1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay

101 421 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 789 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, CBCC cũng là người tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và phápluật của nhà nước, để cho nhân dân hiểu; là người phản ánh các tâm tưnguyện vọng của nhâ

Trang 1

NGÔ THỊ THANH NGA

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

CƠ SỞ Ở HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LL VÀ PPDH BỘ MÔN CHÍNH TRỊ

M· sè: 60.14.10LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐINH TRUNG THÀNH

NghÖ An, 2013

LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô khoa Giáo dục chính trị, Khoa sau đại học, Hội đồng khoa học của trường Đại học Vinh; xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp, Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, Phòng Nội vụ cùng lãnh đạo các xã, thị trấn, ban ngành, đồng chí đồng nghiệp trên địa bàn huyện đã giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn này.

Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu khoa học tại khoa Giáo dục chính trị trường Đại học Vinh Luận văn không thể hoàn thành nếu không có sự quan tâm, động viên và cung cấp tài liệu của các thầy cô, bạn bè cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Đinh Trung Thành, người thầy, người hướng dẫn khoa học đã bỏ ra nhiều công sức để tôi viết và hoàn thiện luận văn.

Dù đã rất cố gắng và nỗ lực cao, nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các nhà giáo, nhà khoa học giúp đỡ, góp ý để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn.

Nghệ An, tháng 9 năm 2013

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG BÀI

Kí hiệu viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

Trang 3

HĐND Hội đồng nhân dân

UBMTTQ Ủy ban mặt trận tổ quốc

Trang 4

Dưới góc độ luận văn, luận án, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu vấn đề giáodục pháp luật cho cán bộ, công chức như: "Nâng cao hiệu quả giáo dục phápluật cho cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong điềukiện cải cách hành chính", Nguyễn Đình Nam, Luận văn Thạc sỹ Khoa họcGiáo dục, Đại học Vinh, 2012; "Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dânchủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựngnông thôn mới"; Trần Văn Tám, (Qua khảo sát ở xã Bình Thạnh, Huyện CaoLãnh, Tỉnh Đồng Tháp), luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phươngpháp giảng dạy bộ môn Giáo dục chính trị, Đại học Vinh, 2012 8

49 Trần Văn Tám, Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xãtrên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựng nông thôn mới;luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ mônGiáo dục chính trị, Đại học Vinh, 2012 100

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu mà Đảng

và nhà nước ta đang hướng đến, trong đó pháp luật luôn được xem là tốithượng, cao nhất; tất cả mọi hoạt động của cá nhân, cơ quan hay tổ chức đềuphải chấp hành theo pháp luật

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và

vì dân ở nước ta hiện nay, điều quan trọng hàng đầu là phải xây dựng đượcmột đội ng gũ cán bộ, công chức vừa có đức vừa có tài

Để quản lý được Nhà nước và xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí củamột nhà nước pháp quyền, cán bộ, công chức phải là những người được trang

bị những kiến thức về nhà nước và pháp luật một cách đầy đủ và kịp thời.Những kiến thức pháp luật đó gắn liền với nhiệm vụ công tác chuyên môn củamỗi CBCC được giao

Có thể khẳng định rằng, CBCC cơ sở có một vị trí hết sức quan trọngtrong bộ máy nhà nước, là người tiếp xúc hàng ngày cũng như là người đầutiên giải quyết các yêu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thựchiện tốt các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình Bên cạnh đó, CBCC cũng

là người tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và phápluật của nhà nước, để cho nhân dân hiểu; là người phản ánh các tâm tưnguyện vọng của nhân dân đến các cơ quan, các cấp có thẩm quyền; từ đó, cócác đề xuất chính đáng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân.Chính vì những vai trò của cán bộ, công chức cơ sở là hết sức quan trọng nênchủ thể của giáo dục pháp luật chính là toàn thể cán bộ, công chức Thông quacông tác chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở cấp cơ sở, có trách nhiệm tuyên

Trang 6

truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân Nếu như mỗi người cán bộ, côngchức có trình độ am hiểu pháp luật toàn diện, sâu sắc, có thái độ tôn trọng vàchấp hành tốt pháp luật, chủ trương chính sách cũng như đường lối của Đảng,thì quá trình thực thi pháp luật, thực hiện việc chuyên môn của mình tại cơ sở

sẽ đạt hiệu quả cao

Nhưng hiện nay, từ thực tiễn hoạt động thực thi pháp luật ở nhiều địaphương có thể thấy rằng, việc vi phạm pháp luật, làm trái pháp luật của cán

bộ, công chức không phải là ít Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đặt ranhiều thách thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, cũng như nềnhành chính quốc gia nói chung Yêu cầu đối với việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng cũng như trình độ hiểu biết pháp luật của CBCC là vấn đề hết sức cầnthiết

Trong thời gian qua trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, côngtác GDPL đối với đội ngũ CBCC cơ sở, đã và đang đạt được kết quả nhấtđịnh Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng công tác GDPL cho đội ngũCBCC cơ sở còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao; đặc biệt là đội ngũ làmcông tác GDPL chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác; nội dung và hìnhthức phương pháp giáo dục còn nhiều lúng túng Có một bộ phận khá lớn cán

bộ, công chức hiểu biết pháp luật rất sơ sài, hời hợt Nhiều cán bộ, công chứcchưa phân biệt được giữa các loại vi phạm pháp luật hành chính, dân sự, hìnhsự Có trường hợp vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng, nhưng chínhquyền địa phương chỉ xử lý nhẹ nhàng, đơn giản trong nội bộ Ngược lại, có

vụ việc đơn giản lại nghĩ nghiêm trọng và xử lý khá nặng nề Vì vậy dẫn đếntình trạng một bộ phận CBCC cơ sở còn quan liêu, sách nhiễu, hách dịch,thậm chí là cố tình làm sai các quy định của pháp luật, xem thường phápluật Điều này đặt ra cho CBCC toàn huyện cần phải nâng cao hiệu quảGDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở, để đội ngũ CBCC cơ sở nắm vững cũng nhưthực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng nền hành chính quốc giamới, phát huy quyền làm chủ của công dân Xuất phát từ yêu cầu và thực tế

Trang 7

đó, tác giả chọn vấn đề: "Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành LL

và PPDH bộ môn chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề GDPL cho CBCC cơ sở trong giai đoạn hiện nay đã được nhiềunhà khoa học quan tâm và nghiên cứu ở các góc độ khác nhau

Nghiên cứu các vấn đề chung về GDPL có các công trình khoa học tiêubiểu như sau:

“Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trong thời kì đổi mới”, Lê VănHòe, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 9/2008;

“GDPL ở tỉnh Thái Bình thực trạng và giải pháp”, Nguyễn HồngQuyên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, Số 9/2010;

“Công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL ở tỉnh Bình Phước”, PhanXuân Linh, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, bộ Tư pháp, Số 3/2011;

“Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”, Đào Trí Úc chủ biên, HàNội, 1995;

“Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật”,Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật;

“Cần nâng cao ý thức pháp luật cho đồng bào vùng sâu vùng xa”, HoàiNam, Dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, Số chuyên đề tháng 12/2009;

“Phổ biến giáo dục pháp luât ở địa phương, cần xây dựng tủ sách phápluật làm cơ sở”, Văn Chung - Thủy Tiên, Bộ Tư pháp, Số chuyên đề tháng10/2010;

"Xã hội hóa" công tác phổ biến giáo dục pháp luật, Nguyễn HưngQuang, Bộ tư pháp, Số chuyên đề tháng 10/2010;

“Tăng cường vai trò của hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục

pháp luật đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ đưa pháp luật vào cuộc sống”, Lê Thị Thu Ba, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp số chuyên đề tháng 4/2006.

Trang 8

Nghiên cứu về vấn đề GDPL cho CBCC tiêu biểu có các công trìnhnghiên cứu sau đây:

“GDPL cho CBCC hành chính ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Quốc Sửu,Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, Số 7/2010;

“Đổi mới phương pháp và hình thức GDPL cho CBCC hành chính”,Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 5/1011;

“Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động GDPL cho CBCC hành chính ởnước ta hiện nay” Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Việnnhà nước và pháp luật, số 4/2010;

“GDPL cho CBCC cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn ThịBưởi, Trường cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh;

“Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục phápluật”, Phạm Văn Chung, Bộ tư pháp, Số chuyên đề tháng 10/2010;

“Thiết chế hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật”, Bộ Tư pháp sốchuyên đề tháng 10/2010

Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu khác nhau đã được đăng ở cáctạp chí, các báo Trung ương và địa phương

Những công trình trên đã có nhiều đóng góp quan trọng không những

về măt lý luận, mà còn phần nào kết quả nghiên cứu còn được ứng dụng trongthực tiễn GDPL nói chung, GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở nói riêng

Dưới góc độ luận văn, luận án, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu vấn

đề giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức như: "Nâng cao hiệu quả giáodục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

trong điều kiện cải cách hành chính", Nguyễn Đình Nam, Luận văn Thạc sỹ

Khoa học Giáo dục, Đại học Vinh, 2012; "Nâng cao chất lượng thực hiệnQuy chế dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháptrong xây dựng nông thôn mới"; Trần Văn Tám, (Qua khảo sát ở xã BìnhThạnh, Huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp), luận văn Thạc sỹ chuyên ngành

Trang 9

Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục chính trị, Đại học Vinh,

2012

Song dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộmôn Giáo dục Chính trị, việc nghiên cứu vấn đề GDPL cho đội ngũ CBCC cơ

sở trên địa bàn huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh thì chưa có công trình nào nghiên

cứu một cách toàn diện Vì vậy, "Nâng cao hiệu quả GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay" là

vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn

Đề tài nghiên cứu của tác giả không trùng với công trình khoa học đãđược công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đánh giá đúng thực trạng và xác định được phương hướng, giải phápnâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở ở NghiXuân, Hà Tĩnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Quá trình GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở, hướng vào việc nêu lên thựctrạng và nâng cao hiệu quả công tác GDPL trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

4.2 Phạm vi

Cơ sở lý luận và thực tiễn của GDPL, giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả GDPL cho CBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và GDPL

Các quan điểm của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị của Bộ chính trị,Chương trình hành động, Quyết định của thủ tướng Chính phủ, kế thừa cóchọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chấtliên ngành, trong đó chủ yếu là kết hợp giữa phương pháp lịch sử với lôgíc, sửdụng và kết hợp với các phương pháp khác nhau như: phương pháp thống kê,phương pháp phân tích, đánh giá, phương pháp tổng hợp

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Trình bày một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về GDPL cho độingũ CBCC cơ sở trong giai đoạn hiện nay

- Thông qua việc phân tích các hạn chế, nguyên nhân, thực trạng củacông tác GDPL cho CBCC cơ sở ỏ huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đề tàicung cấp thêm những tư liệu về thực trạng công tác GDPL cho đội ngũ CBCC

cơ sở hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả GDPL cho đội ngũCBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

- Luận văn có thể làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tuyêntruyền và phổ biến GDPL

7 Giả thuyết khoa học

Trang 11

Thực hiện các giải pháp như đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quảGDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giaiđoạn hiện nay.

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ,công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả côngtác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện NghiXuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ 1.1 Một số khái niệm trong đề tài

1.1.1 Pháp luật và giáo dục pháp luật

1.1.1.1 Khái niệm pháp luật

Khi xuất hiện nhà nước thì cũng đồng nghĩa với việc pháp luật được rađời, hay xét về một phương diện khách quan thì nhà nước và pháp luật phátsinh cùng một nguồn gốc, khi mà chế độ tư hữu được xác lập, xã hội phânhóa thành các giai cấp đối kháng, và mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thểđiều hòa được Xét về phương diện chủ quan, pháp luật do nhà nước đề ra vàtrở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp thốngtrị Để làm rõ khái niệm về pháp luật, ngoài việc tìm hiểu những vấn đềnghiên cứu của các nhà khoa học khác, trước hết chúng ta phải tìm hiểunguồn gốc ra đời của nhà nước và pháp luật theo quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin

Trong xã hội nguyên thủy con người sống với nhau thành các bầy đàn,Trải qua hàng triệu năm con người bước vào một xã hội có tổ chức cao hơn,dần dần trong quan hệ hôn nhân có những biến đổi quan trọng: những ngườicùng dòng máu mẹ không được kết hôn với nhau và tập hợp thành một cộngđồng, gọi là thị tộc, và thị tộc được hình thành do quan hệ huyết thống Thịtộc là một hình thái xã hội cơ bản của công xã nguyên thủy, vì từ nó mà hợpthành các hình thái tổ chức khác (bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc) Một số thịtộc có quan hệ hôn nhân với nhau hợp thành bào tộc, bào tộc lại tập hợp thànhmột bộ lạc Bộ lạc có tên gọi, tiếng nói, phong tục tập quán, ruộng đất ngườiđứng đầu bộ lạc gọi là tù trưởng, có nhiệm vụ giải quyết những công việc cầnkíp, có quyền triệu tập bộ lạc Dần dần, một số bộ lạc liên minh lại với nhautạo thành những liên minh bộ lạc, có một hội đồng gọi là hội đồng liên minh

Trang 13

bộ lạc, cùng thảo luận và đưa ra các ý kiến, cùng thảo luận và quyết nghịnhững công việc của liên minh theo phương thức dân chủ, mọi quyết nghịphải được sự nhất trí hoàn toàn của các thành viên Các quyết nghị đó khi đưa

về bộ lạc cũng phải được hội đồng bộ lạc tán thành thì mới có hiệu lực, liênminh bộ lạc có hai thủ lĩnh tối cao, không ai hơn ai về quyền hạn và chứctrách Nhưng càng ngày sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra nhữngchuyển biến vô cùng to lớn cả về kinh tế và xã hội, làm cho tổ chức công xãnguyên thủy tan rã, và nhường bước cho sự ra đời của nhà nước Sự ra đời củanhà nước đã đánh dấu quan trọng trong sự ra đời của pháp luật vì pháp luật rađời khi nhà nước xuất hiện

Trong buổi ban đầu, trước tiên và phổ biến nhất là nhiều phong tục tậpquán được "nhà nước hóa" thành tập quán pháp Có những tập quán phápkhông được nhà nước chính thức thừa nhận nhưng được mặc nhiên côngnhận, và được giai cấp thống trị sử dụng như là một công cụ đắc lực cho quátrình điều hành xã hội của giai cấp mình Nó có vai trò hết sức quan trọngtrong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong quá trình phát triểncủa xã hội thì sự ra đời của luật thành văn là một tất yếu, bởi vì tập quán phápkhông thể "đảm đương" được việc điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng rãi,phong phú, sâu rộng nảy sinh trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa

Tóm lại: Có thể hiểu một cách chung nhất pháp luật là hệ thống những

qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình

Từ khái niệm trên ta có thể hiểu các thuộc tính của pháp luật:

- Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, quy phạmđược hiểu là những quy tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực,mực thước đối với hành vi của 1 phạm vi cá nhân, tổ chức Pháp luật đượcbiểu hiện cụ thể là những quy phạm pháp luật Do vậy nó cũng là quy tắc xử

sự chung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định Pháp luật được Nhà

Trang 14

nước ban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức

cụ thể mà áp dụng cho tất cả các chủ thể Tuy nhiên, điểm khác biệt giữaPháp luật với các loại qui phạm khác ở chỗ: Pháp luật là quy tắc xử sự mangtính bắt buộc chung

VD: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế

- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: Yêu cầu của pháp luật làphải xác định chặt chẽ về mặt hình thức, được biểu hiện ở:

+ Lời văn: phải chính xác, cụ thể, dễ hiểu, không đa nghĩa Nếu khôngđúng được yêu cầu này, chủ thể sẽ hiểu sai, hiểu khác

+ Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và thông qua cơquan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Tuy nhiên mỗi một cơ quan chỉđược ban hành những loại văn bản nhất định có tên gọi xác định và theo mộttrình tự, thủ tục nhất định

VD: Hiến pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành

Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành

+ Sự xác định chặt chẽ trong cấu trúc của Pháp luật

- Tính đảm bảo được thực hiện bằng Nhà nước: Pháp luật do Nhà nướcban hành và thừa nhận đồng thời Nhà nước sẽ đảm bảo cho Pháp luật đó đượcthực hiện trong thực tiễn đời sống Sự đảm bảo đó được thể hiện:

+ Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích giúp đỡ để chủ thể thực hiệnpháp luật

+ Nhà nước đảm bảo cho Pháp luật được thực hiện bằng sức mạnhcưỡng chế của Nhà nước Tính cưỡng chế là tính không thể tách rời khỏi Phápluật Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơquan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểmsát, thi hành án Mục đích cưỡng chế và cách thức cưỡng chế là tùy thuộcbản chất Nhà nước

1.1.1.2 Giáo dục pháp luật

Khi nói đến giáo dục pháp luật, thì có rất nhiều quan niệm khác nhauđược nhắc đến Về cơ bản có các quan niệm sau đây:

Trang 15

- Quan niệm thứ nhất cho rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt

buộc chung Khi pháp luật mang tính chất bắt buộc chung, đồng nghĩa vớiviệc mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cầnđặt vấn đề giáo dục pháp luật cho mọi công dân Pháp luật không thể là cáithuộc tính tuyên truyền vận động; ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thựchiện chức năng của mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ thông quacác chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luậtđiều chỉnh

- Quan niệm thứ hai, đồng nhất hoặc coi giáo dục pháp luật là một bộ

phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức Chỉ cần thực hiện tốtquá trình giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức là mọi người đã có ýthức pháp luật cao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật Như vậy theo quanniệm này, thì chỉ cần giáo dục tốt chính trị tư tưởng, và đạo đức là được, qua

đó công dân tự sẽ có ý thức chấp hành và tôn trọng pháp luật, không cần đếntuyên truyền hay phổ biến giáo dục pháp luật

- Quan niệm thứ ba, coi giáo dục pháp luật đồng nhất với việc tuyên

truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật Theo quan niệm này, việcgiáo dục pháp luật thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, giới thiệu tinh thầnvăn bản pháp luật khi có văn bản pháp luật quan trọng mới ban hành như:Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự hoặc trước các kỳ bầu cử Quốchội, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp Như vậy theo những cách hiểu này,việc tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật chỉ diễn ra trong thời gianngắn, khi có những sự kiện khác nhau liên quan đến các văn bản pháp luật

Các quan niệm nói trên đều đem ra những khía cạnh của vấn đề, tuynhiên những khái niệm đó đều mang tính phiến diện, một chiều, chưa thấy hếtđặc thù, sự tác động của giáo dục pháp luật, nên đă vô tình hoặc cố ý hạ thấpvai trò, giá trị của giáo dục pháp luật Bởi vì, bản thân pháp luật mới chỉ làvăn bản quy phạm pháp luật, là mô hình ở dạng "tiềm năng" Pháp luật chỉ

Trang 16

thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạnkhác nhau, trong đó có các giai đoạn chủ yếu như sau:

- Thứ nhất, việc ban hành các văn bản pháp luật

- Thứ hai, tuyên truyền giáo dục rộng rãi đến toàn thể cán bộ, quầnchúng nhân dân được biết và hiểu các quy định của pháp luật

- Thứ ba, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật vào thực tiễn cuộcsống

- Thứ tư, việc kiểm tra giám sát các văn bản pháp luật Kiểm tra xemcác cơ quan, tổ chức thực hiện pháp luật như thế nào, có vi phạm pháp luậthay không Trong cơ chế đó "yếu tố con người là cơ bản và là linh hồn của cơchế" [20, tr14]

Khi một công dân tham gia vào các quan hệ pháp luật trong xã hội, đó làmột quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và kháchquan khác nhau Ở giai đoạn này, những qui phạm pháp luật có khả năng tácđộng lên ý thức của cá nhân như khuyến khích hành vi hợp pháp hoặc kiềmchế hành vi bất hợp pháp Do đó, việc phổ biến văn bản pháp luật mới chỉ làđiều kiện cần nhưng chưa đủ để cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu củapháp luật Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ýthức đó phải được hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của cácđiều kiện khách quan và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cánhân "cho nên công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà cònphải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt" [35 tr.244]

Vì thế, để xác định đúng đắn khái niệm giáo dục pháp luật, trước hếtcần xuất phát từ khái niệm giáo dục của khoa học sư phạm Trong khoa học

sư phạm, giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của nhiều điều kiệnkhách quan như: Môi trường sống, chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế,văn hóa, phong tục tập quán và sự tác động của nhân tố chủ quan như: Sự tác

Trang 17

động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lênviệc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục.

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kếhoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt đượccác mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất,trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hayđối tượng) có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội "Phổ biến giáo dụcpháp luật là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động

có định hướng, có tổ chức, có chủ định (thông qua các hình thức giáo dục,thuyết phục, nêu gương ) nhằm mục đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp

lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của các hệ thống phápluật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù Phổ biếngiáo dục pháp luật là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài của chủthể lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống" [11, tr38 ]

Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan

là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà lý luận, cácnhà khoa học sư phạm vẫn nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu, cực kỳquan trọng, thậm chí mang yếu tố quyết định của nhân tố chủ quan trong giáodục Vì thế, khái niệm giáo dục hiện nay thường được hiểu theo nghĩa hẹp

1.1.2 Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở

1.1.2.1 Cán bộ, công chức cơ sở

Khái niệm công chức ở nước ta được đánh dấu từ Sắc lệnh 76/SL ngày20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ban hành "Quy chế công chức của nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa" Sau đó, trong một thời gian dài do nhiềunguyên nhân chúng ta không hay sử dụng thuật ngữ "công chức" mà thườngdùng cụm từ "cán bộ công nhân viên chức" để chỉ toàn bộ những người làmviệc trong tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, các đoàn thể quầnchúng, cán bộ, công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh

Trang 18

Đến cuối những năm 1980, thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện củaĐảng và Nhà nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốcĐảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), khái niệm "công chức" lại đượcdùng nhiều hơn trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Để phân định ai làcông chức, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định169/HĐBT ngày 25/5/1991 Theo Điều 1 của nghị định này thì: "Công chứcnhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm, giữ một công

vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địaphương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch; hưởnglương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước"

Bước sang những năm 1990, sự nghiệp đổi mới đất nước được đẩymạnh và đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhiều vấn đề lớn được đặt ra,trong đó có vấn đề cán bộ, công chức "Xây dựng và ban hành văn bản phápquy về chế độ công vụ và công chức Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩmquyền", "xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước vừa có trình độchuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp" [14, tr 132] Theo tinh thần Nghị quyếtcủa Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) nói trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

đă ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 và có hiệu lực vàongày 01/5/1998

Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 không đưa ra định nghĩa chotừng khái niệm "cán bộ", "công chức", cũng không đưa ra định nghĩa chungcho cụm từ "cán bộ, công chức", mà chỉ quy định ở Điều 1 của Pháp lệnh Cán

bộ, công chức: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dânViệt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trongcác cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Trang 19

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụthường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đượcxếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗingạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh, tiêuchuẩn riêng;

- Thẩm phán Tòa án nhân dân; kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làmviệc trong các cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

Sau khi Pháp lệnh đã ban hành, Chính phủ đã ra ba nghị định, chủ yếu

là giải thích và hướng dẫn về vấn đề công chức:

Theo Nghị định 95/1998/NĐ-CP thì công chức là những người quyđịnh tại khoản 3 và khoản 5 của Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ công chức

Năm 2010 Luật cán bộ, công chức có hiệu lực và trong đó có quy định

rõ ràng về khái niệm CBCC Theo quy định tại điều 4 Luật cán bộ, công chứcthì có thể hiểu rằng:

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào

ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an

Trang 20

nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đốivới công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpthì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quyđịnh của pháp luật.

Cũng theo quy định tại điều 4 Luật cán bộ công chức thì Cán bộ xã,

phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, đượcbầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủyban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị -

xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ mộtchức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Phân loại CBCC cấp xã:

- Cán bộ cấp xã bao gồm những người như sau: Cán bộ làm công tácĐảng: bí thư và phó bí thư hoặc trực Đảng; Cán bộ làm công tác chính quyền:Chủ tịch phó chủ tịch UBND, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã; Cán bộ làmcông tác đoàn thể: người đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội: Chủ tịch mặttrận tổ quốc, Chủ tịch Hội phụ nữ, bí thư đoàn thanh niên, Chủ tịch hội cựuchiến binh, chủ tịch hội nông dân xã được quy định tại khoản 2 điều 61 Luậtcán bộ công chức

- Công chức cấp xã bao gồm những chức danh như sau: Trưởng Côngan; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đôthị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp -xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch;Văn hóa - xã hội Công chức cấp xã do huyện quản lý được quy định tạikhoản 3 điều 61 Luật cán bộ, công chức năm 2010

Trang 21

Chúng ta đã biết rằng, từ khi xuất hiện và hình thành nhà nước thì nhànước đã có sự phân chia thành các đơn vị, lãnh thổ khác nhau để nhà nước dễdàng trong việc quản lý các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Ở nước ta, vấn

đề này ngay từ khi thành lập nhà nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luônquan tâm đến tổ chức nhà nước thành các cấp hành chính khác nhau để thuậntiện trong việc tổ chức và quản lý Theo hiến pháp nước CHXHCN Việt Namnăm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2002), và tại điều 4 Luật tổ chứcHĐND và UBND có quy định HĐND và UBND được tổ chức thành các đơn

vị hành chính sau đây:

Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn là chính quyền gần dân nhấttrong hệ thống chính quyền 4 cấp Gọi chính quyền cấp xã, phường, thị trấnchính là chính quyền cấp cơ sở bởi những lý do sau:

Thứ nhất, cấp này thỏa mãn được các yếu tố cấu thành một cấp chính

Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên

Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền

nào thấp hơn cấp chính quyền cấp xã, phường, thị trấn Ở cấp này, thườngxuyên tiếp xúc với nhân dân, luôn đi sâu đi sát với nhân dân, là cấp chínhquyền gần dân nhất

Thứ ba, cấp xã, phường, thị trấn là nền móng của bộ máy nhà nước, cái

gốc của hệ thống chính quyền của nhà nước 4 cấp

Mặc dù vậy, tuy là cấp nhà nước thấp nhất nhưng chính quyền cấp cơ

sở có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống hành chính nhà nước Chính

Trang 22

quyền cấp cơ sở là nơi giao lưu trực tiếp giữa nhân dân và nhà nước, chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nói " Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính.Cấp xã làm được mọi việc thì mọi việc đều xong xuôi" [33; tr 269] Hoạtđộng của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn có ảnh hưởng rất lớn và sâusắc đến uy tín, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước Khi một chủtrương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước được ban hành, thì chínhquyền cấp xã chính là nơi thể hiện tính hiệu lực, hiệu quả của chủ trươngđường lối, chính sách đó Bên cạnh đó, chính quyền cấp xã cũng là nơi thựcthi, kiểm ngiệm, và phản ánh tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống cơ chếchính sách, vì thế chất lượng của hệ thống chính sách phụ thuộc vào chấtlượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở

Chính quyền cơ sở còn là nơi trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế xãhội của địa phương, những vấn đề của địa phương mà chính quyền cấp cơ sở

có thẩm quyền giải quyết, thì chính quyền cơ sở chính là nơi đại diện chonhân dân địa phương trực tiếp giải quyết Với những vai trò và tầm quantrọng như đã nói ở trên, có thể khẳng định rằng chính quyền cấp xã chính làcấp chính quyền cấp cơ sở, vì nó có những vai trò quan trọng trong việc tiếpnhận và thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhànước, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương, đồng thời cũng

là cơ quan giúp nhà nước đề ra các biện pháp tổ chức, quản lý phù hợp với đặcđiểm của một địa phương, đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân địa phương

Như vậy ta có thể khẳng định rằng, CBCC có đầy đủ các tiêu chuẩnđược tuyển dụng hoặc bầu cử theo quy định của Luật công chức 2010 mà làmviệc ở chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thì được gọi

là CBCC cấp cơ sở

1.1.2.2 Đặc điểm trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Quá trình GDPL cho CBCC có những đặc điểm khác biệt so với GDPLcho những đối tượng giáo dục khác như: GDPL trong nhà trường đối tượngchủ yếu là học sinh, sinh viên; GDPL cho người lao động, người quản lýtrong các doanh nghiệp, hay là GDPL cho thanh thiếu niên

Trang 23

Nếu như quá trình GDPL cho đối tượng là thanh thiếu niên, cần tậptrung vào những kiến thức pháp luật phổ thông, cơ bản về nhà nước và phápluật, các quyền và nghĩa vụ của công dân, một số kiến thức pháp luật thiết yếuphục vụ cuộc sống, học tập phong phú phù hợp với lứa tuổi như: an toàn giaothông, bảo vệ môi trường Còn với người lao động và người quản lý trongdoanh nghiệp, vấn đề GDPL cần giáo dục những nội dung liên quan trực tiếpđến hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh, lao động của người quản lý Vớicác hình thức tư vấn pháp luật, nói chuyện theo chuyên đề, sinh hoạt các câulạc bộ Những đối tượng được giáo dục nói trên có những đặc điểm khác biệt

so với đội ngũ CBCC, vì thế đặc điểm trong quá trình GDPL cho CBCC cầnphải chú trọng hơn về nội dung, đặc biệt là những nội dung pháp luật mới, cóảnh hưởng đến chính quyền địa phương, và chức danh mà CBCC đó đượcđảm nhận

Đối với quá trình GDPL cho CBCC ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức pháp luật theo một chương trình tương ứng, việc GDPL cho CBCC cònđược thực hiện thông qua các lớp tập huấn theo chuyên đề, các hội nghị giớithiệu hoặc triển khai các văn bản Hiện nay trình độ năng lực của CBCC cơ sở

có nhiều bất cập, vì vậy khi tiếp thu, triển khai các chủ trương, chính sáchlớn của Đảng và nhà nước còn có những chỗ làm còn sai lệch, tùy tiện Vì thếkhi GDPL cho CBCC cần chú ý đến đặc điểm CBCC là những người vừa tiếpthu lại là người lãnh đạo xã hội, vấn đề GDP phải mang tính thường xuyên,liên tục và đảm bảo được sư tiếp thu cao Không những vậy, khi GDPL choCBCC cần phải gắn liền với trực trạng của địa phương nơi CBCC đang làmviệc, vừa đảm bảo tính thực tế lại vừa đảm bảo các chủ trương và chính sáchcủa nhà nước được thực thi

Một trong những đặc điểm quan trọng trong GDPL cho CBCC cần chútrọng đến việc thường xuyên đổi mới hình thức cũng như nội dung củaphương pháp GDPL Việc thay đổi thường xuyên hình thức GDPL sẽ làmphong phú và đa dạng những nội dung cần truyền tải Tuy nhiên cũng cần lưu

Trang 24

ý đặc điểm quan trọng trong GDPL cho CBCC đó chính là cần lưu ý đặcđiểm, CBCC vừa là đối tượng GDPL nhưng cũng là chủ thể thực thi phápluật Vì vậy, khi GDPL cho CBCC cần chú trọng hơn đến đặc điểm này.

Trong công tác giáo dục pháp luật cho CBCC phải bắt đầu từ việc ràsoát, phân loại trình độ kiến thức pháp luật của cán bộ, công chức để có kếhoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với từng loại, từng đốitượng, để có phương pháp và thời gian cho thích hợp Cùng với việc đẩymạnh công tác phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luật, cần chú trọng giáodục đạo đức và giáo dục chính trị, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, công chức;hình thành ở họ phẩm chất chính trị tốt, có lý tưởng cách mạng, có thái độ tôntrọng pháp luật

1.1.2.3 Phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

Phương pháp giáo dục nói chung dưới góc độ lý luận dạy học được hiểu

là cách thức, biện pháp sử dụng để truyền đạt và lĩnh hội của nhà giáo dụcnhằm đạt đến mục đích giáo dục Trên cơ sở quan niệm này phương phápgiáo dục pháp luật được hiểu là tổng thể cách thức, biện pháp mà chủ thể vàđối tượng giáo dục pháp luật sử dụng để nhằm thỏa măn mục đích truyền đạt

và lĩnh hội nội dung giáo dục pháp luật

Hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào nộidung mà cgòn phụ thuộc vào phương pháp giáo dục pháp luật Bởi vì, đểtruyền tải được nội dung giáo dục pháp luật đ gòi hỏi chủ thể giáo dục pháp luậtphải có cách thức, biện pháp tác động phù hợp với khả năng tiếp nhận của đốitượng Có phương pháp giáo dục pháp luật tốt là một trong những yếu tốquyết định chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật

Đối với quá trình GDPL cho CBCC có những phương pháp khác biệt sovới những đối tượng giáo dục khác Nhưng trước tiên phải khẳng định rằngkhông có một phương pháp GDPL nào là phương pháp tối ưu nhất, bởi vì cónhiều lý do khác nhau:

Trang 25

- Thứ nhất, mỗi CBCC ở các địa phương có một đặc điểm khác nhau;những đặc điểm thuộc về vùng miền có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động củaCBCC.

- Thứ hai, mỗi chức danh CBCC được đảm nhận có những đặc điểmriêng, ngoài những hiểu biết pháp luật chung nhất thì đều cần thiết đi chuyênsâu vào những văn bản pháp luật có liên quan đến ngành, lĩnh vực chuyênmôn mà CBCC đó đảm nhận, phụ trách

Vì thế, để có những phương pháp GDPL cho đội ngũ CBCC đạt đượchiệu quả cao ngoài việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật theo chươngtrình tương ứng với từng chức danh CBCC, việc GDPL có thể thực hiện bằngphương pháp thông qua các lớp tập huấn chuyên đề (hình thức nói, truyềnđạt), các hội nghị giới thiệu hoặc triển khai các văn bản, qua tài liệu phát tờrơi thông qua các đợt tuyên truyền và phổ biến GDPL Phương pháp GDPLtốt thì sẽ đạt được những hiệu quả nhất định từ công tác GDPL

1.2 Nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ công chức cơ sở

1.2.1 Nội dung giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

Quá trình giáo dục pháp luật cho CBCC phải có những nội dung nhấtđịnh, nội dung giáo dục không chỉ gắn liền với thực tiễn của công việc hàngngày, mà nó còn phải đảm bảo đi chuyên sâu vào các nội dung của các vănbản pháp luật Việc xác định đúng nội dung GDPL sẽ đảm bảo cho hiệu quảgiáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao, chất lượng và hơn hết với hiệu quả đạtđược sẽ giúp cho CBCC hoàn thành tốt nhiệm vụ mà mình được giao

Điều 10 Luật phổ biến giáo dục pháp luật quy định nội dung phổ biến,giáo dục pháp luật bao gồm:

1 Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm làcác quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và giađình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáodục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của

Trang 26

công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, côngchức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

2 Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên, các thỏa thuận quốc tế

3 Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợiích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiệnpháp luật

Do tính chất đặc thù từng vùng miền khác nhau, nên nội dung GDPLcủa CBCC từng vùng từng địa phương cũng có những đặc điểm khác nhau,nên không thể có một quy định nhất định áp dụng nội dung GDPL choCBCC Tùy vào từng hoàn cảnh khác nhau để có những phương án và nhữngnội dung GDPL phù hợp với các đối tượng được áp dụng

Đối với CBCC cấp cơ sở, PBGDPL chủ yếu theo các nội dung như sau:

- Một số quy định liên quan đến hoạt động thường xuyên của CBCCnhư các quy định của pháp luật về quy định quyền và nghĩa vụ của CBCCtrong Luật Cán bộ công chức; pháp luật về quyền của công dân như Luậtkhiếu nại, Luật tố cáo, Luật bầu cử hội đồng nhân dân ; Các bộ luật, đạo luật

có đối tượng điều chỉnh rộng như Luật đất đai, Luật dân sự, luật hình sự, Luậthôn nhân và gia đình

- Một số văn bản như Nghị định, Thông tư, Chỉ thị có liên quan trựctiếp đến hoạt động của địa phương

- Những khái niệm cơ bản trong khoa học pháp lý thường gặp trong thực tiễn

- Một số cán bộ chuyên trách về pháp luật của chính quyền cơ sở cần có

sự chuyên sâu hơn về các nội dung pháp luật, cụ thể như cập nhật nhữngthông tin và quy định mới nhất về pháp luật, các quy định của pháp luật liênquan trực tiếp đến địa phương của mình; hệ thống những văn bản trong nước

và quốc tế; những hậu quả pháp lý do việc vi phạm các quy định của phápluật trong quá trình thực tiễn của cuộc sống; các kĩ năng nghiệp vụ liên quanđến công việc chuyên môn hàng ngày

Trang 27

Do tính chất đặc thù của công việc CBCC là những người tham gia vàocác quan hệ pháp luật với tư cách là người lãnh đạo, quản lý xã hội Vì vậy,những nội dung GDPL cho CBCC cơ sở phải gắn liền với hoàn cảnh, điềukiện của địa phương nơi mà CBCC đó đang làm việc Bên cạnh đó, việcGDPL phải gắn với công việc hàng ngày mà CBCC đó được đảm nhận, vìthế CBCC cơ sở phải được trang bị đầy đủ các kiến thức và những kĩ năngtrong việc áp dụng pháp luật và họ phải có ý thức đầy đủ về trách nhiệm chủthể GDPL của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ.

1.2.2 Hình thức giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

Qua lý luận và cả thực tiễn trong đời sống hoạt động hàng ngày, GDPL

có rất nhiều hình thức khác nhau tùy vào từng điều kiện và nội dung cụ thể để

có các hình thức GDPL phù hợp Tuy nhiên, đối tượng giáo dục này chính làCBCC nên các hình thức GDPL phải có những hình thức phù hợp, tránhmang tính đại khái, xong chuyện

Điều 11 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định hình thức phổ biến,giáo dục pháp luật dưới các hình thức như sau:

1 Họp báo, thông cáo báo chí

2 Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật;cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật

3 Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh,internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tảithông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tincủa cơ quan, tổ chức, khu dân cư

4 Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật

5 Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếpcông dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các

cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòagiải ở cơ sở

Trang 28

6 Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chứcchính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế vănhóa khác ở cơ sở.

7 Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dụccủa hệ thống giáo dục quốc dân

8 Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đốitượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng

để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả

Căn cứ vào mục tiêu, những nhiệm vụ và nội dung của khách thể quátrình GDPL ta có thể chia hình thức GDPL cho CBCC nói chung và CBCCcấp cơ sở thành các loại như sau:

- Thứ nhất: GDPL mang tính chất phổ biến, tuyên truyền giáo dục tưtưởng đạo đức dưới các hình thức tổ chức thành các buổi sinh hoạt, nóichuyện, cuộc thi tìm hiểu, các thông tin truyên thanh, truyền hình, báo chí, tủsách pháp luật

- Thứ hai, quá trình GDPL mang tính chuyên sâu cho CBCC làm tronglĩnh vực ban hành và thực thi pháp luật, do trong quá trình thực hiện nhiệm vụcủa mình đòi hỏi phải có sự am hiểu sâu về pháp luật, họ chính là đối tượngcần được GDPL, còn vừa là chủ thể trong GDPL cho nhân dân trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ của mình

- Thứ ba, đó là hình thức GDPL thông qua các cơ sở, trung tâm, cáctrường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nhà nước và pháp luật Thông quahình thức GDPL này, CBCC có những kiến thức cơ bản và sự am hiểu tươngđối đầy đủ về các quy định của pháp luật cũng như tạo cho CBCC có mộttrình độ pháp lý vững vàng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý

xã hội Hình thức này chính là hình thức cơ bản nhất trong quá trình GDPLcho CBCC

Do đó, từ việc phân loại GDPL sẽ giúp cho quá trình GDPL cho CBCCxác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung trong khi xây dựng các chương trình,

Trang 29

công tác chuyên môn nghiệp vụ, trên cơ sở đó chuẩn bị các điều kiện vật chất,cán bộ để có các hình thức tuyên truyền và giáo dục hợp lý.

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

1.3.1 Chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục pháp luật

Công tác GDPL luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước ta Với mục tiêu xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước thì công tác GDPL có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặcbiệt là GDPL cho đội ngũ CBCC Điều này đòi hỏi công tác GDPL cần cónhiều sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và nhà nước cũng như sự thực hiện mộtcách nghiêm túc từ CBCC

Trong quá trình đổi mới, nhận thấy rõ tầm quan trọng của công táctuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã đề ranhiều biện pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhândân Đặc biệt là những năm gần đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đãđược thực hiện theo các chương trình, kế hoạch cụ thể được Chính phủ phêduyệt

Với nhận thức đúng đắn như vậy, trong nhiều năm qua, công tác GDPLluôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều văn bảnquy phạm pháp luật về GDPL được ban hành

Về các văn bản của Đảng:

Ngày 09/12/2003 Ban Bí thư TW Đảng đã ban hành chỉ thị số 32/CT

-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Chỉ thị

đã nêu rõ việc tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm

"góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêmchỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân"

Trang 30

- Ngày 11/5/2007 của Ban bí thu TW Đảng thông báo kết luận số TB/TW về kết luận của Ban bí thư tiếp tục thực hiện chỉ thị 32-CT/TW củaBan bí thư TW Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trongcông tác phổ biến, GDPL nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của CB nhândân Thông báo đã chỉ rõ những điểm tích cực đã đạt được trong quá trìnhthực hiện chỉ thị 32, nêu lên những tồn tại, hạn chế và đề ra phương hướngtrong thời gian tới cho công tác PBGDPL là "Tiếp tục quán triệt sâu sắc vàđầy đủ hơn nữa về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến,giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân theo đúng tinh thần củaChỉ thị 32-CT/TW, gắn với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảnglần thứ X, các nghị quyết của Bộ Chính trị (khoá IX) về Chiến lược xây dựng

74-và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đếnnăm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết Hội nghịlần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) "

- Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban bí thư TW Đảng(khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09-12-2003 củaBan bí thư TW Đảng (khóa IX0 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trongcông tác phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao ý thức chấp hành pháp luậtcủa cán bộ, nhân dân

Các văn bản của nhà nước:

- Chỉ thị số 02/CTTg ngày 07/01/1988 về việc tăng cường công tác phổbiến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay của Thủ tướng Chính phủ

- Quyết định số 03/1998/QĐ - TTg ngày 07/01/1998 về việc ban hành

kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đếnnăm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục phápluật của Thủ tướng Chính phủ

- Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 phê duyệt chươngtrình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003-2007 của Thủ tướng Chínhphủ

Trang 31

- Quyết định số 212/2004/QĐ - TTg ngày 16/12/2004 phê duyệtchương trình hành động quốc gia phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao ýthức chấp hành cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đếnnăm 2010 của Thủ tướng Chính phủ.

- Thông tư của Bộ tài chính số 63/2005/TT - BTC ngày 05/08/2005 vềviệc hướng dẫn việc sử dụng quản lý kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến,giáo dục pháp luật

- Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg ngày 28/1/2006 về việc phê duyệt các

đề án chi tiết thuộc chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục phápluật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã,phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Thủ tướng chínhphủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm

2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, chấphành pháp luật của cán bộ, nhân dân

- Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Chương trình phổ biến, giao dục pháp luật từ năm 2008đến năm 2012

- Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-BTP-TWHCCBVN ngày09/6/2008 của Bộ tư pháp, Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam hướngdẫn phối hợp xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biếnGDPL, trợ giúp pháp lý đối với cựu chiến binh

- Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng chínhphủ về việc xây dựng quản lý, khai thác tủ sách pháp luật

- Thông tư liên tịch số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 hướngdẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tácphổ biến, giáo dục pháp luật

Trang 32

- Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 05/11/2010 của Bộ tư pháp quyđịnh về báo cáo viên pháp luật.

- Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGD&ĐT-BTP ngày 16/11/2010của Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ tư pháp hướng dẫn việc phối hợp thực hiệncông tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường

- Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủban hành chương trình hành động thực hiện kết luận số 04-KL/TW ngày19/4/2011 cảu Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa XI)

- Luật phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012

- Quyết định số 27/2013/NĐ-CP ngày 19/5/2013 của Thủ tướng chínhphủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợpphổ biến, giáo dục pháp luật

Những chủ trương trên đây thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước

ta trong việc tiếp tục dành sự đầu tư tập trung để đẩy mạnh công tác phổ biến,giáo dục pháp luật, đồng thời cũng phù hợp với các cơ quan, cán bộ đang trựctiếp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và đáp ứng nguyện vọngcuả nhân dân Hiện nay đã có chương trình quốc gia về phổ biến, giáo dục phápluật tập trung vào việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đối tượng làCBCC và nhân dân ở xã, phường, thị trấn; việc nâng cao chất lượng tuyêntruyền pháp luật tại địa phương sẽ giúp cho hiệu quả quản lý, thực thi các chủtrương và chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đạt hiệu quả cao

1.3.2 Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức

cơ sở là nhân tố quan trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Từ thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam, Đảng ta đã khái quát 5 đặc trưng cơ bản của nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa:

Trang 33

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc vềnhân dân;

- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật,bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnhcác quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội;

- Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ,đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật;

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phốihợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp;

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phảnbiện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên củaMặt trận

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đangđặt ra cho công tác GDPL cho đội ngũ CBCC những yêu cầu cấp thiết, đặcbiệt luôn nhấn mạnh tầm quan trọng và tính tất yếu của việc xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phải nhấn mạnh tính tối cao củapháp luật, phải trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật về quyền con người,pháp luật quốc tế

Đội ngũ CBCC có vai trò quyết định sự thành bại của cách mạng vàhiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Trong Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì đội ngũ CBCC lại là nhân

tố quan trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,một nền hành chính trong sạch đáp ứng đầy đủ những yêu cầu trong tình hìnhmới Với mỗi CBCC, cần có những yêu cầu như sau:

Trang 34

- Có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc màmình đảm nhiệm

- Tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách nhiệm và đạo đức công

vụ trong khi thực hiện công việc được giao Có tinh thần hợp tác, giúp đỡđồng nghiệp

- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật với ý thức tự giác và kỷ luậtnghiêm minh, không làm điều gì trái với lương tâm và trách nhiệm công vụ

- Gương mẫu trong việc chấp hành đường lối chính sách, pháp luật; tựgiác rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách làm việc

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân trong tìnhhình hiện nay của Nhà nước ta đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ các nội dung, cáckhâu của công tác cán bộ trong bộ máy nhà nước Trong đó chú trọng nhấtđến việc GDPL cho đội ngũ CBCC, đặc biệt là CBCC cấp cơ sở, đó chính lànhân tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và hình thành nên một nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền hành chính quốc gia nhấtquán, đồng bộ

1.3.3 Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật là yêu cầu khách quan trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay

Hiện nay, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân,suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất, đạo đức, lối sống của một số cán

bộ, đảng viên vẫn còn nghiêm trọng và khá phổ biến, chưa tạo được nhữngchuyển biến căn bản, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí như tại Nghị Quyết TW4 Khóa XI đã nêu ra "có những yếukém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làmgiảm sút lòng tin của nhân dân Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộcao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiệnkhác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội,

Trang 35

thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng,lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc ".

Nguyên nhân của tình hình trên đây, về mặt khách quan, là do tác độngcủa mặt trái kinh tế thị trường; nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, doĐảng, Nhà nước ta chưa lường hết mặt trái của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, chưa có những giải pháp kịp thời về tư tưởng và khả năngứng phó cho cán bộ, đảng viên; do những yếu kém trong công tác cán bộ;chậm cụ thể hoá những chủ trương, giải pháp đồng bộ có hiệu quả về phápluật cơ chế, chính sách, những biện pháp xử lý kỷ luật khi cán bộ vi phạm;chậm tăng cường xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật và tổ chức cán bộthật sự trong sạch, vững mạnh Hơn nữa, sự tu dưỡng rèn luyện của một bộphận cán bộ trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp chưa tự giác, chưathường xuyên và nghiêm túc; chưa thật sự dựa vào dân, chưa thu hút cả hệthống chính trị và cả xã hội vào cuộc đấu tranh thường xuyên chống quan liêutham nhũng, lãng phí

Ngay từ Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá IX)cũng chỉ rõ tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng và kháphổ biến hiện nay "làm cho nhân dân bất bình và lo lắng là những điều xãhội bức xúc nhất hiện nay và đang hạn chế việc phát huy những thắng lợi màchúng ta đã đạt được là nhân tố tiêu cực lớn đang hạn chế, kìm hãm bướctiến của công cuộc đổi mới; là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và Nhànước ta"

Như vậy, vấn đề bức xúc hiện nay là phải làm cho mọi cán bộ, đảng viêntrong toàn bộ hệ thống chính trị nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc đấutranh chống quan liêu tham nhũng, lãng phí, chống nhũng nhiễu dân, chốngsuy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống có ý nghĩa đốivới sự nghiệp đổi mới, với sinh mệnh của Đảng, Nhà nước và chế độ

Vì thế, việc tăng cường GDPL cho đội ngũ CBCC hiện nay nhằm đểcho đội ngũ CBCC có thái độ chính trị vững vàng, không dao động, xác định

Trang 36

đúng đắn quan điểm và thái độ trong đấu tranh chống lại mọi thế lực đangchống phá sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhà nước, bên cạnh đó sẽ chốngđược tệ nạn quan liêu tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác Khônghoang mang, dao động, bối rối trước các diễn biến phức tạp và nghiêm trọngcủa tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực hiện nay

1.3.4 Góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, rèn luyện hành vi ứng xử của đội ngũ cán bộ công chức cơ sở

Nhà nước ta với bản chất là một Nhà nước dân chủ nhân dân, của dân,

do dân và vì dân, lấy dân làm gốc, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân Vìthế trong quá trình xây dựng nhà nước, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâmđến đạo đức, lối sống cũng như hành vi ứng xử của CBCC Trong thư gửi cho

Ủy ban nhân dân các cấp (năm 1945), chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở:

"Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến cáclàng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứkhông phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp,Nhật” [17, trg147]

Với những yêu cầu cấp thiết trong việc chấn chỉnh tình trạng cũng nhưthái độ làm việc của CBCC, ngày 26/2/2007 Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã banhành Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV quy định các chuẩn mực xử sự của cán

bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phươngtrong thi hành nhiệm vụ, công vụ, trong quan hệ xã hội; trách nhiệm của cán

bộ, công chức, viên chức, của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền trong việc thựchiện và xử lý vi phạm Tiếp đó, Thủ tướng chính phủ tiếp tục ban hành quychế Văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước số 129 /2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 quy định về cách ứng xử, hành vi, thái độ làmviệc của toàn thể CBCC tại công sở Có thể khẳng định rằng, việc ban hànhnhững văn bản quy phạm pháp luật nhằm chấn chỉnh hành vi ứng xử củaCBCC là vấn đề cần thiết và quan trọng hiện nay Để chấn chỉnh tình trạngnày cũng là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình cải cách thủ tục hành chính

Trang 37

nhà nước CBCC là đội ngũ thực hiện công vụ, khi người dân đến liên hệcông việc, phải thông qua những người thực thi quyền lực nhà nước Ở đây,CBCC không phải là người ban phát, ban hành quyền lực mà bản thân phảiphục vụ quyền lực ra quyết định của nhà nước, trong đó cá nhân mỗi CBCCchỉ là đại diện.

Như vậy, tăng cường công tác GDPL cho đội ngũ CBCC chính là tăngcường giáo dục đạo đức lối sống, cũng như thái độ và văn hóa ứng xử củaCBCC Quá trình cải cách thủ tục hành chính và xây dựng nền hành chínhnước ta ngày càng trong sạch vững mạnh, vấn đề chấn chỉnh thái độ và hành

vi ứng xử của CBCC là hết sức cần thiết

1.3.5 Yêu cầu nâng cao dân trí về pháp lý, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Có thể khẳng định rằng, trình độ dân trí về pháp luật trong xã hội ngàycàng được nâng cao, đòi hỏi đội ngũ CBCC hành chính càng phải có kiếnthức, hiểu biết pháp luật ở trình độ cao mới đáp ứng được yêu cầu giải quyếtcông việc mà CBCC được đảm nhận Trong khi đó, đội ngũ CBCC hànhchính ở nước ta hiện nay còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới

và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trình độ kiến thức, hiểubiết pháp luật của đội ngũ này còn có những hạn chế, bất cập nhất định, chưatheo kịp và chưa được nâng tầm tương xứng với sự đổi mới của hệ thống phápluật và trình độ dân trí đang ngày càng tăng nhanh như hiện nay

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, một số mặt trái của nó đangdần bộc lộ, như chủ nghĩa thực dụng; các tệ nạn xã hội; một bộ phận cán bộ,công chức đã thoái hóa, biến chất trước những cám dỗ về lợi ích vật chất Đạihội VIII của Đảng đã nhận định: “Đội ngũ CBCC nhìn chung chưa ngang tầmnhiệm vụ, một bộ phận không nhỏ đã bị thoái hoá, biến chất, chưa đáp ứngđược các yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kì mới” Nguyên nhân chínhcủa tình trạng này là do hạn chế về trình độ kiến thức pháp luật Giáo dục

Trang 38

pháp luật cho CBCC hành chính là một biện pháp hữu hiệu nhằm trang bịkiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần hình thànhlối sống và làm việc theo pháp luật cho họ; góp phần bảo đảm cho nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật có hiệu quả, xây dựng đội ngũ CBCC hànhchính trong sạch, vững mạnh Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác GDPLcho CBCC hành chính ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhữnghạn chế, yếu kém trên nhiều mặt, từ nội dung, hình thức cho đến phương phápGDPL cho họ GDPL cho đội ngũ CBCC chưa được đặt ngang tầm với yêucầu quản lý xã hội bằng pháp luật, chưa được tiến hành thường xuyên và đồngbộ; giáo dục chưa có trọng tâm, trọng điểm, chưa có sự phối kết hợp giữa các

cơ quan, tổ chức Tình hình trên đòi hỏi nhà nước phải tăng cường công tácGDPL cho CBCC, trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật cho họ; giúp họ giảiquyết công việc phù hợp với yêu cầu của pháp luật trong khi thực thi công vụ

tố quan trọng trong việc xây dựng, củng cố chính quyền cấp cơ sở Một trongnhững yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở có đủ nănglực phẩm chất đạo đức, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước Giáo dục pháp luật cho CBCC cấp cơ sở có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp cơ sở,giúp họ thực hiện và vận dụng đúng chủ trương của Đảng cũng như pháp luậtcủa nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình

Trang 39

Hoạt động của CBCC gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, củađất nước, là nhân tố quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; một Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Để có đội ngũ CBCC vững mạnh trong sạch; cùng với việc tăng cường côngtác quản lý, rèn luyện thì các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý CBCC

co sở phải có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức việc đàotạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực của CBCC Một trong nhữngnội dung quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làviệc giáo dục pháp luật cho CBCC cấp cơ sở

Có thể khẳng định rằng, CBCC là một đối tượng GDPL đặc biệt vì họvừa là đối tượng tác động nhưng cũng chính là chủ thể thực thi pháp luật, vớinhững đặc điểm riêng biệt khác với các chủ thể pháp luật khác Vì vậy khitiến hành GDPL cho đối tượng này, cần chú ý những đặc điểm về chuyênmôn họ được đảm nhận, đặc điểm tại cơ sở nơi họ đang công tác để cónhững hình thức GDPL phong phú, đa dạng vừa đạt hiệu quả cao Trong côngtác GDPL chú trọng việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáodục pháp luật, nhằm đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả cao Cùng với bồidưỡng kiến thức pháp luật mới, phải chú trọng việc đào tạo lại về pháp luậtcho CBCC; bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng áp dụng pháp luật choCBCC có trọng tâm, trọng điểm; tránh xu hướng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan,hiệu quả không cao

Cùng với việc đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền, giáo dục phápluật, cần chú trọng giáo dục đạo đức và giáo dục chính trị, lý tưởng cách mạngcho cán bộ, công chức; hình thành ở họ phẩm chất chính trị tốt, có lý tưởngcách mạng, có thái độ tôn trọng pháp luật, tôn trong và phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, có như vậy mới có thể xây dựng được một nhà nước của dân, dodân và vì dân, xây dựng được đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ Ở HUYỆN NGHI XUÂN,

TỈNH HÀ TĨNH 2.1 Đặc điểm vị trí địa lý, lịch sử, văn hóa, điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, văn hóa, lịch sử

Nghi Xuân là huyện nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, cáchthành phố Hà Tĩnh 56 km và cách thị xã Hồng Lĩnh 15 km về phía Bắc, cáchthành phố Vinh (Nghệ An) 7 km về phía Nam, có Quốc lộ 1A đi qua vớichiều dài khoảng 12 km Có vị trí địa lí từ 18031’00’’ - 18045’00’’ vĩ độ Bắc;105039’00’’ - 105051’00’’ kinh độ Đông

Toàn huyện có 19 đơn vị hành chính cấp xã và hai thị trấn với tổng diệntích tự nhiên là 22004.14 ha Thị trấn Nghi Xuân là trung tâm kinh tế, vănhoá, chính trị của huyện, cách thành phố Vinh 10 km về phía nam, cách thị xã

Hà Tĩnh 50 km về phía Bắc Nghi Xuân có bờ biển dài 32 km, sông Lam chảyphía Bắc huyện với chiều dài trong địa phận huyện là 28 km, đường quốc lộchạy qua phần phía Tây của huyện dài 11 km, đường 22/12 nối từ ngã ba thịtrấn Nghi Xuân và chạy xuyên qua các xã ven biển của huyện đến các xã củahuyện Can Lộc, Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh Huyện lại gần một số cảngsông (Bến Thuỷ, Xuân Hải, Xuân Hội) và cảng biển (Cửa Lò, Cửa Hội) Với

vị trí địa lí như vậy nên rất thuận lợi cho giao lưu thông thương với các tỉnh,các trung tâm kinh tế, xã hội trong và ngoài nước

Nghi Xuân có địa hình đặc trưng của tỉnh Hà Tĩnh cũng như của khuvực miền Trung (địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Băc, phía Tây Bắcdọc theo ranh giới của tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An là con sông La, phía TâyNam chắn bởi dãy núi Hồng Lĩnh, kế tiếp là dãi đồng bằng nhỏ hẹp ven núiHồng Lĩnh, cuối cùng là bãi cát ven biển và Biển Đông) Địa hình được chialàm 3 vùng

Ngày đăng: 31/10/2015, 08:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN (1995), Nghị quyết hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung Ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghịlần thứ Tám Ban chấp hành Trung Ương khóa VII
Tác giả: Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
4. Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN (1997), Nghị quyết hội nghị lần thứ Ba Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lầnthứ Ba Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII
Tác giả: Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN (2002), Nghị quyết hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung Ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lầnthứ Năm Ban chấp hành Trung Ương khóa IX
Tác giả: Ban chấp hành Trung Ương ĐCSVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Bảy (2012), Thực hiện mô hình "ngày pháp luật" ở Đăk Hà, Dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, số chuyên đề tháng 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Bảy
Năm: 2012
7. Nguyễn Huy Bằng (2008), Bàn về việc phối hợp trong hoạt động của hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luât, Dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp, số tháng 5 (194), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc phối hợp trong hoạt độngcủa hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luât
Tác giả: Nguyễn Huy Bằng
Năm: 2008
8. Bộ tư pháp (2005), Xây dựng hệ thống pháp luật và nền tư pháp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống pháp luật và nền tư phápnhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Bộ tư pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2005
9. Bộ tư pháp (2006), Số chuyên đề phổ biến giáo dục pháp luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số tháng 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề phổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2006
10. Bộ tư pháp (2009), Nghiệp vu phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ tư pháp - hộ tich cấp xã, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vu phổ biến giáo dục pháp luật cho cánbộ tư pháp - hộ tich cấp xã
Tác giả: Bộ tư pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2009
11. Bộ tư pháp (2010), Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề Xây dựng Luật phổ biến giáo dục pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề Xâydựng Luật phổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 2010
12. Văn Chung (2010), Phổ biến giáo dục pháp luật ở địa phương, cần xây dựng tủ sách pháp luật làm cơ sở, Tạp chí dân chủ và pháp luật, bộ Tư pháp, Số chuyên đề Xây dựng Luật phổ biến, giáo dục pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổ biến giáo dục pháp luật ở địa phương, cầnxây dựng tủ sách pháp luật làm cơ sở
Tác giả: Văn Chung
Năm: 2010
13. Hồ Quốc Dũng (1997), Công tác tuyên truyền GDPL ở nước ta, Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tuyên truyền GDPL ở nước ta
Tác giả: Hồ Quốc Dũng
Năm: 1997
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Trần Bạch Đằng (2002), Đổi mới đi lên từ thực tế, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đi lên từ thực tế
Tác giả: Trần Bạch Đằng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
18. Phùng Ngọc Đức (2006), Trợ giúp pháp lý với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp số chuyên đề tháng 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trợ giúp pháp lý với hoạt động phổ biến,giáo dục pháp luật
Tác giả: Phùng Ngọc Đức
Năm: 2006
20. TS Trần Xuân Học (2005), Giáo trình pháp luật đại cương, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật đại cương
Tác giả: TS Trần Xuân Học
Nhà XB: Nhàxuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Nguyễn Ngọc Hoàng (2000), Đổi mới giải pháp pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giải pháp pháp luật hệ đàotạo trung học chính trị ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoàng
Năm: 2000
22. Lê Văn Hòe (2008), Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trong thời kì đổi mới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác nghiên cứu lý luận về GDPL trongthời kì đổi mới
Tác giả: Lê Văn Hòe
Năm: 2008
23. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Hà Tĩnh (2009), Báo cáo tổng kết Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của BanBí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tácphổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cánbộ, nhân dân
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Hà Tĩnh
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng đội ngũ CBCC cơ sở - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1. Số lượng đội ngũ CBCC cơ sở (Trang 45)
Bảng 2.3. Chất lượng CBCC cơ sở - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.3. Chất lượng CBCC cơ sở (Trang 47)
Bảng 2.4. Chất lượng đội ngũ CBCC cơ sở theo từng chức danh - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.4. Chất lượng đội ngũ CBCC cơ sở theo từng chức danh (Trang 48)
Bảng 2.7. Số lượng tài liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền và phổ - Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.7. Số lượng tài liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền và phổ (Trang 57)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w