tiếp cận được thơng tin được đăng tải trên internet với điều kiện là phải cĩ thiệt hại xảy
ra trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đĩ
Ngồi ra, Điều 7 Quy chế Bruxelles I bis cịn quy định thẩm quyền xét xử của tịa án đối với các lĩnh vực khác như khắc phục thiệt hại, quyền sở hữu tài sản, v,v12
12 Điều 7: ―3) s’il s’agit d’une action en réparation de dommage ou d’une action en restitution fondées sur une infraction, devant la juridiction saisie de l’action publique, dans la mesure ó, selon sa loi, cette juridiction peut connaỵtre de l’action civile;
4) s’il s’agit d’une action civile, fondée sur le droit de propriété, en restitution d’un bien culturel au sens de l’article 1 er , point 1), de la directive 93/7/CEE, engagée par la personne revendiquant le droit de récupérer un tel bien, devant la juridiction du lieu ó le bien culturel est situé au moment de la saisine;
5) s’il s’agit d’une contestation relative à l’exploitation d’une succursale, d’une agence ou de tout autre établissement, devant la juridiction du lieu de leur situation;
6) s’il s’agit d’une action engagée à l’encontre d’un fondateur, d’un trustee ou d’un bénéficiaire d’un trust constitué soit en application de la loi, soit par écrit ou par une convention verbale, confirmée par écrit, devant les juridictions de l’État membre sur le territoire duquel le trust a son domicile;
7) s’il s’agit d’une contestation relative au paiement de la rémunération réclamée en raison de l’assistance ou du sauvetage dont a bénéficié une cargaison ou un fret, devant la juridiction dans le ressort duquel cette cargaison
ou le fret s’y rapportant:
a) a été saisi pour garantir ce paiement; ou
b) aurait pu être saisi à cet effet, mais une caution ou une autre sûreté a été donnée,