Ở tỉnh Trà Vinh, dân tộc Khmer với tư cách là một cộng đồng dân cư chiếm31,62 % dân số toàn tỉnh nên đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chínhtrị, kinh tế, xã hội, văn hóa của Trà
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Huyền Sâm, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiệngiúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô trường Đại học sư phạm
Hà Nội, trường Đại học Trà Vinh đã giảng dạy, định hướng giúp đỡ em trong quátrình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đãluôn quan tâm, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoànthành luận văn
Học viên Thạch Som Nang
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1: Khái quát về tỉnh Trà Vinh và dân tộc Khmer ở Trà Vinh 12
1.1 Khái quát về tỉnh Trà Vinh 12
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cư dân 12
1.1.2 Khái quát lịch sử hành chính tỉnh Trà Vinh 16
1.1.3 Khái quát kinh tế - xã hội Trà Vinh … 17
1.2 Khái quát kinh tế - xã hội của dân tộc Khmer ở Trà Vinh … 22
1.2.1 Về kinh tế 22
1.2.2.Về xã hội 24
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 Phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay 28
2.1 Phong tục 28
2.1.1 Lễ cắt tóc trả ơn mụ và lễ giáp tuổi 28
2.1.2 Lễ xuất gia đi tu 29
2.1.3 Lễ hỏi và lễ cưới 31
2.1.4 Lễ tang và lễ dâng phước 36
2.1.5 Lễ giỗ 39
2.1.6 Lễ kết giới (Bon bân chol sima) 40
Trang 32.2.Tín ngưỡng 42
2.3.Tôn giáo 44
2.4 Một số nhận xét về phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo của người Khmer ở Trà Vinh 45
Tiểu kết chương 2 50
Chương 3 Lễ hội và các loại hình nghệ thuật của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay 51
3.1 Một số lễ hội tiêu biểu của người Khmer ở Trà Vinh 51
3.1.1 Lễ vào năm mới 51
3.1.2 Lễ cúng ông bà 54
3.1.3 Lễ cúng trăng 57
3.2 Một số trò chơi dân gian trong các lễ hội của người Khmer ở Trà Vinh 58
3.2.1.Thả đèn nước 58
3.2.2 Đua ghe ngo 59
3.3 Các loại hình nghệ thuật 61
3.3.1 Âm nhạc 62
3.3.2 Dàn nhạc ngũ âm 63
3.3.3 Múa 65
3.3.4 Sân khấu 66
3.4 Một số nhận xét về lễ hội và các loại hình nghệ thuật của người Khmer tỉnh Trà Vinh 69
Tiểu kết chương 3 74
Kết luận 75
Tài liệu tham khảo 77
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi dân tộc đều sáng tạo ratruyền thống văn hóa riêng cho mình.Truyền thống văn hóa đó theo chiều dài lịch
sử đã trở thành tập quán, nếp sống, bản sắc của dân tộc
Dân tộc gắn với bản sắc văn hóa Đánh mất bản sắc văn hóa là tự đánh mấtdân tộc Do vậy, mỗi dân tộc để tồn tại và phát triển phải giữ được những giá trịvăn hóa mang bản sắc của mình Sở dĩ dân tộc Việt Nam trải qua mấy nghìn nămdựng nước và giữ nước với biết bao sóng gió, thử thách vẫn vươn lên với sứcsống ngày càng mãnh liệt là vì đã giữ được bản sắc văn hóa, đồng thời làm chonhững di sản văn hóa của dân tộc thêm tốt đẹp, phong phú bằng cách kết hợp vănhóa truyền thống với những tinh hoa văn hóa của thời đại
Coi việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc là chủ trươngđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm xây dựng một "nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ V khóa VIII (1998), Đảng ta đã khẳng định rõ: "Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể".[25,tr.206]
Để đưa những chủ trương về văn hóa của Đảng vào cuộc sống, chúng taphải hiểu văn hóa truyền thống của tộc người ở Việt Nam, trong đó có văn hóacủa các tộc người thiểu số Vì vậy, việc tìm hiểu đời sống văn hóa nhất là đờisống văn hóa tinh thần của các dân tộc ít người vừa nhằm mục đích bảo tồn vàphát huy những giá trị văn hóa của các tộc người đó, đồng thời cũng chính là đểlưu giữ sự đa dạng của văn hóa Việt Nam
Trang 5Trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam, tộc người Khmer sống tập trung ởcác tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, AnGiang, Tây Ninh Ngoài ra ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, tỉnhVĩnh Long, Đồng Tháp, Bà Rịa Vũng Tàu và vài tỉnh ở miền Đông Nam bộ cũng
có một số cụm dân cư không đáng kể Văn hóa của đồng bào Khmer là một bộphần quan trọng trong nền văn hóa đa dạng và thống nhất của Việt Nam Đó làhoạt động sáng tạo về vật chất, tinh thần của cộng đồng người trong quá trìnhchinh phục và thích nghi với thiên nhiên
Ở tỉnh Trà Vinh, dân tộc Khmer với tư cách là một cộng đồng dân cư chiếm31,62 % dân số toàn tỉnh nên đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chínhtrị, kinh tế, xã hội, văn hóa của Trà Vinh Trong đó đời sống văn hóa tinh thần của
họ vừa mang đậm bản sắc của dân tộc Khmer Nam Bộ nói chung, vừa có nhữngnét riêng biệt của Trà Vinh Do đó việc nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần củangười Khmer ở Trà Vinh từ sau khi tái lập tỉnh (1992) sẽ không chỉ góp phần làm
rõ bức tranh văn hóa của người Khmer ở Trà Vinh mà qua đó còn giúp hiểu sâusắc nét đặc sắc, sự phong phú, đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của dântộc Khmer Nam Bộ Sâu xa hơn, việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tìm hiểu vănhóa các tộc người thiểu số, đây là một trong những định hướng quan trọng củaĐảng và Nhà nước ta nhằm hướng tới mục tiêu "xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" trong dòng chảy của văn minh hiện đại dưới tácđộng mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa
Mặt khác, là người dân tộc Khmer, sinh ra, lớn lên và hiện là giáo viêngiảng dạy môn lịch sử trên quê hương Trà Vinh, nên việc tìm hiểu về dân tộc vàquê hương mình sẽ giúp cho tôi giảng dạy tốt hơn phần lịch sử văn hóa, lịch sửđịa phương qua đó góp phần giáo dục, bồi đắp cho học sinh lòng tự hào đối vớidân tộc và tình yêu đối với quê hương đất nước
Trang 6Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu
vấn đề "Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay" làm đề tài luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu văn hóa Khmer nói chung và văn hóa Khmer ở tỉnh Trà Vinhnói riêng không thể tách rời quá trình lịch sử phát triển của các ngành khoa họcnghiên cứu văn hóa các dân tộc ít người Việt Nam
Trước năm 1975, diện mạo văn hóa Khmer được nhiều nhà nghiên cứungười Pháp quan tâm, nhưng họ chủ yếu nghiên cứu và đề cập từng khía cạnhriêng biệt như lịch sử, mỹ thuật và kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dângian, thơ ca dân gian
Sau năm 1975, việc nghiên cứu về văn hóa của người Khmer liên tục đượcchú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm, trong đó phải kể đến các các tácphẩm như:
+ Cuốn "Phong tục lễ nghi của người Khmer vùng đồng bằng sôngCửu Long" của Thạch Voi, Hoàng Túc, NXB tổng hợp Hậu Giang 1988, giớithiệu những phong tục, nghi lễ của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong
đó có các lễ thức của nghi lễ vòng đời người
+ Cuốn "Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long" doTrường Lưu chủ biên, NXB văn hóa dân tộc 1993 là công trình chú trọng đến tínngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán của người Khmer ở đồng bằng sôngCửu Long
+ Cuốn "Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông CửuLong" (1999) và “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ” (2002)của Trần Văn Bổn, là hai công trình đã nêu khai lược về lịch sử vùng đất và cưdân Nam Bộ cổ xưa Trong tác phẩm Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer
Trang 7Nam Bộ tác giả chưa phản ánh đầy đủ các phong tục, nghi lễ vòng đời người,không có sự so sánh phân tích giữa các tỉnh đông đồng bào Khmer trong khu vực.
+ Cuốn "Xây dựng đời sống văn hóa vùng Khmer Nam bộ" Nhiều tácgiả, Vụ văn hóa dân tộc - Bộ văn hóa thông tin, Hà Nội 2004, đã tập hợp các bàiviết xoay quanh thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cho vùng dân tộc Khmertrong giai đoạn hiện nay và các giải pháp mới Trong đó có một số bài viết liênquan đến đề tài là “Đạo Phật Tiểu thừa Khmer Nam Bộ ở vùng nông thôn đồngbằng sông Cửu Long” của Nguyễn Xuân Nghĩa, “Ảnh hưởng của Phật giáoTheravada trong tang ma người Khmer Nam Bộ” của Nguyễn Mạnh Cường Cácbài viết này cũng đã nêu được vai trò của Phật giáo Nam tông trong xã hội và ảnhhưởng của nó ở các lễ thức trong nghi lễ vòng đời của người Khmer
+ Cuốn "Vài nét về văn hóa dân gian của người Khmer", của NguyễnAnh Động, NXB văn hóa thông tin, tác giả đã sưu tầm, ghi chép một số nét vềlĩnh vực sinh hoạt trong dân gian xưa và nay của người Khmer
+ Cuốn "Văn hóa Khmer Nam bộ" do Phạm Thị Phương Hạnh chủ biên,NXB chính trị quốc gia- sự thật Hà Nội 2012, nhằm phát huy những nét đẹp,những mặt tích cực, những tiềm năng, thế mạnh của dân tộc Khmer trong sự pháttriển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong thời kì mới của đất nước
Tất cả những thành tựu trên phản ánh một bước tiến lớn trong lịch sửnghiên cứu về văn hóa Khmer nói chung Tuy nhiên việc nghiên cứu đều trải trênmột phạm vi rộng (ít nhất là toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, hay cả vùngKhmer Nam bộ), do vậy chưa làm rõ được những sắc thái phong phú, đa dạng củavăn hóa Khmer ở một địa phương cụ thể, đặc biệt là tỉnh Trà Vinh Mặc dù vậy,những công trình này đã tạo phông văn hóa chung để tôi làm rõ đời sống văn hóacủa người Khmer ở Trà Vinh
Gần đây công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Khmer ở Trà Vinh đã đượcđẩy mạnh Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
Trang 8+ Cuốn "Phong trào yêu nước của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh (1930
- 2010)" do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh biên soạn, NXB Chính trị quốcgia - Sự thật 2015 Nội dung cuốn sách tập trung làm nổi bật tinh thần yêu nước,
ý chí cách mạng, những hy sinh mất mát, những thắng lợi vẽ vang của đồng bàoKhmer, còn về một số đặc điểm văn hóa của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh cuốnsách chỉ khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo và mốt số lễ hội tiêu biểu
+ Cuốn " Địa phương chí tỉnh Trà Vinh" Nhiều tác giả, do Sở văn hóathông tin tỉnh Trà Vinh xuất bản
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về văn hóa của người Khmer Trà Vinhđăng trên các báo, tạp chí
Những công trình nghiên cứu trên không những có thái độ rất trân trọngđối với truyền thống văn hóa, mà còn là sự tổng kết, kê thừa những thành tựunghiên cứu khoa học trong nước về văn hóa các dân tộc thiểu số, tiếp tục nghiêncứu, trình bày có hệ thống những đặc điểm của văn hóa và đời sống văn hóa củangười Khmer từ truyền thống đến hiện đại
Như vậy, các tác phẩm phần lớn cũng đã giới thiệu về đời sống văn hóatinh thần của người Khmer Do vậy, tôi sẽ tiếp tục bổ sung những thành quảnghiên cứu trên đây, các công trình nghiên cứu đó sẽ là những gợi mở hết sứcquan trọng để tôi tiến hành nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của ngườiKhmer Trà Vinh
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn tư liệu
3.1.1.Tư liệu thành văn
Một số tài liệu, công trình lý luận về vấn đề văn hóa dân tộc của Hội nghịBan chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V (khóa VIII) Vấn đề dân tộc và chínhsách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam do Ban Tư tưởng - văn hóa trung ươngsoạn thảo
Trang 9Các sách chuyên khảo, các luận văn cùng các bài báo, tạp chí có liên quanđến vấn đề nghiên cứu.
3.1.2.Tư liệu truyền miệng
Qua việc tiếp xúc với đồng bào trong những đợt điền dã, tôi được nghe kể
về phong tục tập quán, tục lễ xã hội, đặc biệt là được nghe những điệu dân ca,những câu ca dao, tục ngữ và cả những kinh nghiệm trong cuộc sống và sản xuấtcủa đồng bào
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mácxít, quan niệmcủa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về dân tộc Đề tài đượctiếp cận dưới góc độ lịch sử, do đó phương pháp nghiên cứu chuyên ngành -phương pháp lịch sử và phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu chủ đạođược vận dụng khi triển khai đề tài kết hợp với phương pháp điền dã, phươngpháp nghiên cứu liên ngành như phương pháp nghiên cứu địa lí, phương phápphân tích, tổng hợp, so sánh … Từ việc tiếp cận, sưu tầm, xử lí, đối chiếu cácnguồn tài liệu thành văn và tư liệu truyền miệng, nghiên cứu các sự kiện, hiệntượng văn hóa tiêu biểu của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay để táihiện bức tranh đời sống văn hóa tinh thần của họ một cách chân thực, khách quan
và sống động Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận khoa học, chính xác, kháchquan về đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trà Vinh là địa bàn cư trú của cộng đồng dân cư các dân tộc Kinh - Khmer
- Hoa, song đồng bào Khmer chiếm 31,62% dân số, là một dân tộc có nền vănhóa phong phú, đa dạng và phát triển lâu đời Do đó, luận văn này chỉ tập trungtìm hiểu "Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992đến nay"
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Giới hạn về không gian: Luận văn nghiên cứu đời sống văn hóa tinhthần của người Khmer ở Trà Vinh, bao gồm thành phố Trà Vinh và 7 huyện(Duyên Hải, Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần)
4.2.2 Giới hạn về thời gian: Luận văn nghiên cứu đời sống văn hóa tinhthần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay Mốc bắt đầu - năm 1992
là mốc tái thành lập tỉnh Trà Vinh và mốc kết thúc là đến nay nhằm làm rõ diệnmạo đời sống tinh thần của người Khmer trong điều kiện mới
4.2.3 Giới hạn về vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu cáclĩnh vực chủ yếu của đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh:Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khái quát về đời sống văn hóatinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay, khẳng định nhữnggiá trị văn hóa trong quá trình vận động, biến đổi và tác động của nó đến sự pháttriển kinh tế, xã hội của dân tộc Khmer
Với công trình nghiên cứu còn rất khiếm tốn của mình, tôi hy vọng gópphần nhỏ bé vào việc tuyên truyền, giới thiệu, giáo dục cho các dân tộc, trước hết
là dân tộc Khmer hiểu và ý thức về giá trị văn hóa truyền thống của mình Các emhọc sinh trung học phổ thông ở Trà Vinh là đối tượng đầu tiên mà tôi hướng tới,góp phần trang bị cho các em hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa tinh thần của dân tộcmình
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, nộidung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát về tỉnh Trà Vinh và dân tộc Khmer ở Trà Vinh
Trang 11Chương 2: Phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo của người Khmer ở Trà Vinh
từ năm 1992 đến nay
Chương 3: Lễ hội và các loại hình nghệ thuật của người Khmer ở Trà Vinh
từ năm 1992 đến nay
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH TRÀ VINH VÀ DÂN TỘC KHMER Ở TRÀ VINH
1.1 Khái quát về tỉnh Trà Vinh
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cư dân
Về vị trí địa lý
Tỉnh Trà Vinh là một trong 13 tỉnh, thành phố của đồng bằng sông CửuLong, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, tỉnh Trà Vinh có diện tích đất tự nhiên là234.116ha
Trong hệ thống tọa độ địa lý, tỉnh Trà Vinh có vị trí giới hạn từ 9031’46’’đến 1004’45’’ vĩ độ Bắc và từ 105057’16’’ đến 106036’04’’ kinh độ Đông Địa giớihành chính của tỉnh Trà Vinh là: phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bến tre, có ranhgiới là sông Cổ Chiên, dài gần 60km, phía nam và tây nam giáp tỉnh Sóc Trăng,
có ranh giới là sông Hậu, dài gần 60km, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía đông
và đông nam giáp Biển Đông, bờ biển dài 65km, với cửa Định An (sông Hậu) vàcửa Cung Hầu (sông Cổ Chiên), nằm trên địa bàn 3 huyện Cầu Ngang, ChâuThành và Duyên Hải.[4,tr.11]
Tỉnh Trà Vinh có địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ caotrên dưới 1m so với mực nước biển Địa hình tỉnh Trà Vinh khá phức tạp do sựchia cắt của các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt Nhiều vùngtrũng xen kẽ với giồng cát cao, chiều hướng của độ dốc chỉ được thể hiện trên cáccánh đồng Phần phía nam là vùng đất thấp, bị chia cắt bởi các giồng cát hìnhcánh cung, nhiều nơi chỉ có độ cao từ 0,5m đến 0,8m so với mực nước biển Do
đó, những nơi này thường bị ngập mặn từ 3 đến 5 tháng/năm
Về điều kiện tự nhiên
Tỉnh Trà Vinh có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú,
đa dạng như: khí hậu, đất đai, sông rạch, động, thực vật, thủy, hải sản
Trang 13Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có nhữngthuận lợi chung như: nhiệt độ cao và ổn định Tuy nhiên cũng có một số hạn chế
về mặt khí tượng như: gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít Nhiệt độ trung bìnhcủa tỉnh Trà Vinh từ 250 đến 270C Vào mùa mưa, nhiệt độ cao nhất khoảng 320C
và thấp nhất khoảng 210C, Vào mùa khô, nhiệt độ cao nhất khoảng 33 - 340C vàthấp nhất khoảng 23 - 240C Độ ẩm của tỉnh vào mùa khô khoảng 78 – 860 và mùamưa khoảng 86 – 880 Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1.500 – 1.627mm)
và phân bố không ổn định Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất làhuyện Càng Long và thành phố Trà Vinh, thấp nhất là huyện Cầu Ngang và huyệnDuyên Hải Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Càng về phía biển, thờigian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm.Thường có những đợt nắng gay gắt liên tiếp từ 5 đến 10 ngày gây ra hạn làm chosản xuất gặp khó khăn Nhìn chung, khí hậu của tỉnh Trà Vinh tương đối ôn hòa,thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và ổn định cuộc sống cho người dân địaphương
Đất đai tỉnh Trà Vinh được hình thành từ lâu đời với những thăng trầm doquá trình kiến tạo địa chất Do đó, Trà Vinh là một dải đồng bằng ven biển, khôngnúi đồi, được phù sa của sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hàng năm Trà Vinh cónhiều đất giồng cát và gò cao với hợp chất là cát pha đất sét, một nơi có phù samùn Đất giồng và gò có độ cao từ 2 – 5m so với mặt nước biển Ngoài ra, tỉnhTrà Vinh còn có loại đất phù sa nằm ven sông Cổ Chiên và sông Hậu, hàng nămlượng phù sa từ hai con sông này bồi đắp để hình thành một lớp đất màu mỡ ởven bờ, ở các cồn, cù lao rất phù hợp cho việc trồng cây ăn trái Đất đai ở venbiển Trà Vinh có sự thay đổi theo thời gian, ngày càng lấn ra biển Từ năm 1940đến nay, mũi Ba Động (huyện Duyên Hải) đã lấn ra biển hàng kilômét Hàngnăm, đất được bồi tiến ra biển từ 30 – 50m [4,tr.14] Nhìn chung, đất đai của Trà
Trang 14Vinh phong phú và đa dạng, góp phần tạo nên nhiều hệ sinh thái, động thực vậtcùng tồn tại Đây là một nguồn tài nguyên quý giá của tỉnh.
Nhìn tổng thể, tỉnh Trà Vinh như một dải cù lao nằm giữa sông Tiền vàsông Hậu Càng tiến ra Biển Đông, hai con sông này ngày càng rộng lớn, lượngnước lớn hơn Mạng lưới sông, rạch được chia theo ba hệ thống: hệ thống đổ rasông Cổ Chiên, hệ thống đổ ra sông Hậu, hệ thống đổ ra Biển Đông Với hệ thốngsông rạch chằng chịt Trà Vinh có mạng lưới giao thông đường thủy nối liền cácđịa phương trong tỉnh và các nơi khác, tưới tiêu ruộng đồng, phục vụ nôngnghiệp, cung cấp nguồn thủy sản trên sông và nguồn phù sa vô tận, cân bằng sinhthái, là một tiềm năng lớn của tỉnh
Bờ biển của Trà Vinh dài 65km với hai cửa sông: Định An và Cung Hầu.Biển Trà Vinh cát, nhiều phù sa, phần lớn là bãi bùn Do phù sa, bãi bùn vàtrường sóng lớn, nên nước biển nơi đây hiếm khí trong xanh, phần lớn có màunâu đục Với hệ thống sông rạch chằng chịt, đất đai khá màu mỡ và khí hậu ônhòa, tỉnh Trà Vinh có hệ động, thực vật vô cùng đa dạng, là địa bàn sinh trưởngcủa nhiều loài, giống khác nhau
Về phía đồng bằng, trên những con giồng cát và đồng bằng xưa kia là rừngdày, rừng rậm Dấu vết sót lại ngày nay là là những cây cổ thụ ở khu vực Ao Bà
Om (thành phố Trà Vinh) Các loại gỗ quý hiện nay vẫn còn khá nhiều như: sao,dầu Đây cũng là nơi cư ngụ của nhiều loại động vật như: trâu, bò, dê, sóc, chimcò Vì thế, Trà Vinh có nhiều vườn chim thiên nhiên độc đáo như: chùa GiồngLớn ( huyện Trà Cú), chùa Hang (huyện Châu Thành)
Về phía ven biển là hệ thống rừng ngập mặn với các loại cây bần, sú thuộc các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú, Châu Thành Diện tích rừng vàđất rừng ven biển khoảng 24.000ha Các loại thuỷ, hải sản ven biển cũng kháphong phú với khoảng 40 họ, 78 giống và 150 loài, bao gồm cá biển ven bờ, cánước lợ, và cá di trú [4,tr.16]
Trang 15Sự phong phú và đa dạng về động, thực vật đã cung cấp cho tỉnh Trà Vinhnhiều tài nguyên thiên nhiên, là tiềm năng, lợi thế phục vụ cho việc khai thác vàphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân.
Về dân cư
Theo thống kê, dân số tỉnh Trà Vinh là trên 1.027.012 người Trong đó, có854.808 người (chiếm 83,19% dân số) sống ở khu vực nông thôn, 172.707 người(chiếm 16,81% dân số) sống ở khu vực thành thị (thành phố và các thị trấn).[4,tr.19]
Người Kinh có tỷ lệ cao nhất của tỉnh với 694.261 người, chiếm 67,57%dân số của tỉnh, cư trú ở khắp các địa bàn trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ởthành phố Trà Vinh, các thị trấn Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp,công nghiệp và dịch vụ
Trà Vinh có đông đồng bào Khmer với 324.877 người, chiếm 31,62% dân
số [4,tr.20] Đồng bào Khmer có mặt ở các huyện, thành phố trong tỉnh, nhưngtập trung đông nhất ở các huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Cầu Kè, TiểuCần và sống tập trung thành các phum, sóc trên các giồng cát, ven các sông rạchhoặc ven đường giao thông xen kẻ với các ấp, khóm của người Kinh Ngành nghềchủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Người Hoa có 7.690 người, chiếm 0,8% dân số của tỉnh Người Hoa sốngtập trung nhiều nhất ở thành phố Trà Vinh và các thị trấn Ngành nghề chủ yếu làdịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp [4,tr.20]
Tổng số người theo các tôn giáo là 569.999 người, chiếm 54,5% dân số củatỉnh Trong đó, Phật giáo có số lượng tín đồ 498.930 người, chiếm 86%, Cônggiáo với 54.370 tín đồ, Cao Đài với 15.366 tín đồ, Tin lành 634 người, Hồi giáo
195 người, Phật giáo Hòa Hảo 142 người Cộng đồng các tôn giáo trên địa bàntỉnh luôn đoàn kết, hòa đồng, tương thân tương ái, sống “tốt đời, đẹp đạo”.[4,tr.20-21]
Trang 161.1.2 Khái quát lịch sử hành chính tỉnh Trà Vinh
Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên một huyện (trước đó là phủ), thuộc phủLạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long (được lập năm 1832).Sau khi chiếm ba tỉnh miền TâyNam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp chia tỉnh Vĩnh Long cũ thành ba tiểu khu
là Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre
Địa danh Trà Vinh được xác lập là đơn vị hành chính cấp tỉnh đầu tiên dướithời Pháp thuộc theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của toàn quyền ĐôngDương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện, kể từ 1 tháng 1 năm
1900 Như vậy, Trà Vinh là một trong 20 tỉnh Nam Kỳ lúc bây giờ
Dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Trà Vinh gồm tám quận: Càng Long, CầuNgang, Cầu Kè (ban đầu thuộc tỉnh Cần Thơ, sau đó nhập vào tỉnh Vĩnh Long rồithuộc tỉnh Trà Vinh), Châu Thành, Long Toàn (nay là huyện Duyên Hải), TiểuCần, Trà Cú và Trà Ôn
Ngày 27-6-1951, Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ (thuộc chínhquyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa), sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinhthành tỉnh Vĩnh Trà, huyện Tiểu Cần được sáp nhập vào huyện Càng Long TỉnhVĩnh Trà tồn tại đến năm 1954
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh VĩnhBình theo sắc lệnh số 143/NV, ngày 22 tháng 10 năm 1956 Tuy nhiên, Mặt trậnDân tộc Giải phóng miền Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thờiCộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòakhông công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.[4,tr.17]
Tỉnh Trà Vinh sáp nhập với tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long vào tháng
2 năm 1976 Đến ngày 26 tháng 12 năm 1991, theo Nghị quyết của Quốc hộikhóa VIII, Kỳ họp thứ 10, tỉnh Cửu Long lại được tách thành hai tỉnh như cũ làVĩnh Long và Trà Vinh Như vậy, tỉnh Trà Vinh được tái lập và chính thức đi vàohoạt động từ tháng 5 năm 1992 [4,tr.17]
Trang 17Tỉnh Trà Vinh hiện nay có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thànhphố, 106 xã, phường, thị trấn, bao gồm: Thành phố Trà Vinh, Thị xã Duyên Hải,huyện Càng Long, huyện Châu Thành, huyện Cầu Kè, huyện Cầu Ngang, huyệnDuyên Hải, huyện Trà Cú, huyện Tiểu Cần.
1.1.3 Khái quát kinh tế - xã hội Trà Vinh
Về kinh tế
Trà Vinh khi mới tái lập là một trong những tỉnh nghèo, xuất phát điểm vềkinh tế - xã hội rất thấp, nhưng với chủ trương đúng đắn, toàn diện của Đảng bộtỉnh Trà Vinh, đã từng bước đưa Trà Vinh phát triển cùng với các tỉnh, thành trongkhu vực và cả nước
Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển, việc chuyển dịch cơ cấu câytrồng, vật nuôi có tiến bộ, sản xuất lúa được tập trung thực hiện ngay từ đầu, xâydựng các công trình thủy lợi, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật nhất là chọn giống lúa mới có năng suất cao, tăng cường cácbiện pháp phòng trừ dịch hại nên kết quả sản xuất từng bước tăng năng suất
Đối với cây màu lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày, chủtrương của tỉnh là hình thành vùng chuyên canh, đưa cây màu xuống ruộng, chủtrương này được nông dân hưởng ứng
Từ khi có chủ trương đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, tỉnhcho xây dựng hàng loạt các trại chăn nuôi ở các huyện thị, mở rộng mạng lưới thú
y ở cơ sở, cho vay vốn đã có tác dụng thúc đẩy chăn nuôi phát triển
Nhìn chung, nông nghiệp của tỉnh phát triển trên tất cả các mặt theo hướng
đa dạng cây trồng, vật nuôi, đã tạo được một cơ cấu sản xuất phù hợp với cơ chếthị trường, giúp nông dân gặt hái nhiều kết quả Sản xuất nông nghiệp đã gópphần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và ổn định an ninh chính trị củatỉnh
Trang 18Lâm nghiệp
Tỉnh đã có nhiều chủ trương khôi phục lại rừng, thực hiện giao đất giaorừng, tích cực đầu tư trồng rừng tập trung, phong trào trồng rừng tập trung, trồngcây phân tán ở nhiều nơi được chú ý, nhất là từ khi thực hiện chủ trương giao đất,giao rừng cho người lao động đã khuyên khích nhân dân tích cực trồng, chăm sóc
và bảo vệ rừng
Cùng với việc trồng rừng tập trung, rừng phòng hộ, tỉnh đã vận động nhândân trồng cây phân tán, những việc làm đó đã hạn chế một phần tình trạng phárừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển
Ngư nghiệp
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển ở vùng ngập mặn ven biển ở DuyênHải, Cầu Ngang, Trà Cú, tập trung nhất là phong trào nuôi tôm sú Ngành thủysản đã có nhiều cố gắng trong việc hướng dẫn kỹ thuật thả nuôi, vệ sinh môitrường ao nuôi, tăng cường công tác khuyến ngư, khuyến khích các đơn vị và hộgia đình sản xuất tôm giống và đưa trại tôm giống liên doanh vào hoạt động nhằmcung cấp con giống tại chỗ, hạn chế nhập tôm giống ngoài tỉnh
Ở vùng nước ngọt, phong trào nuôi tôm cá tự nhiên và nuôi tôm càng trênđất ruộng lúa cũng được phát triển với nhiều mô hình nuôi tôm – lúa, cá – lúa đạtgiá trị kinh tế cao
Tính đến năm 2016 giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản là 32.849
tỷ đồng, tăng gấp 43,71 lần so với năm 1992 và tăng 7 lần so với năm 2006 Giátrị sản phẩm thu được trên diện tích đất trồng trọt từ 4,5 triệu đồng/ha năm 1992tăng lên 35 triệu đồng năm 2006 và 110 triệu đồng/ha năm 2016 [28]
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tỉnh đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, nhiều xínghiệp mới được xây dựng ở tỉnh và huyện Cơ cấu ngành công nghiệp chuyểnbiến theo hướng phát triển công nghiệp chế biến nông – ngư sản, sản xuất hàng
Trang 19tiêu dùng, cơ khí sửa chữa, khôi phục, phát triển nghề thủ công truyền thống, xuấthiện nhiều mô hình làng nghề ở thị xã và nông thôn.
Sản xuất công nghiệp của tỉnh hiện nay phát triển vượt bậc trở thành mộttrong những ngành kinh tế chủ chốt của tỉnh
Giá trị sản xuất năm 1992 chỉ đạt 270 tỷ đồng, đến năm 2006 đạt 2320 tỷđồng và đế 2016 đạt 21.190 tỷ đồng, tăng 78 lần so với năm 1992
Toàn tỉnh có 01 khu kinh tế, 03 khu công nghiệp đã được phê duyệt, trong
đó có Khu Công nghiệp Long Đức đã đi vào hoạt động Tổng số dự án đăng kýtrong khu kinh tế, khu công nghiệp là 48 dự án, với tổng số vốn đăng ký là151.035,41 tỷ đồng [28]
Thương mại – dịch vụ
Trên cơ sở nắm vững đường lối đổi mới, trước mắt là đổi mới tư duy kinh
tế, nắm vững các quan điểm về kinh tế thị trường của Trung ương, Đảng bộ cùngnhân dân tỉnh Trà Vinh đề ra những chủ trương và biện pháp thích hợp với thực
tế ở địa phương Trước tình hình đó, tỉnh tập trung chỉ đạo giải quyết khó khăn vềvốn, thị trường tiêu thụ, điều chỉnh giá mua, thực hiện liên doanh liên kết Nhờ
đó hoạt động thương mại có bước tiến bộ đáng kể và đang có nhiều cơ hội mởrộng thị trường, khách hàng
Do có chủ trương khuyến khích phát triển dịch vụ và do yêu cầu của cơ chếthị trường Lĩnh vực dịch vụ phục vụ sản xuất nông – ngư nghiệp, dịch vụ thôngtin liên lạc, vận tải, tín dụng phát triển khá mạnh
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 1992 đạt
702 tỷ đồng, năm 2006 đạt 4.990 tỷ đồng, đến năm 2016 đạt 21.063 tỷ đồng, tăng4,2 lần so với năm 2006 và 30 lần so với năm 1992 [28]
Đến nay toàn tỉnh có 118 chợ, tổng diện tích đất chợ 563.572 với tổng số
hộ kinh doanh là 11.477 hộ Ngoài ra trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp đã đầu tư
Trang 20hệ thống siêu thị như: Siêu thị Co.opmart, siêu thị điện máy Minh Nhẫn, siêu thịđiện máy Chợ Lớn, Trung tâm Thương mại Wincom Trà Vinh [28]
Hàng hóa cung ứng trên thị trường đa dạng và phong phú, mạng lưới phânphối được mở rộng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Công tác quản lýthị trường được tăng cường, góp phần ổn định thị trường
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 462 triệu USD tăng 32,3 lần sovới năm 1992 và gần 5 so với năm 2006, các mặt hàng xuất khẩu gạo, thủy sảnđông lạnh, giày da, hàng may mặc, hóa chất, linh kiện ô tô [28]
Các dịch vụ giao thông vận tải, bưu chính – viễn thông, tài chính, ngânhàng, bảo hiểm có bước phát triển theo hướng hiện đại Quan tâm đầu tư cơ sở hạtầng du dịch như: Khu du lịch biển Ba Động, khu du lịch văn hóa Ao Bà Om, mởrộng khu di tích Đền thờ Bác Hồ, hàng năm phục vụ trên 300.000 lượt khách đếntham quan trong đó có gần 9.000 lượt khách quốc tế [28]
Kinh tế hợp tác và hợp tác xã được quan tâm chỉ đạo, hiện toàn tỉnh có 91hợp tác xã với 31.841 thành viên tham gia, với tổng số vốn điều lệ 112.049 triệuđồng Các hợp tác xã được chuyển đổi hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012,các tổ hợp tác hoạt động theo Nghị định 57 của Chính phủ Loại hình kinh tếtrang trại cũng được chú trọng, toàn tỉnh có 105 trang trại, với tổng số lao động là
850 người, tổng diện tích đất các trang trại là 450ha, doanh thu bình quân 2,5 tỷđồng/trang trại/năm [28]
Về xã hội
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở Năm học 2016 – 2017, toàntỉnh có trên 230.000 học sinh (so với khi mới tách tỉnh số học sinh tăng trên100.000 em, so năm 2006 tăng 44.000 em) Tỷ lệ trẻ em đi học trong độ tuổi bậcTiểu học đạt 99,9%, bậc Trung học cơ sở đạt 98,5%, Trung học phổ thông đạt70% Đội ngũ giáo từng bước được bổ sung về số lượng và nâng dần chất lượng,
Trang 21có trên 99% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn [28] Cơ sở vật chất phục vụ dạy
và học được đầu tư thêm Chất lượng giáo dục và đào tạo không ngừng đượccủng cố và nâng dần
Các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp được củng cố, phát triển Thành lậpTrường Đại học Trà Vinh, Trường Cao đẳng Y tế, Trường Trung cấp Văn hóa –Nghệ thuật, Trường Cao đẳng nghề, Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ, xây dựngTrung tâm học tập cộng đồng ở 100% xã, phường, thị trấn Xã hội hóa giáo dụcphát triển trên các lĩnh vực đầu tư xây dựng, trường lớp, xây dựng gia đình hiếuhọc
Khoa học công nghệ được chú trong đầu tư Quan tâm đào tạo nguồn nhânlực, ứng dụng khoa học công nghệ Đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, cán bộquản lý phát triển khá, hiện có trên 18.685 cán bộ, công chức, viên chức có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ từ cao đẳng trở lên, tăng gấp 10 lần so với năm 1992
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được tốt hơn Mạng lưới y tếcác cấp được củng cố, tăng cường, 100% số xã trong tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia
về y tế xã, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên, đảm bảo điều kiện chămsóc sức khỏe cho nhân dân Số giường bệnh năm 1993 chỉ có 750 giường, đếnnay tăng lên 1.850 giường Nhân lực của ngành y tế từ 1.480 người (trong đó chỉ
có 137 bác sĩ và 05 dược sĩ đại học), đã tăng lên 3.032 người (trong đó có 609 bác
sĩ, 85 dược sĩ đại học) [28] Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, công tác yhọc dự phòng được thực hiện có hiệu quả, ý thức phòng bệnh của nhân dân đượcnâng lên, kịp thời dập tắt các ổ dịch bệnh, không để xảy ra dịch lớn trên diệnrộng
Chính sách dân số, gia đình và trẻ em được các cấp ủy đảng, chính quyềntập trung chỉ đạo thực hiện, đạt kết quả tốt trên nhiều mặt, tỷ lệ tăng dân số tựnhiên liên tục giảm Năm 1993 là 1,93%, đến 2016 chỉ còn 1,03% Triển khaithực hiện tốt công tác bảo vệ và chăm sóc bà mẹ, trẻ em, năm 1992, tỷ lệ trẻ em
Trang 22có hoàn cảnh đặc biệt dưới mọi hình thức đạt 42%, thì đến nay tỷ lệ này đạt trên95% Tình hình trẻ em vi phạm pháp luật ngày càng giảm, hơn 90% trẻ em cóhoàn cảnh đặc biệt được đi học Trên 98% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảohiểm y tế Tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 92,82% [28].
Sau khi tái lập tỉnh, Trà Vinh có gần 20% hộ đói, 40% hộ nghèo, nhưng với
sự quyết tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, sự nỗ lực vươn lên củacác hộ nghèo, người nghèo Đến nay, Trà Vinh không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèogiảm còn 11,23%
Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với nước được toàn xãhội quan tâm Toàn tỉnh hiện có 65000 người có công với cách mạng, hưởng trợcấp ưu đãi của Nhà nước và sự chăm lo của các tầng lớp nhân dân Đã xây dựngmới và bàn giao 13.292 căn nhà tình nghĩa cho thương binh, gia đình liệt sĩ cóhoàn cảnh khó khăn, 231 Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn
vị nhận phụng dưỡng suốt đời [28]
Như vậy, kinh tế phát triển nhanh, quy mô kinh tế tăng lên gấp nhiều lần sovới lúc mới tái lập tỉnh, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, kết cấu hạ tầng đượcxây dựng làm tăng tiềm lực và tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, đời sống củanhân dân tiếp tục cải thiện
1.2 Khái quát đời sống kinh tế - xã hội của người Khmer ở Trà Vinh
1.2.1 Về kinh tế
Cũng giống như người Khmer ở Nam bộ nói chung, người Khmer ở TràVinh nói riêng từ xưa, đã biết trồng lúa nước và có nhiều kinh nhiệm trong việccanh tác lúa nước cũng như đánh bắt cá và chăn nuôi Họ đã biết phân biệt nhiềuloại ruộng đất gieo và trồng các giống lúa, để có các biện pháp kĩ thuật thích hợpcho từng loại đất Người Khmer có nhiều sáng kiến tạo ra các biện pháp thủy lợithích hợp cho địa thế ruộng đất nơi mình cư trú Ở vùng đất gò hay vùng đất caogần giồng cát, việc lợi dụng nước mưa để làm ruộng và dùng thùng gánh hay gầu
Trang 23giai, gầu sòng kéo nước lên Đồng bào còn lợi dụng đường nước để dẫn vào dựtrữ nước, khi cần thì tát vào ruộng Ở những vùng gần sông, rạch và bị nhiễmmặn, phèn, đồng bào còn lợi dụng thủy triều để đưa nước vào ruộng, rồi đắpnhững đập nhỏ để giữ nước xổ phèn, giữ phù sa lại hoặc tập trung đào các ao lớn
ở các vùng đất giồng, đất cao để lấy nước như: Ao Bà Om (phường 8, thành phốTrà Vinh), Bào Dài (xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang) Đồng thời, bà con cũngbiết chế tác nhiều công cụ hết sức đa dạng để phục vụ sản xuất nông nghiệp như:cây nọc để cấy lúa ở những nơi đất cứng, cây vòng hái để cắt lúa Đặc biệt, trongkhâu làm đất, bà con đã hình thành nên các loại dụng cụ thích hợp như, cái cày cóchuôi cầm, lưỡi hình tam giác Đồng bào Khmer cũng đã biết cách chọn giống lúasao cho phù hợp với từng loại ruộng, không sợ bị úng, bị hạn mà lại cho năng suấtcao
Ngày nay, sản xuất nông nghiệp trong vùng đồng bào Khmer tiếp tục pháttriển, có nơi sản xuất 02 vụ lúa, 01vụ màu hoặc 03 vụ lúa/năm, phát triển nhiều
mô hình đem lại hiệu quả cao, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, giống câytrồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹthuật vào sản xuất, cơ giới hóa sản xuất góp phần tăng năng suất, năng suất lúatrung bình từ 4,97 tấn/ha năm 2010 lên trên 5,7 tấn/ha năm 2015 [39]
Ngoài nghề làm lúa nước, một bộ phận đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh cònlàm nghề trồng rẫy, trồng cây ăn trái, chăn nuôi bò, heo, gà, vịt Trong nhữngnăm gần đây, một bộ phận nhỏ đồng bào ở các xã vùng ven biển thuộc các huyệnCầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú có thêm nghề mới đó là nuôi trồng thủy sản (tôm
sú, tôm thẻ, cua, cá lóc ) mang lại thu nhập khá cao
Song song với nghề làm ruộng rẫy, đồng bào Khmer còn tham gia đánh bắt
cá trong tự nhiên nhằm cải thiện đời sống Số người chuyên làm nghề đánh bắtthủy sản không nhiều, chủ yếu một bộ phận đồng bào sống gần sông, biển ở cáchuyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần
Trang 24Ngoài ra, đồng bào Khmer ở Trà Vinh còn có các hoạt động thủ côngnghiệp Họ rất khéo tay trong việc đan lát, dệt chiếu, mộc dân dụng Từ nguyênliệu có sẵn tại địa phương như mây, tre, trúc, lác họ làm thành nhiều đồ gia dụngnhư bồ đựng lúa, giường, ghế, thúng, rổ, thang, dụng cụ bắt cá, tép Sản phẩmđan lát bền, đẹp phong phú, đa dạng về kiểu dáng, tinh tế trong cách đan cài cáchoa văn [4, tr.23-24].
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu phát triển kinh tế trong vùng đồng bào dântộc, đã hình thành, phát triển nhiều làng nghề như làng nghề bánh tét Trà Cuôn ở
xã Kim Hòa, làng nghề cốm dẹp Ba So ở xã Nhị Trường Nhiều tổ hợp tác xãtrong vùng đồng bào dân tộc hoạt động hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm
1.2.2 Về xã hội
Xã hội của người Khmer có nhiều đặc điểm khác biệt so với người Kinh,người Hoa trong một vùng cư trú Những yếu tố xã hội đặc trưng được thể hiệntrong mối quan hệ thân tộc, hôn nhân và gia đình mà trước hết là dòng họ và mốiquan hệ thân tộc trong dòng họ
Về tên họ và quan hệ dòng họ, trước khi nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hànhchính ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer ở đây không có họ, họthường lấy tên cha đặt làm tên họ còn tên riêng thì thường dùng những chữ tốtđẹp Sau khi nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hành chính, để tiện cho việc kiểm tra
hộ khẩu, quản lý cư dân, nhà Nguyễn buộc người Khmer phải mang một trongnăm họ: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh [6,tr.59] Con cái sinh ra, người Khmerthường đặt tên họ cho con theo họ của cha Nhưng trong quan hệ xã hội truyềnthống của người Khmer thể hiện rõ trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đìnhthì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, không có ý nghĩa nào trongviệc hình thành một tộc họ theo phụ hệ như người Kinh, người Hoa, cũng nhưmột tộc họ theo mẫu hệ như người Chăm [6,tr.62]
Trang 25Quan hệ hôn nhân thường xảy ra trong cùng phum sóc, người Khmer tuyệtđối ngăn cấm quan hệ hôn nhân giữa những người bà con huyết thống trực hệ nhưcha mẹ với con cái, ông bà với cháu ruột, cô, dì, chú, bác với cháu, giữa các anhchị em ruột thịt Nhưng ở quan hệ hôn nhân giữa các anh, em họ chéo (con cô,con cậu) lẫn anh em họ song song (con chú bác, con dì) đều được chấp nhận.
Trong xã hội người Khmer, hôn nhân một vợ một chồng là chủ yếu Đặcbiệt, vị trí và quyền hạn của người vợ được coi ngang bằng với người chồng.Quan hệ hôn nhân thường xảy ra trong cùng phum sóc hoặc ở nơi lân cận Trongcác vùng cư trú đa dân tộc các cuộc hôn nhân Kinh – Khmer hoặc Hoa – Khmerdiễn ra khá phổ biến Trong quan niệm thân tộc người Khmer tính luôn nhữngngười quan hệ huyết thống trong đó cả những người có quan hệ hôn nhân
Ở nông thôn Trà Vinh, các gia đình Khmer thường cư ngụ trong các cănnhà riêng biệt, trong đó gồm có vợ chồng và con cái, có cơ sở kinh tế riêng (ruộngđất, trâu, bò, dụng cụ sản xuất ), tổ chức sản xuất riêng Trong gia đình Khmer,cha mẹ thật sự có uy quyền đối với con cái, nhưng trong sinh hoạt hàng ngàycũng như khi giải quyết những công việc quan trọng vẫn thường có mối quan hệthông cảm lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái Đối với con cái, cha mẹ không có sựphân biệt đối xử trai hay gái, trưởng hay thứ, con nuôi và con đẻ Tương tự nhưvậy nàng dâu hay chàng rể trong gia đình được đối xử ngang nhau, anh em bên
vợ, anh em bên chồng không có sự phân biệt trong quan hệ [6,tr.89]
Người Khmer gọi nơi cư trú là “phum” và “sóc” Phum là đơn vị cư trú có
ít nhất từ một gia đình trở lên (thường là 5 – 7 gia đình, có khi đến 9 – 10 giađình), phum còn là thiết chế xã hội đặc thù của người Khmer, trong đó chứa đựnghai mối quan hệ chủ đạo, tạo nên sự liên kết xã hội giữa các thành viên trongphum, là quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau Ngoài ra còn cóquan hệ khác như kinh tế, xã hội, tình cảm và tôn giáo Phum là đơn vị xã hội tựquản nhỏ nhất của người Khmer Đứng đầu phum là một Mê phum, người này có
Trang 26trách nhiệm chính trong công việc đối nội và đối ngoại của phum Các thành viêntrong phum cùng chung mảnh đất cư trú, có trách nhiệm và nghĩa vụ giúp đỡ lẫnnhau Có thể nói, tổ chức phum là một thiết chế xã hội đặc thù, mang những đặcđiểm riêng của truyền thông văn hóa tộc người của người Khmer [6,tr.96].
Các phum thường ở sát nhau và được phân chia bằng những hàng rào trebao bọc xung quanh, có cổng ra vào Các gia đình thành viên trong phum có cácsinh hoạt gia đình và xã hội riêng Tuy nhiên, các gia đình trong phum đều cótrách nhiệm và nghĩa vụ cứu mang giúp đỡ lẫn nhau, mỗi thành viên trong phumđối xử với nhau theo tinh thần là những người thân thuộc, sống hòa thuận nhau, ítkhi có trường hợp xung đột
Lớn hơn phum là sóc, trong tiếng Khmer có nghĩa rộng là xứ sở, còn nghĩahành chính là quận, huyện Sóc cũng là một đơn vị xã hội tự quản với bộ máyđiều hành mà ngày nay dấu vết của nó còn lưu lại qua khái niệm “Mê sóc” Mêsóc thường là người đàn ông đứng tuổi, có trình độ học vấn, hiểu biết về phongtục tập quán, nhưng trước hết phải là người có uy tín trong nhân dân, được nhândân kính trọng, giúp việc cho Mê sóc là một ban quản trị của sóc do dân trong sóclựa chọn bầu ra Còn đối với các thành viên trong phum, sóc ngoài trách nhiệmthực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, họ còn phải thực hiện đúng các phongtục, nghi lễ và những đều phum sóc đề ra Trong đó họ phải thương yêu đùm bọclẫn nhau và có trách nhiệm bảo vệ uy tín, danh dự của phum, sóc [11,tr.60]
Tiểu kết chương 1
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long nằm giữa sông Tiền
và sông Hậu và giáp với Biển Đông Tỉnh Trà Vinh có điều kiện tự nhiên và tàinguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng như: khí hậu tương đối ôn hòa, thuận lợicho việc phát triển nông nghiệp, đất đai của tỉnh phong phú và đa dạng, góp phầntạo nên nhiều hệ sinh thái, động, thực vật cùng tồn tại Trà Vinh khi mới tái lập
Trang 27là một trong những tỉnh nghèo, nhưng với chủ trương đúng đắn, toàn diện củaĐảng bộ tỉnh Trà Vinh, đã từng bước đưa Trà Vinh phát triển cùng với các tỉnh,thành trong khu vực và cả nước Tỉnh Trà Vinh là địa bàn chung sống lâu đời của
ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa, các dân tộc ở đây đã biết đoàn kết, giúp đỡ nhau,
đã tạo cho mình một bản sắc văn hóa có những đặc trưng và phong cách riêng,nhưng tất cả đã cùng hòa quyện với nhau để kết thành một nền văn hóa chung, đó
là nền văn hóa đại gia đình dân tộc Việt Nam Do sống đa số ở vùng nông thôn,nên người Khmer sinh sống bằng nghề làm ruộng, sản xuất chủ yếu là nôngnghiệp, hoa màu, chăn nuôi và nghề thủ công Những yếu tố về điều kiện tựnhiên, dân cư, kinh tế và xã hội của tỉnh Trà Vinh nói chung và đời sống kinh tế -
xã hội của người Khmer ở Trà Vinh nói riêng vừa là cơ sở nền tảng vừa có tácđộng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer- một trong những tộcngười có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển TràVinh nói riêng và lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam nói chung
Trang 28CHƯƠNG 2 PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI KHMER
Ở TRÀ VINH TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY 2.1 Phong tục
Đa số các đám lễ thuộc phong tục tập quán của người Khmer đã bắt nguồn
từ cuộc sống lâu đời Về sau, tùy theo sự thống trị của các tôn giáo khác nhau củatừng thời kỳ mà nó ảnh hưởng pha trộn ít nhiều giống nhau
Những phong tục tập quán của người Khmer liên tục diễn ra, chúng chiếmmột vị trí khá lớn trong sinh hoạt của các gia đình người Khmer Trà Vinh
2.1.1 Lễ cắt tóc trả ơn mụ và lễ giáp tuổi
Lễ cắt tóc trả ơn mụ là lễ tục đầu tiên trong vòng đời con người theo quan
niệm của người Khmer Theo đó, hài nhi sau khi sinh được bảy ngày, hoặc trongvòng một tháng thì cha mẹ tổ chức “Lễ cắt tóc trả ơn mụ”, với các lễ vật gồm:một thúng đựng sáu ký lúa, một slachôm (làm bằng thân cây chuối lột vỏ, khắcthành ba bậc, mỗi bậc được cắm vào lá dừa tươi cắt tỉa nhọn), một angko kôl(chén đựng gạo), trên cắm đèn cầy, ba đồng xu hoặc tiền đền ơn mụ, một nảichuối chín, hai mét vải, một miếng thịt luộc, một chai rượu, ngoài ra còn có mộtbình nước ướp hương thơm (tưk op) do chính ông thầy cúng làm, để vẩy lênngười đứa bé, ngoài ra gia chủ dọn một hai mâm cơm, một mâm đựng quần áomới của hài nhi, sợi chỉ đỏ, một đồng xu hoặc một chiếc nhẫn bằng vàng, nấu chèđậu Họ mời mụ, thầy cúng và mời bà con lối xóm cùng tới dự vui chung
Mở đầu buổi lễ, thầy cúng thắp nhang đèn khấn vái tổ tiên, các chư thần,thổ địa, cầu chúc cho đứa trẻ mạnh khỏe, mau lớn Tiếp đến, bà mụ lấy kéo hớtmột ít tóc, gọi là lễ cắt chỏm (căt soc prây) [11,tr.93] Lúc bây giờ, người mẹ lấynước ướp hương rửa tay bà mụ để tạ lỗi và đền ơn bà mụ đã giúp đỡ trong suốtthời gian sinh đẻ Riêng thầy cúng sau đó ông lấy chỉ đỏ cột vào đồng xu hoặc
Trang 29chiếc nhẫn vừa quay vừa đọc thần chú ba vòng, rồi cột vào cổ tay đứa hài nhi,đồng thời thay quần áo mới và đặt tên cho hài nhi.
Ngày nay, do trình độ hiểu biết của người dân ngày càng được nâng cao,những lễ tục trên đây đã dần thay đổi Ở những nơi người Khmer sống xen kẽ vớingười Kinh, người Hoa, người ta biến lễ tục này thành lễ ăn đầy tháng giống nhưngười Kinh
Có thể nói, lễ cắt tóc và đặt tên là lễ tục đầu tiên trong vòng đời con người,
nó không chỉ có ý nghĩa về phương diện văn hóa, xã hội mà còn cả về tín ngưỡngtôn giáo để chuyển sang một giai đoạn mới: từ hài nhi chuyển sang trẻ nhỏ, sangtuổi vị thành niên làm lễ giáp tuổi [11, tr.94-95]
Lễ giáp tuổi được tổ chức khi đứa trẻ tròn 12 tuổi Người Khmer quan niệm
đây là lễ cúng trả ơn thần thánh, tổ tiên đã giúp họ nuôi con qua được một congiáp Về hình thức nghi lễ, sau khi tụng kinh, người ta đốt cháy sáp trong một đồđựng bằng kim loại, cho nhang vào, úp chén cho lửa tắt rồi mở ra, cho nước vàokhuấy đều, pha thêm dung dịch có mùi thơm mà vẩy lên người đứa con để trừ tà,như vậy là muốn cho đứa con lớn lên sẽ khỏe mạnh, cường tráng
Cũng theo tập quán dân tộc, đến năm 12 tuổi mọi người con trai Khmerphải vào chùa tu, thời gian tu dài, ngắn hay suốt đời là tùy ý
2.1.2 Lễ xuất gia đi tu
Phong tục xuất gia đi tu của người Khmer nói chung và ở Trà Vinh nóiriêng đã có từ ngàn xưa, các gia đình người Khmer thường tiến hành nghi lễ này
để thông báo cho người thân, cộng đồng của họ biết rằng con hoặc cháu trai của
họ bắt đầu cuộc sống tu hành trong chùa Người Khmer xem ngôi chùa không chỉ
là nơi truyền bá Phật pháp mà còn là trung tâm văn hóa sinh hoạt của cả cộngđồng và là nơi rèn luyện đạo đức, nhân cách tốt đẹp, kỹ năng sống, thậm chí lànghề nghiệp cho thanh niên Họ cho rằng đi tu là một nghĩa vụ và vinh dự của cảđời người, là cơ hội để người con trai được sư sãi và ban quản trị chùa giúp đỡ
Trang 30chăm sóc, dạy dỗ thành người có nhân cách, đạo đức của một tín đồ phật giáo Đi
tu còn là một cách để làm phước cho cha mẹ, cho bản thân Do đó, người con trai
có quyền tự ý đi tu hoặc hoàn tục mà không có gì ràng buộc.Việc tu hành cũngchính là một hành vi thể hiện sự tôn kính Phật pháp, đi tu chính là cơ hội để rènluyện bản thân
Thời gian xuất gia tốt nhất là vào những ngày trước lễ nhập hạ hoặc lễ vàonăm mới (Chol Chnam Thmay) Thời gian tổ chức các nghi thức của lễ xuất giathường kéo dài trong 4 ngày
Ngày thứ nhất, gia đình tiến hành dựng rạp và mời Acha để hướng dẫnchuẩn bị lễ vật Lễ vật gồm có: 5 trái dừa khô được rạch ba vạnh vòng quanh, 5bông cao hoặc bông dừa được buộc với lá trầu bằng chỉ trắng, 1 cây mía, 1 cây trehoặc tầm vông có một đầu được buộc với thẻ nhang, 5 baisây, 3 cây Slatho, 5 câysong, 1 Pean cà sa và 1 cái Bạt mới, tất cả được đặt lên bàn thờ Phật
Ngày thứ hai, gia đình chuẩn bị thức ăn đồ uống, hoa quả để cúng dườngđến các vị sư và tiếp khách Nghi lễ tổ chức trong ngày và đêm thứ hai gồm 3phần: xuống tóc cho người xuất gia, cúng cơm ông bà, thỉnh sư tụng kinh Kế đóngười con trai chuẩn bị đi tu mặc xà rông và quàng khăn trắng đi đến trước mặtông bà, cha mẹ ngồi trên giường xin xá tội, tiếp theo Acha rưới nước lên đầuchàng trai và bắt đầu xuống tóc (nghi thức này được thực hiện lúc xế chiều) Sau
đó là lễ cúng cơm ông bà, gia đình chuẩn bị hai mâm cơm có bánh trái, trầu cau,trà, một cái gối, trên gối có một đĩa đựng chỉ trắng để buộc tay cho chàng thanhniên Sau khi cúng cơm, cha mẹ cột tay cho con và bắt đầu gọi con của họ làNeak Tối gia đình mời sư đến tụng kinh, Acha hướng dẫn thực hiện nghi lễ báiTam bảo và cầu an cho neak
Ngày thứ ba, gia đình chuẩn bị cơm cúng dường các vị sư, kế đến là đãikhách Đến khoảng 13 giờ, họ đưa Neak vào chùa, có bạn bè, thân quyến mang lễ
Trang 31vật theo Sau khi các vị sư tụng kinh là nghi thức gọi hồn, lúc này cha hoặc mẹchàng trai cầm cây mía nghiêng để Acha tụng kinh cho hồn của neak về với Phật
Ngày thứ tư, gia đình thành lập một đoàn có ông Acha đi trước sắp xếpngười đội mâm cà sa, cha của neak cầm Bạt và cây tre có cột nhang ở ngọn đidiễu hành đi vòng quanh chánh điện ba lần rồi mới vào bên trong làm lễ thànhSadi hay Tỳ khưu Nếu người con trai tu bậc Sadi (từ 12 tuổi đến 20 tuổi) thì chỉcần một nhà sư ngồi thượng tọa (Up pach chhea), nhưng nếu tu bậc Tỳ khưu (từ
21 tuổi trở lên) thì phải mời đủ mười đến mười hai Tỳ Khưu ngồi chứng giám,trong đó có một ông lớn tuổi nhất, tu lâu năm nhất, ngồi thượng tọa Sau khi nghegiảng dạy, hỏi và đọc lời tuyên bố quy định của luật tu hành, người đi tu cầm áo
cà sa đi vào giữa hàng sư sãi và đọc lời xin tu Khi vị thượng tọa chấp thuận thìngười đi tu mới được thay đồ mặc tạm bằng mặc bộ quần áo cà sa Cuối buổi lễngười ta cầu kinh chúc phúc cho người mới đi tu [11,tr.98-99]
Ý nghĩa lớn nhất của việc đi tu không phải để thành Phật mà để thànhngười, việc tu để chuẩn bị cho người thanh niên có đủ đạo đức, kiến thức lòngnhân ái để sau khi rời chùa sẽ biết cách xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và có ýnghĩa Trước đây thời gian tu báo hiếu thường kéo dài từ một đến vài ba năm,ngày nay việc tu báo hiếu để người tu tùy duyên gắn bó với nhà chùa có thể tu vàinăm, vài tháng, vài ngày, thậm chí chỉ 24 tiếng đồng hồ
2.1.3 Lễ hỏi và lễ cưới
Người Khmer Trà Vinh do ảnh hưởng quan niệm cởi mở của Phật giáo nênthanh niên nam, nữ Khmer đến tuổi trưởng thành được tự do yêu nhau, tự do tìmhiểu trong tình yêu lứa đôi để xây dựng hạnh phúc trăm năm Chỉ trừ anh em ruộtkhông được lấy nhau, còn bà con họ hàng thân thuộc khác nếu đôi bên đồng ý đều
có thể kết hôn Ngày xưa những gia đình giàu có còn khuyến khích họ hàng lấynhau để thêm gần gũi và nhất là để bảo vệ của cải không lọt ra bên ngoài Đôi trai
Trang 32gái người Khmer ở Trà Vinh chính thức trở thành vợ chồng sau khi thực hiện hainghi lễ: Lễ hỏi và lễ cưới.
Lễ hỏi là lễ chính thức đầu tiên xác nhận sự thuận tình của đôi trai gái sau
khi trải qua thời kì tìm hiểu, đã tâm đầu ý hợp và cũng là lễ ràng buộc quan hệ suigia giữa hai gia đình với nhau Cha mẹ đàng trai sẽ nhờ người mai mối (Maha)đến nhà đàng gái để cầu hôn, nếu đàng gái thống nhất thì đàng trai tiến hành lễhỏi Trong lễ hỏi đàng trai trình ngày cưới Ba tháng được chọn thường là Bôs(khoảng giữa tháng 12 đến giữa tháng một dương lịch), Phol kun (khoảng giữatháng hai đến giữa tháng ba dương lịch, Pisat (khoảng giữa tháng tư đến giữatháng năm dương lịch) Đây là những tháng tốt để tổ chức lễ cưới Ngày cướicũng được xem rất kỹ Trên cơ sở ngày tháng năm sinh của đôi trai gái, nếu ngàytrăng tròn thì chọn ngày 7, 9, 11, 13 còn nếu trăng khuyết thì chọn các ngày 2, 4,
8, 10, 12 đó là những ngày tốt cho cuộc hôn nhân, gọi là đã chọn được Pile
Trước ngày cưới, nhà trai mang lễ vật (trà rượu, trầu cau, bánh trái) đếnnhà gái để xin cưới Đặc biệt lần này đàng trai tặng đàng gái các món nữ trangnhư: bông tai, dây chuyền, vòng vàng và các chi phí khác được gọi là lễ xin cưới.Sau lễ này kể như chính thức vào lễ cưới, hai bên trai gái đều có sự chuẩn bị [1,tr.208-209]
Lễ cưới (Pithi Apea pipeah)
Trước ngày cưới một ngày, đàng trai qua nhà gái dựng rạp cưới (Thngaychôi rông ka) Lễ cưới thường được tổ chức ở nhà gái (Vive hăm măng kol),nhưng có khi tổ chức ở nhà trai (Ave hăm măng kol) Lễ cưới được tiến hànhtrong ba ngày với nhiều chi tiết lễ tục như sau:
Ngày thứ nhất: Nhà trai mang lễ vật sang nhà gái gồm: trà rượu, trầu cau,bánh trái và thức ăn các loại mỗi thứ đều một đôi.Ngày hôm đó nhà gái đóngkín cửa cổng, tượng trưng cho sự thanh khiết của cô dâu Khi đến cổng nhà gái,ông Maha hướng dẫn đoàn người bày các mâm lễ vật và nói lời cầu xin nhà gái
Trang 33đất làm nhà, xin giếng múc nước, xin phép được vào, xin nhà gái chủ nhà mởcửa Lúc này nhà gái vẫn chưa mở cửa, ông Maha phải rút dao ra múa, múa chođến khi nhà gái mở cửa mới ngưng [1, tr.210], điệu múa chậm rãi, nhịp nhàngtrong tiếng nhạc, gọi là múa mở rào (Rom bơk rôbong), trông rất đẹp mắt Nhàgái thấy phục tài mới mở cửa rào ra cho nhà trai vào Lễ cưới bắt đầu nhộn nhịp,dàn nhạc trỗi lên, mọi người bắt đầu ca hát:
Người ta nói ông vuaKhông bao giờ đi bộ Khi thì vua cưỡi ngựa Khi thì vua cưỡi voi
Phải có quan theo hầu Đằng sau rồi đằng trước Nào khiêng, nào đưa rước Rằng hết sức tưng bừng Sấm vang nghe đùng đùng Như nổi lên hát múa
Cho tới khi vua ngủ
Ới nàng theo hầu ơi
Lời hát vui đã thúc giục mẹ cô dâu ra đón cùng với cô con gái hoặc con trai
ra cửa đón nhà trai, mời nhà trai vào [11, tr.273]
Ngày thứ hai: đây là ngày chính thức của lễ cưới, từ sáng sớm là lễ cúng tổtiên và ăn trầu để đinh ước Tiếp đến ông Maha đưa chú rể tới miếu neak ta đểtrình diện, ông khấn vái cầu xin neak ta công nhận và phù hộ che chở thành viênmới của cộng đồng Đến chiều làm “lễ cắt tóc” Lễ này cũng diễn ra trong khônggian đầy âm thanh đầm ấm, thiết tha
Bởi vì em yêu anh
Anh mong điều may mắn
Trang 34Trong chiếc kéo trên khay
Em hãy ngồi xuống đây
Dưới tàn cây so đũa
Mái tóc em buông xõa
Thay lời em yêu anh
Nên anh yêu em mãi
Muốn tình yêu chung thủy
Ngày thứ ba: sau khi chú rể và cô dâu thực hiện các nghi lễ lạy ông bà, cha
mẹ, cô bác, họ hàng xong, những nghi thức lễ cưới cũng nối tiếp diễn ra như: lễrắc hoa cau (Phka sla), lễ rút gươm, sau lễ rút gươm là lễ buộc chỉ cổ tay (Chonđay) Mở đầu ông Maha ban phước lành cho đôi trẻ và ông cho cô dâu và chú rểngồi hơi nghiêng, đầu cuối xuống, để hai cánh tay song song bên nhau trên chiếcgối thêu bông Cột tay cho cô dâu, chú rể bằng sợi chỉ hồng với lời chúc mừngtrăm năm hạnh phúc và đưa quà mừng cô dâu chú rể và mọi người lại hát vangvới những lời hát cứ được lặp đi lặp lại:
Loại chim sáo thích ở rừngVui hát tưng bừng khi đậu cành cây
Trang 35Mà cũng thích đó thích đâyNhưng không thèm cám gạo xay sẵn rồi
Để anh đặt bẫy gài mồi
Ngay dưới tổ sáo, em ơi hãy chờ [11,tr.274]
Sau lễ cột tay cô dâu, ông Maha hướng dẫn cô dâu chú rể theo đường đãrắc hoa cau để vào phòng hoa chúc, ông Maha bố trí cho cô dâu đi trước, chú rểtheo sau nắm lấy vạt áo cô dâu, y như hoàng tử Thông nắm vạt áo công chúa rắn
đi xuống thủy cung theo truyền thuyết của người Khmer
Sau đó, đến lễ “Cuốn chiếu” lễ này do ông Maha thực hiện Đôi chiếu đượcnhà trai mang đi tới đi lui nhiều lượt, rồi mới trải ra Ông Maha múa, miệng luônhát “Ai mua chiếu không?” Không có tiếng trả lời Buổi lễ lắng lại, ông Maha lạinói: “Ai chuộc chiếu này sẽ có uy thế lớn và sẽ giàu có, đông con” Nghe tới câunày, cặp mắt chú rể sáng lên, vội chạy đến ông Maha xin chuộc chiếu Khi đó,mọi người sẽ đến vây quanh, hoan hô chú rể Họ sẽ không tiếc lời chúc tụng vìchú rể đã có suy nghĩ và việc làm đúng Khi chú rể chuộc được chiếu, người sinhthành cô dâu mời hai, hoặc bốn người đàn bà có đạo đức, gia đình khá giả, hạnhphúc vào trải chiếu cưới Góp vui trong lễ cuốn chiếu, bà con lối xóm và họ hàngvừa nhập tiệc vui vừa tham gia văn nghệ Khi lễ cưới sắp kết thúc, người ta hátbài “Tiễn khách ra về” Bài ca có nội dung như sau:
Ôi, những người lớn tuổi trong làng ta
Đã có mặt trong nhà phía sau rồi phía trước
Các ông đã ban cho ta lời chúc phúc
Mọi việc trên đời được suôn sẽ ấm êm
Anh đã cắt rau và buộc lại, em ơi
Rau anh đã cắt rồi buộc lại
Hãy tha thứ cho những gì còn non dại
Như cắt rồi buộc lại thì mọi việc sẽ xong
Trang 36Sau cùng là “lễ chung giường” Lễ diễn ra vào buổi tối Vợ chồng mới cướichia và đút nhau thức ăn đã cúng tổ tiên Sau khi ăn uống xong, cô dâu chú rể vàomàn, cô dâu vào trước, chú rể theo sau Thế là lễ cưới đã xong, lời ca điệu múacũng khép lại [11, tr.275-276]
Ba ngày sau đám cưới, đôi vợ chồng mới được người nhà hướng dẫn mang
lễ vật trong đó phải có hoa cau đến chùa để cúng Phật và cúng dường các sư đểcầu phúc Sau đó hai người đến thăm hỏi bà con thân tộc hai họ để làm quen và
để tạo tình đoàn kết trong tộc họ
Tuy nhiên, cùng với xu thế tiến bộ chung của xã hội, nhận thức về hônnhân của người Khmer cũng ngày càng tiến bộ thì các nghi thức lễ cưới truyềnthống cũng được giản lược bớt, nhiều lễ tục đã không còn và mai một mất đi như:
lễ cắt tóc, tục ở rể không còn bắt buộc như trước Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy
sự giao thoa với văn hóa cưới hỏi của người Kinh và người Hoa như: trong cướihỏi ngày nay chỉ còn lễ ăn hỏi và lễ cưới, các trang phục trong lễ cưới đa dạngphong phú hơn, mặt khác trang phục truyền thống bị biến đổi nhiều, thay vào đó
là những trang phục hiện đại: cà vạt, áo cưới thời trang, cách thức đãi tiệc cũngphù hợp hơn với thời buổi hiện đại, thời gian tổ chức lễ cưới cũng ngắn hơn(trước đây là ba ngày ba đêm, nay chỉ còn một đêm một ngày), việc trai gái yêunhau và đi đến hôn nhân không còn bị phụ thuộc quá nhiều vào người mai mối,tuy vậy ít nhiều vẫn giữ được tính truyền thống đặc trưng của dân tộc Khmer
2.1.4 Lễ tang (Bon sop) và lễ dâng phước
Theo quan niệm của người Khmer Trà Vinh, chết chưa phải là chấm dứtcuộc sống mà tiếp tục sống ở một thế giới khác, không sống bằng thể xác màsống bằng linh hồn bất tử Có lẽ vì thế, họ tiễn đưa người chết với nhiều lễ tiếtphức tạp và người thân trong gia đình luôn luôn làm “phước”, làm điều thiện,cống hiến nhiều cho chùa, cho sư sãi, vì họ tin rằng những của cải công hiến vào
Trang 37chùa, dâng lên sư sãi mới theo nhang khói và tiếng kinh sẽ tới ông bà, cha mẹ họđang sống ở thế giới bên kia.
Khi gia đình có người được biết chắc rằng người thân không qua khỏi cáichết, con cháu phải để người thân nằm trong một căn phòng riêng biệt, treo ảnhđức Phật để hình ảnh đức Phật lúc nào cũng ngự trị trong tâm hồn người sắp chết.Ngoài ra, trong mỗi buổi tối, họ mời sư sãi hoặc Acha yuki đến đọc kinh Apithomcho người sắp chết thanh thản ra đi Người Khmer cho rằng người nào trước khichết mà không nghe được kinh, người đó sẽ là người vô phước
Khi biết chắc chắn người thân đi vào cõi vĩnh hằng, người ta đánh trốngbáo cho bà con trong phum, sóc biết có người vừa mới qua đời Khi nghe tiếngtrống này mọi người sắp xếp công việc đến chia buồn cùng gia đình người quá cố
Ở người Khmer đến chia buồn là “cúng tiền” và người đến chia buồn rất đông
Người Khmer chết thường hỏa táng, nghi lễ thường được tiến hành quanhiều giai đoạn, thường là họ mời một người thông hiểu về nghi lễ (Acha yuki)đến để hướng dẫn những công việc cần phải làm
Việc đầu tiên, Acha yuki bỏ một đồng bạc (hoặc đồng chì, đồng kẽm) vàomiệng người chết, với quan niệm người chết có tiền ăn đường, sau đó lau thi hàibằng nước ướp hương và thay quần áo mới cho người chết Xong họ đặt ngườichết nằm thẳng tay thẳng chân và được phủ kín từ đầu đến chân bằng một khúcvải trắng (rum sa) Trên bụng thi hài đặt một nải chuối sống, trên ngực để 3 lá trầu
có ghim 3 cây nhang, xoay ngọn về hướng đầu ý nói người chết chỉ mang theo lờikinh, hay nói cách khác để người chết chỉ có hình ảnh của đức Phật ngự trị tronglòng Người Khmer tin rằng làm như thế thì linh hồn người chết sẽ mang đi làm lễcúng tháp Phật Trên đầu người chết luôn có một cái thúng đựng bốn lít gạo, mộtcái nồi đất, bốn cái bát ăn cơm, bốn đôi đũa, một cây đèn, một đoạn vải trắng dài2,2m, một trái dừa khô lột vỏ và một cái sachôm cắm trên thân cây chuối dài hơnmột tấc, dưới chân người chết luôn để một lư hương nhỏ để cắm nhang [1,tr.215]
Trang 38Trong khi chờ đợi giờ tốt để liệm, gia chủ đến chùa để thỉnh sư đến làm lễcầu siêu cầu phước cho người chết Người ta còn buộc thân xác rồi thắt ở cổ, ở cổtay và ở cổ chân rồi liệm xác vào quan tài, sau khi liệm người ta cũng bài trí trênnắp quan tài những vật cúng lên giống như trên thi hài lúc chưa liệm, trước đầuquan tài là hai ngọn đèn cầy, dưới quan tài có một chậu nhỏ để đốt lửa (đot phơngâb) cho ấm nhà cửa, phía trên đầu quan tài treo một ngọn cờ bằng vải trắng cóhình cá sấu gọi là cờ hiệu của linh hồn Thời gian quàn người chết lâu hay mautùy theo hoàn cảnh của tang chủ, thường thì một đến ba đêm, trong khoảng thờigian này chủ nhà thỉnh các sư ở chùa đến tụng kinh nhiều lần để cầu siêu cầuphước cho linh hồn người chết.
Suốt trong thời gian quàn linh cữu tại nhà mọi người không được múa hát,ban nhạc cũng không hòa tấu một bản nhạc vui nào, chỉ có nhạc buồn và tiếngđọc kinh Thoma sângvêt mà thôi [1,tr.216]
Đến giờ động quan có sư sãi đến tụng kinh cầu siêu, năm vị Acha cũngtụng kinh và xoay đèn cầy ba vòng quanh quan tài và sau đó quan tài mới đượckhiêng ra ngoài gọi là “rum kơl sop chênh”
Khi tiễn đưa linh cữu đến nơi hỏa táng, người ta thường cột một sợi dâybằng cỏ tranh nối từ kiệu nhà sư đến kiệu nhà vàng Ông Acha yuki cầm cờ hồn
và một chiếc đầu đi trước, kế đó là một phụ nữ, thường là con hoặc em người quá
cố phải đổi một chiếc thúng, tiếp theo là ông Acha phụ tá Tất cả phải niệm kinhtheo lời hướng dẫn của vị Acha yuki, theo sau là một phụ nữ mặt đồ trắng rảibông gòn, phía sau quan tài là con cháu, giá quyến của người chết Đến nơi hỏatáng, quan tài được khiêng ba vòng mới được đặt xuống, đầu quan tài luôn xoay
về hướng Đông [1, tr.217]
Trong thời gian chuẩn bị thiêu, sư sãi tụng kinh cầu siêu cho người quá cố
và năm Acha đọc kinh tiễn biệt, xong người ta đưa quan tài vào lò thiêu Khi lửa
Trang 39thiêu cháy lên đỏ rực, con cháu nào muốn báo hiếu cho người chết có thể nhờ sưxuống tóc vào lúc này, nhưng chỉ tu ở bậc Sadi.
Khi ngọn lửa thiêu xác đã tàn, ông Acha yuki đánh lên ba tiếng cồng báohiệu công việc đã hoàn mãn và họ tưới nước thơm lên đống than cho nguội đểlàm lễ cúng thần đất, sau con cháu nhặt tro xương đặt vào mâm đã có trải sẵnkhăn trắng và đội về nhà Khi đến cổng nhà, con cháu phải làm lễ cúng támphương, xong mới đem tro xương vào nhà mời sư làm lễ cầu siêu lần cuối trướckhi rửa xương với nước dừa khô cho sạch, phơi thật khô và cho vào tháp nhỏ(kôđ) để lên bàn thờ trong nhà hoặc gởi vào chùa [1, tr.218]
Lễ dâng phước (Bonđa) được thực hiện đối với người lớn sau khi chết bảy
ngày, nhưng đối với trẻ em là chín ngày và được tiến hành theo phong tục Phậtgiáo với mục đích cầu cho linh hồn được siêu thoát
Lễ dâng phước thường được bắt đầu vào buổi tối, gia chủ mời sư sãi vềtụng kinh làm lễ cầu siêu cho người chết và thuyết pháp cho con cháu nghe giáo
lý của Phật Ngày hôm sau họ chuẩn bị sẵn đồ đạc, vật dụng, thức ăn để cúngdường các sư sãi Theo tín ngưỡng của người Khmer thì linh hồn người chết phảiđược các sư cùng cầu nguyện mới sớm được siêu sinh Vì vậy bất cứ một ngườinào sau khi chết được bảy ngày (trẻ em chín ngày) đều được người nhà tổ chức lễcầu siêu để cho linh hồn được siêu thoát [1,tr.218]
2.1.5 Lễ giỗ (Bon khuôp muôi rôi thngay)
Về thời gian, sau khi người chết một trăm ngày, người Khmer tổ chức lễgiỗ đầu tiên (Bon Khuôp 100 thngay), vào ngày này con cháu tụ họp cúng bái,dâng hương cầu nguyện và xin làm lễ mãn tang Ông Acha vừa đọc kinh vừa vẩynước để tẩy sạch tang chế của con cháu sau trăm ngày chịu tang, đồng thời cầuphúc cho họ được yên ổn và mạnh khỏe
Sau giỗ một trăm ngày này, hàng năm cứ đến ngày chết của người quá cốthì gia đình đều có tổ chức lễ giỗ thường niên, các lễ giỗ này cũng không khác lễ
Trang 40giỗ một trăm ngày bao nhiêu, chỉ không có lễ mãn tang và buổi tối có mời các sưđến tụng kinh cầu siêu cho người chết, ngày hôm sau chủ nhà lại tổ chức dângcơm cúng dường Các sư sau khi ăn cơm và nhận các vật cúng dường lại tiếp tụcđọc kinh cầu siêu cho người chết và cầu phúc cho thân bằng quyến thuộc của chủnhà.
Trong lễ giỗ, khách mời đông đúc, ăn uống, nhưng không tổ chức linhđình Lễ giỗ chỉ tập trung vào việc tụng kinh cầu cho linh hồn người chết đượcnhiều phúc đức, sớm được siêu thoát và cúng dường các sư để tạo thêm duyênlành [1,tr.220]
Lễ này đối với những gia đình có của ăn của để họ chủ yếu tổ chức ở nhàhoặc ở khoảng sân và thường kéo dài một đêm, thêm một buổi theo nghi thứcPhật giáo, riêng đối với gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ phải đợi đếnngày lễ cúng ông bà (Bon Sen Đônta), họ làm cơm nước, mang theo bánh tráimang đi lễ chùa
2.1.6 Lễ kết giới (Bon bân chol sima)
Bon bân chol sima, có nghĩa là đặt viên đá làm ranh giới của người Khmertrong một ngôi chùa, tục làm lễ Bon bân chol sima là một lễ hiếm có trên đời Cóngười cả đời không bao giờ được dự cuộc lễ này một lần, bởi vì một ngôi chùahoàn thành rồi có thể bền vững hàng hai ba trăm năm nên khi nghe ở đâu tổ chức
lễ này dù xa xôi họ cũng cố gắng đến cúng bái
Mỗi chính điện có tám hố chôn đá làm ranh giới gọi là “đá kết giới”, giữaChính điện làm bàn thờ Phật một hố, và dọc hai bên vách mỗi bên ba hố Mỗi hốhình ống sâu hơn hai thước, đường kính một thước, được đào sẵn bằng nhau trướckhi bắt đầu vào lễ Bên cạnh mỗi hố có một viên đá tròn lớn bằng cái thúng do tín
đồ sắm Đó là viên đá sẽ chôn xuống hố để ấn định lằn ranh Chính điện
Tín đồ sở tại hùn tiền mua cà sa, vật dụng, cơm nước cho quí vị sư sãi chùacủa mình chi phí cho cái hố “danh dự” của mình Họ dùng vải trắng, xanh, đỏ,