1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của phật giáo nam tông đến đời sống tinh thần của người khmer ở an giang hiện nay

117 688 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù còn những hạn chế nhất định, song ảnh hưởng tích cực mà Phật giáo Nam tông mang lại thực sự có ý nghĩa to lớn, góp phần xây dựng xã hội và đời sống tinh thần người dân Khmer trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



HUỲNH THỊ QUỲNH GIAO

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER

Ở AN GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



HUỲNH THỊ QUỲNH GIAO

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER

Ở AN GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8

5 Giả thuyết khoa học 8

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 9

9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 9

10 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG 1.1 Khái luận về Phật giáo Nam tông 11

1.1.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Nam tông ở An Giang 11

1.1.2 Nội dung cơ bản của Phật giáo Nam tông 29

1.1.3 Đặc điểm của Phật giáo Nam tông ở An Giang 38

1.2 Đời sống tinh thần và đặc điểm đời sống tinh thần của người Khmer ở tỉnh An Giang 42

1.2.1 Khái niệm và cấu trúc đời sống tinh thần 42

1.2.2 Đặc điểm đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang 44

Trang 4

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐẾN

ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1 Thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến một số lĩnh vực đời sống tinh thần của người Kkmer ở An Giang hiện nay 53

2.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống chính trị của

người Khmer ở An Giang hiện nay 53 2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến lễ hội của người Khmer

ở An Giang hiện nay 62 2.1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến tín ngưỡng, phong tục,

tập quán của người Khmer ở An Giang hiện nay 67

2.2.Một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay 78

2.2.1 Phát triển kinh tế- xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần cho người Khmer ở An Giang 78 2.2.2 Phát huy vai trò của các sư sải, tín đồ người Khmer theo Phật

giáo Nam tông thực hiện tốt phương châm của GHPGVN: "Đạo pháp- Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội" 89 2.2.3 Đấu tranh chống những hiện tượng lợi dụng Phật giáo, gây ảnh

hưởng xấu đến đời sống xã hội 100

KẾT LUẬN 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109109

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay, có sức lan tỏa rộng rãi, đặc biệt ở Châu Á Đạo Phật với tư tưởng vô thường, vô ngã, nhân quả, nghiệp báo và triết lý nhân sinh từ, bi, hỷ, xả, cứu khổ, cứu nạn, đứng về phía người nghèo khổ trong học thuyết Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chính đạo gần gũi và phù hợp với triết lý đạo đức nhân sinh, cũng như phong tục, tập quán, tín ngưỡng của Người Việt Quan niệm phúc đức, nhân ái, vị tha, hòa hiếu của Phật giáo đã được đông đảo người Việt tiếp nhận.Trong các tôn giáo du nhập vào nước ta thì Phật giáo là tôn giáo bám rễ sâu nhất, bền chắc nhất và góp phần xây dựng nên truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó của dân tộc ta, có vai trò quan trọng trong việc hình thành tâm lý, lối sống, đạo đức của con người Việt Nam

An Giang là vùng đất đậm đặc tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo Đạo Phật tồn tại trong 3 cộng đồng người Việt, người Khmer và người Hoa.Trong đó, người Khmer ở An Giang có dân số khá đông là 90.411 người, xếp thứ 2 (Chỉ sau người Kinh) trong cơ cấu dân số chung của tỉnh và có tới khoảng 85.000 người Khmer theo đạo Phật Với tư cách là một chính giáo của người Khmer, Phật giáo Nam tông có vai trò và vị trí quan trọng, có tầm ảnh hưởng và chi phối lớn đến mọi lĩnh vực đời sống từ vật chất đến tinh thần của người Khmer ở Nam bộ nói chung, ở An Giang nói riêng Đó là một tôn giáo mang tính quần chúng, nó không đơn thuần là thần luận, mà chủ yếu là thứ đạo đức luận, hướng đến việc “tốt đạo - đẹp đời

Hiện nay, phần lớn người Khmer ở An Giang tin theo Phật giáo, lấy đó làm một trong những lẽ sống của mình, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để điều chỉnh hành vi, xử lý các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội Phật giáo Nam tông đã tạo cho người Khmer ở An Giang

Trang 6

một đời sống tinh thần phong phú, độc đáo, mang bản sắc riêng góp phần vào

sự đa dạng trong nền văn hóa đất nước Tuy nhiên, niềm tin tôn giáo nhiệt thành ấy cũng từng bị các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, gây nhiều khó khăn cho công tác giáo dục, tuyên truyền, quản lý của chính quyền, đôi lúc còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Với một bề dày lich sử không quá dài nhưng cũng không quá ngắn, Phật giáo Nam tông đã gia nhập vào trong đời sống người dân Khmer như một yếu tố của truyền thống đạo đức Mặc dù còn những hạn chế nhất định, song ảnh hưởng tích cực mà Phật giáo Nam tông mang lại thực sự có ý nghĩa

to lớn, góp phần xây dựng xã hội và đời sống tinh thần người dân Khmer trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay” làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông nói riêng là mảng đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả ở các góc độ khác nhau Có thể tạm sắp xếp các nghiên cứu đó vào hai nhóm công trình sau đây:

2.1.Các công trình nghiên cứu liên quan đến Phật giáo nói chung

Trong nhóm công trình này, trước hết phải kể đến một số tác giả và tác

phẩm tiêu biểu như Lương Khải Siêu với cuốn “Lược khảo Phật giáo Ấn Độ” (1957), Nxb Phật học; Trần Đăng Sinh, Đào Đức Doãn có cuốn“Giáo trình Tôn giáo học” (2005), Nxb ĐHSP Hà nội; Tác giả Thích Mật Thể với công trình “Thế giới quan Phật giáo” (1967), Nxb Vạn Hạnh; Nguyễn Tài Thư (Chủ biên,1991) với “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”, Nxb Viện Triết học Hà

Nội.Trong những công trình này, các tác giả đã trình bày, phân tích những tư tưởng cơ bản của Phật giáo trong quá trình hình thành, du nhập và phát triển

Trang 7

của nó Từ đó đánh giá vị trí, vai trò của Phật giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Ngoài ra, còn có các công trình của Tịnh Vân“Phật giáo và nhân sinh” (2011), Nxb Hồng Đức; Thích Chúc Phú (2013), “Vài vấn đề về Phật giáo và nhân sinh”;Nxb Hồng Đức; Hoàng Ngọc Vĩnh (2011),“Nhân sinh quan Phật giáo qua góc nhìn của lịch sử triết học’; Nguyễn Hùng Hậu, “Một số suy nghĩ

về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy người Việt”, Tạp chí Triết học số

5/1996 Nhìn chung, các công trình này đều nghiên cứu về Phật giáo dưới góc

độ nhân sinh quan và những ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của con người hiện nay

2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Phật giáo Nam tông và những ảnh hưởng của nó đến đời sống của người Khmer Nam bộ

Chủ đề về Phật giáo Nam tông và những ảnh hưởng của nó đến đời sống tinh thần của người Khmer Nam bộ cũng được nhiều tác giả dụng tâm nghiên cứu Trong mảng đề tài này, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau

Nghiên cứu về Phật giáo Nam tông tác giả Nguyễn Mạnh Cường có

cuốn Phật giáo Khơ me Nam Bộ - Những vấn đề nhìn lại, (2008), Nxb Tôn

giáo Công trình này đã cho thấy tư tưởng tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Nam tông Khmer (Theravada) đóng vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo của đồng bào dân tộc Khmer và cũng đã phản ánh được những nét văn hóa độc đáo trong văn hóa của cộng đồng người Khmer Nam Bộ Đồng thời, công

trình Nhựt hành của người tại gia tu Phật của Tỳ khưu Hộ Tông cùng được

ấn hành bởi Nxb Tôn giáo (2006) cũng rất đáng chú ý Với tác phẩm này, Tỳ khưu Hộ Tông đã khái quát những quy định của Phật giáo Nam tông Khmer đối với những người Khmer tu tại gia Với ý niệm cầu nguyện cho chúng sanh đừng thù oán lẫn nhau, đừng có sự khổ não, hãy hòa hảo với nhau, thương

Trang 8

yêu nhau cho được yên vui lâu dài, dứt khỏi sanh tử luân hồi, bất sanh, bất diệt

Ngoài ra, còn có Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phật giáo Nam tông Khmer đồng hành cùng dân tộc (6/2014), Viện nghiên cứu Tôn giáo- Viện Hàn lâm

Khoa học xã hội Việt Nam và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Kỷ yếu với nhiều bài viết, tổng số hơn 200 trang đã đi vào nghiên cứu lịch sử du nhập, phát triển của Phật giáo Nam tông Khmer vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long Sự biến đổi và những diễn biến hiện nay của Phật giáo Nam tông Khmer trước những ảnh hưởng của điều kiện lịch sử mới

Liên quan đến sự ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh

thần của người Khmer Nam bộ có công trình: Phan Thị Phượng (2009), Ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống tinh thần của người Khmer Sóc Trăng hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Hành chính - Quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Từ việc trình bày thực trạng ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer ở Sóc Trăng tác giả luận văn đã nêu ra một số giải pháp khắc phục hạn chế trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa và công tác cán bộ

Riêng về người Khmer và đời sống tinh thần của người Khmer có các công trình nghiên cứu của Trần Văn Bổn, Nguyễn Khắc Cảnh và một số tác

giả khác Trong cuốn Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ,

(2002), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội tác giả Trần Văn Bổn đã khái quát một

số đặc điểm về phong tục và lễ nghi trong cuộc đời của người Khmer từ xa xưa cũng như trong giai đoạn hiện nay Còn Nguyễn Khắc Cảnh với công

trình Phum Sóc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, (1998) Nxb Giáo dục lại

trình bày quá trình hình thành và phát triển Phum, Sóc của người Khmer ở

đồng bằng sông Cửu Long Liên quan đến chủ đề này, tuyển tập “Tìm hiểu

Trang 9

vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ”, Nxb Tổng hợp Hậu Giang của nhiều

tác giả với trên 20 bài tham luận cũng là một tài liệu đáng chú ý Các bài tham luận đã tập trung giới thiệu người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trên các mặt: Dân số - địa bàn cư trú - tổ chức xã hội - sản xuất nông nghiệp - giao lưu văn hóa và một số loại hình văn hóa của người Khmer bắt nguồn từ Phật giáo Nam tông Khmer

Liên quan đến nội dung này còn có bài viết của Võ Văn Thắng, Nguyễn

Hùng Cường, Nguyễn Thị Ngọc Thơ, Lễ hội tôn giáo của người Khmer Tây Nam bộ - Nhìn từ góc độ giá trị, đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 5,

2015 Trong đó tác giả đề cập đến những nét đặc trưng của các lễ hội tôn giáo trong chùa của người Khmer Tây Nam bộ thông qua một số lễ hội như: lễ Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y,… qua đó, góp phần làm nổi bật vai trò và mối quan hệ giữa lễ hội và tôn giáo, tín ngưỡng, giữa Phật giáo Nam tông và cộng đồng dân tộc Khmer Tây Nam Bộ

Các công trình khoa học nêu trên với cách tiếp cận về đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu và ứng dụng khác nhau, song nhìn chung đã đề cập đến nhiều khía cạnh của Phật giáo Nam tông cũng như ảnh hưởng của nó Dù vậy, chưa thấy công trình nào trực tiếp nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của cộng đồng người Khmer ở An Giang trong giai đoạn hiện nay để từ đó nêu ra những giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực do tôn giáo này mang lại Đó là khoảng trống mà luận văn này muốn nghiên cứu và bổ khuyết Những tư liệu trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo trong quá trình viết luận văn

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay, luận văn đưa ra

Trang 10

một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo này

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu của luận văn

Phật giáo Nam Tông và đời sống tinh thần của người Khmer Nam bộ

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang trong giai đoạn hiện nay

5 Giả thuyết khoa học

Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân Nam bộ nói chung và cộng đồng người Khmer nói riêng Song ảnh hưởng đó cũng có tính hai mặt Bởi vậy, từ việc nghiên cứu các nội dung cơ bản của Phật giáo Nam tông, luận văn làm sáng tỏ thực trạng ảnh hưởng của triết thuyết tôn giáo này đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang

và đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó Việc thực thi hiệu quả các giải pháp mà đề tài đã nêu sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn góp phần định hướng và làm phong phú đời sống tinh thần người Khmer ở An Giang trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn xác định những nhiệm vụ sau đây:

Một là:Trình bày khái lược về quá trình du nhập, phát triển của Phật

giáo Nam tông ở An Giang

Hai là: Phân tích thực trang ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời

sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay

Ba là: Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát

huy ảnh hưởng tích cực của nó để góp phần xây dựng xã hội và đời sống tinh

Trang 11

thần người dân Khmer ở An Giang trong giai đoạn toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về những ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay trên một số bình diện chủ yếu như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội tâm linh

và chính trị

Các số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu chúng tôi chủ yếu lấy từ năm

2010 đến năm nay

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin, các phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học và kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phân tích và tổng hợp, lôgíc -lịch

sử, khái quát hóa, trừu tượng hóa

9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

9.1 Những luận điểm cơ bản

- Sự du nhập, phát triển và nội dung cơ bản của Phật giáo Nam tông ở

An Giang

- Thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đến đời sống chính trị,

lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Khmer ở An Giang hiện nay

- Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo Nam tông đến đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang hiện nay

9.2 Những đóng góp của luận văn

- Về mặt khoa học: Luận văn góp phần lí giải thấu đáo hơn về những

giáo lý cơ bản của Phật giáo Nam tông và đặc điểm tình hình Phật giáo Nam

Trang 12

tông ở An Giang làm cơ sở cho việc đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm kiến tạo đời sống tinh thần của người dân Khmer ở An Giang phù hợp tiến trình xây dựng đất nước Việt Nam ngày nay

- Về mặt thực tiễn: Những phân tích và đánh giá về nội dung của Phật

giáo Nam tông, sự ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần của người Khmer ở An Giang và những giải pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của nó có thể cung cấp cho các cấp Đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể của địa phương những căn cứ khoa học để đề ra những chủ trương, chính sách trong công tác tôn giáo hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về Phật giáo Nam tông ,tham khảo, học tập hoặc giảng dạy các môn tôn giáo học, văn hóa học,triết học

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 13

Chương 1 PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN

CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG

1.1 Khái luận về Phật giáo Nam tông

1.1.1 Về sự hình thành, du nhập và phát triển của Phật giáo Nam tông ở An Giang

1.1.1.1 Vài nét về sự ra đời của Phật giáo

Phật giáo hiện nay là một trong số các tôn giáo lớn trên thế giới, sự ra đời của Phật giáo gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái tử Cù-đàm Tất - đạt- đa (Gotama Sid-dhattha Gautama), sinh khoảng năm 663 tr.CN, con đầu lòng của vua Tịnh-phạn (Suddhodana) và Chánh cung hoàng hậu Mada (Mahãmayãdevĩ) nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), thuộc vương tộc Thích- ca(Sakya hay Sakija), ở chân núi Hymalaya - miền đất bao gồm phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay

Ngay từ thuở nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa sống trong nhung lụa, không tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề thấy và không biết rằng trong cuộc đời còn có những đói khát, bệnh tật, già yếu, chết chóc

Năm 17 tuổi, Ngài kết hôn với công chúa thành Câu-tát-la (Kosala) là Da-du-đà-la (Yasothra) sinh một con trai là La-hầu-la (Rabula) Từ đó, Thái

tử mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn hoàng cung, những cuộc tiếp xúc bất ngờ với những cảnh nghèo đói, già yếu, bệnh tật, chết chóc

đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài

Năm 29 tuổi, Ngài quyết định rời bỏ ngôi cao quyền lực, rời bỏ cuộc sống nhung lụa, xa hoa để dấn thân vào con đường tu khổ hạnh, mong tìm sự giải thoát nổi khổ đau của cuộc đời con người, của chúng sinh

Trước hết, ngài gặp hai vị ẩn sĩ ở trong rừng là Alara Kalama và

Trang 14

Uddaka Ramaputta (Uất- đầu- lâm- phất) Hai ẩn sĩ này lần lượt chỉ ngài tu tập các phương pháp thiền định Sau một thời gian tu tập bằng các phương pháp thiền định, ngài thấy đây chưa phải là con đường cứu cánh của giải thoát

vì thế ngài quyết định tự mình ẩn vào rừng sâu, trải qua 6 năm khổ hạnh ép xác đến độ chỉ còn xương bọc da cùng với 5 người bạn nữa là nhóm Kiều- trần- như ở núi Tuyết Sơn cuối cùng cũng kiệt lực mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và cũng không nhận thức được chân lí, không tìm ra lẽ đạo Do đó, ngài dứt quyết đoạn tuyệt phương pháp này, ngài nghiệm ra rằng cuộc sống vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không

giúp tìm được con đường giải thoát; chỉ có con đường Trung đạo là con

đường đúng đắn nhất cho sự giải thoát nỗi khổ đau trong cuộc đời con người

Do đó, Ngài tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lí và bỏ lối tu khổ hạnh, đi sâu vào tư duy trí tuệ

Sau 49 ngày suy tư thiền định dưới gốc cây Bồ đề (bodhi) tại làng

Uruvela, ngài đắc đạo vào năm 35 tuổi Ngài tuyên bố đã đến được với chân

lí, hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn của khổ và con đường giải thoát

chúng sinh Ngài tự xưng là Phật (Buddha - có nghĩa là giác ngộ) Người đời thường gọi Ngài là Thích Ca mâu ni (bậc Thánh của dòng họ Thích Ca)

Sau khi giác ngộ, ngài vân du khắp các nước ở miền Đông Ấn, dọc theo lưu vực sông Hằng để truyền bá đức tin, thành lập các đoàn truyền giáo với những giáo lý sâu sắc, đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự tự giải thoát; lễ nghi đơn giản, không tốn kém như đạo Bà la môn, nên nhanh chóng thu hút được nhiều tín đồ Trải qua 45 năm thuyết pháp, đến năm 483 trước Công nguyên Ngài nhập diệt (chết) lúc 80 tuổi (Phật lịch) tại Câu- thi- na (Kusinara) trong rừng Sa-la Những giáo pháp của ngài được các đệ tử duy trì, bảo vệ và truyền bá qua nhiều lần kiết tập để xác định lại những lời phật dạy, Phật kinh nhờ đó được thành lập dần dần Ban đầu chỉ là truyền khẩu, sau đó được viết

Trang 15

nên văn tự Hai thứ văn tự căn bản là tiếng Bắc Phạn (Sankrit) và Nam Phạn (Pà li) Phật kinh được tổ chức thành 3 tạng là Kinh, Luật và Luận Tạng Bắc Phạn truyền vào Tây Tạng và theo ngã Trung Á rồi sang Trung Hoa Nam Phạn theo đường biển truyền vào các nước ở vùng Đông Nam Á Những giáo

lý, tư tưởng của đức Phật được lưu truyền và vận dụng vào trong cuộc sống của con người cho đến ngày hôm nay

Giáo lý Phật giáo ngay từ khi mới ra đời vốn không phân chia Nam tông - Bắc tông cũng như Trưởng lão bộ hay Đại chúng bộ như người đời thường hay quan niệm Giáo lý Phật giáo được trình bày từ thấp đến cao để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể đồng thời phù hợp với từng đối tượng tiếp thu Do đó, trong toàn bộ giáo lý Phật giáo chỉ riêng Tạng kinh hay còn gọi là Đại Tạng Kinh được chia thành nhiều bộ khác nhau theo trình tự thang bậc

Đồng thời, sự truyền đạt giáo lý Phật giáo đến với mọi người cũng tùy thuộc vào đối tượng tiếp nhận, theo từng khía cạnh mà người tiếp nhận và vận dụng vào trong cuộc sống Sự tiếp nhận giáo lý Phật giáo trong từng thời kỳ cũng thể hiện nhiều đặc điểm khác nhau tùy thuộc trong từng khu vực, quá trình thẩm thấu của giáo lý Phật giáo cũng thể hiện những nét khác nhau Vì vậy, việc phân chia hệ phái Phật giáo trong lịch sử phát triển cũng có những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định

Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt khoảng 100 năm, trong hàng đệ tử Phật có tư tưởng muốn thay đổi một số điều trong giới Luật mà Phật Thích

Ca chế định cho phù hợp với sự tiến hóa của lịch sử và phù hợp với điều kiện hiện tại Tư tưởng này được đưa ra bàn luận tại cuộc kết tập kinh điển lần thứ

ba Song, kết cục là các vị Tăng già trong hàng Trưởng lão đã không tán thành với kiến nghị sửa đổi của phái tân tiến mà phái này lại chiếm số đông

và đều là những vị Tỳ khưu trẻ Sau khi không thống nhất được ý kiến, các vị

Trang 16

Tỳ khưu trẻ đã tự động tách ra thành một hệ phái riêng gọi là “Đại chúng bộ” (Hệ phái số đông); các vị Tỳ khưu già (Trưởng lão) giữ nguyên những điều giới luật như thời kỳ đầu Phật Thích Ca chế định Những vị Trưởng lão (Tăng già), thuộc hàng tôn túc thường ngồi trên để chủ tọa các pháp hội nên được gọi là “Thượng Tọa bộ”

Từ đó, hàng đệ tử xuất gia của Phật Thích Ca tách thành hai phái hay được các nhà kinh điển gọi là “Hai hệ tư tưởng” đó là “Đại chúng bộ” và

“Thượng Tọa bộ” Phái Đại chúng bộ truyền sang Trung Quốc rồi truyền vào Triều Tiên, Nhật Bản và miền Bắc Việt Nam được gọi là “Bắc truyền” hay

“Bắc tông” Phái Đại chúng bộ chủ trương linh hoạt, khoan dung trong giới luật, không cố chấp vào từng chữ trong kinh để rút ra những bài học về triết

lý thực hành Đại chúng bộ chủ trương nhập thế, phổ độ chúng sinh, làm cho chúng sinh cùng giác ngộ như mình, có nghĩa là: Tự độ, độ tha; Tự giác, giác tha Vì thế phái Đại chúng bộ còn được gọi là Phật giáo “Đại thừa” Phái Thượng Tọa bộ truyền qua Sri Lanca, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia vào Nam Việt Nam nên gọi là Phật giáo “Nam truyền” hay “Nam tông” Phái này chủ trương giữ giới luật nghiêm túc và chủ trương tự độ, tự giác- tự độ cho mình ra khỏi vòng luân hồi sinh tử và tự giác ngộ cho mình (Ai tu người

đó chứng quả) Từ ý nghĩa đó nên Thượng Tọa bộ còn được gọi là Phật giáo

“Tiểu thừa”

1.1.1.2 Quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông vào Nam Bộ - An Giang

* Quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông vào Nam bộ

Phật giáo Nam tông là thành viên thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Song, Phật giáo Nam tông ở Nam bộ lại bao gồm Phật giáo Nam tông của người Khmer và Phật giáo Nam tông của người Kinh Trong luận văn này,

Trang 17

liên quan đến đề tài nghiên cứu chúng tôi dùng cụm Phật giáo Nam tông là để nói đến Phật giáo Nam tông của người Khmer đang sinh sống ở An Giang

Phật giáo đến với đồng bào Khmer khá sớm Một số tài liệu cho rằng trước đây thời vương quốc Phù Nam (thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII - SCN),

cả Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông theo các thương gia Ấn Độ truyền vào nhưng Phật giáo Bắc tông không thành công, còn Phật giáo Nam tông chỉ dựng được một số cơ sở Phải đợi đến thế kỷ VIII – XVI, Phật giáo Nam tông mới cùng người Khmer thâm nhập vào vùng đất Nam Bộ (lúc này gọi là Thuỷ Chân Lạp) Cụ thể, vào thời kỳ vương quốc Phù Nam, nơi đây là một trung tâm giao lưu buôn bán đường biển giữa Ấn Độ với các nước Đông Nam Á Do đó, vương quốc này chịu ảnh hưởng lớn bởi văn hoá Ấn Độ, như

nhà nghiên cứu Lương Ninh trong Nước Phù Nam đã khẳng định: Sự thực

thì đồng bằng sông Cửu Long, nước Phù Nam là trung tâm tiếp nhận và phát triển văn hóa Ấn Độ, trong đó có tôn giáo, đạo Phật và đạo Hinđu cũng là địa bàn phát triển nghệ thuật tượng thờ rất phong phú, đẹp và đặc sắc bậc nhất Nơi đây, hội tụ con đường buôn bán và giao lưu văn hóa từ Phù Nam lên, ngược dòng Mê Kông, từ cánh đồng Chum xuống, xuôi dòng, từ đồng bằng sông Mê Nam sang đường Khorat, từ vùng biển Sa Huỳnh, Việt Nam đến Nam Trường Sơn Trước khi phật giáo du nhập, đạo Bà la môn đã được truyền đến Phù Nam Sau vương triều Phù Nam là vương triều Chân Lạp, Phật giáo Bắc tông đã đi theo các thương gia Ấn Độ đến xứ sở này và một thời hình thành ở đây Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, Phật giáo hệ phái Bắc tông đã dần bị mai một trong đời sống tinh thần của người Khmer

So với Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông du nhập vào Việt Nam muộn hơn nhiều Theo một số tài liệu nghiên cứu thấy rằng cho vào thế kỷ XIII, tại Srilanca Phật giáo Nam tông phát triển rất mạnh và có xu thế đưa các tăng đoàn đi sang các quốc gia khác để mở rộng phật giáo hệ này Cho nên,

Trang 18

cuối thế kỷ này, tăng nhân người Thái lại đưa tăng đoàn Srilanca vào phát triển ở vùng đồng bào Khmer tại khu vực miền Tây Nam bộ Kể từ đây, Phật giáo Nam tông từ Srilanca truyền xuống thay cho Phật giáo Bắc tông Phật giáo Nam tông, với giáo lý sơ khởi là hướng dẫn thực hành phù hợp với đồng bào dân tộc Khmer, người tiếp nhận không cần phải có trình độ cao, không cần lý luận mà tất cả đều được cầm tay chỉ việc, còn giáo luật thì thiên về ngăn cấm không được biết, không được làm, không được đến gần… để tránh những điều không hay xảy ra đối với người đi tu vì thế Phật giáo Nam tông được người Khmer nhiệt tình đón nhận Việc tiếp nhận Phật giáo Nam tông đối với người Khmer ở Nam Bộ là một thực tế khách quan, đã được thử thách

và sàng lọc Sự tiếp nhận triết lý sống của Phật giáo Nam tông trong đời sống hiện thực của đồng bào Khmer chính là thể hiện tính phù hợp của triết lý Phật giáo và đời sống của người Khmer ở vùng Nam Bộ Việt Nam Có thể nói, đây

là giai đoạn đánh dấu sự du nhập của Phật giáo Nam tông vào vùng đất Nam

bộ

* Quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông vào An Giang

Theo một số tài liệu nghiên cứu, người Khmer là một tộc người sinh sống từ rất lâu đời ở An Giang cũng như ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, còn gọi là đồng bằng Nam bộ Vùng đất này được hình thành qua nhiều thế kỷ, đến nay chưa thấy có tài liệu nào ghi chép rõ ràng Qua một số nguồn

dữ liệu cho thấy vùng đất này đã được hình thành trên dưới 25 thế kỷ Cùng với quá trình hình thành vùng Châu thổ này là quá trình hình thành vương quốc cổ Phù Nam Qua khảo cứu nền văn minh Óc Eo (hiện nằm tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) cho thấy vương quốc này được hình thành từ sự kết hợp giữa hai nền văn hóa từ Đồng Nai tiến ra vùng đồng bằng và các dân tộc từ hải đảo di cư vào Hai cộng đồng cư dân này đã cùng nhau xây dựng cho mình một vương quốc độc lập - Vương quốc Phù Nam Vương quốc này

Trang 19

hẳn phải rất mạnh bởi các chứng tích vật chất của nó phân bố trên một diện rộng

Theo tài liệu khảo cổ học của Pháp thì vương quốc này xuất hiện vào khoảng đầu công nguyên và kéo dài tới thế kỷ thứ VI - VII (SCN) Khi vương quốc này suy tàn thay vào đó là vương quốc Chân Lạp (Tchella) Quốc gia này ổn định được một thời gian thì xảy ra những cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu Những người thua cuộc đã bỏ chạy về vùng đất mới và gia nhập vào với cư dân vùng này (được gọi là Thủy Chân Lạp), vùng đất này ngày nay thuộc khu vực đồng bằng Nam bộ

Cũng qua nhiều di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo (Ba Thê, Thoại Sơn, An Giang) như di tích kiến trúc chùa Linh Sơn (Linh Sơn Tự) được xây dựng bên trên nền móng của một công trình kiến trúc cổ Trong chùa hiện đang lưu giữ tượng thần Vishnu, hai bia đá và nhiều hiện vật có giá trị; tại địa điểm gò Út Trạch (Thoại Sơn, An Giang), các nhà khảo cổ đã phát hiện một tổng thể kiến trúc gạch, gồm 3 hạng mục chính, được xây thẳng hàng và các đều nhau, dàn trãi theo trục Bắc- Nam, cửa quay hướng Đông…Kiến trúc này nằm trong hệ thống bao tường bao hính chữ nhật, có diện tích khoảng 500 mét vuông Đây là loại hình kiến trúc tôn giáo hoàn toàn mới tại khu vục Óc Eo- Ba Thê và miền Tây Nam Bộ, được xây dựng và sử dụng và cuối thế kỷ VII và thế kỷ VIII- IX sau công nguyên; gò Cây Trôm (Dwl Samron), thuộc địa phận ấp Trung Sơn, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang khi khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện được dấu tích một công trình kiến trúc cổ, xây dựng bằng gạch và nhiều hiện vật gắn với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng (con dấu, bùa đeo) Ngoài ra, còn phát hiện 01 linga bằng đá, cáo 1,7m, niên đại thế kỷ V-VII…

Bên cạnh đó, theo một số tài liệu nghiên cứu, vào cuối thế kỷ XIX ở Cam-pu-chia có một vị Sãi tên là Peah Sau Kom không chịu tuân theo theo

Trang 20

giới luật của phái Nam tông hiện tại vì ông ta cho rằng tuy đây là những giới luật của hệ phái Thượng Tọa bộ nhưng nó không còn giữ nguyên mà đã bị mai một nên đã từ bỏ Phật giáo hiện thời sang Thái Lan tu theo một phái khác

có tên là Thommayudnikay có nghĩa là “đúng theo Phật pháp” Vào năm 1864

vị sư này đã trở lại Cam-pu-chia đem những điều đã tu tập truyền bá nhưng hệ phái này thâm nhập chủ yếu vào giới Hoàng gia Cam-pu-chia lúc bấy giờ Lúc này ở Cam-pu-chia tån tại hai phái thuộc Phật giáo Nam tông là phái Thommayudnikay (còn gọi là phái Hoàng gia) và phái Mahanikay (còn gọi là phái bình dân)

Do phái Thommayudnikay thâm nhập vào được trong giới Hoàng gia nên được nhà vua ủng hộ và tìm cách phát triển Vào khoảng năm 1900, Hoàng tộc Cam-pu-chia đã cử một nhóm sư, sãi sang Việt Nam tìm cách truyền bá hệ phái này Họ mang theo nhiều tiền bạc và sẽ giúp đỡ tài chính cho bất kỳ chùa Nam tông nào ở Việt Nam bỏ phái Mahanikay đi theo phái Thommayudnikay Do An Giang có vị trí tiếp giáp với đường biên giới nên các sư, sãi Cam-pu-chia dễ dàng tiếp cận để lôi kéo sư, sãi ở các chùa này Kết quả ở An Giang có 19/66 chùa Phật giáo Nam tông theo phái Thommayutt (Hoàng Gia), trong đó huyện Tri Tôn có 08 chùa, huyện Tịnh Biên có 09 chùa, huyện Châu Thành 02 chùa

Qua những minh chứng trên, có thế thấy rằng Phật giáo Nam tông của người Khmer được truyền bá vào An Giang từ rất sớm đồng thời có thể khẳng định rằng quá trình du nhập của Phật giáo Nam tông và An Giang gắn với với quá trình du nhập của người Khmer vào Nam bộ nói chung, vào An Giang nói

riêng

1.1.1.3 Quá trình phát triển của Phật giáo Nam tông

Từ khi du nhập, Phật giáo Nam tông đã được người Khmer nồng nhiệt đón nhận và nó trở thành tôn giáo chiếm vị trí độc tôn và là một bộ phận

Trang 21

không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Khmer Đến nay, gần như 100% người Khmer đều theo Phật giáo Nam tông Có thể khái quát quá trình tồn, biến chuyển của Phật giáo Nam tông của người Khmer ở Nam bộ thành các giai đoạn sau:

* Thời kỳ Phong kiến:

Từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn kéo dài suốt 175 năm, trong đó có 45 năm (1627 - 1672) đã diễn ra liên tục bảy trận đánh lớn

Để phục vụ cho những nhu cầu của cuộc chiến tranh này, đồng thời phục vụ lối sống xa hoa quý tộc, triều đình Trịnh - Nguyễn đã thi nhau vơ vét của cải, tài lực của dân chúng, tạo nên cảnh cùng khổ, đói rét lầm than trong dân chúng Ớ xứ Đàng Trong, sự vơ vét, bóc lột, bóp nặn của bọn phong kiến họ Nguyễn thông qua chế độ binh dịch, thuế khóa hà khắc, sự nhũng nhiễu ức hiếp của quan lớn, quan bé, sự cướp đoạt ruộng đất và tô tức nặng nề của bọn địa chủ đã đẩy dân chúng nhất là những nông dân nghèo khổ vào con đường điêu đứng Trong hoàn cảnh ấy, ngoài việc đứng lên đấu tranh chống lại, cư dân Việt (Kinh) chỉ còn một lối thoát duy nhất là rời bỏ quê hương đi tìm vùng đất mới để sống Mà cái đất sống tốt nhất, nơi dung thân lý tưởng nhất đối với họ lúc bấy giờ không đâu chính là vùng đất xa xôi, còn hoang vu ở Đồng Nai - Gia Định xưa, nay chính là vùng Nam Bộ.Người Kinh và người Khmer ở khu vực này lúc bấy giờ sống hòa thuận, hỗ trợ nhau, cùng phát triển

Vào những năm đầu thế kỷ XIX, cuộc đấu tranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong đã đến lúc kết thúc và cùng với sự suy nhược của triều Nguyễn; khi thực dân Pháp bước chân đến xâm lược, phong trào đoàn kết đấu tranh của các dân tộc anh em ở Nam Bộ: Khmer - Việt - Hoa chống lại thực dân phong kiến ngày càng quyết liệt hơn Vào những năm đầu nửa sau thế kỷ

Trang 22

XIX, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng Sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, các vua chúa nhà Nguyễn từ Gia Long (1802 - 1819) đến Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1846),

Tự Đức (1847 - 1882) kế tiếp nhau phục hồi các chế độ phong kiến đang trên bước đường bại vong và củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến hoàn toàn mất hết nhuệ khí Trong hơn nửa thế kỷ nhà Nguyễn không tạo ra được khả năng đưa xã hội Việt Nam phát triển theo chiều hướng tiến bộ Trái lại với những chính sách đối nội và đối ngoại cực kỳ phản động, nhà Nguyễn đã thủ tiêu mọi thành quả của phong trào nông dân ở thế kỷ trước, làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, tạo tiền đề cho sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây và dẫn đến nguy cơ mất nước ở giữa thế kỷ XIX Cùng với đó là chế độ cai trị của thực dân và tay sai tha hồ chia nhau những đất ruộng tốt, hoặc đất thổ cư giàng cất nhà phố

Cũng trong thời kỳ này, ở Thời vua Gia Long (1802 - 1819): Khi chạy

khỏi vương quốc Ăng-ko xuống vùng đất Nam bộ Việt Nam hiện nay định cư, người Khmer không có họ nên khi con được sinh ra thì lấy tên của cha đẻ mình làm hä và cứ tiếp tục như thế, con mình lại lấy tên mình làm họ cho cháu nên người Khmer không thể truy tìm được gia phả của mình Đến thời vua Gia Long (1802 - 1819) Triều đình nhận thấy người Khmer ở đây cần phải có họ để con cháu dễ dàng truy tìm nguồn cội của mình nên vua Gia Long đã ban sắc phong cho người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long 5 họ: Kim, Thạch, Lâm, Sơn, Danh Những họ này được người Khmer rất trân trọng và duy trì cho đến ngày nay Riêng ở An Giang còn có thêm 2 họ khác

đó là Neang (dùng để đặt cho phái nữ) và Chau (dùng để đặt cho phái Nam)

Tình hình Phật giáo Vào thời kỳ này, vua Minh Mạng (1820-1840)

thực hiện chính sách đồng hóa tôn giáo, triều đình muốn thống nhất việc tu

Trang 23

hành của đạo Phật ở Việt Nam, muốn các sư, sãi tu hành theo kiểu Bắc tông nến đã bắt các sư, sãi ở Đồng bằng sông Cửu Long bỏ áo cà sa mặc áo cổ vuông và tu hành cũng như thực hiện chay kỳ như các vị sư phái Bắc tông Chính sách vừa ban hành đã gặp phải sự phản ứng quyết liệt của các vị sư, sãi Khmer, họ cương quyết đấu tranh để được tu hành theo đúng hệ phái của mình Lúc bấy giờ nhiều phong trào nổi dậy chống lại chính sách của triều đình, tiêu biểu như phong trào của nhà sư Sa-Way-Srock, của nhà sư Tessa-Sôm ở Trà Cú (Vĩnh Bình)… Cuối cùng thì triều đình nhà Nguyễn không thực hiện được chính sách đó, các sư, sãi Khơ-me Đồng bằng sông Cửu Long vẫn duy trì cách sinh hoạt tôn giáo theo hệ phái mình cho đến ngày nay

Như vậy, cùng với điều kiện sinh sống khắc nghiệt và với hoàn cảnh lịch sử xã hội rối ren, sự bóc lột áp bức của quý tộc phong kiến lúc bấy giờ tạo nên diện mạo cuộc sống của đồng bào vùng Nam Bộ Để có thể vượt qua cuộc sống lúc bấy giờ, họ cần có một chỗ dựa từ sức mạnh siêu nhiên mà bản thân họ không thể giải thích được - đó là tôn giáo, chính tôn giáo là chỗ dựa tinh thần, là niềm tin cuộc sống để họ có thể sinh sống Trong đó, đồng bào Khmer cũng đã giữ truyền thống phong tục đặc thù của họ đó là Phật giáo, Phật giáo là nơi họ gửi gắm niềm tin, ước muốn và hy vọng cho cuộc sống hiện tại và mai sau tốt đẹp hơn Do vậy, người Khmer luôn chăm lo cho chùa chiền, sư sãi như lo cho chính cuộc sống của mình

* Thời kỳ Thực dân Pháp cai trị (1867 – 1954)

Từ năm 1861 thực dân Pháp chiếm ba tỉnh Nam Bộ, chúng thực hiện

âm mưu chiến lược “chia để trị”, “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”, thực dân Pháp đã hết sức chú ý xuyên tạc lịch sử, kích động gây chia

rẽ dân tộc Kinh – Khmer Đây là giai đoạn Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam tông nói riêng ở miền Nam gặp nhiều khó khăn Nhiều ngôi chùa bị giặc tàn phá, hoặc đóng chiếm; đồ thờ tự, những cổ vật quý bị chúng chiếm đoạt

Trang 24

hoặc phá hủy Thực dân Pháp muốn xóa đi truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt Nam, xóa bỏ đạo Phật ở Việt Nam Trong khi đó, thực dân Pháp muốn thay Phật giáo bằng một tôn giáo khác đó là Thiên Chúa giáo

Từ khoảng năm 1861 đến năm 1954, Pháp chủ trương triệt phá tất cả các chùa, đặc biệt là các chùa lớn có đông đảo tín đồ và có ảnh hưởng lớn, chúng ráo riết tìm mọi cách để xóa bỏ Sở dĩ họ mạnh tay làm như vậy là vì người Pháp nhận thấy được Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng gắn liền với dân tộc, nếu tôn giáo này còn thì dân tộc còn, vậy thì khó mà thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc Không chỉ tìm cách phá chùa chiền, chúng còn gây sức ép đối với vị sư, sãi và tín đồ như bắt các

sư, sãi phải đi lính và đóng thuế thân… Tất cả những sinh hoạt tôn giáo thông thường cũng được kiểm soát chặt chẽ, gắt gao của chính quyền Pháp làm cho các sư, sãi và tín đồ chán nản bỏ Phật giáo đi theo Công giáo mà thực dân Pháp tích cực tuyên truyền trong nhân dân

Khi thực dân Pháp chiếm hoàn toàn miền Nam Việt Nam (1867), Pháp vẫn quyết tâm thực hiện chính sách đồng hóa của mình Đối với đồng bào Khmer ở Nam bộ, người Pháp mưu đồ thực hiện thâm ý muốn xóa bỏ nền văn hóa truyền thống của dân tộc này nên cấm các chùa không được dạy chữ Pa-

li, thay vào đó là bắt buộc sư, sãi Khmer phải học tiếng Pháp Tuy bị cấm nhưng các sư, sãi vẫn âm thầm dạy chữ Pa-li trong các chùa Nhận thấy việc ngăn cấm không thành công, chúng đành mở thêm các trường dạy tiếng Pháp nhưng hầu hết chỉ có com em của những gia đình Khmer giàu có mới tham gia học nên mỗi tỉnh chỉ được một vài trường, còn ở các trường dạy tiếng Pa-

li do các sư, sãi đảm nhận thì phát triển mạnh

Nhận thấy không thể thành công trong chính sách này, vào năm 1940, Pháp lại mở thêm chi nhánh của viện Phật học Phnôm-pênh tại Sóc trăng, thực chất là đào tạo các tay sai để nắm bắt tình hình và quản lý việc tu hành của các chùa Khmer Trong suốt quá trình cai trị các chùa Phật giáo Nam tông

Trang 25

Khmer đều đặt dưới quyền của các sư, sãi ở Cam-pu-chia, tất c¶ các việc như xuất gia, xây cất, sửa chữa chùa chiền, tấn phong giáo phẩm…đều do vua sãi Cam-pu-chia đảm nhận

Song, để giữ mối liên hệ với Vua sãi (Campuchia) những tỉnh có đông người xuất gia, có đông sư sãi được tổ chức một hội đồng để có thể trông coi

về mặt giới luật Hội đồng này tên gọi là “Hồi đồng kỷ luật” Thành phần hội đồng kỷ luật (cấp tỉnh) gồm có:

1 Một vị sư sãi đứng đầu tỉnh được gọi là Mekom Mekom là người đứng đầu hội đồng kỷ luật có nhiệm vụ chủ trì trong coi việc thuyết giảng giáo lý và quyết định công việc về đạo, thay mặt toàn bộ sư sãi trong tỉnh quan hệ với chính quyền địa phương

2 Một hoặc hai vị sư sãi phó là người giúp việc cho vị sãi cả, gọi là Balakon Vị Balakon có nhiệm vụ xây dựng chương trình tu học giáo lý cho

vị tỳ khưu, sadi, học sinh và phật tử, sắp đặt tổ chức các cuộc lễ tại chùa, sửa chữa và tu bổ chùa trong tỉnh

3 Một vị sãi phụ trách về mặt kỷ luật, gọi là vị Vineythrkon

4 Một vị sãi phụ trách về mặt văn khố, gọi là Samonhkon

5 Một vị thư ký, gọi là Lekhathika

6 Một đến hai vị sãi đại diện sư sãi ở mỗi quận, huyện trong tỉnh gọi là Anonkon [16; tr 69 - 70]

Hội đồng được sự trợ giúp của Chính phủ Hoàng gia Campuchia Sự trợ giúp này kéo dài đến thời kỳ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia bị gián đoạn thì mới chấm dứt Từ đó, hệ phái Phật giáo Nam tông ở Nam Bộ có Hội đồng kỷ luật sư sãi riêng

* Thời kỳ Mỹ - Ngụy (1954 -1975)

Vừa thoát khỏi sự cai trị của thực dân Pháp, Phật giáo Nam tông miền Nam nói chung, Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng lại tiếp tục gặp phải sự

Trang 26

cai trị thâm độc của chính quyền Mỹ - Ngụy và bọn tay sai làm cho việc tu hành của sư, sãi gặp nhiều khó khăn hơn Giống như thực dân, Mỹ - Ngụy không từ bỏ âm mưu đồng hóa dân tộc, tôn giáo hòng xóa bỏ Phật giáo và văn hóa của người Khmer Để thực hiện chính sách này, Chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương xóa bỏ các lớp “Miên ngữ”, cấm tất cả các chùa dạy tiếng Pa-li Chủ trương này gặp phải sự phản ứng quyết liệt của các vị sư, sãi Khmer và họ vẫn âm thầm dạy tiếng Pa-li cho con em dân tộc mình

Khi chính sách này thực hiện không thành công, chúng chuyển sang kế hoạch khác Nếu như trước đây Mỹ - Ngụy thực hiện chiến lược đồng hóa, thì vào năm 1965, chúng thay bằng chiến lược “hòa đồng để tiến” Thực hiện chính sách này, chúng mở ra các trường tiểu học, trung học Pa-li, giúp đỡ tiền bạc để xây dựng và tu sửa chùa, in ấn kinh sách… thực chất các trường này

là những trường đào tạo tay sai cho chúng Chúng cho người thâm nhập vào các chùa và trong đồng bào dân tộc lôi kéo, kích động, chia rẽ trong đồng bào Khmer

Nhằm hạn chế sự phát triển của Phật giáo Nam tông Khmer, chính quyền Mỹ-Ngụy đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc để từng bước làm mất vai trò, ảnh hưởng của tôn giáo này với đồng bào dân tộc Khmer, như việc chúng gài mìn xung quanh chùa, kiểm tra chặt chẽ việc ra vào chùa của các

vị sư, sãi và tín đồ Chúng còn cho phép quân đội xả súng thẳng vào những đám đông tín đồ và Sư, sãi Ngoài ra, Mỹ - Ngụy còn thực hiện chính sách tâm lý chiến trong cộng đồng người Khmer là lợi dụng, lôi kéo, xúi dục những người Khmer nhẹ dạ cả tin chống lại cách mạng Chúng còn tuyên truyền vào đồng bào những tệ nạn xã hội như: hút cần sa, ma túy, cờ bạc, rượu chè…làm cho thanh thiếu niên sa vào con đường trụy lạc, xa dần các phong tục tập quán của dân tộc mình, chạy theo lối sống cá nhân không còn nghĩ đến lợi ích chung của dân tộc

Trang 27

* Thời kỳ từ sau ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975) đến nay:

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, Phật giáo Nam tông

ở Nam Bộ dần được ổn định, hoạt động của tổ chức luôn được củng cố Tổ chức các cấp hội đi vào hoạt động làm tốt các phật sự như: quản lý tu học và hành đạo của các nhà sư, mở trường chùa duy trì các lớp học tiếng Pali, tiếng Khmer cho đồng bào Khmer, tham gia phong trào xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, tích cực tham gia các phong trào văn hóa của địa phương, phum, sóc Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội địa phương như: phòng học, bắc cầu,đắp đường Tổ chức tốt các lễ dân tộc Khmer như: Okombok, Dolta, Cholthnamthmay, Hiện nay, khu vực Tây Nam Bộ còn 08 địa phương vẫn giữ mô hình Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, đó là: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Hoạt động của

tổ chức này là tập hợp, vận động các sư sãi, chức sắc, tín đồ Phật giáo Nam tông Trong tỉnh nêu cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hưởng ứng tham gia tích cực các phong trào yêu nước tại địa phương, góp phần xây dựng

và bảo vệ tổ quốc Các địa phương đã chú ý giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện, phương tiện cho Hội đoàn kết sư sãi yêu nước hoạt động và giới thiệu sư sãi tham gia vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ứng cử vào Hội đồng nhân dân các cấp, kể cả ứng cử vào đại biểu Quốc hội

Riêng về An Giang, trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phật tử và sư sãi Khmer ở An Giang nói riêng đã có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam Vùng Tịnh Biên và Tri Tôn là căn cứ địa cách mạng Sau năm 1975, quá trình phát triển của Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn gắn liền với ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Năm

1981, phật tử và sư sãi Khmer hân hoan chào đón sự kiện thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì đến năm 1993, họ càng vui mừng hơn nữa khi Ban Trị

Trang 28

sự Phật giáo tỉnh An Giang ra đời (nay là Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang) Kể từ đó, Phật giáo Nam tông Khmer An Giang đã chung sức, chung lòng cùng các sơn môn, hệ phái của Phật giáo Việt Nam xây dựng giáo hội, xây dựng đất nước theo đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”

Vấn đề xây dựng Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước cũng được đặt ra khoảng 10 năm trước đây nhưng sau khi lấy ý kiến trong các vị sãi cả, xét thấy chưa cần thiết, đa số đều ủng hộ phương án duy trì nguyên trạng Để hài hòa hệ phái trong Ban Trị sự, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang đã tăng cường chức sắc hệ phái Nam tông vào Ban Trị sự tỉnh (14 vị)

và Ban Trị sự GHPGVN các huyện Những vấn đề thuộc Phật giáo Nam tông Khmer đều có mời chức sắc của hệ phái bàn bạc giải quyết

Đã khen thưởng cho khoảng 6.000 người dân Khmer tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng đất nước từ sau 1975 đến nay; tiêu biểu trong số đó là Sư Cả Bi (Hòa thượng Chau Nhuk)

Trong những năm qua, với các chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng

và Nhà nước, các chùa Phật giáo Nam tông trên địa bàn tỉnh An giang và cộng đồng dân tộc Khmer luôn được sự quan tâm của các ngành, các cấp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, tôn giáo hoạt động

Theo khảo sát của chúng tôi, Phật giáo Nam tông ở An Giang khá phát triển và chia thành 2 phái: Thommayutt (Hoàng Gia) và Mohamikay (Bình dân) với hệ thống 66 chùa thờ Phật, trong đó có 47 chùa thuộc chi Phái Mohamikay (Bình Dân) và 19 chùa theo phái Thommayutt (Hoàng Gia), , có 9 Hòa thượng, 12 Thượng tọa, 35 Đại đức, hơn 1.100 sư vãi và 65 Ban quản trị Các chùa Phật chủ yếu tập trung ở Tịnh Biên và Tri Tôn Trên địa bàn hai huyện này của tỉnh An Giang có tới 60 chùa, Nhiều chùa Khmer ở An Giang

Trang 29

rất đẹp và cổ kính, có niên đại cách nay khoảng 200 năm, như chùa Nót Chụm, Sđe Pưng, Son Sai (xã Ô Lâm, Tri Tôn); chùa Soai Ta Hon; Tro Peang Trao (xã An Tức, Tri Tôn); chùa Xarăng Prochum Mech Chưm (xã Châu Lăng, Tri Tôn)… Thị trấn Tri Tôn có chùa Xvayton xây dựng vài trăm năm nay, là di tích kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng Ngoài ra còn 3 ngôi bị chiến tranh tàn phá chưa được khôi phục là chùa Thơ May (theo phái Mohamikay) ở xã Cô Tô, huyện Tịnh Biên và chùa Ka Răng (theo phái Thommayutt) ở xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn và chùa Vê Răng Quynh (theo phái Mohamikay) ở xã An Hảo, huyện Tịnh Biên Bà con dân tộc Khmer rất cần cù lao động, giỏi chịu đựng gian khổ Từ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, suốt 42 năm, người Việt và các dân tộc anh em vẫn luôn đoàn kết, gắn bó trong công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hương An Giang ngày càng giàu đẹp [67; tr.7]

Cũng theo Báo cáo của Ban dân tộc tỉnh An Giang năm 2016, Trong những năm qua các hoạt động của Phật giáo Nam tông An Giang được củng

cố Để tạo nguồn nhân sự kế thừa, được sự giúp đỡ của Ban Trị sự tỉnh, huyện

và cơ quan Nhà nước các cấp, thời gian qua, Phật giáo Nam tông đã giới thiệu trên 200 vị sư sãi theo học các lớp Sơ cấp Pali tại Trà Vinh, trường Bổ túc Văn hóa Pali Nam bộ tại Sóc Trăng; đã thành lập trường Phổ thông dân tộc nội trú và trường Trung cấp nghề nội trú cho đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh Đặc biệt, để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Khmer, Hội Phật giáo An Giang đã mở được 02 lớp dạy đàn Ch’pây, Dì Kê ở xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn để phục vụ văn nghệ và lớp tập huấn kỹ thuật khắc chữ trên lá Buông tại chùa Soài So ở huyện Tri Tôn để bảo tồn nghệ thuật “Kinh

lá Buông” cho sư sải vì đó là một loại sách “kinh” được viết trên lá thể hiện giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc của người Khmer Nam bộ nói chung, của người An Giang nói riêng Nhằm hỗ trợ cộng đồng, đa số chùa Phật giáo Nam

Trang 30

tông ở An Giang đều tổ chức dạy tiếng dân tộc cho con em người dân tộc từ 8 đến 15 tuổi theo học Các hoạt động thuần túy tôn giáo và lễ nghi tôn giáo truyền thống của hệ phái được tổ chức thường xuyên, diễn ra khá sôi động, thu hút đông đảo quần chúng phật tử tham gia như lễ An cư kết hạ, Lễ Phật đản, lễ dâng y, và các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer như: CholChnamThmay, Đônta, Okombok, Bên cạnh đó, hội Phật giáo Nam tông

ở An Giang dưới sự chỉ đạo của Tỉnh hội An Giang đã đề nghị cấp phép nhập

32 bộ Đại tạng kinh bằng tiếng Khmer từ Vương quốc Campuchia Bổ nhiệm trụ trì và khắc dấu cho 66/66 chùa Phật giáo Nam tông; công nhận 66/66 Ban Quản Trị chùa Phật giáo Nam tông Tiếp nhận 2 đợt kinh sách bằng tiếng Khmer hơn 10 quyển Tổ chức Hội nghị sơ kết việc thực hiện Nghị quyết của HĐTS về hoạt động Phật sự Phật giáo Nam tông Tổ chức nhiều hội nghị góp

ý tu chính Hiến chương, Báo cáo văn kiện Đại hội Đại biểu GHPGVN tỉnh

An Giang lần thứ VI, nhiệm kỳ 2017- 2922 cũng như thường xuyên tham gia học tập quán triệt các văn kiện của Trung ương Giáo hội, Nhà nước ban hành Bên cạnh đó, Tỉnh cũng đã hỗ trợ các lớp Pali 70.000.000 đồng, hỗ trợ xây dựng nhà chư tăng, tháp đựng tro cốt, phòng học, chánh điện 215.000.000 đồng, xây dựng tường bao quanh chứa hồ nước chống lở đất 170.000.000 đồng

Ngoài Kinh lá Buông, hiện tại các chùa Nam tông Khmer đều có bộ tam tạng kinh băng chữ Khmer, đáp ứng kịp thời nhu cầu về kinh sách cho các sư sãi và tín đồ nghiên cứu, tu học Để duy trì và bảo tồn văn hóa dân tộc,

cơ quan chức năng đã hỗ trợ mở lớp hướng dẫn nghệ thuật chạm khắc chữ trên lá buông cho 16 tăng sinh trong tỉnh; tạo được sự phấn khởi trong chức sắc, chức việc và phật tử Nam tông Khmer

Trong quá trình tồn tại và phát triển Phật giáo Nam tông luôn nêu cao tinh thần Từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha, lấy đó làm phương tiện để giáo hóa

Trang 31

chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp để phụng sự Tổ quốc, Giáo hội Phật giáo Nam tông An Giang, cũng như các hệ phái Phật giáo khác trong tỉnh đều sinh hoạt chung trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam dưới sự quản lý, điều hành của Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Chức sắc, nhà tu hành, phật tử ở đây luôn có truyền thống đoàn kết, cùng nhau xây dựng giáo hội vững mạnh, hành đạo đúng phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” Nhìn chung với những chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước và sự quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện các cấp ủy, chính quyền, mặt trận trong tỉnh, các hoạt động tôn giáo của Phật giáo hệ phái Nam tông diễn ra khá ổn định, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người Khmer ở An Giang

1.1.2 Nội dung cơ bản của Phật giáo Nam tông

Thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo hàm chứa nhiều điểm độc đáo và sâu sắc Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức thiết thực giúp ta nhận thức đầy đủ hơn về những nội dung cơ bản của triết thuyết tôn giáo này, đồng thời làm tiền đề cho việc luận giải những ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Từ góc độ nghiên cứu của mình, trong đề tài này, tác giả xin tập trung trình bày nội dung về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan niệm

của Phật giáo Nam tông

1.1.2.1 Thế giới quan của Phật giáo Nam tông

Xã hội loài người ngày càng phát triển thì nhu cầu hiểu biết thế giới xung quanh mình ngày càng cao Trong quá trình sinh sống, tồn tại và phát triển con người không chỉ làm giàu cuộc sống vật chất của bản thân mà còn bồi dưỡng đời sống tinh thần của mình, họ luôn đặt ra những câu hỏi như: Thế giới này là gì? Ai tạo ra thế giới này? Bản chất của thế giới là gì? để trả lời những câu hỏi đó mỗi ngành khoa học, mỗi tôn giáo, mỗi người đều có cách trả lời khác nhau, tùy thuộc vào cách trả lời những câu hỏi đó sẽ quy định

Trang 32

những quan niệm khác của họ Có nhiều quan niệm khác nhau về thế giới, nhưng tựu chung lại có hai cách hiểu về thế giới quan

Theo nghĩa hẹp, thế giới quan là quan niệm hay hệ thống những quan

niệm của con người về thế giới Quan niệm hay hệ thống những quan niệm này cũng không phải nhất thành bất biến mà thay đổi theo thời đại phù thuộc vào mức độ hiểu biết và cải tạo thế giới tư nhiên của con người Nhưng thế giới không tách với con người

Theo nghĩa rộng, thế giới quan là hệ thống những quan niệm của con

người về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống của con người và loài người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định; nghĩa là, thế giới quan bào hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người và loài người

Theo Phật giáo Nam tông, thế giới trong không gian được gọi là thế gian Mỗi thế giới đều có một vật ở trung tâm là Tu di Tu di là tên quả núi có

đỉnh núi và chân núi Xung quanh núi có mặt trời, mặt trăng và 4 vùng thiên hạ.Tôn giáo này quan niệm vũ trụ có ba tầng, thể hiện trong các nghi lễ dân gian, nghi lễ tôn giáo và cả trong lễ vật dâng cúng Những nhà sư uyên thâm phật pháp giải thích thế giới gồm có ba cõi là Vô sắc giới, Sắc giới và Dục giới Cao nhất là cõi Vô sắc giới, đó là nơi chúng sanh thường xuyên trong trạng thái thiền định, không có sắc thân, chỉ sống cuộc sống thuần túy về tinh thần Cõi thứ hai là Sắc giới, nơi dành cho những chúng sanh có thân sắc đẹp

đẽ sáng chói, không phân biệt nam nữ, không có lòng dục Dục giới là cõi của chúng sanh có lòng dục, nên có phân biệt nam, nữ Cõi này lại được chia làm sáu cõi khác, gồm: Địa ngục, Ngã quỷ, Súc sanh, Trời, Người và Atula Tuy nhiên, ở An Giang người Khmer bình dân quan niệm, vũ trụ có ba cõi: Người (Monuk), Trời (têvôđa) và Ngã quỷ (promk), vì niềm tin này nên trong gia đình nếu có người qua đời họ sẽ làm một cái thang bằng gỗ có ba bậc đặt gần

Trang 33

nơi để xác Khi thuyết giảng Acha (người làm lễ) sẽ giải thích các tầng trời, người, ngã quỷ giống như ba nấc thang khuyên con người ta khi sống làm việc thiện, tránh sa vào chỗ ngã quỷ để còn được lên trời

Phật giáo Nam tông quan niệm thế giới này luôn chuyển đổi, không

đứng yên, tức Vô thường (Anitya): Vạn pháp trong vũ trụ không đứng yên mà

luôn chuyến động, biến đổi trong chu trình: thành - trụ - hoại - không

Thành - diệt là hai quá trình xảy ra trong mỗi sự vật, hiện tượng cũng như trong toàn vũ trụ Thế giới này là sự hoại - không của thế giới khác, pháp khác, cứ như vậy mà tiếp diễn Các pháp chuyến động, biến đổi đều bị chi

phối bởi luật nhân duyên

Nhân (heta) là mầm của quả, quả (phala) là kết tập của nhân Duyên

(pratitya) là điều kiện, phương tiện trợ giúp cho nhân biến chuyển thành quả Nhân duyên hòa hợp thì sự vật sinh ra; nhân duyên tan rã thì sự vật diệt Tùy theo nhân - duyên mà hợp thành sự vật, hiện tượng như thế này hay thế khác Một sự vật, hiện tượng không phải do một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân đã có từ trước Trong vũ trụ, nhân - duyên là vô tận, là tính “trùng trùng duyên khởi” Do đó, các sự vật, hiện tượng quan hệ mật thiết với nhau, nương tựa vào nhau, chi phối lẫn nhau Thế giới sự vật, hiện tượng biến đổi ở các trạng thái hữu hình và vô hình Sắc - không là hai dạng tồn tại của vạn pháp

Như vậy, theo quan niệm của Phật giáo Nam tông, mọi sự vật đều biến đổi, vô thủy, vô chung; không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc Sự vật trong thế giới này biến đổi không phải do sức mạnh của thần thánh mà là do nghiệp - duyên (nhân - quả) Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giả tạm Do đó, thế giới khách quan

đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực, là vô thường

Những quan niệm về thế giới đó không chỉ tồn tại trong giáo lý của Phật giáo Nam tông mà còn được thể hiện ra bên ngoài cuộc sống, thông qua

Trang 34

các phong tục, nghệ thuật, kiến trúc ví dụ như: quan niệm thế giới thể hiện qua hình khối.Do ảnh hưởng của đạo Bà la môn ở Ấn Độ nên Phật giáo Nam

tông Khmer còn quan niệm hình tam giác là sự hoàn thiện nhất, ở đó chứa đựng cái đẹp thẩm mỹ tuyệt đối Tam giác tương ứng với nghĩa biểu trưng của con số 3: thần linh tối thượng của Ấn Độ giáo có bộ ba là Brahma – Visnu – Siva; Phật giáo có Tam bảo, gồm Phật – Pháp – Tăng; thế giới có ba thành phần là Bhu – Bhuvas – Swar; thời gian phân thành quá khứ - hiện tại

và tương lai; Hình tam giác còn gắn liền với ngọn lửa thiêng của Ấn Độ giáo,

mà đức Phật thay bằng ngọn lửa bên trong, đồng thời là tri thức xuyên suốt, là

sự giác ngộ và sự hủy bỏ cái vỏ bọc bên ngoài Bởi vậy, “con số 3 nói riêng

và số lẻ nói chung là số được trân trọng gắn liền với nhà Phật” [46; tr.114].Vì thế, các cửa sổ và cột chùa là những con số lẻ Trên bàn thờ Phật có lộng 3 tầng thể hiện Tam bảo, 5 tầng thể hiện 5 sự hóa thân của Phật, 7 tầng là phải qua 7 kiếp con người mới chết, số 9 là số không gian của chùa Như vậy, tổng thể ngôi chùa được hợp vào một tam giác cân như một quy ước có tính tượng trưng triết học

Thế giới theo quan niệm của Phật giáo Nam tông An Giang không chỉ

có thế giới hiện thực, nơi người chết phải tới mà còn một nơi ai cũng muốn đến sau khi chết là cõi Niết Bàn, ở đó không có sinh, lão, bệnh, tử, cũng không có sự phân chia giàu nghèo, đẹp hay xấu, mọi người đều bình đẳng Niềm tin thiêng liêng về kiếp sau, nhân quả, luân hồi – tái sinh, khiến người Khmer ở An Giang thường hay làm phước Họ làm phước như một điều tất yếu trong cuộc đời Mục đích việc làm của họ là để cầu phước cho cha mẹ ông bà đã quá vãng và cầu mong cho mình được hạnh phúc ở kiếp sau Vì thế, người Khmer An Giang tận dụng mọi cơ hội để làm phước, từ việc giúp đỡ nhau trong hàng xóm láng giềng qua việc phụ tiếp các đám làm phước trong phum, sóc, đến việc thường xuyên đi lễ, cúng tiền, xây chùa, dâng cơm cho

Trang 35

sư Họ quan niệm, bố thí đến người có giới hạnh mới đem lại kết quả lâu dài,

đem đến duyên lành thực sự cho gia đình họ

Có thể nói, thế giới quan Phật giáo Nam tông giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người Khmer ởAn Giang trong nhiều thế kỷ nay Nó góp phần tạo ra tính thống nhất về văn hóa, ý thức tộc người, duy trì truyền thống văn hóa trong điều kiện biến đổi ghê gớm của xã hội cũ và mới, cùng với sự tiếp biến văn hóa ở thời kỳ hiện đại

1.1.2.2 Nhân sinh quan của Phật giáo Nam tông

Hạnh phúc là mục đích và thái độ sống của mỗi con người Cuối cùng việc nhận thức của con người là tìm ra một lẽ sống cho bản thân, mở rộng ra là cộng đồng để cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc Do vậy, lẽ sống trở thành kết quả thiết thực nhất của nhận thức, của triết học, của tôn giáo trong mọi thời đại, chính nó tạo ra tình cảm, niềm tin cùng nhiều chức năng, nguyên tắc khác nhau với nhiều cách khác nhau Lẽ sống còn

có thể hiểu là ý nghĩa của cuộc sống, là thái độ sống mà bất cứ quan niệm của tôn giáo, của học thuyết trong sự phát triển của loài người với mục đích cuối cùng là chỉ ra cho con người một lẽ sống hay là cái ý nghĩa đích thực của nhân sinh, nó là thái độ sống

Mỗi tôn giáo đều có một lẽ sống riêng, mọi giáo lý, hoạt động đều hướng theo lẽ sống đó Lẽ sống đó cũng có nghĩa là những quan niệm về cuộc sống, về con người, về vị trí con người trong thế giới này, hay còn gọi là nhân sinh quan Nhân sinh quan Phật giáo là hệ thống quan điểm, cách nhìn mang tính chất nền tảng của Phật giáo về mục đích, ý nghĩa của cuộc đời, nó quyết định mục đích của các hoạt động thực tiễn và định hướng đường đi cho cuộc đời Nhân sinh quan quyết định khuynh hướng lựa chọn giá trị và thái độ sống của con người Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện quan niệm về bản chất cuộc đời con người (khổ), lý giải nguyên nhân vì sao (nguồn gốc của khổ) và

Trang 36

phương pháp trừ bỏ nổi khổ triệt để đạt tới sự giải thoát Những tư tưởng cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo nói chung, Phật giáo Nam tông nói riêng chính là học thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”

Đích cuối cùng của Phật giáo là làm cho chúng sinh đạt tới cảnh giới của sự giải thoát khỏi mọi đau khổ, giúp chúng sinh tự biết thoát khỏi vòng luân hồi bất tận Triết lý nhân sinh đó được thể hiện trong “Tứ diệu đế” được hiểu là bốn chân lý vững chắc: Khổ đế (Duhkha- Satya); Tập đế (Samudaya-Satya); Diệt đế (Nirodha-Satya) và Đạo đế (Marga- Satya):

* Khổ đế (Duhkha –Satya): Phật giáo cho rằng, cuộc đời con người là khổ Đau khổ do sự thay đổi liên tục của vô thường, song con người ai cũng muốn sống mãi nhưng thực tại cứ biến dịch đổi thay, muốn trường tồn nhưng thực tại lại biến hóa trong vòng: “Sinh” “Lão”, “Bệnh”, “Tử”cho nên sinh ra

sự luyến tiếc cho con người, nó hàm chứa tính vô thường của đời sống Như vậy, khổ của con người mang tính quy luật và tất yếu, nhưng Đức Phật cũng như các đệ tử của Ngài luôn có phong thái ung dung, tự tại, chủ động coi cuộc đời con người là bể khổ chính là để cảnh tỉnh con người trước hiện thực cuộc sống nhiều mê lầm, hướng tới xây dựng giá trị tốt đẹp để gặt được quả lành,

trái ngọt, cuộc sống hạnh phúc và thành công Tứ khổ là nỗi khổ do sinh, lão,

bệnh, tử mà ra, phàm con người được sinh ra ở cõi đời này thì phải trải qua

tứ khổ là tất yếu Ngũ khổ (1.Sinh, lão, bệnh, tử; 2.Ái biệt ly khổ; 3.Oán tăng hội khổ; 4.Bất đắc khổ; 5.Ngũ ấm xí thịnh khổ) Bát khổ (tám nỗi khổ): Thực tại nhân sinh là khổ ải, ngoài nỗi khổ do sinh, lão, bệnh, tử gây ra thì con người ta khổ do yêu thương nhau mà phải chia ly; ghét bỏ, thù hận nhau mà phải chung sống với nhau là khổ; mong muốn mà không đạt được là khổ, được cũng khổ mà mất cũng khổ cho nên Phật giáo cho rằng con người sinh

ra là khổ

Vậy nên, khi chúng sinh trong đường luân hồi cần suy xét chín chắn,

Trang 37

biết rõ luân hồi là khổ, để tránh khỏi vòng luân hồi bất tận phải bỏ sân hận, sự chấp ngã bản thân để tăng thêm lòng mong muốn giải thoát Để làm được điều dó phải tìm ra được nguồn gốc của nỗi khổ để tiêu trừ, Phật chỉ ra nguồn gốc của khố trong chân lý thứ hai là “Tập đế”

* Tập đế ((Samudaya-Satya): Nói về nguồn gốc, sự kết tụ tạo nên nỗi khổ của con người là do tham, sân, si Giải thích căn nguyên ấy, Đức Phật nêu ra thuyết “Thập nhị nhân duyên” khái quát quan hệ nhân quả khổ của con người qua 12 mắt khâu quan trọng, đó là: 1 Vô minh; 2 Hành; 3 Thức; 4 Sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thọ; 8 Ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11.Sinh; 12.Lão tử

Vô minh là “điểm nút đầu tiên” trong vòng luân hồi của Thập nhị nhân duyên Vì vô minh nên con người muốn tồn tại mãi mãi, nhưng thực tại cứ biến dịch đổi thay, biến hóa trong vòng sinh, lão, bệnh, tử Cái vô thường ấy nằm trong dòng chảy vô cùng, vô thủy, vô chung Từ đó, sẽ thấy được khả năng diệt trừ khổ bằng cách diệt trừ những khâu chính trọn dây chuyền 12 nhân duyên, nhờ vậy sẽ đi đến được đạo giải thoát

* Diệt đế (Nirodha- Staya) là chân lý thứ ba, chỉ ra con đường khả thi

để diệt khổ và đạt tới giải thoát Phật giáo cho rằng, nguồn cội sâu xa của đau khổ là vô minh, ái dục Khi chúng sinh dứt bỏ từ ngọn tới gốc mọi nguyên nhân gây ra đau khổ thì tất nhiên sẽ thoát nghiệp luân hồi, đạt tới niết bàn (Nirvana)

Diệt đế khẳng định rằng, Niết bàn là cái tuyệt đối song không có gì có thể diễn tả được cái thường hằng Mọi sự diễn tả chỉ là tương đối, nhiều khi Phật ví điều đó như mượn tạm ngón tay dể chỉ mặt trăng và dễ gây ra hiểu lầm ngón tay là mặt trăng Kinh điển phật giáo khi nói về niết bàn thường trình bày về sự loại bỏ hoàn tòan khỏi dục vọng, loại trừ ham muốn…xóa bỏ mọi nguồn gốc của khổ Niết bàn có nội hàm gần với tự do, bất tử, làm chủ được sống chất

Trang 38

*Đạo đế (Marga- Staya): là con đường thực hành diệt đau khổ Theo quan điểm của Phật giáo, có nhiều con đường dẫn đến Niết bàn, trong đó con đường tu “trung đạo”: Giới, Định, Tuệ (Tam học) mà chi tiết là “Bát chính đạo” bao gồm: chính kiến, chính tư duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính tiên tiến, chính niệm, chính định, còn gọi là “Tám con đường” tu đạo đức, trí tuệ và niềm tin kết hợp

Con đường diệt khổ bằng Tam học (Giới- Định- Tuệ) cho thấy ba bộ phận này luôn trong sự đan xen và thống nhất suốt quá trình tu dưỡng và đi tới giải thoát Muốn đạt được tuệ thì trước hết phải thực hiện các giới luật: khí giới được thực hiện một cách tự giác thì mới định được; định là tĩnh, là không động về tâm, khi đó mới có thể bừng sáng tuệ và tiến tới diệt khổ bằng tuệ giác (tức bát nhã) Theo Phật giáo, tuệ ờ đây có hai mức: mức một là trí tuệ, hiểu biết theo nghĩa thông thường như sự thông minh, học rộng biết nhiều bằng những con đường như nghe thuyết giảng mà biết, tự tìm hiểu học hỏi đối chứng đánh giá mà biết hay sự hiểu biết do trải qua hoạt động thực tiễn mà biết Tuệ ở mức hai không phải là trí tuệ theo nghĩa thông thường, mà

là sự cảm nhận của chân tâm đúng đắn của mình đưa đường dẫn lối đến sự sáng tỏ bản nhiên (sự hiểu biết, thông tuệ) ngoài ngôn ngữ, ngoài kinh nghiệm Đức Phật đề cao “tự tin, tự giác, tự thể chứng” với nghĩa là nhận thức được cái bản chất nằm đằng sau sự vật, hiện tượng, gần giống với quan niệm duy vật biện chứng về nhận thức quy luật vận động biến đổi phổ quát của sự vật

Phật giáo luôn cho rằng, Tuệ là một trong những nền tảng cho quá trình

tu dưỡng kết hợp Giới và Định Khi diệt bỏ được vô minh con người sẽ chủ động, tự giác hướng tới tích thiện và đạt tới niết bàn - đích cuối cùng của sự giải thoát - hạt nhân của đạo Phật Có thể thấy, nhân sinh quan Phật giáo là hạt nhân của đạo Phật với những lập luận về nỗi khổ, nguồn gốc, nguyên

Trang 39

nhân sinh ra nỗi thống khổ của chúng sinh và vạch ra con đường phương pháp triệt tận gốc nỗi khổ đó bằng sự nỗ lực của chính bản thân con người

Như vậy, Nhân sinh quan Phật giáo mà cốt lõi là học thuyết Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên đã được Đức Phật đề cập và thuyết giáo khi Ngài sáng lập ra tôn giáo này Về sau, những vấn đề này được các nhà Phật học phân tích và khảo cứu trên lập trường triết lý nên chúng trở thành các yếu tố siêu hình học của Phật giáo kể cả Tiểu Thừa (Phật giáo Nam tông) lẫn Đại thừa (Phật giáo Bắc tông)

Quá trình tồn tại và phát triển của Phật giáo Nam tông đã có những biến đổi nhất định cho phù hợp với văn hóa người Khmer và từng giai đoạn lịch sử nhất định của dân tộc Việt Nam Những quy định, giới luật của Phật giáo đã xâm nhập vào cuộc sống của người dân, nó chứng tỏ sự hòa hợp chặt chẽ giữa triết lý nhân sinh của Phật giáo Nam tông với đời sống của cộng đồng người Khmer Vì vậy, tư tưởng đạo đức nhân sinh quan của Phật giáo Nam tông có ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống văn hóa của người Khmer Nam bộ nói chung và An Giang nói riêng

Có thể nói, giáo lý Phật giáo Nam tông là những tinh hoa của nhân loại,

nó có ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến tâm lý, tình cảm, đạo đức, phong tục tập quán của cộng đồng người Khmer ở An Giang nói riêng và người Khmer cả nước nói chung

1.1.3.Đặc điểm của Phật giáo Nam tông ở An Giang

Từ khi du nhập vào khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vào

An Giang nói riêng, Phật giáo Nam tông đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố, nhưng nhìn chung hệ phái tôn giáo này vẫn phát triển cùng với sự phát triển của vùng đất này An Giang là tỉnh đứng hàng thứ 4 trong khu vực có đông đồng bào Khmer và phật tử Phật giáo Nam tông ở đây đã phát triển trong thế

ổn định và đồng hành cùng dân tộc Có thể thấy, những kết quả đạt được hôm

Trang 40

nay là sự nỗ lực của nhiều phía Bên cạnh vai trò của đồng bào phật tử Khmer

ở An Giang và bản thân tôn giáo này tự phát triển mình để bắt nhịp với sự phát triển chung của xã hội thì những yếu tố tác động từ bên ngoài như Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đã tạo môi trường thuận lợi để Phật giáo Nam tông Khmer trong tỉnh phát triển theo hướng tích cực nhất có thể

Phật giáo Nam tông ở An Giang khá phát triển với hệ thống 65 chùa thờ Phật, chủ yếu tập trung ở Tịnh Biên và Tri Tôn (60 chùa), với hơn 700 sư vãi Người Khmer ở An Giang có dân số khá đông là 90.411 người, xếp thứ 2 (chỉ sau người Kinh) trong cơ cấu dân số chung của tỉnh nhưng lại có khoảng 85.000 người Khmer theo Phật giáo Nam tông thuộc 2 phái: Thommayutt (Hoàng Gia) và Mohamikay (Bình Dân) Họ sống tập trung nhiều nhất ở 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và rãi rác ở các huyện Thoại Sơn, Châu Phú

Ta có thể thấy rõ đặc điểm của Phật giáo Nam tông ở An Giang là có mối quan hệ thân thiết với Phật giáo Nam tông ở Campuchia An Giang và Campuchia có đường biên giới nối dài, đồng bào Khmer ở Việt Nam có nhiều mối quan hệ họ hàng thân thiết với người Khmer ở Campuchia Cuộc sống của người Khmer tuy được Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, am hiểu về pháp luật kém, dễ bị các phần tử xấu xúi giục, lôi kéo chống phá Nhà nước

Đảng, chính quyền các cấp trong tỉnh đã tận tình quan tâm chăm sóc đến người Khmer, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chủ trương, chính sách của Trung ương quy định đối với đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer, các ngày lễ lớn như Phật đản, tết Nguyên đán, tết và các ngày lễ lớn của đồng bào Khmer, tỉnh và huyện đều tổ chức đoàn đến thăm, chúc mừng, tặng quà

Chúng ta có thể nhận thấy đươc đặc điểm khác biệt giữa tình hình Phật giáo Nam tông ở An Giang so víi các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương (2000),Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương (2003), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
3. Ban Tuyên giáo Trung ương(2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
4. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
5. Trần Văn Bính (chủ biên - 2004) Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ - thực trạng và những vấn đề đặt ra
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Nguyễn Công Bình (2008), Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2008
7. Phan Xuân Biên (2004), “Vấn đề dân trí và phát triển văn hóa ở vùng người Khơ me Nam Bộ trong quá trình CNH, HĐH”,tạp chí Dân tộc học, (5), tr. 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân trí và phát triển văn hóa ở vùng người Khơ me Nam Bộ trong quá trình CNH, HĐH
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 2004
8. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và lễ nghi vòng đời người Khmer Nam Bộ, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và lễ nghi vòng đời người Khmer Nam Bộ
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2002
9. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Đoàn Trung Còn (1992), Phật học từ điển, quyển 1, Nxb Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Tp. HCM
Năm: 1992
11. Đoàn Trung Còn (1992), Phật học từ điển, quyển 2, Nxb Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Tp. HCM
Năm: 1992
12. Đoàn Trung Còn (1992), Phật học từ điển, quyển 3, Nxb Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Tp.HCM
Năm: 1992
13. Đoàn Trung Còn (1995), Các tông phái đạo Phật, Nxb Thuận Hóa, Tp. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tông phái đạo Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1995
14. Nguyễn Mạnh Cường (2003), “Phật giáo Nam tông An Giang – Tư liệu và vấn đề”, trong sách Nhà nước và Giáo hội, NxbTôn giáo, Hà NộiCổng thông tin điện tử tỉnh An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Nam tông An Giang – Tư liệu và vấn đề
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: NxbTôn giáo
Năm: 2003
15. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc (2004), Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Phương Đông, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo - Tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2004
16. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khơ Me Nam Bộ (những vấn đề nhìn lại), Nxb Tôn giáo và Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Khơ Me Nam Bộ (những vấn đề nhìn lại)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Tôn giáo và Nxb Hà Nội
Năm: 2008
17. Doãn Chính và các cộng sự (Biên soạn - 2003), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Nhà XB: Nxb Thanh niên
21. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
22. Đại Tạng Kinh Việt Nam (2000), Kinh Tương ưng bộ, tập 2, Nxb Tôn giáo, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tương ưng bộ
Tác giả: Đại Tạng Kinh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2000
25. Mạc Đường (2004), “Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo ở Nam bộ theo cách tiếp cận dân tộc học – tôn giáo”,Nghiên cứu Tôn giáo, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo ở Nam bộ theo cách tiếp cận dân tộc học – tôn giáo”,Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Mạc Đường
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w