1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đầu tư phát triển công nghiệp tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

167 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á CCKT Cơ cấu kinh tế CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa DNNN Doanh nghiệp nhà nước ĐTPTCN Đầu tư phát triển công n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN



KANNIKA SAIGNASANE

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

TẠI NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chuyên ngành: KINH TẾ ĐẦU TƯ

Mã số: 62310105

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS PHẠM VĂN HÙNG

2 PGS.TS VŨ THÀNH HƯỞNG

Hà Nội - 2018

Trang 2

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Tôi xin cam đoan đề tài Luận án tiến sĩ “Đầu tư phát triển công nghiệp tại

nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu

của riêng tôi

Các số liệu được sử dụng trong Luận án hoàn toàn được thu thập từ thực tế, chính xác, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực và khách quan

Xác nhận của người hướng dẫn Nghiên cứu sinh

PGS.TS Phạm Văn Hùng KANNIKA SAIGNASANE

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài 5

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu của Lào 9

1.3 Kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu 11

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 12

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 13

VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 13

2.1 Ngành công nghiệp và vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế 13

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ngành công nghiệp 13

2.1.2 Vai trò ngành công nghiệp trong nền kinh tế 18

2.2 Vai trò và nội dung đầu tư phát triển công nghiệp 20

2.2.1 Khái niệm và vai trò đầu tư phát triển công nghiệp 20

2.2.2 Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp 28

2.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp 30

2.3.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước 30

2.3.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 31

2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển công nghiệp 32

2.4.1 Kết quả hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp 32

2.4.2 Hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp 37

2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp 40

2.5.1 Tiềm năng và nguồn lực cho phát triển công nghiệp 40

2.5.2 Hệ thống luật pháp và chính sách 41

2.5.3 Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ 41

2.5.4 Công tác khuyến công và xúc tiến đầu tư 41

2.5.5 Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp 42

2.6 Kinh nghiệm đầu tư phát triển công nghiệp của một số nước và bài học cho CHDCND Lào 42

2.6.1 Kinh nghiệm đầu tư phát triển công nghiệp của Việt Nam 42

Trang 4

2.6.4 Kinh nghiệm đầu tư phát triển công nghiệp của Thái Lan 48

2.6.5 Bài học kinh nghiệm cho việc đầu tư phát triển công nghiệp của Lào 50

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3 55

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 55

TẠI NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 2006 - 2015 55

3.1 Những điều kiện thuận lợi, khó khăn và chính sách của nước CHDCND Lào có ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp 55

3.1.1 Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào 55

3.1.2 Những chủ trương chính sách có ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào 56

3.2 Thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của CHDCND Lào 62

3.2.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào 62

3.2.2 Thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào phân theo nguồn vốn 64

3.2.3 Đầu tư phát triển công nghiệp phân theo các tiểu ngành chủ yếu 74

3.3 Đánh giá thành tự và hạn chế của đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào giai đoạn 2006-2015 80

3.3.1 Thúc đẩy cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH-HĐH 80

3.3.2 Gia tăng sự chuyển dịch cơ cấu các phân ngành công nghiệp 81

3.3.3 Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào 82

3.3.4 Sự thay đổi quy mô vốn đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào 85

3.3.5 Sự thay đổi về tỷ suất giá trị tăng thêm so với giá trị sản xuất 86

3.3.6 Kết quả khảo sát doanh nghiệp về các khía cạnh liên quan đến đầu tư phát triển công nghiệp tại nước CHDCND Lào 89

3.4 Những hạn chế và nguyên nhân trong đầu tư phát triển công nghiệp của Lào 101

3.4.1 Những hạn chế trong đầu tư phát triển công nghiệp 101

3.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 104

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 110

4.1 Định hướng đầu tư phát triển công nghiệp của Lào đến năm 2025 111

4.1.1 Bối cảnh phát triển quốc tế và trong nước 111

Trang 5

4.1.4 Phân tích SWOT về đầu tư phát triển công nghiệp tại Cộng hòa dân chủ nhân

dân Lào 124

4.2 Một số giải pháp cho hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp của Lào 129

4.2.1 Tăng cường huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp 129

4.2.2 Cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư đảm bảo việc phân bổ và sử dụng vốn hiệu quả và hợp lý 131

4.2.3 Giải pháp về phát triển khu, cụm công nghiệp, phát triển TTCN và làng nghề nhằm khắc phục những hạn chế trong cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp 132

4.2.4 Giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp 135

4.2.5 Giải pháp đầu tư phát triển khoa học công nghệ 136

4.2.6 Giải pháp với hoạt động xúc tiến đầu tư 137

4.2.7 Giải pháp đầu tư phát triển công nghiệp gắn liền với công tác bảo vệ môi trường 138

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 141

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

PHỤ LỤC 152

Trang 6

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

CCKT Cơ cấu kinh tế

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

ĐTPTCN Đầu tư phát triển công nghiệp

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GTSXCN Giá trị sản xuất công nghiệp

ICOR Tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng

KCN Khu công nghiệp

NLĐ Người lao động

NNL Nguồn nhân lực

NSNN Ngân sách nhà nước

ODA Viện trợ phát triển chính thức

R&D Nghiên cứu và phát triển

SWOT Ma trận kết hợp phân tích chiến lược bên trong, bên ngoài TSCĐ Tài sản cố định

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

VĐT Vốn đầu tư

WTO Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

Bảng 3.1: Quy mô vốn đầu tư phát triển công nghiệp 63

Bảng 3.2: Đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào phân theo vốn trong nước và vốn nước ngoài 64

Bảng 3.3: Vốn đầu tư của Lào giai đoạn 2006 - 2015 67

Bảng 3.4: Vốn đầu tư Nhà nước 70

Bảng 3.5: Quy mô vốn đầu tư nước ngoài 71

Bảng 3.6: Giá trị sản xuất công nghiệp của Lào 72

Bảng 3.7: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất phân theo thành phần kinh tế 73

Bảng 3.8: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Lào giai đoạn 2006 - 2015 74

Bảng 3.9: Số lượng nhà máy và cơ sở chế biến gỗ của Lào 75

Bảng 3.10: Các nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống 77

Bảng 3.11: Sản lượng khai thác năm 2005-2015 77

Bảng 3.12: Cơ cấu kinh tế trong GDP phân theo 3 khu vực 80

Bảng 3.13: Cơ cấu công nghiệp theo giá trị sản xuất của Lào 82

Bảng 3.14: Giá trị sản xuất công nghiệp của Lào 83

Bảng 3.15: Tài sản cố định huy động ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2015 84

Bảng 3.16: Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất phân theo thành phần kinh tế 85

Bảng 3.17: Vốn đầu tư phát triển công nghiệp theo ngành kinh tế 86

Bảng 3.18: Tỷ suất giá trị tăng thêm 87

Bảng 3.19: Chỉ tiêu số lao động có việc làm của ngành công nghiệp của Lào 88

Bảng 3.20: Kết quả đánh giá mục tiêu hướng tới đầu tư phát triển công nghiệp 90

Bảng 3.21: Kết quả đánh giá các khó khăn mà đầu tư phát triển công nghiệp đang phải đói mặt 91

Bảng 3.22: Kết quả đánh giá các nhân tố đối với đầu tư phát triển công nghiệp trong tương lai 92

Bảng 3.23: Kết quả đánh giá các mức độ ưu tiên trong việc đầu tư phát triển công nghiệp 93

Bảng 3.24: Kết quả đánh giá các mức độ ưu tiên phát triển các loại hàng hóa tại đầu tư phát triển công nghiệp 94

Bảng 3.25: Kết quả đánh giá các hoạt động có tính quyết định tới sự phát triển công nghiệp 95

Bảng 3.26: Kết quả các giải pháp về mặt cơ chế chính sách để tăng cường tính của đầu tư phát triển công nghiệp 96 Bảng 3.27: Kết quả đánh giá thu hút nguồn đầu tư để tiếp tục phát triển công nghiệp97

Trang 8

Bảng 3.29: Kết quả đánh giá các nguồn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong việc đầu

tư phát triển công nghiệp 99

Bảng 3.30: Kết quả đánh giá vai trò của cấp quản lý đối với việc đầu tư phát triển công nghiệp 100

Bảng 3.31: Kết quả đánh giá phát triển và khai thác có ĐTPTCN 101

Bảng 4.1: Cân đối nguồn vốn theo phương án phát triển cơ bản 123

Bảng 4.2: Phân tích SWOT 124

Trang 9

Hình 3.1: Tốc độ tăng trường GDP của Lào 2006 - 2015 58

Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát ở Lào (2006-2015) 59

Hình 3.3: Tỷ giá hối đoái đồng tiền kíp (2006 - 2015) 60

Hình 3.4: GDP trung bình đầu người giai đoạn 2006 - 2015 61

Hình 3.5: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp giai đoạn 2006-2015 65

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng như hiện nay của các quốc gia trên toàn thế giới, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng không nằm ngoài xu thế đó, việc đầu tư phát triển công nghiệp trở thành xu thế tất yếu, từ đó kích thích sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như tạo đà hỗ trợ sự phát triển của các ngành khác Thêm vào đó, sản xuất công nghiệp với các sản phẩm hiện tại thể hiện cho đẳng cấp của một quốc gia, bởi khi sản xuất những sản phẩm hiện đại đó nó hội tụ trong đó năng lực tổng hợp của một quốc gia- từ tài nguyên thiên nhiên, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học công nghệ cho đến kỹ năng của từng lao động trong

xã hội đó Và thực tế cũng đã chứng minh, phần lớn các quốc gia có nền sản xuất công nghiệp hiện đại là các quốc gia hùng mạnh Chính vì vậy, đầu tư phát triển công nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia

và luôn được các quốc gia coi trọng

Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng đó của đầu tư phát triển công nghiệp, nước Cộng hòa dân chủ dân nhân (CHDCND) Lào cũng đã có những quyết sách, những giải pháp nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH-HĐH) của đất nước, cụ thể như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao năng lực hệ thống ngân hàng, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, phát triển khu vực tư nhân,…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được về đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào thì hoạt động này vẫn bộc lộ những yếu kém, đầu tư phát triển công nghiệp chưa phát huy được đầy đủ lợi thế của quốc gia, nền công nghiệp của nước CHDCND Lào chưa được bạn bè quốc tế đánh giá cao Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên, một phần do những bất cập trong hoạch định chính sách và tổ chức quản lý phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào, nhưng chủ yếu là do những yếu kém trong xác định chiến lược phát triển công nghiệp từ góc độ lợi thế so sánh, đánh giá xác định lợi thế trong phát triển công nghiệp

Đối với nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, thu nhập quốc dân đang còn ở mức thấp nên việc tiết kiệm, tích luỹ để có vốn đầu tư phát triển còn hạn chế Trong những năm gần đây, nhờ có những chính sách khuyến khích phù hợp, ngành công nghiệp đã huy động được một lượng vốn khá lớn so với các lĩnh vực khác cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, việc sử dụng vốn còn để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí lớn; hiệu quả vốn đầu tư đạt ở mức thấp và có xu hướng suy giảm

Trang 11

Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Nó là động lực của tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế xã hội và tạo ra các tác động có lợi cho chính trị xã hội Một nền kinh tế sẽ không thể tồn tại và phát triển nếu thiếu hoạt động đầu tư Đầu tư phát triển là một nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định đối với mỗi quốc gia Trong mỗi thời kỳ, nhu cầu đầu

tư thường đặt ra theo yêu cầu phát triển của mỗi ngành, lĩnh vực Vì vậy, việc tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp là một trong những hướng ưu tiên của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay

Việc nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào trong những năm gần đây, nhất là trong giai đoạn 2006-2015 chưa được giới nghiên cứu ở Lào và các nước khác chú trọng Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy, và rõ ràng rằng việc nghiên cứu thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp ở nước CHDCND Lào để từ đó tìm ra các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy nền công nghiệp của nước CHDCND Lào tiếp tục phát triển trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế là một yêu cầu bức thiết và thực sự có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ bản chất, vai trò của đầu tư phát triển công nghiệp đối với nền kinh tế nói chung và đối với nước CHDCND Lào Phân tích đánh giá thực trạng, xác định mức độ bảo đảm đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào, từ

đó rút ra được những kết quả tích cực và những hạn chế làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp của Lào

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đó, luận án đi trả lời câu hỏi nghiên cứu sau: Thứ nhất, thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào như thế nào trong giai đoạn 2006-2015

Thứ hai, Những giải pháp nào được đưa ra dựa trên kết quả phân tích thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào nhằm tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về đầu tư phát triển công nghiệp, trên cơ sở đó đánh giá đầu tư phát triển công nghiệp dựa trên kết quả đầu tư và đánh giá, nhìn lại quá trình đầu tư

Trang 12

* Phạm vi nghiên cứu: Luận án phân tích thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào thông qua số liệu giai đoạn 2006 – 2015 Từ thực trạng đề ra một số giải pháp chính để đề tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài, NCS sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Tác giả thực hiện tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu từ các nguồn như: Sách, giáo trình, tạp chí, luận văn, luận án… trong và ngoài nước Đề tài cũng thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo của các Bộ, ban ngành như

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương nước CHDCND Lào

• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (tiếp cận thực tế thông qua điều tra

khảo sát)

Ngoài những thông tin thứ cấp có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, đề tài đặt trọng tâm vào việc thu thập các thông tin sơ cấp, coi đây là nguồn thông tin quan trọng và đáng tin cậy cho việc tiến hành nghiên cứu Những thông tin này được thu thập thông qua khảo sát, điều tra thực tế, kết hợp với việc lấy ý kiến chuyên gia về các chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu Tác giả sẽ tiến hành trao đổi và phỏng vấn trực tiếp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Ban quản lý các khu công nghiệp của nước CHDCND Lào

• Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:

Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế, phương pháp nghiên cứu so sánh, phân tích theo cấu trúc logic các tài liệu thu thập được, phương pháp điều tra, thống kê Nghiên cứu cũng sử dụng phần mềm SPSS 21.0 để hỗ trợ thực hiện các phép phân tích thống kê

5 Những đóng góp mới của luận án

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển công nghiệp đối với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường

Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp của nước CHDCND Lào giai đoạn năm 2006 – 2015

Để xuất các giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước CHDCND Lào

Trang 13

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận chung về đầu tư phát triển công nghiệp

Chương 3: Thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp tại CHDCND Lào giai đoạn năm 2006 – 2015

Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp tại CHDCND Lào

Trang 14

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài

Đầu tư phát triển công nghiệp không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách vì vị trí và vai trò của đầu tư phát triển công nghiệp với sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, cụ thể, đối với nước CHDCND Lào, hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp là một yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong những năm vừa qua, Quốc hội, chính phủ cũng như các bộ ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh trong nước đã đành nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm giải pháp chính hữu hiệu nhằm đầu tư phát triển công nghiệp Có các nghiên cứu được thực hiện với các khía cạnh khác nhau khi nghiên cứu về đầu tư phát triển công nghiệp trên phạm vi quốc gia:

Theo quan điểm của Moosaetal (2005) khi nghiên cứu về chính sách khuyến khích đầu tư đã chỉ ra rằng, các nhà hoạch định chính sách ở các nước thiếu vốn đang quan tâm đến các yếu tố quyết định thu hút đầu tư Các chính phủ có chính sách ưu đãi mạnh mẽ hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng có khả năng cung cấp các dòng vốn FDI và các chính sách để thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã trợ thành tiêu chuẩn trong hầu hết các quốc gia Trong khi đó, tác giả Bellak (2008), một trong những câu hỏi chính sách quan trọng nhất được trình bày của tác giả này là những điều khoản nào của chính sách thu hút đầu tư sẽ được sử dụng để thu hút vốn đầu tư nói

chung, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp nói riêng Đa số các nước đang phát triển đã

áp dụng các biện pháp tự do hóa khuôn khổ cho FDI và các cơ chế thực hiện cho công tác giải quyết tranh chấp đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc đẩy phát triển, phân tích quan điểm này và cho rằng chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư cho các quốc gia, qua việc thúc đẩy các chính sách mở cửa,

và thực hiện các chiến lược mời gọi các công ty nước ngoài bắt đầu kinh doanh từ các điều kiện thuận lợi được tạo ra bởi chính phủ Thiếu sự đồng thuận là do sự khác biệt rất lớn trong quan điểm, phương pháp luận, thu thập mẫu và các công cụ phân tích Nhưng chưa có yếu tố quyết định quan trọng nhất truyền thống là quy mô của thị trường trong nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tác giả F.Peroux (1950) trong nghiên cứu về “ Lý thuyết cực phát triển” đã chỉ

ra rằng, một vùng không thể phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các điểm của nó, có những điểm phát triển nhanh trong khi ở những điểm khác lại chậm phát triển hoặc trì

Trang 15

trệ Các điểm phát triển nhanh này là những trung tâm có lợi thế so sánh với toàn vùng Như vậy, có thể chú trọng tác động vào những khu vực trọng điểm làm đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ Đó là, ngành công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng của vùng và đi kèm theo với điểm tăng trưởng là một ngành công nghiệp then chốt Ngành công nghiệp then chốt phát triển, lãnh thổ được phân bố cũng phát triển

Một hướng nghiên cứu khác cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm đó là việc tập trung nghiên cứu về các khu công nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của các quốc gia khi các khu công nghiệp là một trong những điểm đầu tư tập trung về công nghiệp của mỗi quốc gia Một số nghiên cứu đã được thực hiện theo hướng làm thế nào để phát triển khu công nghiệp theo hướng các khu công nghiệp xanh như nghiên cứu của: Popescu et al (2008), Lambert et al (2002) Nghiên cứu này tập trung giải thích tại sao nên phát triển các khu công nghiệp theo hướng khu công nghiệp xanh, những thuận lợi và rủi ro của việc phát triển các khu công nghiệp với cộng đồng sống quanh khu công nghiệp Đồng thời, tác giả chỉ ra những điểm mạnh của loại hình này tới quá trình phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển có thể giảm ảnh hưởng môi trường do phát triển các khu công nghiệp mang lại Những nghiên cứu này mang hướng diễn giải những luận cứ cho vấn đề nghiên cứu dựa trên lý thuyết về tác động môi trường, lý thuyết về khu công nghiệp, khu công nghiệp xanh để đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến nghiên cứu như nghiên cứu của tác giả Trịnh Quân Được (2001), nghiên cứu của tác giả đã hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện lý luận về hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp từ nguồn vốn ngân sách, thông qua việc phân tích rõ thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp từ nguồn vốn ngân sách trên cơ sở đối chiếu với những yêu cầu và vai trò của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như vậy, mục đích nghiên cứu của luận án là phát huy tốt vai trò của đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua việc đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp sử dụng vốn ngân sách nhà nước Tuy nhiên, ở trong nghiên cứu này, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra một số chỉ tiêu tính toán hiệu quả đầu tư chung, nhưng chưa đưa ra được hệ thống chỉ tiêu tương ứng với đặc thủ của ngành công nghiệp Trong khi đó, tác giả Nguyễn Văn (2009) cũng nghiên cứu vấn đề huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, tuy nhiên luận án hệ thống hoá các vấn đề lý luận về huy động vốn cho đầu tư phát triển

Trang 16

kinh tế - xã hội vùng Dựa trên các lý thuyết của kinh tế học và khoa học quản lý kinh

tế, luận án chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Tuy nhiên, luận án cũng chưa đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước của chính quyền đối với đầu tư phát triển kinh tế

Hay trong nghiên cứu của tác giả Trần Đức Lộc (2005), nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nghiên cứu sâu và tương đối kỹ vào lĩnh vực hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư Làm rõ thêm các cơ sở lý luận về đầu tư phát triển nói chung và việc sử dụng vốn đầu tư như thế nào là hợp lý nhất Tuy nhiên tác giả cũng chưa nghiên cứu sâu về đầu tư phát triển kinh tế của một

vùng hoặc địa phương nhất định

Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2002) đã chỉ ra rằng, công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu là một trong các ngành được nhiều quốc gia quan tâm đầu tư phát triển (nhất là các quốc gia có lợi thế về biển) vì các ưu thế về vốn đầu tư không quá lớn, tận dụng được nguồn nhân công trong nước và tạo thuận lợi cho mở rộng quan hệ thương mại và giao lưu quốc tế Tuy nhiên, công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu có những đặc trưng rất cơ bản, nó chi phối và tác động trực tiếp đến kết sản xuất kinh doanh của

ngành kinh tế - kỹ thuật này, buộc các nhà sản xuất và quản lý phải quan tâm đến nó

Tác giả Phạm Thị Ánh Nguyệt (2014) trong nghiên cứu của mình đã đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Thái Bình, thực trạng chính sách khuyến khích đầu tư, xác định những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách, từ đó xác định mức độ tác động của chính sách khuyến khích đầu tư đến quá trình phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Luận án đã chỉ rõ những điểm mạnh cũng như những hạn chế, bất cập của chính sách: (1) Một số nội dung chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn địa phương, (2) Các cơ chế

hỗ trợ vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm, (3) Thiếu chế tài trong công tác quản lý thực thi chính sách, (4) Thiếu chế tài chuyển tiếp giữa các giai đoạn chính sách, (5) Chính sách xây dựng chưa xuất phát từ quy hoạch, (6) Thiếu sự phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Luận án đề xuất những điều kiện để có thể thực thi các giải pháp hoàn thiện chính sách trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh Thái Bình cũng như đưa ra bài học đối với một số địa phương khác trong cả nước Cụ thể: (1) Trung ương tiếp tục hoàn thiện các chính sách vĩ mô về đầu tư, khuyến khích đầu tư đối với ngành công nghiệp, (2) Tăng cường liên kết, hợp tác với các địa phương khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng, (3) Nâng cao chất lượng trong công tác quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, (4) Nâng cao hiệu quả công

Trang 17

tác hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, (5) Nâng cao tính minh bạch của chính

sách và tăng cường công tác tuyên truyền cho chính sách

Trong khi đó, một số nghiên cứu được thực hiện nhằm khai thác các vấn đề liên quan đến khu công nghiệp đã được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, tác giả Phạm Đình Tuyển (2001), Nguyễn Xuân Hinh (2003) tập trung nghiên cứu về thực trạng quy hoạch khu công nghiệp (KCN), tổ chức lãnh thổ, từ đó đưa ra các giải pháp

về quy hoạch KCN nhằm phát triển KCN tại Việt Nam Trong khi đó tác giả Nguyễn Đình Thu (2005) tập trung nhiều hơn cho phân tích giải pháp đầu tư nhằm tăng tính liên kết giữa khu chức năng, công cộng và sản xuất trong quay trình quy hoạch xây dựng các KCN tại Hà Nội

Một khía cạnh tiếp cận khác về phát triển bền vững các khu công nghiệp tại Việt Nam, tác giả Trương Giang Long và cộng sự (2004), Trần Ngọc Hưng (2004), Vũ Thành Hưởng (2006), Võ Thy Trang (2015), đã tập trung nghiên cứu về thực trạng phát triển bền vững các khu công nghiệp, từ đó đưa ra các đánh giá về mặt thành công

và những mặt hạn chế về phát triển các khu công nghiệp để từ đó có thể đề xuất các kiến nghị góp phần phát triển bền vững các khu công nghiệp tại Việt Nam Tác giả Lê Thế Giới (2009) đưa ra các các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phương, từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh

Một số nghiên cứu khai thác khía cạnh tác động của cơ chế, chính sách phát triển KCN đến sự phát triển bền vững của các KCN như nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2007), Ngô Thắng Lợi và cộng sự (2006), Mai Văn Nam và cộng sự (2010), Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Ngọc Dũng (2009)… Thông qua phân tích những tồn tại

ở các địa phương như tình trạng thành lập nhiều KCN tại những một số địa phương chưa có đủ điều kiện, cạnh tranh không lành mạnh về thu hút giữa các địa phương, ô nhiễm môi trường không được quản lý tại các KCN… Từ đó, các tác giả đề xuất các khuyến nghị thay đổi chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển các KCN bền vững như đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống thể chế KCN, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KCN

Trong khi đó, trong các nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả Đặng Phi Trường và cộng sự (2016) lại tập trung phân tích ảnh hưởng của lao động tới thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, phương pháp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu

Trang 18

được tác giả sử dụng cho nghiên cứu Bằng việc khảo sát các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã có góc nhìn từ chính bản thân doanh nghiệp- chủ thể tham gia vào quá trình thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, phân tích và đưa ra các kiến nghị nhằm có thể đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thu hút vốn đầu tư vào địa bàn Trong khi đó tác giả Mai Văn Nam và cộng sự (2010) lại tập trung nghiên cứu việc sử dụng lao động và huy động lao động nhằm tạo

ra điều kiện thuận lợi nhất cho thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu khảo sát, nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Ninh Thuận và cộng sự (2012) có sử dụng thêm phương pháp phân tích nhân tố để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp vào các khu công nghiệp tại Thành Phố Cần Thơ, kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp có những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, phân tích nhân tố được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này Trên cơ sở

đó, tác giả đề xuất các kiến nghị góp phần thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, một số kiến nghị được tác giả đề xuất như: cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giải pháp ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp, ổn định nguồn nhân lực Trong khi đó, tác giả Vũ Thành Hưởng (2010) lại tập trung nghiên cứu làm thế nào để phát triển bền vững các khu công nghiệp trong vùng trọng điểm kinh tế bắc bộ, các giải pháp được tác giả đề xuất nhằm phát triển các khu công nghiệp trong khu vực này

Một số nghiên cứu tập trung thực hiện theo hướng ĐTPT kết cấu hạ tầng tại các khu công nghiệp như Trần Ngọc Hưng (2009), nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về hiệu quả thu hút đầu tư với thực trạng xây dựng kết cấu hạ tầng các KCN bao gm cả kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, trên cơ sở phân tích thực trạng đó, tác giả sẽ

đề xuất các kiến nghị góp phần phát triển đồng bộ các KCN Bên cạnh đó ảnh hưởng của ĐTPT KCN đến các vấn đề xã hội (nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế,… nhằm đảm bảo đời sống cho người dân) cũng được nhiều tác giả quan tâm như Trần Viết Tiến (2008),

Lê Xuân Bá (2007), Hoàng Hà và cộng sự (2009), Trần Ngọc Hưng (2009)

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu của Lào

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu tập trung nghiên cứu về vấn đề đầu tư phát triển công nghiệp, riêng với nước CHDCND Lào có rất ít công trình nghiên cứu và tập trung về vấn đề đầu tư phát triển công nghiệp

Trang 19

Tác giả Phonesay Vilaysack (2010) đã phân tích thực trạng hoạt động thu hút FDI

ở Lào trong những năm qua và rút ra những két quả và hạn chế:

Về kết quả, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước FDI đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, đưa nước Lào ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đồng thời từng bước vị thế của Lào trên trường quốc tế Sau hơn 20 năm mở cửa, dòng vốn FDI thu hút đã tác động tích cực đến nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội của Lào, bổ sung cho nguồn vốn cho đầu tư phát triển và góp phần khai thác và sử dụng các nguồn lực trong nước

Những hạn chế, hiệu quả vốn FDI ở Lào trong thời gian qua không nhất định, lượng vốn FDI thu hút vào Lào quá ít, không đều qua các thời kỳ và ở vị trí bất lợi so với các nước trong khu vực, bên cạnh đó là hiệu quả sử dụng vốn FDI không cao, số vốn thực hiện thấp, chưa tác động nhiều đến nền kinh tế của Lào

Nguyên nhân của những hạn chế trên đây bắt nguồn từ nhiều yếu tố bên ngoài

và bên trong làm cho môi trường đầu tư ở Lào chưa có sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đó là: Nhận thức về vai trò, vị trí của FDI, trong nền kinh tế chưa thực sự thống nhất cao và chưa quán triệt đầy đủ quan điểm, chủ trương thu hút FDI của Đảng

và Nhà nước ở các cấp, các ngành, các địa phương; Hệ thống luật pháp, chính sách về FDI của Lào tuy có nhiều tiến bộ và cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung vẫn chưa hoàn chỉnh theo mong muốn của các nhà đầu tư nước ngoài; thủ tục hành chính còn phiền hà, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng; Việc thu hút vốn FDI còn thiếu chủ động và thiếu quy hoạch cụ thể nên định hướng thu hút FDI chưa thực sự rõ ràng, chưa xác định rõ mục tiêu gọi vốn trọng tâm tương xứng đối với tiềm năng của mình; công tác xúc tiến đầu tư còn yếu và hình như không có

Tác giả Atsaphanthong Xiphanđon (2011), trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng đối với các nước đang phát triển, tác dụng chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là tích lũy vốn và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ, do thu nhập của các nước đang phát triển thấp nên tích lũy thấp mà tỷ lệ nhu cầu đầu tư cao FDI góp phần tăng thu nhập cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài Thông qua hợp tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới

Đối với nghiên cứu của Khamphouthong Vichithlasy (2013), tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về vốn đầu tư phát triển và huy động vốn cho đầu

tư phát triển ở một địa phương, luận án đã nghiên cứu và phân tích thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển theo 3 nguồn chủ yếu: vốn đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư

Trang 20

của khu vực dân cư và vốn đầu tư nước ngoài Qua nghiên cứu luận án đã góp phần khẳng định các thành tựu đạt được, đồng thời cũng chỉ rõ các hạn chế, tồn tại của công tác huy động vốn đầu tư phát triển tại thủ đô Viêng Chăn và trình bày các quan điểm định hướng, xác định nhu cầu vốn đầu tư phát triển của thủ đô Viêng Chăn

1.3 Kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu trong nước cũng như ở nước ngoài với các quan điểm nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các cách tiếp cận khác nhau đã có những đóng góp lớn trong quá trình nghiên cứu về đầu tư phát triển công nghiệp Mặc dù vậy, hầu như các nghiên cứu đều tập trung và phân tích chính sách thu hút đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài với những biện pháp đầu tư nhằm cải thiện môi trường đầu tư tại Lào Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về đầu tư phát triển công nghiệp của Lào theo cách tiếp cận từ nghiên cứu lý luận về áp dụng cho đất nước Các nghiên cứu chưa đưa ra một cách đầy đủ các yếu tố tác động đến đầu tư phát triển công nghiệp của các nước cũng như chưa đưa ra cách thức đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của đầu tư phát triển công nghiệp trong phạm vi Quốc gia

Hiện chưa có nghiên cứu về đầu tư phát triển công nghiệp trên cấp độ toàn bộ nền kinh tế theo hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của từng nội dung đầu tư phát triển công nghiệp của nước, các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp hoàn thiện đầu tư phù hợp với thực tiễn của đất nước, phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế của đất nước để góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước CHDCND

Lào Vì vậy, NCS đã lựa chọn đề tài luận án là “Đầu tư phát triển công nghiệp tại

nước CHDCND Lào” đảm bảo sự cần thiết của nghiên cứu

Trang 21

Cụ thể, tác giả đã hệ thống và phân tích những mặt đạt được, những mặt hạn chế của các nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển, công nghiệp, đầu tư phát triển công nghiệp, những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp trên phạm vi của một quốc gia

Thứ hai, tác giả cũng đã phân tích và so sánh những quan điểm của các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài, để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu để thực hiện nghiên cứu của mình, những vấn đề về mặt lý luận, những phương pháp và những kiến nghị trong mỗi nghiên cứu được tác giả phân tích, làm cơ sở kế thừa cho nghiên cứu của tác giả

Trang 22

CHƯƠNG 2:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 2.1 Ngành công nghiệp và vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ngành công nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm ngành công nghiệp

Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “ chế tạo, chế biến ” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật

Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất xã hội Công nghiệp bao gồm ba hoạt động chủ yếu là:

Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy

Sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông lâm ngư nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội

Hoạt động dịch vụ sửa chữa các loại sản phẩm công nghiệp nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng

Để thực hiện ba hoạt động cơ bản đó, dưới sự tác động của phân công lao động

xã hội kết hợp với tiến bộ khoa học và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành nên hệ thống các ngành công nghiệp: khai thác, chế biến và dịch vụ sửa chữa Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp Tính chất của hoạt động này là cắt đứt các đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên Chế biến là hoạt động sử dụng sự tác động của cơ học, hóa học và sinh học làm thay đổi hình thức, tính chất, kích thước của các loại nguyên liệu nguyên thủy để tạo ra các loại sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến ra sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống Quá trình chế biến từ một loại nguyên liệu có thể tạo ra được một loại sản phẩm tương ứng, và cũng có thể là một loại sản phẩm nào đó được tạo ra từ những loại nguyên liệu khác nhau Sản phẩm trung gian là các sản phẩm được coi là nguyên liệu cho quá trình sản xuất công nghiệp

để đưa vào sử dụng trong sản xuất hoặc tiêu dùng trong đời sống

Sửa chữa là hoạt động không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu lao động trong các ngành sản xuất và kéo dài thời gian sử dụng của các

Trang 23

sản phẩm dùng trong dời sống Công nghiệp sửa chữa là hình thức có sau so với công nghiệp khai thác và chế biến Lúc đầu các hoạt động này được thể hiện ngay trong các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân cư và do lực lượng lao động chính trong các ngành và lĩnh cực đó thực hiện Sau đó, với sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất, dịch vụ, và do sự phát triển

đa dạng hóa của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động sửa chũa có tính chất

xã hội

Với những nội dung được khái quát, trình bày ở trên có thể hiểu công nghiệp là một ngành kinh tế to lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp đó là bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình thức khác nhau Và nếu xét trên góc độ kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất thì công nghiệp còn được cụ thể hóa bằng các khái niệm khác nhau: công nghiệp và tiểu thụ công nghiệp, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, công nghiệp lớn và công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp nằm trong nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh

2.1.1.2 Đặc điểm của ngành công nghiệp

Nếu xét trên góc độ tổng hợp của các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do

sự phân công lao động xã hội nên nền kinh tế chia thành nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dừng Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất, có thể coi là tổng thể của hai ngành cơ bản

đó là nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thủ của hai ngành đó

Từ ý nghĩa đó, cần phải xem xét các đặc điểm của sản xuất công nghiệp khác với sản xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất

- Thứ nhất, các đặc trưng về mặt kỹ thuật – sản xuất của công nghiệp được thể hiện như sau:

+ Về công nghệ sản xuất: do sản xuất trong công nghiệp chủ yếu sử dụng các

phương pháp cơ học, lý học và quá trình sinh học nhằm làm biến đổi hình dáng kích thước và tính chất của nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lại bằng phương pháp sinh học là chủ

Trang 24

yếu Trong hoạt động lao động sản xuất, các phương pháp cơ, lý hóa chỉ (làm đất, chăm sóc, thủ lợi ) chỉ là những tác động tạo điều kiện môi trường sinh thái để phương pháp sinh học được thực hiện, làm biến đổi đối tượng lao động là cây trồng, vật nuôi, từ đó hình thành và phát triển, tạo ra các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người Nghiên cứu đặc trưng về công nghệ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học – công nghệ thích ứng với mỗi ngành

+ Về sự biến đổi các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất: các đối tượng

lao động của quá trình sản xuất công nghiệp, sau mỗi chu kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này sang các sản phẩm có công dụng cụ thể hoàn toàn khác Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có các công dụng khác nhau Trong khi đó, đối tượng lao động của sản xuất nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu Nghiên cứu đặc trưng này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc tổ chức quá trình sản xuất và chế biến, khai thác và sử dụng tổng hợp nguyên liệu

+ Về công dụng kinh tế của sản phẩm: trong khi sản phẩm nông nghiệp chủ yếu

đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thì sản phẩm công nghiệp có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu của sản xuất và đời sống, phát triển khoa học công nghệ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Công nghiệp là ngành kinh tế duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế Đặc trưng này cho thấy

vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó

+ Về mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến quá trình sản xuất: Bản

thân các ngành công nghiệp khác nhau chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với mức

độ khác nhau: các ngành công nghiệp khai thác chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với mức độ lớn hơn các ngành công nghiệp chế biến Với sự phát triển của khoa học công nghệ công nghiệp vẫn có thể phát triển mạnh trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi

Thứ hai, đặc trưng kinh tế - xã hội của sản xuất:

+ Về trình độ xã hội hóa sản xuất: công nghiệp là ngành có trình độ xã hội hóa

cao Một sản phẩm công nghiệp thường là kết tinh lao động của nhiều đơn vị khác nhau, các đơn vị này có thể trong cùng một tổ chức, hoặc những tổ chức khác nhau

Trang 25

được phân bổ ở những địa điểm khác nhau, thậm chí ở những nước khác nhau Sự liên kết giữa chúng, từ khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm đến khâu tiêu thụ sản phẩm và thực hiện những dịch vụ sau bán hàng tạo thành chuỗi liên kết ràng buộc chặt chẽ với nhau Quan hệ liên kết này không chỉ được thực hiện giữa các ngành với nhau, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong phạm vi một nước, mà còn ở phạm vi giữa các nước

+Về đội ngũ lao động: sự phát triển của công nghiệp kéo theo sự phát triển của

đội ngũ lao động công nghiệp Do đặc điểm kỹ thuật sản xuất, công nghiệp đại diện cho phương thức sản xuất mới trong quá trình sản xuất công nghiệp đào tạo ra được một đội ngũ lao động có tư duy, có tác phong và kỷ luật cao, nhanh nhạy với sự thay đổi của môi trường và có những đổi mới mang tư duy cạch mạng Đội ngũ lao động đó trong giai cấp công nhân luôn luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư của mỗi quốc gia

+ Về quản lý công nghiệp: do đặc trưng kỹ thuật sản xuất ngày càng hiện đại,

trình độ xã hội ngày càng được nâng cao, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, quản lý quá trình sản xuất công nghiệp được thực hiện hết sức chặt chẽ và khoa học Đó là điều kiện để đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục với hiệu quả kinh tế cao Các phương pháp quản lý công nghiệp ngày càng hoàn thiện gắn liền với những ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ và để đáp ứng với trình độ khoa học công nghệ ngày càng hiện đại Các mô hình và phương pháp quản lý công nghiệp thường được coi là hình mẫu cho đổi mới quản lý các ngành kinh tế quốc dân, trong đó có nông nghiệp

Nghiên cứu các đặc trưng về mặt kinh tế - xã hội của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thiết thực trong việc nhận thức rõ hơn những ưu thế của công nghiệp, điều kiện đảm bảo công nghiệp có những vai trò lãnh đạo dẫn dắt các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình xây dựng nền sản xuất lớn

2.1.1.3 Phân loại ngành công nghiệp

- Thứ nhất, phân loại căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm:

Theo công dụng kinh tế của sản phẩm, ngành công nghiệp được chia thành các ngành sản xuất tư liệu sản xuất thuộc nhóm A, các sản phẩm là tư liệu tiêu dùng thuộc nhóm B Ngoài ra, còn sắp xếp các cơ sở sản xuất công nghiệp vào hai nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Ngành công nghiệp nặng là tổng hợp của các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm là tư liệu sản xuất là chủ yếu, đặc biệt là tư liệu lao động, còn ngành công nghiệp nhẹ là tổng hợp các đơn

Trang 26

vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm là tư liệu tiêu dùng trong sinh hoạt là chủ yếu Căn cứ của sự phân loại này là dựa vào phương hướng sản xuất kinh doanh chủ yếu và tỷ trọng sản phẩm được sản xuất ra là tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng Đây là các phân loại có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy tắc tái sản xuất mở rộng để xây dựng mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho một nền kinh tế, trong mỗi thời kỳ phát triển nhất định

-Thứ hai, phân loại căn cứ vào phương thức tác động đến đối tượng lao động: Theo căn cứ phân loại này, công nghiệp được chia thành hai nhóm ngành: công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ cắt đứt đối tượng lao động khỏi môi trường tự nhiên, tạo thành các loại nguyên liệu nguyên thủy Công nghiệp chế biến thì làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thủy thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành các loại sản phẩm cuối cùng Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện cân đối trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, cân đối giữa nguồn nguyên liệu và chế biến nguyên liệu, xây dựng mô hình cơ cấu kinh

tế cân đối giữa khai thác tài nguyên và chế biến tài nguyên trong nền kinh tế của mỗi quốc gia

- Thứ ba, phân loại căn cứ vào sự tương đồng về kinh tế - kỹ thuật

Hệ thống công nghiệp được cấu thành từ nhiều phân hệ Mỗi phân hệ lại được cấu thành từ nhiều phân tử, mà mỗi phân tử là một doanh nghiệp công nghiệp Trong đó, có những doanh nghiệp công nghiệp có sự tương đồng về công dụng cụ thể của sản phẩm, về công nghệ sản xuất, về nguyên vật liệu sử dụng và về cơ cấu lao động Dựa vào một trong những tương đồng của các doanh nghiệp công nghiệp

đó có thể xếp chúng vào những ngành công nghiệp chuyên môn khác nhau ( trong thực tế còn gọi là ngành kinh tế - kỹ thuật) Chẳng hạn như hiên nay, ngành công nghiệp được phân chia thành 4 nhóm ngành chuyên môn hóa cấp I là: ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, công nghiệp sản xuất phân phối điện khí đốt hơi nóng và điều hòa không khí, và ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

-Thứ tư, phân loại căn cứ vào hình thức sở hữu:

Tương ứng với các hình thức sở hữu khác nhau, các doanh nghiệp công nghiệp được sắp xếp vào các thành phần kinh tế khác nhau: công nghiệp thuộc khu vực kinh

tế nhà nước, công nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhà nước và công nghiệp thuộc khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 27

-Thứ năm, phân loại căn cứ vào trình độ trang bị kỹ thuật:

Theo căn cứ phân loại này công nghiệp được chia thành hai bộ phận: công nghiệp hiện đại và công nghiệp thủ công Sản xuất thủ công sẽ dần được thay thế bằng máy móc thiết bị, nhưng có những loại sản xuất hoặc những bộ phận nhất định trên dây truyền sản xuất, máy móc thiết bị không thể thay thế được lao động thủ công Chẳng hạn, trong một số ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, lao động thủ công sẽ tạo ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc phục vụ cho xuất khẩu

Các phương pháp phân loại này có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định các giải pháp xây dựng nền kinh tế thành phần, trong việc tổ chức sản xuất và đầu tư vào việc ứng dụng học và công nghệ trong công nghiệp

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phân loại ngành công nghiệp Tuy nhiên, trong đề tài khi nghiên cứu về đầu tư phát triển ngành công nghiệp tác giả xin được tiếp cận theo góc độ phân loại ngành công nghiệp dựa trên căn cứ sự tương đồng về kinh tế - kỹ thuật

2.1.2 Vai trò ngành công nghiệp trong nền kinh tế

Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là ngành giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vai trò chủ đạo này được thể hiện ở những điểm sau:

Một là, công nghiệp định hướng về tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý cho các ngành kinh tế Sự định hướng và chi phối sự phát triển trình độ tổ chức sản xuất xã hội của ngành như sau:

+ Vạch ra kiểu mẫu về tổ chúc sản xuất, về phân công lao động xã hội nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất vừa thích ứng với trình độ kỹ thuật được nâng cao, vừa thúc đẩy nâng cao trình độ kỹ thuật cảu sản xuất

+ Sự thay đổi về tổ chức sản xuất và phân công lao động xã hội được thực hiên bởi “mo hình công nghiệp”, tạo ra những điều kiện để ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, đồng thời cũng là các tác nhân thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ trong mỗi ngành kinh tế

+ Những thay đổi trên đây sẽ thúc đẩy sự thay đổi các mặt của quan hệ sản xuất, từ quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý đến quan hệ phân phối nhằm đảm bảo sự phù hợp với trình độ ngày càng được nâng cao và tính chất xã hội ngày càng được mở rộng của lực lượng sản xuất

Trang 28

Hai là, công nghiệp tạo điều kiện vật chất để thực hiện yêu cầu trang bị và trang

bị lại kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân Vai trò này được thể hiện ở hai khía cạnh sau:

+ Phạm vi và trình độ trang bị kỹ thuật của các ngành kinh tế quốc dân phụ thuộc chủ yếu vào khả năng sản xuất của công nghiệp, trước hết là của các ngành công nghiệp nặng chủ chốt Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp là ngành duy nhất sản xuất và cung ứng các loại tư liệu sản xuất phục vụ các nội dung của tiến bộ khoa học

kỹ thuật, nên sự phát triển của công nghiệp nặng với trình độ kỹ thuật, quy mô và cơ cấu hợp lý sẽ là điều kiện đảm bảo tốc độ và phạm vi thực hiện tiến bộ công nghệ trong các ngành kinh tế quốc dân

+ Công nghiệp hướng dẫn các ngành kinh tế sử dụng các điều kiện vật chất mà

nó cung ứng Việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm vật chất ấy là điểu kiện đủ để chúng phát huy tác dụng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển bền vững của từng ngành kinh tế

Ba là, công nghiệp là nhân tố chủ yếu góp phần thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước

+ Sự phát triển rộng rãi công nghiệp trên cơ sở khai thác các ngành và phát huy lợi thế của các vùng lãnh thổ, đẩy mạnh giao lưu trao đổi giữa các vùng lãnh thổ sẽ giảm chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng trên đất nước

+ Sự phát triển công nghiệp về quy mô, tốc độ và trình độ sẽ kéo theo sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân Hơn nữa, việc sử dụng các sản phẩm và phương pháp công nghiệp trong các ngành kinh tế cũng làm thay đổi căn bản tính chất lao động của các ngành Nhũng yếu tố đó đã làm thay đổi cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ

+ Sự phát triển công nghiệp tập trung là hạt nhân kinh tế của việc hình thành các cụm dân cư, các khu đô thị mới

Bốn là, sự phát triển của công nghiệp thúc đẩy sự thay đổi ý thức xã hội tư duy

và lối sống

Sự phát triển của công nghiệp kéo theo sự hát triển của giai cấp công nhân công nghiệp Từ đó, ý thức hệ của giai cấp công nhân đại công nghiệp - giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất và là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới sẽ trở thành

ý thức hệ chủ đạo của hình thái kinh tế xã hội mới

Trang 29

2.2 Vai trò và nội dung đầu tư phát triển công nghiệp

2.2.1 Khái niệm và vai trò đầu tư phát triển công nghiệp

2.2.1.1 Khái niệm đầu tư phát triển công nghiệp

Đầu tư phát triển công nghiệp là quá trình thực hiện sự chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh các sản phẩm công nghiệp, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật, năng lực sản xuất-kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy móc, xây dựng nhà xưởng, vật kiến trúc và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất do hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp tạo ra

Do vậy, đầu tư phát triển công nghiệp vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội, tăng trưởng cao, ổn định và bền vững Bất kỳ xã hội nào, muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển, đặc biệt, là đầu tư phát triển công nghiệp xuất phát từ vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế

2.2.1.2 Đặc điểm đầu tư phát triển công nghiệp

Hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp có đầy đủ các đặc điểm của đầu tư phát triển nói chung Nhưng do đặc trưng của ngành công nghiệp, nên đầu tư phát triển công nghiệp có những đặc điểm nổi bật sau:

Quy mô vốn lớn, vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn

Một trong những đặc trưng cơ bản của đầu tư phát triển là: quy mô vốn đầu tư lớn Đối với ngành công nghiệp, do đặc điểm kỹ thuật của các ngành này thì điều đó càng thể hiện rõ nét hơn vì nhu cầu đầu tư phát triển công nghiệp lớn hơn nhiều so với các ngành nông nghiệp và dịch vụ Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật này thể hiện ở chỗ các tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công nghiệp là rất lớn Các ngành có đặc điểm này rõ nhất là các ngành công nghiệp khai thác (than, dầu mỏ, khí đốt ) công nghiệp thuộc kết cấu hạ tầng (sản xuất và truyền dẫn điện, sản xuất và truyền dẫn nước, công nghiệp xây dựng ) công nghiệp phục vụ nông nghiệp (cơ khí, hoá chất) Các ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp cơ khí, công nghiệp thuộc kết cấu hạ tầng có giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn, kết quả của đầu tư phát triển lớn gấp nhiều lần các cơ sở công nghiệp khác

Mặc dù đầu tư phát triển công nghiệp là khoản vốn lớn, thu hồi chậm nhưng rất cần cho nền kinh tế Với nhiệm vụ chi đầu tư phát triển công nghiệp như vậy, quy mô

và tỷ trọng đầu tư phát triển công nghiệp trong thực tế là rất lớn

Trang 30

Quá trình thực hiện đầu tư kéo dài, thời gian thu hồi vốn chậm

Bản thân hoạt động đầu tư phát triển đã mang đặc điểm là thời gian thực hiện đầu tư kéo dài Khoảng thời gian từ lúc chuẩn bị đầu tư đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng, thời gian để thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường rất lớn Đầu tư phát triển công nghiệp là một loại đầu tư có thời gian thực hiện dài nhất so với đầu tư vào các ngành khác Bởi hoạt động sản xuất công nghiệp thường phức tạp, đòi hỏi vốn lớn và kỹ thuật ngày càng cao Chính vì vậy mà quá trình chuẩn bị đầu tư, quá trình thực hiện dự án và cả quá trình hậu dự án thường rất dài Có những ngành công nghiệp thời gian thực hiện dự án kéo dài từ mười năm năm, hai mươi năm thậm chí ba mươi năm như ngành khai thác than, sản xuất điện Chính vì thời gian thực hiện và thu hồi vốn kéo dài như vậy mà hoạt động đầu tư phát triển chịu ảnh hưởng của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế có độ rủi ro cao Do vậy, các nhà đầu tư trước khi đầu tư phải cân nhắc cẩn thận trước khi có quyết định đầu tư chính thức để tránh tình trạng thua lỗ, không thu hồi vốn đầu tư

Các tài sản cố định trong công nghiệp hao mòn vô hình ngày càng lớn

Đây là đặc điểm mà trong phân tích và hoạch định chính sách đầu tư phát triển công nghiệp cần hết sức lưu ý vì nó sẽ quy định tuổi thọ của tài sản cố định trong ngành công nghiệp Sự cảnh báo về nguy cơ tụt hậu về kỹ thuật nói chung sẽ trở thành sự cảnh báo hao mòn vô hình ngày càng lớn trong đầu tư phát triển công nghiệp

Đầu tư phát triển công nghiệp có những đặc điểm sau:

- Tiền vốn, vật tư, lao động cần cho hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp thường là rất lớn Nhờ vậy mới có điều kiện tăng năng lực sản xuất mới và có sức cạnh tranh cao Chẳng hạn, đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp tập trung phải cần một lượng vốn không nhỏ

- Thời gian cần thiết cho việc tiến hành hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp thường kéo dài do yêu cầu của thời gian thi công xây dựng Thời gian này vốn đầu tư không tham gia quá trình sản xuất nên không sinh lợi Đặc điểm này, đòi hỏi các chủ đầu tư phải lựa chọn phương án thi công một cách hợp lý nhằm sớm đưa dự án vào sử dụng

- Thời gian thu hồi vốn đầu tư dài do vòng đời của dự án quyết định Có trường hợp kéo dài hàng chục năm Vì vậy, đầu tư phát triển công nghiệp chịu nhiều rủi ro, do các yếu tố không ổn định của thiên nhiên, tình hình chính trị, kinh

Trang 31

tế, xã hội, cơ chế, chính sách do đó, hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp thường có độ mạo hiểm cao

- Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp là các công trình, vật kiến trúc như nhà máy, hầm mỏ, khu công nghiệp, các công nghệ sản xuất gắn liền lâu dài với không gian tạo ra nó, từ đó, yêu cầu công tác quy hoạch, chuẩn bị đầu tư phải được xem xét, tính toán kỹ lưỡng trên tất cả các khía cạnh nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư Vì vậy, hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp chỉ tiến hành trên cơ sở các dự án đầu tư khả thi, hiệu quả

- Đầu tư phát triển công nghiệp gắn liền với mua sắm thiết bị, công nghệ đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất Để đầu tư đạt hiệu quả cao, chủ đầu tư cần lựa chọn công nghệ thích hợp, vừa đảm bảo năng suất lao động, chất lượng, mẫu mã sản phẩm, vừa khai thác được nguồn lực trong nước để phát huy lợi thế trong cạnh tranh Cần đặc biệt chú ý nhận chuyển giao cả bốn thành phần của công nghệ: phần cứng (máy móc), phần thông tin (bí quyết), phần tổ chức và phần con người (đào tạo kỹ năng vận hành )

- Trong trường hợp đầu tư phát triển công nghiệp bằng vốn nhà nước, chủ đầu

tư chỉ là người sử dụng vốn nên cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra giám sát để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí Còn vốn đầu tư không phải của Nhà nước, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn đích thực nên cơ chế quản lý đơn giản, thủ tục gọn nhẹ hơn

Đầu tư phát triển công nghiệp được thực hiện qua 3 giai đoạn, với những nội dung chủ yếu như sau:

a/ Giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm:

- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào, công nghệ và tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn các hình thức đầu tư

- Lựa chọn công nghệ, phương hướng đổi mới công nghệ

- Lập dự án tiền khả thi, khả thi

- Thẩm định dự án để quyết định đầu tư

b/ Giai đoạn thực hiện đầu tư, bao gồm:

- Tổ chức chọn nhà thầu tư vấn (khảo sát, thiết kế, giám sát kỹ thuật và chất lượng công trình)

Trang 32

- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán, dự toán công trình

- Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp và mua sắm thiết bị, công nghệ

- Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)

- Ký hợp đồng với các tổ chức có liên quan để thực hiện dự án

- Thi công, lắp đặt máy móc thiết bị và nhận chuyển giao công nghệ

c/ Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác, sử dụng:

- Bàn giao

- Vận hành dự án

2.2.1.3 Vai trò, tác động của đầu tư phát triển công nghiệp

- Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý

là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng

Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển công nghiệp với tăng trưởng của ngành công nghiệp thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio – tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết

để tạo ra một đơn vị sản lượng ngành công nghiệp (GDPCN) tăng thêm

Về phương pháp tính, hệ số ICOR được tính như sau:

ICORCN = Vốn đầu tư CN

∆ GDPCN

Chia cả tử và mẫu số của công thức trên cho GDPCN có công thức sau:

ICORCN = Tỷ lệ vốn đầu tư /GDPCN

Tốc độ tăng trưởng CN

Từ công thức thứ hai cho thấy: Nếu ICORCN không đổi, mức tăng GDPCN hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư Muốn giữ vững tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp cao và ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm trên khoảng 25% so với GDP tùy thuộc vào ICOR của ngành công nghiệp

Trang 33

- Đầu tư phát triển công nghiệp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy thuộc vào mục tiêu của nền kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành

Theo chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược CNH-HĐH đất nước thì ngành công nghiệp được xác định là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của một nước Bởi vì ngành công nghiệp là ngành có khá năng tăng trưởng nhanh, cao và ổn định, ngành công nghiệp bị hạn chế về đất đai và mặt khả năng sinh học của động thực vật nên để đạt tốc độ tăng trưởng cao là rất khó, ngành dịch vụ thì cũng chỉ mới bắt đầu phát triển trong những năm gần đây Hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Vốn đầu tư vào ngành công nghiệp nhiều hay ít, việc sử dụng vốn đầu tư hiệu quả cao hay thấp… trên phạm vi một nước đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, khả năng tăng cường cơ sở vật chất của ngành công nghiệp Từ đấy tạo tiền

đề khuyến khích phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ, phát triển các ngành mới, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

- Đầu tư phát triển công nghiệp với tăng cường năng lực khoa học công nghệ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng (máy móc thiết bị); phần mềm (các văn bản, tài liệu, các bí quyết…) yếu tố con người (các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm); yếu tố tổ chức (các thể chế, phương pháp tổ chức…) Muốn có công nghệ, cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành

Đầu tư cho công nghệ trong ngành công nghiệp trên phạm vi cả nước ở mỗi thời kỳ tuy khác nhau, nhưng đều mang đặc điểm chung của nước đang phát triển, do

có nhiều lao động và nguyên liệu nên giai đoạn đầu thường đầu tư vào các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu, sau đó, giảm dần hàm lượng lao động và nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá trình chuyển

Trang 34

từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đối và sự phát triển của khoa học

và công nghệ

Công nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc tự nghiên cứu và ứng dụng Đối với Lào, công nghệ có được hầu hết là nhập khẩu tư bên ngoài, số lượng công nghệ tự nghiên cứu triển khai và ứng dụng là rất hạn chế Một phần là do trình độ, do khả năng đáp ứng về vốn đầu tư dành cho hoạt động nghiên cứu còn hạn chế, phần vốn dành cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào trong sản xuất công nghiệp còn ít và chưa tập trung Mặt khác, công nghệ của Lào còn rất lạc hậu so với mức trung bình trung của thế giới, nếu không nhanh chóng có biện pháp, chính sách đầu tư thích hợp cho công nghệ thì sản phẩm của nền công nghiệp Lào sẽ không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm công nghiệp của các nước trên thế giới Đó là dấu hiệu cho thấy sự phát triển chưa thật sự trong tương lai

- Đầu tư phát triển công nghiệp với tiến bộ xã hội và môi trường là đầu tư giữ vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế đồng thời là một nhân

tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ Đầu tư hợp lý, trọng tâm trọng điểm và đồng bộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống vật chất, tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục Hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp

Với các kế hoạch, mục tiêu đặt ra trong công tác huy động vốn và nguồn lực vào ngành công nghiệp nói riêng và các ngành khác nói chung, thì thông qua hoạt động sử dụng vốn, đầu tư đã khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môi trường sinh thái Những hình thức đầu tư phát triển sản xuất sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm…tài nguyên môi trường là những tác động tích cực của đầu tư phát triển Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực vẫn còn những hạn chế mà đầu tư phát triển công nghiệp mang lại, ô nhiễm môi trường chính là hậu quả hoạt động đầu tư Phát triển kinh tế cũng đồng thời lấy đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn Nếu không có biện pháp cân đối, tiết kiệm thì hậu quả mất cân bằng sinh thái, các hiểm họa

về môi trường sẽ xảy ra Môi trường vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của hoạt động đầu

tư phát triển Tác động của đầu tư đến môi trường có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng

nó chính là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế

- Đầu tư phát triển công nghiệp đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp là muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp thì đòi hỏi phải tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp

Trang 35

đặt trang thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ công nghiệp đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các

cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở này bị hao mòn (kể cả vô hình và hữu hình), hư hỏng Để duy trì được sự hoạt động bình thường (tái sản xuất giản đơn) cần tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất-ký thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới (tái sản xuất mở rộng) để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là đầu tư Như vậy, đầu tư là điều kiện tiên quyết để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp, đồng thời đầu tư cũng là điều kiện để duy trì và mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh này

Đầu tư phát triển công nghiệp góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP, thúc đẩy các ngành dịch vụ, nông nghiệp phát triển:

Giữa đầu tư phát triển công nghiệp và tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đầu

tư phát triển công nghiệp là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng của giá trị sản xuất công nghiệp, nếu đầu tư phát triển công nghiệp đạt hiệu quả cao, tức là phần chi phí trung gian trong giá trị sản xuất chiếm tỷ lệ thấp thì tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) sẽ đạt ở mức cao

Như vậy, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao cần phải tăng cường đầu tư, đặc biệt, là đầu tư công nghiệp Đầu tư phát triển công nghiệp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế về cả hai mặt, nhu cầu và sản xuất Đầu tư tăng lên làm cho nhu cầu tiêu thụ tăng lên và do đó thúc đẩy sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và các ngành dịch

vụ phát triển hơn Đồng thời đầu tư tăng lên làm cho năng lực sản xuất công nghiệp gia tăng, nhịp độ tăng trưởng tăng lên Sản xuất phát triển tạo điều kiện thúc đẩy nhu cầu tăng lên Nếu không tăng đầu tư mà chỉ dựa vào những yếu tố khác như lao động, tiềm năng tự nhiên, v.v thì không thể có tăng trưởng kinh tế ổn định, thậm chí không thể duy trì được sản xuất trong thời gian dài Đầu tư phát triển công nghiệp còn là tác động của vốn, tài chính vào cơ sở hạ tầng công nghiệp, vào các công trình phục vụ sản xuất công nghiệp, vào việc đào tạo tay nghề, kỹ thuật cho người lao động trong công nghiệp (những yếu tố không trực tiếp tham gia vào sản xuất) để sau một thời gian nó

sẽ có tác động đến sản xuất công nghiệp Quá trình đó rất cần thiết cho việc duy trì sự phát triển một cách ổn định lâu dài của ngành công nghiệp, của nền kinh tế Ngược lại

Trang 36

tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, làm cho khả năng tích lũy và tiết kiệm sẽ tăng lên, mang lại nội lực của nền kinh tế lớn và từ đó huy động vốn đầu tư cũng tăng lên

Đối với các nước đang phát triển, để có được tốc độ tăng trưởng khá thì đầu tư phát triển mà đặc biệt là đầu tư phát triển công nghiệp đóng vai trò như cú huých tạo

đà cho sự cất cánh

Đầu tư phát triển công nghiệp tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, yếu tố quyết định là vốn đầu tư, vấn đề sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển và lao động lành nghề Trên cơ sở tập trung vốn đầu tư cho những ngành ưu tiên, trọng điểm, cùng với các giải pháp

hỗ trợ khác sẽ từng bước tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Thực chất của vấn đề này là thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Kinh nghiệm thực tế của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo đà cho việc phát triển kinh tế Chính sách đầu tư bao gồm cả việc tạo nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn Tỷ trọng huy động nguồn vốn vào các ngành khác nhau sẽ mang lại những hiệu quả khác nhau Vốn đầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành (cơ cấu đầu tư) có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các ngành và sự chuyển dịch cơ cấu các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, đồng thời ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế chung Cơ cấu đầu tư khác nhau mang lại hiệu quả khác nhau, bởi lẽ, tỷ suất vốn đầu tư (hệ số ICOR) của các ngành là khác nhau, phụ thuộc vào đặc trưng của mỗi ngành

Mối quan hệ giữa đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện ở công thức toán học:

YR = Σ(1/ICORi) * sIi * sYi Trong đó: - YR : Nhịp tăng trưởng GDP

- sIi : Tỷ trọng đầu tư của ngành i

- ICORi : Tỷ suất vốn đầu tư của ngành i

- sYi : Tỷ trọng của ngành i trong GDP

Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, kinh tế, chính trị của vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển Trong phạm vi một địa phương (tỉnh, thành phố), những quận, huyện có lợi thế bố trí cơ sở sản xuất công nghiệp thì chính quyền địa phương cần quy hoạch, đầu

Trang 37

tư phát triển khu công nghiệp, khu công nghệ cao nhằm thu hút đầu tư, tạo điều kiện đầu tư phát triển công nghiệp cả về mặt kinh tế lẫn mặt xã hội và môi trường

Từ đó có thể thấy, giữa đầu tư và tăng trưởng cũng như chuyển dịch cơ cấu các ngành có mối quan hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn vào ngành công nghiệp một cách hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao, có tác động trực tiếp đến nhịp tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá như mong muốn Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế hợp

lý sẽ tạo ra nguồn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành công nghiệp có

hiệu quả hơn

2.2.2 Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp

Cùng với cách hiểu như đã nêu trên thì nội dung đầu tư phát triển công nghiệp bao gồm các hoạt động sau:

2.2.2.1 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây lắp, mua sắm máy móc trong ngành công nghiệp

Đây là hoạt động nhằm tái tạo tài sản cố định của ngành công nghiệp Đối với ngành công nghiệp, để hoạt động của các đơn vị có thể diễn ra bình thường đều cần phải xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên nền

bệ các máy móc thiết bị… Đây là hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp

2.2.2.2 Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ (R&D)

Nghiên cứu và phát triển bao gồm việc đầu tư, tiến hành mua bán các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đầu

tư cho nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường tốt hơn

2.2.2.3 Đầu tư cho phát triển nhân lực

Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và các doanh nghiệp, chỉ có nguồn nhân lực cao mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi một ngành thông thường chính là hoạt động đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ lao động, đầu tư về mặt thể chất cho người lao động và đầu tư cho cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động Trong ngành công nghiệp địa phương hoạt động đầu tư phát

Trang 38

triển nguồn nhân lực luôn có sự kết hợp giữa kính phí từ ngân sách và của chính bản thân các doanh nghiệp công nghiệp

Đầu tư cho các hoạt động khác như đầu tư phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, đầu tư cho công tác khuyến công, đầu tư cho hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng cáo, xây dựng thương hiệu…

Đối với hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp của một nước thì hoạt động đầu tư phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp cũng có vai trò quan trọng vì nó sẽ giúp cho các nước duy trì và phát triển những ngành nghề truyền thống Đó là các hoạt động hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, ưu tiên bố trí các dự án đầu tư ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống được vào các cụm công nghiệp, các điểm công nghiệp nhỏ

và các điểm công nghiệp làng nghề

Đầu tư cho hoạt động khuyến công và xúc tiến đầu tư là việc dành kinh phí để dành cho các hoạt động khuyến khích, hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp và quảng

bá tiềm năng thế mạnh để phát triển công nghiệp

2.2.2.4 Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành

Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành công nghiệp là hoạt động đầu

tư phát triển của các nhóm ngành: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước

Đầu tư cho công nghiệp khai thác là hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, đổi mới dây chuyền, công nghệ… cho các ngành công nghiệp khai thác như khai thác than, khai thác vàng, khai thác quặng kim loại, khai thác đá và các mơ khác…

Đầu tư công nghiệp chế biến là hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, đổi mới dây chuyền, công nghệ… cho các ngành công nghiệp chế biến gồm: sản xuất thực phẩm và đồ uống, sản xuất thuốc lá, bánh kẹo, sản xuất sản phẩm dệt, sản xuất trang phục, sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy, sản xuất hóa chất, sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại, sản xuất máy móc thiết bị, sản xuất thiết bị văn phòng, sản xuất thiết bị điện…

Đầu tư cho công nghệ sản xuất và phân phối điện và nước là hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, đổi mới dây chuyền, công nghệ…cho các ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện và nước như: công nghiệp sản xuất và phân phối điện, công nghiệp sản xuất và phân phối nước

Trang 39

2.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp

Nguồn vốn cho đầu tư phát triển sẽ bao gồm nguồn vốn trong nước (nguồn vốn nhà nước; nguồn vốn ngoài nhà nước) và nguồn vốn nước ngoài (tài trợ phát triển chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại quốc tế và thị trường vốn quốc tế)

2.3.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước cho công nghiệp là phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế hao gồm: tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp

và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất ngành công nghiệp Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân

- Nguồn vốn nhà nước

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các

dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ

mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thê tài sản thuộc sở hữu nhà nước…) Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước cũng tăng đáng kể

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình đổi mới và

mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức

Trang 40

quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các

dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp

Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội như xóa đói, giảm nghèo Và trên hết, nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn Tuy vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội nói chung cũng như đầu tư vào ngành công nghiệp nói riêng

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…trên các địa phương Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích lũy truyền thống

2.3.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cả nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại

Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (International Capital Flows) Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng chảy từ các nước phát triển chảy vào các nước đang phát triển thường được các nước có thu

Ngày đăng: 08/08/2018, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w