Vì các lý do trên, tôi chọn nghiên cứu “Đời sống văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội hiện nay” làm đề tài của luận án.. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2C ông trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS PHẠM DUY ĐỨC
2 TS Lấ TRUNG KIấN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Nhà nước Họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
vào hồi giờ , ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại
- Thư viện Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Thư viện Quốc Gia
Trang 3
Lứa tuổi Trung học phổ thông (THPT) là lứa tuổi đang trưởng thành, có đặc thù riêng, trong đó ĐSVHTT của học sinh THPT có vai trò quan trọng, góp phần hình thành trí tuệ, bản lĩnh, nhân cách, ý thức văn hóa của các thế hệ công dân sau này Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐSVHTT của thanh niên, sinh viên nói chung, nhưng chưa có các nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về ĐSVHTT của đối tượng này
Như mọi công dân Thủ đô khác, học sinh THPT Hà Nội là những người tiếp nhận, chịu tác động của các trào lưu, xu hướng văn hóa mới của khu vực và thế giới sớm hơn so với các tỉnh/thành phố khác Những chuyển biến, thay đổi theo
cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực trong ĐSVHTT của học sinh THPT nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng những năm gần đây đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu ĐSVHTT của học sinh THPT
Hà Nội hiện nay, đánh giá đúng thực trạng và khuyến nghị các giải pháp nhằm cải thiện, đáp ứng, từng bước nâng cao ĐSVHTT cho các em là cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn
Vì các lý do trên, tôi chọn nghiên cứu “Đời sống văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông Hà Nội hiện nay” làm đề tài của luận án
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu, tìm hiểu các khía cạnh, biểu hiện cụ thể trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội hiện nay trong tương quan với ĐSVHTT xã hội nói chung, ĐSVHTT của học sinh, sinh viên nói riêng; trên cơ sở đó, trao đổi, bàn luận, khuyến nghị các giải pháp cải thiện, đáp ứng, nâng cao ĐSVHTT cho chủ thể này
Trang 42
2.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ các khái niệm/phạm trù VHTT, ĐSVH, ĐSVHTT, ĐSVHTT của học sinh THPT, cơ sở lý luận của việc nghiên cứu ĐSVHTT của học sinh THPT nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT tại Hà Nội hiện nay; chỉ ra những nguyên nhân, yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội, xu hướng biến đổi trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội
- Trao đổi, bàn luận về một số vấn đề thực tiễn nảy sinh trong ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội; mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng; khuyến nghị các giải pháp cải thiện, nâng cao ĐSVHTT cho học sinh THPT Hà Nội
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội (đặc thù của chủ thể; thực trạng, nhu cầu, thiết chế, hoạt động văn hóa tinh thần hiện tại
và các khả năng đáp ứng…)
4 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án khảo sát thực trạng ĐSVHTT của học sinh 04 trường THPT Hà Nội trên địa bàn quận Cầu Giấy và quận Hai Bà Trưng, gồm:
1 Trường THPT Trần Nhân Tông
2 Trường THPT Yên Hòa
3 Trường THPT Cầu Giấy
4 Trường THPT dân lập Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong 4 trường trên, có 3 trường công lập và 1 trường dân lập Việc lựa chọn khảo sát 4 trường này là có chủ ý Số lượng học sinh khảo sát (theo số phiếu thu về) là 489, số giáo viên là 66 Ngoài ra, luận án còn trao đổi, phỏng vấn một số chuyên gia, cán bộ quản lý trong các nhà trường để có thêm các ý kiến, quan điểm, góc nhìn tham chiếu Số liệu khảo sát được lấy trong năm học
2015 - 2016 Kết quả khảo sát là cơ sở, căn cứ để nhận xét, bàn luận về các vấn
đề đặt ra trong ĐSVHTT của chủ thể này
Trang 53
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập trong các chuyên ngành như Văn hóa học, Tâm lý học, Quản lý giáo dục, Quản lý văn hóa… và có thể ứng dụng trong các cơ quan quản lý giáo dục, các trường THPT trong việc nâng cao ĐSVHTT cho học sinh
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục (bao gồm mẫu phiếu, tóm lược kết quả điều tra, kết quả phỏng vấn sâu…), luận án được triển
khai trong 4 chương Cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về ĐSVHTT và khái quát đặc điểm
học sinh THPT Hà Nội
Chương 3: Các yếu tố tác động và thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT
Hà Nội hiện nay
Chương 4: Những vấn đề đặt ra và các giải pháp tác động, nâng cao
ĐSVHTT cho học sinh THPT Hà Nội
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về ĐSVH, ĐSVHTT là vấn đề rất rộng, phạm vi tư liệu cần tìm hiểu, tham khảo rất lớn; song căn cứ vào cấu trúc luận án và khả năng bao quát tư liệu, tác giả luận án chia tách tình hình nghiên cứu vấn đề thành hai mảng: Các nghiên cứu về ĐSVHTT nói chung và các nghiên cứu về ĐSVHTT của học sinh
1.1.1 Các nghiên cứu về văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần
Khó có thể thống kê hết các công trình nghiên cứu về văn hóa, đời sống văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam, đặc biệt từ sau đổi mới đến nay Việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước giai đoạn hội nhập càng đòi hỏi có sự nghiên cứu sâu, có chiến lược phát triển văn hóa bền vững Hiện có hai hướng nghiên cứu văn hóa vẫn
tiếp tục được tiến hành đồng thời: nghiên cứu lý luận nhằm đề xuất, bổ sung, điều chỉnh định hướng, chiến lược phát triển và nghiên cứu thực tiễn nhằm
kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của các chủ trương, chính sách đã triển khai Ngay nửa đầu năm 2015, đã diễn ra hai Hội thảo khá quan trọng: Hội thảo khoa
học Quốc gia: “Những giải pháp tổ chức triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
Trang 64
bền vững đất nước” (Tháng 1/2015) và Hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐSVH, MTVH” (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội - Tháng 4/2015) Trong các Hội thảo, bên cạnh phần khảo sát, đánh giá thực tiễn, hàng loạt vấn đề liên quan đến việc định danh khái niệm “ĐSVH”, “MTVH” cùng các tiêu chí, đề xuất, kiến nghị về chuẩn mực cũng như các giải pháp nâng cao
chất lượng ĐSVH, MTVH, nhằm kiến tạo, xây dựng mô hình, kiểu mẫu cần
phải có về con người văn hóa, con người thời đại đã được đặt ra
Tất cả những điều này cho thấy, vấn đề văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần hiện nay đang ngày càng trở thành vấn đề quan trọng và bức thiết
1.1.2 Các nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của thanh niên, học sinh trung học phổ thông
Về các tài liệu, công trình nước ngoài liên quan gần gũi với hướng nghiên cứu của luận án, tác giả luận án đã tham khảo được một số cuốn sách, công trình của các tác giả nước ngoài (Mỹ, Úc, Hàn Quốc ) những năm gần đây như:
- Eugene C Roehlkepartain với cuốn: “Cẩm nang về sự phát triển tinh thần
trong thời thơ ấu và thanh thiếu niên” (“The Handbook of Spiritual Development in Childhood and Adolescence”, Thousand Oaks, Calif.: SAGE
Publications, 2006, 543p.)
- Richard M Lerner, Robert W Roeser với cuốn: “Tích cực phát triển tinh thần
trong thanh thiếu niên: Từ học thuyết đến nghiên cứu” (“Positive youth development & spirituality: From theory to research”, Templeton Foundation
Illinois, Trinity Evangelical Divinity School, 1994)
Ngoài ra, luận án cũng tham khảo một số bài báo nước ngoài có tính chất
nghiên cứu trường hợp khác
Về các tài liệu tham khảo ở Việt Nam, tác giả luận án đã tham khảo một số
công trình, luận án, luận văn tiếp cận vấn đề ĐSVH thanh niên, lối sống thanh niên dưới góc độ xã hội học, văn hóa học và tâm lý học, chẳng hạn: Luận án
Tiến sĩ Triết học của Đặng Quang Thành “Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh” (năm 2004); Các công trình nghiên cứu của Đặng Cảnh Khanh “Văn hóa thanh niên trong quá trình hội nhập quốc tế của thanh niên” (2002) và “Xã hội học thanh niên” (2006); Đề tài trọng điểm
Trang 75
cấp Nhà nước “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của Phạm Hồng Tung
(2011); Cuốn sách “Nhu cầu giải trí của thanh niên” Đinh Thị Vân Chi (2001);
Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học: “Đời sống văn hóa sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội hiện nay” của Đinh Lan Hương (năm 2010); Luận án Tiến sĩ Triết học của Phùng Thu Hiền: “Giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội” (2015)
Tác giả luận án cũng tham khảo đề tài KH&CN trọng điểm cấp Bộ (Mã số
2009-29-44TĐ, nghiệm thu năm 2012): “Nghiên cứu hệ thống tiêu chí văn hóa học đường của trường phổ thông giai đoạn hiện nay”, do PGS.TS.Trần Thị Minh
Hằng và nhóm tác giả Học viện Quản lý giáo dục thực hiện Tuy vậy, bộ tiêu chí văn hóa học đường mà nhóm tác giả đề tài đề xuất nghiêng về xây dựng các cơ
chế, điều kiện để tổ chức, quản lý nhằm thiết lập, bảo đảm giữ được MTVH cần thiết, cần phải như vậy trong nhà trường phổ thông hơn là việc xác lập, đề xuất các
tiêu chí và hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy, nâng cao MTVH học đường sẵn có
1.1.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu
1.1.3.1 Những vấn đề nghiên cứu đã được làm sáng tỏ
Các nghiên cứu có tính chất lý luận và thực tiễn về ĐSVH, MTVH các vùng miền, ĐSVH của thanh niên, sinh viên, của các tầng lớp, bộ phận dân cư; việc xây dựng, chăm lo cho ĐSVH, MTVH ở cơ sở…, đã được đặt ra, phân tích khá cặn kẽ Nhiều vấn đề cốt lõi như bản chất, cấu trúc của ĐSVH; các xu hướng phát triển, biến đổi; các giải pháp đáp ứng, từng bước nâng cao ĐSVH… cho các chủ thể đã được đề cập, bàn luận nghiêm túc trong nhiều công trình, luận
án, luận văn gần đây
1.1.3.2 Những vấn đề chưa được chú ý đúng mức, cần tiếp tục làm rõ
Tính đến thời điểm này, các nghiên cứu về ĐSVHTT của học sinh THPT nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng vẫn chưa được chú ý đúng mức Do vậy, bên cạnh những vấn đề lý luận về ĐSVHTT, cấu trúc ĐSVHTT…, luận án sẽ phải tiếp tục làm rõ:
- Đặc điểm và vai trò của chủ thể học sinh THPT trong bối cảnh đời sống văn hóa tinh thần xã hội và nội tại;
- Đánh giá thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội; tìm hiểu tác động, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội, môi trường… đến ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội hiện nay;
- Đề xuất, trao đổi, bàn luận về các vấn đề đặt ra, các giải pháp nhằm giáo dục, nâng cao ĐSVHTT cho học sinh THPT Hà Nội
Trang 86
1.2 LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU, QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống nguyên lý, nguyên tắc, phương pháp luận của các
lý thuyết sau:
- Lý thuyết hệ thống - cấu trúc: Được vận dụng để nghiên cứu các phạm trù,
khái niệm về văn hóa; đời sống văn hóa tinh thần của học sinh THPT Hà Nội trong sự gắn kết và khu biệt với tính chất, đặc thù ĐSVHTT của xã hội nói chung, các tầng lớp khác, các tỉnh thành khác nói riêng
- Lý thuyết về nhu cầu: Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow được vận dụng để
nghiên cứu nhu cầu văn hoá tinh thần nói chung, nhu cầu văn hoá tinh thần của học sinh THPT Hà Nội nói riêng
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Lý thuyết cấu trúc - chức năng xem xét các hình
thái, thiết chế, tổ chức, hoạt động… trong tính tổng thể, hệ thống, được vận dụng nghiên cứu mô hình, đặc điểm và mối quan hệ giữa nhu cầu, hoạt động, sản phẩm sáng tạo văn hóa tinh thần của học sinh THPT, trong đó có học sinh THPT Hà Nội
1.2.2 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Về quan điểm tiếp cận, luận án dựa trên cơ sở:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Bộ, Ngành về văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo trong sự kiến tạo xã hội mới, con người mới
- Các quan điểm văn hóa, giáo dục hiện đại về văn hóa và con người, giáo dục
và con người… trên thế giới và nước ta hiện nay
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp liên/đa ngành: Luận án thuộc chuyên ngành Văn hóa học, song
khi nghiên cứu ĐSVHTT học sinh THPT Hà Nội, nhất thiết và luôn cần sử dụng
lý thuyết và phương pháp của các khoa học khác như Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này sử dụng phiếu điều tra để khảo
sát, đánh giá thực trạng ĐSVHTT của học sinh THPT ở Hà Nội Phiếu điều tra gồm nhiều câu, mỗi câu gồm nhiều ý, được soạn theo hình thức trắc nghiệm Số liệu thu được được xử lý theo chương trình SPSS trong môi trường Window, phiên bản 13.5
- Phương pháp tham vấn chuyên gia, bao gồm tham vấn ý kiến, kinh nghiệm
của các nhà văn hóa học, cán bộ quản lý, phụ trách công tác giáo dục, bồi dưỡng VHTT cho học sinh , nhằm có thêm các nhận xét, đánh giá khách quan, đa chiều
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp này được sử dụng để tổng
hợp, phân loại số liệu, kết quả điều tra theo từng nhóm vấn đề để thấy rõ hơn thực
Trang 97
trạng, các nhu cầu và biểu hiện cụ thể ĐSVHTT của học sinh THPT Hà Nội, lấy
đó làm căn cứ đánh giá, đưa ra các đề xuất, giải pháp, kiến nghị phù hợp
Ngoài các phương pháp chính trên, các phương pháp và thao tác khác như phân tích, so sánh đối chiếu… cũng được sử dụng trong luận án
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
2.1.1 Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Theo thuyết nhu cầu của A.Maslow, con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất (bậc thấp) và nhu cầu tinh thần (bậc cao) Văn hóa, như một hệ thống, cũng thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần VHVC bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…
VHTT bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương… Lĩnh vực VHTT gồm các thành tố: văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa lối sống, văn hóa lễ hội… Những thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng văn hóa tinh thần xã hội
Luận án nghiên cứu ĐSVHTT của học sinh THPT, nghĩa là các phương diện, biểu hiện thuộc lĩnh vực VHTT, các nhu cầu, hoạt động, sản phẩm VHTT cụ thể…, nên các vấn đề hay nhu cầu khác sẽ không được đề cập, bàn luận kĩ
2.1.2 Đời sống văn hóa tinh thần
ĐSVHTT bao gồm toàn bộ nhu cầu, hoạt động sáng tạo, hưởng thụ, trao đổi các sản phẩm, giá trị VHTT của con người ĐSVHTT gắn bó mật thiết, chịu ảnh hưởng, tác động và cũng tác động trở lại các thể chế, thiết chế văn hóa, MTVH, nơi nó được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển
ĐSVHTT không trùng với đời sống tinh thần xã hội ĐSVHTT chỉ là bộ phận
cấu thành chứ không phải là toàn bộ đời sống tinh thần xã hội, bởi đời sống tinh thần xã hội nhấn mạnh cái chung, sự thống nhất về lý trí, tư tưởng, tình cảm, ước nguyện… của cả một cộng đồng, dân tộc chứ không chỉ là những cái riêng, nhu cầu, sở thích, ham muốn cá nhân như thường thấy trong ĐSVHTT ĐSVHTT, do
đó, tự nó mặc định những khác biệt mang tính khách quan về tầng lớp, thế hệ, về tâm sinh lý, đặc thù nghề nghiệp của các chủ thể…
Trang 108
Từ thực tế trên, chúng tôi đưa ra quan niệm về ĐSVHTT của học sinh THPT
như sau: ĐSVHTT của học sinh THPT là ĐSVHTT của một nhóm xã hội đặc thù (học sinh cấp cuối bậc học phổ thông), bao gồm tổng thể các mong muốn, khát vọng bên trong và hoạt động văn hóa tinh thần thực tiễn bên ngoài nhằm hướng tới đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của lứa tuổi và nhiệm vụ học tập, rèn luyện, phấn đấu cũng như mơ ước, khát vọng tương lai của họ
2.2 CẤU TRÚC ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Khác với cấu trúc ĐSVH xã hội nói chung (bao gồm bốn thành tố có quan hệ chặt chẽ: chủ thể văn hóa, hoạt động văn hóa, thể chế văn hóa, môi trường văn
hóa), cấu trúc ĐSVHTT của học sinh THPT được luận án xác định là toàn bộ nhu cầu VHTT, hoạt động VHTT, sản phẩm và khả năng lưu giữ, quảng bá, trao đổi, hưởng thụ các sản phẩm VHTT của học sinh THPT trong MTVH tương ứng, phù hợp với đặc thù, khả năng của học sinh THPT Các nhu cầu, hoạt động, sản phẩm
đó phản ánh chân dung con người VHTT bên trong của chủ thể MTVH tương ứng, phù hợp bao quanh ĐSVHTT của chủ thể là MTVH chịu sự tác động của gia đình, nhà trường và xã hội (trong đó có cả truyền thống văn hóa dân tộc, gia đình, cộng đồng; các thiết chế văn hóa, quy chế, quy định áp dụng với học sinh và học đường) Theo đó, sơ đồ ĐSVHTT của học sinh THPT được phác họa như sau:
2.2.1 Nhu cầu văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông
Xét về nhu cầu VHTT, hơn bất cứ nhóm chủ thể nào, học sinh THPT là nhóm
chủ thể có nhu cầu cao về các hoạt động sáng tạo cũng như vui chơi giải trí, hoạt động thể dục thể thao, giao lưu, học tập, hưởng thụ, trao đổi các giá trị văn hóa Học sinh THPT có nhu cầu được tìm hiểu, khám phá cái mới, cái mình thích, mình còn thiếu và ở một mức độ nhất định, đã có khả năng tiếp nhận, sáng tạo chúng
Nhu cầu
Môi trường VHTT Chủ thể VHTT
Trang 119
Học sinh THPT cũng có nhu cầu rất cao được giãi bày, tâm sự, thể hiện bản thân mình Sự chân thành, tin cậy, chia sẻ luôn được các em coi trọng
Bên cạnh đó, như bất kì chủ thể nào khác, học sinh THPT còn có nhu cầu được
nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, chẳng hạn chơi games, xem ca nhạc, xem phim, đọc sách, tán gẫu với bạn bè, đi picnic, chơi thể thao, xem tivi, lướt web
Tất cả những điều này cho thấy, mọi nhu cầu, sở thích, nguyện vọng, mong muốn, đòi hỏi của học sinh THPT đều là chính đáng, song các nhu cầu đó đều phải căn cứ vào thực tiễn, vào năng lực của bản thân và các điều kiện có thể đáp ứng nó
2.2.2 Hoạt động văn hóa tinh thần của học sinh trong nhà trường trung học phổ thông
Hoạt động VHTT của học sinh THPT là hoạt động tự thân, tự nguyện, nhưng không tách rời hoạt động chung của lứa tuổi, của MTVH học đường Có thể phân chia các dạng hoạt động VHTT của học sinh THPT như sau:
Một là, hoạt động sáng tạo các giá trị VHTT Các hoạt động sáng tạo phổ
biến gồm: nghiên cứu khoa học, sáng tác, tham gia các CLB sáng tạo; cuộc thi khéo tay hay làm, nấu nướng, trang điểm, cải tiến đồ dùng, dụng cụ học tập; tham gia biểu diễn nghệ thuật
Hai là, hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ các giá trị VHTT Dạng hoạt
động này thường rất phong phú về hình thức, tùy thuộc vào nhu cầu, sở thích, thói quen và điều kiện của chủ thể, chẳng hạn: nghỉ ngơi thư giãn, vui chơi giải trí, tập thể dục thể thao, tham gia lễ hội, thưởng thức các loại hình nghệ thuật, đi du lịch, mua sắm, tín ngưỡng v.v…
Ba là, hoạt động lưu giữ, bảo tồn, trao đổi, phát huy các giá trị, sản phẩm văn hóa Với học sinh THPT, hoạt động này còn hạn chế, do nhiều nguyên nhân Đa
số học sinh THPT đã có ý thức trân trọng, giữ gìn, bảo tồn cảnh quan, môi trường,
các giá trị văn hóa , nhưng hiệu quả của hoạt động này chưa cao
2.2.3 Sản phẩm văn hóa tinh thần của học sinh trung học phổ thông
Sản phẩm VHTT của học sinh THPT gồm 2 loại: các sản phẩm do yêu cầu từ chương trình học tập và các sản phẩm do các em tự sáng tạo
Loại thứ nhất là các sản phẩm hữu hình học sinh THPT tạo ra trong quá trình học tập, đó là những công trình nghiên cứu khoa học, đồ dùng, vật liệu phục vụ học tập, sản phẩm từ các cuộc thi khéo tay hay làm, các sáng tác văn thơ trong chương trình học tập
Trang 1210
Các sản phẩm VHTT do học sinh tự sáng tạo là kết quả của sự ham mê, tìm
tòi, sáng tạo, mang dấu ấn sở thích, năng lực, nhu cầu cá nhân và có ý nghĩa lớn về tinh thần Gần đây, việc khuyến khích, tạo điều kiện phát huy năng lực sáng tạo của học sinh THPT nói chung, học sinh THPT Hà Nội nói riêng đã bắt đầu được chú ý và đã có một số kết quả nhất định
2.3 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HÀ NỘI
2.3.1 Đặc điểm học sinh trung học phổ thông Hà Nội
2.3.1.1 Học sinh trung học phổ thông Hà Nội có sự phát triển về tâm sinh lý sớm hơn so với lứa tuổi
Theo khảo sát, tìm hiểu của tác giả luận án, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực… của học sinh THPT Hà Nội nói chung và bốn trường được khảo sát nói riêng (kết quả khám sức khỏe định kì hàng năm do bộ phận y tế học đường các trường cung cấp) dường như đã vượt trước ngưỡng 2020
Sự dậy thì, phát triển về thể chất của học sinh THPT Hà Nội kéo theo nhiều diễn biến tâm lý phức tạp, khó kiểm soát, song nó cũng đồng thời đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ về trí tuệ, tư duy, tình cảm và giao tiếp Các em có khả năng phán đoán cao; độc lập, chủ động, sáng tạo trong nhận thức và giải quyết vấn đề khá nhanh
2.3.1.2 Học sinh trung học phổ thông Hà Nội có ý thức tự vấn cao
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển tính cách của học sinh
THPT Hà Nội Điều này xuất phát từ thực tiễn môi trường, điều kiện, áp lực cụ thể của Thủ đô
Đi kèm với tự ý thức là khả năng tự đánh giá, điều chỉnh, nó không chỉ giúp các
em thấy rõ hơn những thiếu hụt cần bổ khuyết, những ưu thế, năng lực cần phát huy,
mà còn giúp các em tự tin hơn khi muốn khẳng định, thể hiện vị trí, vai trò “người lớn” của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội, nhất là trong các hoạt động tập thể
2.3.1.3 Học sinh trung học phổ thông Hà Nội sớm hình thành thế giới quan và lí tưởng sống
Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhận thức So với các thế hệ trước đây, học sinh THPT Hà Nội hiện nay do thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều vấn đề phức tạp của thực tiễn xã hội và chính bản thân mình nên đã sớm
có quan điểm, chính kiến, thái độ, lối sống rõ ràng Ở một mức độ nào đó, điều này có thể coi là dấu hiệu của sự trưởng thành về nhận thức và nhân cách
2.3.1.4 Học sinh trung học phổ thông Hà Nội có thái độ, tình cảm và khả năng giao tiếp tốt, tính tự lập cao
Do ý thức về bản thân đã phát triển mạnh, nên lứa tuổi học sinh THPT khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc
Trang 13Đời sống tình cảm của học sinh THPT Hà Nội nói chung, rất phong phú và đa dạng Quan hệ bạn bè được coi trọng Các em đều muốn chứng tỏ, khẳng định vị thế, vai trò của bản thân trong tập thể và trong lòng bạn bè; muốn được thừa nhận
và tôn trọng Nảy sinh nhu cầu về tình bạn khác giới mà người ta gọi là tình yêu học trò Tuy chưa có gì sâu đậm, song đã xuất hiện nhiều trường hợp bồng bột, đi quá giới hạn, để lại những hậu quả đáng tiếc
2.3.1.5 Học sinh trung học phổ thông Hà Nội có vị thế nhất định trong gia đình, nhà trường và xã hội
Vị thế trong gia đình
Thường tồn tại trong các gia đình Việt Nam hiện nay hai hiện tượng: bao bọc thái quá và dễ dãi, buông lỏng thái quá Tuy nhiên, với học sinh THPT Hà Nội, mức độ của cả hai hiện tượng này đang dần được thu hẹp; tính chất của sự phụ thuộc cũng thay đổi, các em đã có vị thế lớn hơn, được coi trọng như là một thành viên chính thức trong gia đình
Vị thế trong nhà trường
Sinh hoạt trong môi trường học đường THPT tại Thủ đô, các nhu cầu và hoạt động VHTT của học sinh có điều kiện để bộc lộ, thể nghiệm đầy đủ, được khuyến khích tạo điều kiện và thực tế là rất tự giác, rất phong phú sôi động Từ vị thế học hỏi, tiếp nhận tham vấn, các em đã có thể chủ động mang những gì mình tiếp nhận được tham vấn cho các đối tượng khác Đây là những tín hiệu tốt, những thay đổi rất đáng ghi nhận
Vị thế trong xã hội
Về nguyên tắc, học sinh THPT chưa bị quy định, ràng buộc bởi các trách nhiệm với gia đình và xã hội, bởi luật pháp (ngoài các khuôn khổ, quy định của gia đình, nhà trường), tuy nhiên, gắn với sự “bảo hộ”, ưu đãi vẫn là các trách nhiệm, nghĩa vụ cần tuân thủ
Vị thế xã hội của học sinh THPT Hà Nội đang được khẳng định bằng việc tham gia các hoạt động thực tiễn Phối hợp, sát cánh cùng các tổ chức thanh niên, sinh viên trên địa bàn nói riêng và Hà Nội nói chung, các hoạt động thiết thực của các em đang từng bước làm thay đổi diện mạo nhà trường THPT nói chung và ngành giáo dục Hà Nội nói riêng