Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Trang 1BÀI GIẢNG VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CƠ SỞ
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CƠ SỞ
1.1 Khái niệm và phân loại cán bộ, công chức cơ sở
- Khái niệm cán bộ công chức
Khoản 1 Điều 4 quy định về cán bộ:
“ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Khoản 2 Điều 4 quy định về công chức:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhândân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của ĐCS ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp cônglập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộmáy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹlương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
- Khái niệm và chức danh cán bộ cơ sở
Khoản 3 điều 4 Luật CBCC qui định:
Trang 2Cán bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức
vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó
Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
Chức danh cán bộ cơ sở
+ Bí thư, phó bí thư đảng uỷ, thường trực Đảng ủy cấp xã (nơi không có phó bíthư chuyên trách công tác Đảng); Bí thư, phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập đảng
ủy cấp xã);
+ Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ;
+ Chủ tịch Hội nông dân (áp dụng đối với những xã, phường, thị trấn có hoạtđộng nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
1.1.2 Khái niệm và chức danh công chức cơ sở
Công chức cơ sở (xã, phường, thị trấn) là công dân Việt Nam được tuyển dụnggiữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước
Chức danh công chức cơ sở
+ Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính qui);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
Trang 3+ Văn hóa - xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, làm việc ở cấp cơ sở còn có một lực lượng lao độngđặc biệt Đó là những “ công chức dự bị” của các cấp cao hơn được đưa về làm việc tại
cơ sở Ngoài ra còn có một lực lượng cán bộ, công chức về tăng cường cho cơ sở
- Những người hoạt động không chuyên trách
Đây là nhóm người làm việc giống như những nhóm người được bầu để giữ các
vị trí đứng đầu các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội nhưng họ đảm nhiệm vị trí “cấpphó” Đồng thời, họ cũng là những người làm việc chuyên môn nhưng không thườngxuyên và không được gọi là công chức Gồm:
+ Trưởng ban tổ chức Đảng
+ Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra Đảng
+ Trưởng Ban Tuyên giáo
+ Người phụ trách văn phòng đảng uỷ;
+ Phó trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính qui)
+ Phó chỉ huy trưởng quân sự;
+ Kế hoạch - giao thông - thuỷ lợi - nông, lâm, ngư, diêm nghiệp;
+ Người phụ trách lao động - thương binh và xã hội;
+ Người phụ trách dân số - gia đình và trẻ em;
+ Người phụ trách thủ quỹ - văn thư - lưu trữ
+ Người phụ trách phụ trách đài truyền thanh
+ Người phụ trách quản lý nhà văn hoá;
+ Phó chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc; phó các đoàn thể cấp xã bao gồm: Đoànthanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiếnbinh;
+ Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ
Trang 4Ngoài ra còn có những người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phốgồm: Bí thư chi bộ thôn; trưởng thôn; công an viên ở thôn và bí thư chi bộ, tổ trưởngdân phố ở phường, thị trấn.
Câu hỏi và liên hệ thực tiễn:
Phân biệt giữa cán bộ cấp xã và công chức cấp xã? Chính quyền cơ sở nơi anh chị công tác có tổ chức đội ngũ cán bộ, công chức đúng chức danh và số lượng theo qui định của Luật không?
1.2 Hệ thống pháp luật nhà nước quy định chung về cán bộ, công chức và CBCC cơ sở
1.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật nhà nước liên quan đến cán bộ, công chức nói chung
Chiến lược Cán bộ của Đảng ban hành kèm theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ baBan Chấp hành Trung ương khóa VIII và Kết luận của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấphành Trung ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đếnnăm 2020 là những văn kiện hết sức quan trọng định hướng cho Nhà nước ban hành cácvăn bản pháp luật cơ bản và thiết thực để cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, chủtrương của Đảng về công tác cán bộ, công chức trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Hệ thống các VBPL nhà nước liên quan đến cán bộ, công chức hiện nay ở nước tabao gồm:
- Luật Cán bộ, công chức (2008);
- Các Nghị định của Chính phủ, bao gồm:
+ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ban hành ngày 25/01/2010 của Chính phủ về
việc quy định những người là công chức
+ Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ban hành ngày 05/3/2010 của Chính Phủ quy
định về đào tạo, bồi dưỡng công chức
+ Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ban hành ngày 08/3/2010 của Chính phủ quy
định về quản lý biên chế công chức
Trang 5+ Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ban hành ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy
định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Thay thế Nghị định 115/2003/ NĐ
-CP ngày 10/10/2003 về chế độ công chức dự bị; thay thế Nghị định 117/2003 về tuyểndụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước)
+ Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ban hành ngày 31/8/2010 của Chính phủ về sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chínhphủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
+ Nghị định số 46/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/4/2010 của Chính phủ quy
định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức
+ Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ban hành ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy
định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức
+ Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ban hành ngày 17/5/2011 của Chính phủ về xử
lý kỷ luật đối với công chức
+ Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ban hành ngày 14/12/2004 của Chính phủ vềchế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
+ Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ban hành ngày 15/9/2009 của Chính phủ về sửa
đổi Nghị định 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viênchức và lực lượng vũ trang
1.2.2 Văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến cán bộ, công chức cơ sở
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX (ngày18/3/2002) đã đề cập đến một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến đội ngũ cán bộcông chức làm việc ở cơ sở Đây là văn kiện quan trọng về đổi mới và nâng cao chấtlượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn;đánh giá thực trạng của đội ngũcán bộ, công chức cấp cơ sở và xác định tất yếu phải đặt đúng vị trí của đội ngũ cán bộ,công chức cơ sở trong hệ thống chính trị Việt Nam Cụ thể hóa hóa văn kiện này củaĐảng, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật sau:
Trang 6- Nghị định số 114/2003/NĐ - CP ban hành ngày 10/10/2003 của Chính Phủ quyđịnh về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn
- Thông tư số 03/2004/TT- BNV ban hành ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng BộNội vụ về hướng dẫn thực hiện Nghị định 114/2003//NĐ-CP
- Quyết định số 04/2004/QĐ - BNV ban hành ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng BộNội vụ về việc ban hành qui định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã,phường, thị trấn
- Nghị định số 92/2009/ NĐ-CP ban hành ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy
định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,phường, thị trấn (cấp xã) và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
- Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT- BNV- BTC- BLĐTBXH ban hành ngày27/5/2010 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động thương binh và xã hội vềhướng dẫn thực hiện Nghị định 92/2009/NĐ-CP
- Nghị định số 29/2013/NĐ-CP ban hành ngày 25/6/2013 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều Nghị định 92/2009/NĐ – CP
- Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ban hành ngày 05/12/2011 của Chính phủ vềcông chức xã, phường, thị trấn
- Thông tư số 06/2012/TT-BNV ban hành ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ về
hướng dẫn thực hiện Nghị định 112/2011/NĐ-CP
1.3 Vai trò của cán bộ, công chức cơ sở
1.3.1 Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
Đội ngũ cán bộ công chức cấp xã đều trưởng thành từ thực tiễn sản xuất và trựctiếp gắn bó với đời sống của nhân dân ở địa phương Họ có mối liên hệ mật thiết,thường xuyên với quần chúng nhân dân, trực tiếp giải quyết mọi tình huống phát sinh ở
cơ sở Hơn ai hết, họ là những người am hiểu đặc điểm tình hình địa phương, thấu hiểunhững mong muốn, tâm tư, nguyện vọng của người dân một cách nhanh nhất, chính xácnhất Cán bộ, công chức cấp xã là những người người trực tiếp đem các chủ trương,
Trang 7chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành.Thông qua việc nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối và chínhsách, pháp luật, cán bộ công chức cơ sở là những người phát hiện ra những điểm cònhạn chế, thiếu sót của các chính sách khi triển khai trong thực tế đời sống, đồng thời làkênh để chuyển tải những mong muốn, nguyện vọng của nhân dân lên với Đảng và Nhànước để từ đó Đảng và Nhà nước có sự điều chỉnh, bổ sung cho đúng, phù hợp với thựctiễn và thuận với lòng dân.
1.3.2 Vai trò trong quản lí và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lí và tổ chức công việccủa chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm lợi ích của nhân dân địaphương Tùy theo vị trí, chức danh của mình, mỗi cán bộ, công chức cấp xã sẽ đảmnhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định, chẳng hạn: Công chức Trưởng Công an xã
sẽ có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo chính quyền xã và có nhiệm vụ bảo đảm, quản lí
về tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã, công chức văn hóa xã hội sẽ đảmnhận các hoạt động để quản lí và phát triển lĩnh vực văn hóa – xã hội ở địaphương Việc thực thi công vụ của họ có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nướctại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân thông qua việc xử lý, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luậtkịp thời, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hộitại từng địa bàn thôn, xóm
Để thực hiện tốt vai trò này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải có khảnăng tổ chức, sử dụng, tập hợp mọi người cùng tham gia hoạt động; phải có khả năng
xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở, đó là các tình huống về tài chính, ví dụ: giải tỏa,đền bù đất đai; các tình huống về thiên tai, địch họa; về xử lí vi phạm pháp luật, những
va chạm xóm giềng, dòng tộc hay những tình huống nảy sinh khi ra những quyết địnhsai trái với cấp trên… Đồng thời cán bộ công chức phải có khả năng kiểm tra, đánh giá
Trang 8hoạt động của mình, của đồng nghiệp và khả năng tổng kết việc tổ chức thực hiện các
chủ trương, chính sách để góp phần quản lí và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở.
1.3.3 Vai trò trong xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ.
- Trong xây dựng bộ máy của chính quyền cơ sở, chính đội ngũ cán bộ công chức
là những người bố trí, sắp xếp sao cho cơ cấu tổ chức của chính quyền trở nên khoa học,tinh gọn, hợp lý, phân công đúng người, đúng việc, không có sự cồng kềnh, chồng chéo
về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các bộ phận, phòng ban Tổ chức bộ máy ở
cơ sở vững mạnh là nền tảng, tiền đề để phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ côngchức đồng thời góp phần kiện toàn và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước
- Trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ, cán bộ công chức cơ sở là nhữngngười trực tiếp tổ chức thực hiện và góp phần quyết định sự thành bại của đường lối vànhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn đời sống Chủ trương, đườnglối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có được thực thi tốt hay không, cóhiệu quả hay không một phần quyết định là ở cấp xã.Cán bộ, công chức cấp xã luônphát huy những vai trò của mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của cácđịa phương; trực tiếp với quần chúng, tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Hiệulực, hiệu quả của chính quyền cấp xã xét đến cùng chính là được quyết định bởi phẩmchất và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
(Liên hệ: Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở trong hoạt động quản lí nhà
nước ở thực tiễn địa phương học viên công tác? )
2 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUẢN LÍ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CƠ SỞ
2.1.1 Các nguyên tắc chung về quản lí cán bộ công chức
- Quản lí cán bộ công chức phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội
Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện thông qua hệ thống các quan điểm vàphương thức quản lý cán bộ công chức của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 9- Về quan điểm của Đảng
- Một là, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then
chốt trong công tác xây dựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán
bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với phương thức lãnh đạo của Đảng;
Đây là quan điểm rất mới được bổ sung so với Chiến lược cán bộ trước đây Quanđiểm thứ nhất này xác định rõ vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong
sự nghiệp cách mạng và công tác xây dựng Đảng
Hai là, phải xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc,
từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
- Ba là, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc, truyền thống yêu nước, đại đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân; tậphợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, không phân biệt Đảng viên hay ngườingoài Đảng, dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nướcngoài;
- Bốn là, gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ
chế chính sách Thực hiện tốt công tác qui hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ.Trong điều kiện hiện nay còn phải gắn công tác cán bộ với việc “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãngphí và các hiện tượng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, tư tưởng
- Năm là, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân,
nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tuyển chọn, giáodục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ Phải dựa vào nhân dân để phát hiện, kiểm tra và giámsát cán bộ;
Trang 10- Sáu là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ
theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức vàngười đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị
+ Về phương thức lãnh đạo của Đảng
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lí cán bộ công chức là cáccách thức, biện pháp Đảng tác động lên các khâu của công tác cán bộ nhằm đạt mục tiêuxây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, duy trì sự ổn định trong bố trí, sử dụng cán bộ, côngchức và sự đảm bảo sự chuyển tiếp vững vàng liên tục giữa các thế hệ cán bộ côngchức, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cho từng thời kỳ cách mạng
Các phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng đối với công tác quản lí CBCC baogồm:
Đảng đề ra các chính sách, chủ trương, đường lối, chiến lược về cán bộcông chức
Đảng bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất, nănglực và giới thiệu những cán bộ, đảng viên ưu tú vào làm việc trong hệ thống chính trị
Đảng lãnh đạo bằng phương pháp đặc trưng riêng đó là phương pháp tuyêntruyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, bằng chính hành động gương mẫu của các đảngviên ĐCS
Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng (ban cán sự đảng, đảng đoàn,đảng ủy) và đảng viên trong các cơ quan nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiệncông tác cán bộ của các ngành, các cấp bằng các biện pháp và phương tiện khác nhau
Nhà nước là chủ thể thực hiện hoạt động quản lí cán bộ công chức một cách cụ
thể, rõ nét nhất thông qua việc thể chế hóa các quan điểm, chính sách của Đảng về côngtác quản lí cán bộ công chức thành hệ thống luật pháp Đồng thời tổ chức, phân côngcho các các cơ quan có chức năng, thẩm quyền như Chính Phủ, Bộ Nội vụ, các cơ quan
Trang 11chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp…chịu trách nhiệm xây dựng các nội dung,chương trình cụ thể thực hiện quản lí cán bộ công chức.
Bên cạnh việc tuân thủ pháp luật chung của nhà nước, cán bộ, công chức làm việccòn chịu sự quản lí theo những quy định, điều lệ của các tổ chức chính trị, chính trị - xãhội mà mình tham gia
- Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế
Xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức được pháp luật xác định là nhiệm
vụ bắt buộc đối với các bộ, ngành, địa phương để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý cán
bộ, công chức Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạchcông chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị Ýnghĩa của việc xác định vị trí việc làm là nhằm sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức;phát hiện những chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các vị trí việc làm, các cơquan, tổ chức; phục vụ hiệu quả cho hoạt động tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồidưỡng công chức, đánh giá quy hoạch cán bộ và cải cách tiền lương hiệu quả
Biên chế là số người làm việc trong cơ quan, tổ chức của nhà nước để thực hiệnchức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơquan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơquan thuộc chính phủ, UBND các tỉnh, tphố trực thuộc trung ương) phê duyệt và giao,làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm
Việc xác định biên chế công chức phải căn cứ vào các yếu tố khác như tính chất,đặc điểm, mức độ phức tạp và quy mô, phạm vi, đối tượng quản lý của ngành, lĩnh vực;Mức độ hiện đại hoá công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng côngnghệ thông tin; Thực tế tình hình quản lý biên chế công chức được giao của cơ quan, tổchức, đơn vị… Đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương, việc xác định biên chế côngchức còn phải căn cứ vào: Quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương; Số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; Đặc điểm anninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
Trang 12Việc quản lý cán bộ, công chức dựa trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danhvới vị trí việc làm tạo cơ sở khoa học, thể hiện tính thực tiễn cao, giúp xác định chỉ tiêu,
số lượng người làm việc một cách chính xác, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị được cấp có thẩm quyền quy định Thựchiện nguyên tắc này giúp xóa bỏ cơ chế "xin - cho" trong quản lý biên chế cũng như bảođảm thực hiện có hiệu quả, đúng mục đích công tác tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch,đánh giá, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
-Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng.
- Trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc đóchính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Nguyên tắc này đòi hỏi toàn bộnhững vấn đề cơ bản, hệ trọng, những chủ trương, phương hướng, chiến lược liên quanđến công tác cán bộ, công chức phải được dân chủ thảo luận trong tập thể các cơ quanlãnh đạo từ cao tới thấp theo phạm vi, quyền hạn đã được xác định Cấp trên có quyền
và trách nhiệm tham gia vào việc quyết định theo đa số những vấn đề về chính sách, lựachọn, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, bố trí, luân chuyển, đề bạt, đánh giá, khenthưởng, xử lý kỷ luật CBCC… trong phạm vi thẩm quyền của mình theo quy định củapháp luật
- Tính dân chủ thể hiện ở việc mọi vấn đề hệ trọng liên quan đến cán bộ côngchức đều được bàn bạc, thảo luận cho mọi người cùng biết, cùng tham gia đónggóp.Tính công khai, tính tập thể được thực hiện một cách rộng rãi và mạnh mẽ như: tổchức lấy ý kiến nhận xét, đánh giá của nhiều người, nhiều bộ phận đối với các cán bộ,công chức hay ở việc tiến hành bầu cử người lãnh đạo, quản lý… Nội dung các khâutrong công tác cán bộ được chuẩn bị kỹ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảngviên và quần chúng, không áp đặt ý kiến cá nhân, định kiến hoặc phân biệt với các ýkiến thuộc về thiểu số Những ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu, đệ trình lên
cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định