Đại hội toànquốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “… Trong điều kiện kinh tế thị trờng và mở rộng giao lu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắcvăn hóa dân tộc, kế t
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Vinh – 2008
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có những giá trị
và sắc thái văn hóa riêng Trải qua lịch sử lâu dài đấu tranh dựng nớc và giữ
n-ớc, các dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết một lòng vợt qua những khó khăn gian
Trang 2khổ, đấu tranh anh dũng để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nớc Tất cả cácthành phần dân tộc dù đông ngời hay ít ngời, dù mang dấu ấn phong cách riêngcủa mỗi tộc ngời nhng tất cả đều hội tụ trong nền văn hóa Việt Nam - nền vănhóa phong phú, đầy sáng tạo, độc đáo và đa dạng.
Chúng ta đã bớc sang thế kỷ XXI với quyết tâm đẩy nhanh sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đa nớc ta thoát khỏi nghèo nàn và lạchậu, nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung của các dân tộc trên thếgiới Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay là trong quá trình hội nhập, đổimới, tiếp thu cái hiện đại nh thế nào để không bị hòa tan, bị đánh mất mình tr-
ớc xu hớng bùng nổ thông tin và giao thoa văn hóa mang tính toàn cầu hiệnnay Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những quốc gia giải quyết thành công mốiquan hệ giữa văn hóa và phát triển, giữa hiện đại và truyền thống, còn không ítquốc gia, dân tộc phải trả giá cho sự ngộ nhận, cho đờng lối phát triển bằngmọi giá, bỏ qua các giá trị truyền thống, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộcmình Đảng ta đã xác định văn hóa “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa làmục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Đại hội toànquốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “… Trong điều kiện kinh tế thị trờng và
mở rộng giao lu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắcvăn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp vàlòng tự hào dân tộc… “Khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa,nghệ thuật của các dân tộc trên đất nớc ta, tạo ra sự thống nhất trong tính đadạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam…” Bởi vậy, việc nghiên cứu vănhóa các dân tộc nói chung và văn hóa của ngời Thái nói riêng đang là vấn đề
đặt ra không chỉ trong nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa dân tộc,
mà còn là đòi hỏi cấp bách của chiến lợc đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc hiện nay Phải nghiên cứu thật kỹ vàtoàn diện toàn bộ các mặt của đời sống từng dân tộc, nắm vững đặc điểm từngdân tộc, đánh giá đúng đắn di sản văn hóa truyền thống từng dân tộc, lấy đólàm xuất phát điểm để đi lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nghiên cứu ngờiThái ở nớc ta trớc hết là để đáp ứng yêu cầu đó
Tuy nhiên, ở mỗi khu vực khác nhau văn hóa của các tộc ngời cũng cónhững đặc trng, sắc thái khác nhau Miền Tây Nghệ An là một khu vực lịch sử
- dân tộc học có nhiều tộc ngời thiểu số cùng sinh sống nh Thổ, Khơ mú,Mông, Tày Poọng, ơđu, Mờng, Đan Lai, trong đó ngời Thái đông nhất, chiếm311.339 ngời [ 9, 1] Trong suốt chiều dài lịch sử cùng tồn tại và phát triển với
Trang 3các dân tộc, ngời Thái ở đây đã tạo dựng đợc những giá trị văn hóa hết sức đặcsắc cần đợc bảo tồn và phát huy.
Là ngời con của quê hơng xứ Nghệ, tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu, tìmhiểu đời sống văn hóa tinh thần của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An là đề tàihấp dẫn và mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nêu cao vai trò của cácyếu tố văn hóa Thái trong nền văn hóa Việt và trong nền văn hóa của cộng
đồng các dân tộc nớc ta Mặt khác nó còn giúp chúng ta nhận ra trong đời sốngvăn hóa của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An những mặt tốt, mặt xấu, mặt hạnchế để từ đó chọn giải pháp cho việc bảo tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa,loại trừ những tập tục lạc hậu, cha phù hợp, những ảnh hởng không tốt gópphần bảo vệ bản sắc văn hóa của quê hơng, của dân tộc Việt Nam
Dân tộc Thái là một bộ phận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tìmhiểu văn hóa tinh thần ngời Thái tức là tìm hiểu một bộ phận của đời sống vănhóa tinh thần dân tộc Việt Nam Chúng tôi chọn đề tài này với ý nghĩa nh vậy
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Bớc đầu tìm hiểu
đời sống văn hóa tinh thần của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An” làm đề tài chokhóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa bản mờng Thái tiêu biểu cho loại hình văn hóa của c dân thuộcngôn ngữ Tày - Thái sống ở vùng thung lũng, ven chân núi, đây là nền văn hóa
đặc thù của c dân làm ruộng nớc (kết hợp làm nơng) Trải qua lịch sử lâu dàinền văn hóa này đã tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình, nó không chỉ là chấtdinh dỡng nuôi sống và đảm bảo cho dân tộc Thái tồn tại và phát triển, mà hơnthế nữa nó còn tác động đến đời sống văn hóa của các dân tộc anh em trên đấtnớc Việt Nam
Văn hóa Thái là một đối tợng nghiên cứu vừa phong phú, đa dạng vừakhó khăn, từ lâu nó đã thu hút đợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.Nhiều công trình nghiên cứu đã đợc công bố trên các sách, báo, tạp chí
Ngay từ thời phong kiến đã có những tác phẩm đề cập đến dân tộc Thái,
nh bộ “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Việt sử
ký toàn th” của Ngô Sĩ Liên, đặc biệt cuốn “Nghệ An ký” của Bùi Dơng Lịch làmột cuốn địa chí chứa đựng nhiều t liệu về nhân học rất có giá trị
Sang thời kỳ Pháp thuộc, một số tác giả cũng chú ý đến vấn đề này nh:R.Robert; M.Colani; H.Maspéro, đặc biệt là cuốn “Ngời Mờng ở Cửa Rào” của
Trang 4L.Albert Các công trình này giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc nghiêncứu ngời Thái nói chung và ngời Thái ở Bắc Trung Bộ nói riêng Tuy nhiên đây
là những công trình nghiên cứu của ngời Pháp chủ yếu phục vụ cho mục đíchthực dân, nên nhiều nhận định, đánh giá còn thiếu cơ sở khoa học và không thểtránh khỏi những sai lệch
Từ sau năm 1945, nhất là sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng(1954), việc nghiên cứu ngời Thái có tính hệ thống và toàn diện hơn Nhiềucông trình nghiên cứu về ngời Thái nói chung và văn hóa Thái nói riêng đã đợcxuất bản thành sách Trong số đó phải kể đến những cuốn nh: “T liệu về lịch sử
và xã hội dân tộc Thái” của Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), Cầm Trọng, KhàVăn Tiến, Tòng Kim Ân; “Văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm Trọng, Phan HữuDật; “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng; “Văn hóabản làng truyền thống các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc Việt Nam” củaNgô Ngọc Thắng (chủ biên); “Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An” của Nguyễn
Đình Lộc; “Văn hóa vật chất của ngời Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An” của ViVăn Biên; “Văn hóa và lịch sử ngời Thái ở Việt Nam” (kỷ yếu Thái Học lầnthứ 1);…
Tuy nhiên, nhìn chung các công trình nghiên cứu về ngời Thái và vănhóa Thái kể trên chủ yếu nghiên cứu về ngời Thái ở Tây Bắc Bắc Bộ và mộtphần của vùng Bắc Trung Bộ, còn nghiên cứu ngời Thái ở miền Tây Nghệ Ancha đợc đề cập một cách đúng mức, cần đợc bổ sung
Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài “Bớc đầu tìm hiểu đời sống văn hóa tinhthần của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An” tuy ở phạm vi nhỏ, còn mang tínhchất địa phơng nhng là một đề tài mới Hy vọng nó sẽ ít nhiều góp phần vàoviệc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái nói riêng, văn hóa cácdân tộc ở Nghệ An nói chung, từ đó góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộcViệt Nam
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Các sách: “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn,
“Đại Việt sử ký toàn th” của Ngô Sĩ Liên, “Nghệ An ký” của Bùi Dơng Lịch…
Trang 5- Nguồn t liệu dân tộc học
Các sách “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc ngời” của Nguyễn TừChi; “Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” của Nguyễn ĐăngDuy; “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng; “T liệu vềlịch sử và xã hội dân tộc Thái” của Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên); “Các dântộc thiểu số ở Nghệ An” của Nguyễn Đình Lộc…
- Nguồn t liệu văn hóa
Các sách: “Việt Nam văn hóa sử cơng” của Đào Duy Anh, “Cơ sở vănhóa Việt Nam” của Trần Quốc Vợng, “Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một gócnhìn” của Vi Hồng Nhân…
- Các sách tham khảo khác
“Truyện dân gian Thái”, “Âm nhạc dân gian dân tộc Thái ở Nghệ An”,
“Truyện thơ và đồng dao Thái miền Tây Nghệ An”, “Lịch sử đảng bộ Đảngcộng sản Việt Nam huyện Quỳ Châu”… và một số bài viết đăng trên tạp chí,báo văn hóa các dân tộc, văn hóa Nghệ An, văn hóa nghệ thuật, dân tộc và thời
đại về dân tộc thiểu số, về dân tộc Thái
- Nguồn t liệu địa phơng
T liệu thành văn
Đề tài sử dụng một số truyện kể dân gian, truyện thơ, tục ngữ Thái, một
số bài su tầm văn hóa đợc ghi lại một cách tản mạn trong đời sống ngời Thái ởmiền Tây Nghệ An Các câu chuyện tiêu biểu nh “Huyền thoại Khủn Tinh”,
T liệu truyền miệng
Trang 6Chúng tôi đã gặp gỡ và trao đổi với một số nghệ nhân, các thầy Mo…
đ-ợc nghe họ kể chuyện về phong tục tập quán, nghe họ thổi khèn, sáo, hátnhuôn, xuối…
ông Sầm Văn Dần (62 tuổi) ở bản Hoa Tiến 1 - Châu Tiến - Quỳ Châu,nghệ nhân hát nhuôn, lăm, thổi khèn, sáo…
Bà Sầm Thị Khiêm (61 tuổi) ở bản Xăng - Châu Bính - Quỳ Châu, nghệnhân bốc thuốc cổ truyền có tiếng của ngời Thái, am hiểu các làn điệu dân caThái
Ông Lang Sơn Hán (71 tuổi) ở bản Na Cà - Châu Hạnh - Quỳ Châu, lànghệ nhân, am hiểu các phong tục tập quán của ngời Thái
Ông Vi Đình Công (72 tuổi) ở bản Chắn - Thạch Giám - Tơng Dơngnghệ nhân thổi khèn bè và vợ là bà Lữ Thị Khoành (70 tuổi) nghệ nhân hátXuối, Lăm, ứ i,
Bác La Thị Phơng (54 tuổi) ở bản Phòng - Thạch Giám - Tơng Dơngnghệ nhân hát Nhuôn, Khắp,
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Su tầm t liệu
Để có nguồn t liệu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành su tầm,tích lũy t liệu chủ yếu ở Th viện Quốc gia Hà Nội, Viện Dân tộc học, Th việntỉnh Nghệ An, Th viện trờng Đại học Vinh, Bảo tàng văn hóa các dân tộc miềnnúi Quỳ Châu - Nghệ An, Phòng văn hóa - dân tộc của các huyện Quỳ Châu,Tơng Dơng (Nghệ An),… Sử dụng các phơng pháp điền dã dân tộc học, phỏngvấn, nghiên cứu và sao chép,… Trên cơ sở đó tập hợp lại thành nguồn t liệuphục vụ cho công tác nghiên cứu
3.2.2 Xử lý t liệu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi đã kết hợp vận dụng
ph-ơng pháp lịch sử và phph-ơng pháp lôgích để tái hiện quá trình định c và phát triểncủa ngời Thái ở Miền Tây Nghệ An Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơngpháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu các nguồn t liệu khác nhau để xácminh tính xác thực của các số liệu, sự kiện; phơng pháp mô tả, giải thích về cácphong tục tập quán qua lời kể của các nghệ nhân
Để luận văn đợc phong phú và thể hiện tính hiện thực, chúng tôi đã sửdụng phơng pháp điền dã dân tộc học trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi đãtrực tiếp đến một số địa bàn c trú của ngời Thái ở Miền Tây Nghệ An, trực tiếpphỏng vấn một số nghệ nhân, những ngời cao niên, các nhà nghiên cứu văn hóa
Trang 7dân gian, tham gia sinh hoạt văn hóa ở một số bản tiêu biểu để bổ sung t liệu…
Từ đó phân tích, đánh giá, rút ra những nhận xét, những kết luận khoa học,khách quan
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là một số nét đặc sắc về đời sống văn hóa tinh thầncủa ngời Thái ở miền Tây Nghệ An, trong đó trọng tâm là các vấn đề hôn nhân,tang ma, đời sống tín ngỡng, luật tục, đời sống văn nghệ của ngời Thái ở miềnTây Nghệ An
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu ngời Thái ở địa bànmiền Tây Nghệ An nằm trên hai khu vực đờng quốc lộ 48 và khu vực đờngquốc lộ 7 Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có đặt miền Tây Nghệ Antrong mối quan hệ với Tây Bắc và Đông Bắc Lào
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Luận văn tìm hiểu về sự thiên di của ngời Thái từ các tỉnh miền núi
phía Bắc nớc ta nh Tây Bắc, Thanh Hóa và Lào đến miền Tây Nghệ An Qua
đó, luận văn góp phần khắc họa quá trình xuất hiện, định c và phát triển củangời Thái ở miền Tây Nghệ An
5.2 Luận văn làm rõ đời sống văn hóa tinh thần của ngời Thái ở miền
Tây Nghệ An vừa phong phú, đa dạng nhng vẫn có đặc điểm riêng biệt, nhữngbản sắc văn hóa riêng, sức lan tỏa của văn hóa Thái đối với văn hóa các dân tộckhác, và nó góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa, văn nghệ của cácdân tộc trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
5.3 Đề tài góp phần tìm ra sự khác biệt giữa văn hóa truyền thống của
ngời Thái ở miền Tây Nghệ An và ngời Thái ở Tây Bắc, sự giao lu văn hóa giữadân tộc Thái với các dân tộc khác ở miền Tây Nghệ An và vùng Đông Bắc Lào
Từ đó, giúp các nhà quản lý văn hóa hoạch định những chính sách hợp lý đểgiữ gìn, bảo lu và phát triển những truyền thống văn hóa đó nhằm góp phần xâydựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
5.4 Trên cơ sở tập hợp và hệ thống t liệu về văn hóa dân tộc Thái ở miền
Tây Nghệ An, luận văn là một tài liệu quan trọng giúp ích cho việc biên soạn,nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phơng ở các trờng cao đẳng và trung học
đóng trên địa bàn tỉnh Nghệ An
5.5 Đề tài còn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân
trọng và biết giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Namnói chung, dân tộc Thái nói riêng, trong mọi tầng lớp nhân dân Nghệ An nói
Trang 8chung, nhân dân miền Tây xứ Nghệ nói riêng, đặc biệt là thế hệ trẻ - nhữngchủ nhân tơng lai của tỉnh nhà.
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vănchia làm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát về tộc ngời Thái ở miền Tây Nghệ An
Chơng 2: Đời sống văn hóa tinh thần của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An Chơng 3: Sự giao lu văn hóa của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An
Chơng 1 Khái quát về tộc ngời Thái ở miền Tây Nghệ An
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của miền Tây nghệ An
Nghệ An là tỉnh nằm ở miền Bắc Trung Bộ Việt Nam, có diện tích16.487,29 km2, dân số hơn 3 triệu ngời, Nghệ An là một trong những tỉnh lớncủa cả nớc Tổng diện tích miền núi và trung du Nghệ An chiếm 77% diện tích
tự nhiên của cả tỉnh, riêng vùng núi cao chiếm 58% diện tích tự nhiên [39, 9]
Khu vực miền Tây Nghệ An có diện tích 13.890 km2, chiếm 84% diệntích của tỉnh, là vùng không chỉ có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mà còn là một vùng có tầm quan trọng về anninh quốc phòng của đất nớc Phía Bắc miền Tây Nghệ An giáp miền núi tỉnhThanh Hóa, phía Tây giáp ba tỉnh Hủa Phằn, Xiêng Khoảng và Bulikhămxaycủa nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với đờng biên giới dài 419,5 km, cócửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn, cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy và cửa khẩu phụ
Ta Đo, phía Nam giáp vùng núi tỉnh Hà Tĩnh và phía Đông giáp các huyện
đồng bằng ven biển Nghệ An
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa lý học, miền Tây Nghệ An baogồm nhiều dãy núi chạy dọc theo hớng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trungbình so với mặt nớc biển từ 800 - 1000m Dãy núi cao nhất là dãy Pu Xai LaiLeng (2.771m) và Pu Rào Cỏ (2286m) nằm dọc theo biên giới Việt Lào đều đ-
ợc cấu tạo bởi đá xâm thực, có sờn dốc và bị các dòng chảy chia cắt dữ dội
Trang 9Tuy vậy, các đèo ở khu vực này lại có cấu tạo khá thấp, làm cho việc đi lại giữahai sờn đông (thuộc Nghệ An ) và sờn tây (thuộc Lào) khá dễ dàng, thuận tiệncho các luồng di c trong lịch sử ở vùng này do biến động của địa hình phứctạp đã để lại mặt bằng đa dạng về đất đai thổ nhỡng, sông ngòi, khí hậu và cảnguồn động thực vật.
Miền Tây Nghệ An thuộc vùng núi Trờng Sơn Bắc đợc cấu tạo từ Đại cổsinh và đã trải qua thời kỳ bào mòn, xâm thực rất dài, vì vậy ở đây chủ yếu làcác dãy núi vào loại trung bình thấp trong các hệ núi ở Việt Nam Các bề mặtsan bằng thờng có độ cao 800 - 1000m hoặc từ 500 - 600m nh hiện tợng vùng
đồi trớc núi Núi và đồi trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn đất đai củamiền Tây Nghệ An và chủ yếu đợc tạo nên bởi vùng núi Pu Hoạt ở Bắc sông Cả
và vùng Trờng Sơn ở Nam sông Cả thuộc hệ uốn nếp Trờng Sơn
Vùng núi Pu Hoạt khá cao, với đỉnh cao nhất là 2453m, đợc cấu tạo bằng
đá granit và rionit Núi thấp dần về phía đông, đổ xuống vùng Quế Phong, QuỳChâu, Quỳ Hợp Vùng núi Pu Hoạt còn có nhiều đỉnh cao trên dới 1500m Đặcbiệt ở vùng Phủ Quỳ, vào kỷ địa chất Đệ tứ đã có bazan phun trào dày tới gần100m trên một diện rộng hơn 1300 ha, tạo nên một dạng địa hình bán bìnhnguyên lợn sóng, dễ canh tác và dễ sử dụng cơ giới [1, 12]
Sông suối ở miền Tây Nghệ An chảy trong vùng địa hình phức tạp Hớngchảy phổ biến của sông suối là Tây Bắc - Đông Nam, với các chi lu dày đặc,tạo nên nhiều ghềnh thác hiểm trở, dòng chảy xiết Những thung lũng đợc tạo
ra do sự xâm thực của sông suối và quá trình bào mòn nói chung đã thu hút đợccác điểm quần c quan trọng với việc trồng lúa nớc Hoạt động kinh tế của c dânvùng này chủ yếu tập trung theo các thung lũng dọc theo triền sông hoặc đầungọn nguồn khe suối Các con sông chính ở miền Tây Nghệ An bao gồm:
- Sông Lam (Nặm Pao) còn gọi là sông Cả, xa có tên gọi là Sông Rum(màu lam) hay sông Thanh Long bắt nguồn từ ngã ba Cửa Rào thuộc địa phậnhuyện Tơng Dơng chảy qua Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lơng, Thanh Chơng rồi
đổ về Bến Thuỷ dài hơn 200km Sông Lam đợc hợp bởi hai con sông nhỏ làNặm Mộ và Nặm Nơn cùng nhiều phụ lu khác Phần thợng nguồn dòng chảyxiết, lắm thác ghềnh, có khả năng về thuỷ điện Mùa hạ nớc thờng đục, mực n-
ớc dâng cao do ma từ thợng nguồn và từ Lào đổ về Trái lại, mùa đông nớctrong xanh, mực nớc hạ thấp Sông Lam nổi tiếng về lắm tôm cá và là con đờnggiao thông thuỷ chủ yếu trong việc vận chuyển lơng thực, muối, hàng hóa từ
Trang 10xuôi lên phục vụ bà con dân tộc thiểu số trớc đây và ngợc lại đa hàng từ miềnnúi xuống đồng bằng.
- Sông Giăng (Nặm Khặng) bắt nguồn từ Đông Trờng Sơn chảy qua địaphận xã Môn Sơn huyện Con Cuông đến Vều đổ về xuôi Sông Giăng có giá trịthủy điện lớn lại lắm tôm cá
- Sông Con xuất phát từ vùng núi phía Tây chảy qua địa phận huyện Tân
Kỳ rồi đổ vào sông Lam tại địa phận huyện Anh Sơn
- Sông Hiếu (Nặm Hiếu) bắt nguồn từ Quế Phong chảy qua Quỳ Châu,Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn rồi đổ về xuôi [1, 13]
Ngoài ra, ở miền Tây Nghệ An còn hàng trăm con suối lớn nhỏ nổi tiếng
về tôm cá nh Nặm Quang, Nặm Hạt, Nặm Kiền, Nặm Pông, Nặm Việc… NgờiThái ở Mờng Chiêng Ngam thờng hát:
M
“ ờng Chiêng Ngam ky pá xám nặm
Nặm Hạt hanh nặm Việc ma thứng Nặm Giải hanh, nặm Quang tăng tiện”
Nghĩa là: M “ ờng Chiêng Ngam ăn cá ở ba sông
Nớc sông Hạt cạn thì sông Việc đầy Nớc sông Giải khô thì sông Quàng vẫn chảy”
Khí hậu ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng, bên cạnh đặc điểm chung lànóng ẩm, các tiểu vùng ở vùng thấp và vùng cao có nhiệt độ trung bình kháchênh lệch Vùng núi cao từ 800m trở lên đã bắt đầu xuất hiện khí hậu á nhiệt
đới, thậm chí một vài nơi nh Kỳ Sơn có cả khí hậu ôn đới Sự luân chuyển giữahai mùa ma và khô tác động nhiều đến điều kiện tự nhiên của vùng núi Cáchuyện vùng cao, do ảnh hởng độ cao của một số ngọn núi và các thung lũnggiữa vùng núi làm cho khí hậu đa dạng với nhiều tiểu vùng Nhiều nơi nhiệt độtrung bình là 100C, có lúc xuống thấp đến 00C Vùng lòng chảo Mờng Lống(Kỳ Sơn) rộng trên 50 ha có khí hậu giống Sa Pa, Tam Đảo Vùng này sơngmuối xuất hiện nhiều lần trong năm, ảnh hởng đến trồng trọt và chăn nuôi giasúc Mùa ma ở đây kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Gió Tây (gió Lào) thờngkéo theo giông lớn vào dịp đốt nơng rẫy Lợng ma hàng năm từ 1500mm trởlên, có nơi 3000mm Lũ lụt đột ngột dữ dội, gây xói mòn và rửa trôi mạnh.Mùa khô từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 năm sau, ít ma sông suối cạn, giómùa đông bắc tràn về, khí hậu lạnh [5, 8]
Do cấu trúc địa chất phức tạp nên nguồn khoáng sản ở miền Tây Nghệ
An rất phong phú và đa dạng Các đờng đứt gãy của sông có nhiều mỏ quý nh
Trang 11sắt, măng gan, than (Khe Bố - Tơng Dơng), thiếc (Quỳ Hợp), vàng (Dọc Nặm
Mộ, Nặm Nơn - Tơng Dơng), đá ru bi (Quỳ Châu)… Miền Tây Nghệ An nằmgiữa rừng núi Trờng Sơn Bắc, là nơi gặp gỡ nhiều đại diện thực vật từ Himalayaqua Vân Nam lan xuống và từ Malayxia, Inđônêxia lên Khí hậu ở đây nóngnên kiểu rừng núi nhiệt đới phát triển mạnh, nhất là ở độ cao từ 800m trởxuống Lên cao hơn có kiểu rừng nhiệt đới có rêu Những vùng có lợng ma ít
nh Mờng Xén (Kỳ Sơn), Cửa Rào (Tơng Dơng) có kiểu rừng rụng lá và rừngthứ sinh Tập đoàn động thực vật quý hiếm ở miền Tây Nghệ An đợc coi là cógiá trị kinh tế cao nh: gỗ pơ mu, lát, sến, táu, đinh, lim, mun, lát hoa,… vàhàng trăm loài động vật quý hiếm nh: voi, hổ, báo, saola, bò tót, gấu,… Ngoài
ra còn có hàng ngàn loại cây thuốc, dợc liệu khác Thiên nhiên của miền TâyNghệ An có nhiều nét đặc thù làm cho mối quan hệ xã hội của con ngời trongvùng chịu ảnh hởng, tạo nên nét riêng biệt về văn hóa mang tính tộc ngời độc
An là tỉnh có dân số Thái đông thứ hai ở Việt Nam sau tỉnh Sơn La Miền TâyNghệ An là vùng có những yếu tố văn hóa truyền thống vừa mang tính thốngnhất của văn hóa Thái, vừa mang tính đặc thù địa phơng do hoàn cảnh và điềukiện lịch sử riêng biệt và quá trình giao tiếp văn hóa với các c dân nhóm ngônngữ Việt - Mờng, Môn - Khơme
Ngời Thái ở Nghệ An sinh sống ở 11 huyện, 125 xã và 997 bản, trong đó
có 16 xã, 492 bản 100% đồng bào dân tộc Thái sinh sống; 109 xã và 505 bảnxen kẽ với các dân tộc khác Cụ thể: Kỳ Sơn có 14 xã, 42 bản; Tơng Dơng có
22 xã, 174 bản; Con Cuông có 13 xã, 122 bản; Anh Sơn có 13 xã, 18 bản;Nghĩa Đàn có 16 xã, 124 bản; Quỳ Hợp có 15 xã, 256 bản; Quỳ Châu có 12 xã,
136 bản; Quế Phong có 14 xã, 186 bản; Thanh Chơng có 2 xã, 8 bản; Tân Kỳ
có 2 xã, 26 bản; Quỳnh Lu có 2 xã, 5 bản Trong đó có 20 xã biên giới giáp với
3 tỉnh là Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và Hủa Phăn của nớc bạn Lào Đồng
Trang 12bào Thái ở Nghệ An có 59.592 hộ, 311.339 khẩu (chiếm 9,84% dân số toàntỉnh), tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi trung du của tỉnh, nơi có điều kiệnthiên nhiên thuận lợi, địa hình tơng đối bằng phẳng, giao thông đi lại dễ dàng.Trong đó Kỳ Sơn có 2957 hộ, 17742 ngời; Tơng Dơng có 10.669 hộ, 51199 ng-ời; Con Cuông có 9818 hộ, 48587 khẩu; Anh Sơn có 1538 hộ, 7719 khẩu;Nghĩa Đàn có 2388 hộ, 12572 khẩu; Quỳ Hợp có 11397 hộ, 69561 khẩu; QuỳChâu có 8720 hộ, 42138 khẩu; Quế Phong có 9808 hộ, 51389 khẩu; Thanh Ch-
ơng có 846 hộ, 3463 khẩu; Tân Kỳ có 1072 hộ, 5280 khẩu; Quỳnh Lu có 379
ơđu ở Tơng Dơng; ngời Thổ c trú ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp Thế nhngxét cho cùng yếu tố c trú xen kẽ giữa các dân tộc là khá phổ biến Tình trạng
đó dẫn đến việc trong cùng một địa bàn, có xã có đến 3 - 4 dân tộc cùng c trú.Mật độ dân c ở đây không đồng đều, vùng thấp mật độ cao, vùng cao mật độthấp Đặc điểm thứ hai là có sự chênh lệch khá lớn về độ cao của địa bàn c trúvới 3 vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp Điều này dẫn đến phơng thứccanh tác ở các vùng cũng khác nhau Ngời Thái c trú ở vùng thấp chủ yếu làmruộng nớc, chăn nuôi, làm nghề thủ công Ngời Thổ c trú ở vùng đồi trớc núithuận tiện trồng lúa, ngô, cây củ, quả, một số c trú dọc khe suối thì làm nơng,
đánh bắt cá Ngời Khơ mú, ơđu c trú ở đầu nguồn khe suối hay vùng sâu gắnvới nền kinh tế nơng rẫy Đặc biệt ngời Khơ mú c trú chủ yếu ở lng chừng núi,nằm giữa khoảng c trú của ngời Thái và Hmông Ngời Hmông sống ở vùng caochủ yếu trên các đỉnh núi, lấy canh tác nơng rẫy làm nguồn sống chính
Mặc dù sống xen kẽ hay biệt lập, ở thị trấn đông ngời hay vùng cao,vùng sâu xa xôi, và với số lợng chênh lệch nhau nhng mối quan hệ các dân tộcvẫn giữ đợc khá chặt chẽ không ngừng đợc củng cố Tuy chợ miền núi cha pháttriển nhng những điểm tụ c đông đúc, những dịp hội hè giao duyên nam nữ…vẫn là những điều kiện thuận lợi cho sự gặp gỡ tiếp xúc tăng cờng mối quan hệdân tộc lành mạnh [39, 41] Trong đó ngời Thái với số lợng dân số đông nhất
Trang 13thực sự là dân tộc đa số trong vùng có vai trò ảnh hởng trong quá trình pháttriển kinh tế, văn hóa của vùng miền Tây Nghệ An.
1.2.2 Tên gọi và lịch sử c trú
1.2.2.1 Tên gọi
Tộc danh Thái là tên gọi chung cho các nhóm địa phơng ở Nghệ An Têngọi này đợc khẳng định mang tính pháp lý từ khi có Bảng danh mục thành phầncác dân tộc Việt Nam (năm 1979) Bản thân ngời Thái ở miền Tây Nghệ Ancũng rất hài lòng với tên gọi này Tuy nhiên, trong lịch sử tên gọi của các nhómThái ở miền Tây Nghệ An là một vấn đề hết sức phức tạp Cũng nh đồng tộccủa mình ở vùng Tây Bắc, ngời Thái ở Nghệ An đều tự gọi mình là Phủ Tàyhay Côn Tay đều có nghĩa là "ngời" Thế nhng, khác với ngời Thái ở Tây Bắc,ngời Thái ở Nghệ An không có sự phân định rõ ràng theo hai ngành Thái Đen(Tày Đăm) và Thái Trắng (Tày Khao), mà chỉ đợc phân biệt theo các nhóm địaphơng (local groups) Việc phân chia ngành Thái Đen, Thái Trắng ở Nghệ Anxem ra rất mờ nhạt Trái lại, ở đây lại tồn tại ba tên gọi gắn với ba nhóm địaphơng là Tày Mờng, Tày Thanh và Tày Mời Theo Lê Sỹ Giáo, bộ phận tự gọi
là Tày Mờng thuộc về ngành thái Trắng, còn bộ phận tự gọi là Tày Thanh, TàyMời thuộc về ngành Thái Đen Mặc dù tên gọi khác nhau nhng về cơ bản họ
đều có những đặc trng tộc ngời giống nhau thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế,văn hóa, xã hội và cả nguồn gốc lịch sử Một trong những đặc trng cơ bảnthống nhất giữa họ là ngôn ngữ nhng cái cơ bản nhất chính là ý thức về tên gọichung: Tày hay Tay Bởi vậy, chỉ từ năm 1976 trở đi, do sự tuyên truyền giáodục của các cấp ủy và chính quyền địa phơng, ba nhóm Thái này mới tự nhận
là những bộ phận (những nhóm địa phơng) của ngời Thái (Côn Tay hay PhủTày)
Nhóm Tày Mờng hay còn gọi là Tày Xiềng (Tày Chiềng), Hàng Tổng vàTày Dọ Theo nghĩa tiếng Thái, Tày Mờng là tên gọi để chỉ nhóm có ngời đồngtộc làm chủ đất trong mờng Tày Xiềng là tên gọi để chỉ những bộ phận c trú ởbản trung tâm trong mờng - bản Xiềng Hàng Tổng là tên gọi mới chỉ xuất hiện
từ thời Nguyễn, khi Minh Mệnh đổi các đơn vị hành chính của ngời Thái từchâu, mờng thành phủ và dới phủ là Tổng (hay Xổng) Tày Dọ là tên phiếm chỉvới hàm nghĩa phân biệt và miệt thị lẫn nhau Với cách giải thích của ngời Thái
ở Nghệ An thì “Dọ” có nghĩa là ở cố định, chẳng hạn “dú dọ” là ở cố định.Theo Lê Sỹ Giáo thì chữ “Dọ” cũng có thể phát âm thành chữ “Do”, có chung
Trang 14gốc với chữ “Xo” (hay So) tức Mờng Do ở Vân Nam (Trung Quốc) hay Mờng
So ở Phong Thổ - Lai Châu [19, 41]
Nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh hay Tày Nhại, nhóm này khôngphải nguồn gốc ở địa phơng Tày Thanh hay Man Thanh là tên gọi bắt nguồn từ
địa danh c trú trớc khi họ chuyển c tới miền Tây Nghệ An, đó là Thanh Hóahay Mờng Thanh (Điện Biên - Lai Châu) Vấn đề ở đây là tại sao tên gọi củanhóm Tày Thanh lại đợc gắn với chữ Man? Trong cuốn “Lịch triều hiến chơngloại chí”, phần ghi chép về Nghệ An, nhà sử học Phan Huy Chú có viết “ lạicòn khoảng đất gắn liền với ngời Man, ngời Lào ” [11, 63] Chữ “Man” này
có lẽ là tên để chỉ các tộc ngời thiểu số c trú ở vùng núi Nghệ An nói chungtrong đó có cả ngời Thái Đặng Nghiêm Vạn cũng cho rằng từ “Man” là do ng-
ời Hán gọi tất cả các dân tộc sinh sống ở phơng Nam Sau này, do quá trìnhlịch sử trở thành một tên phiếm mang tính miệt thị để chỉ tất cả các dân tộc ítngời [1, 24] Theo ngời Thái ở Nghệ An thì “Nhại” có nghĩa là di chuyển,chẳng hạn “Nhại hơn, nhại bản” có nghĩa là chuyển nhà, dời bản Bởi vậy,
“Dọ” và “Nhại” hoàn toàn không phải là tên gọi ngẫu nhiên mà nó hàm chứamột ý nghĩa nào đó Có thể từ “Dọ” và “Nhại” ban đầu là danh xng nhng về sau
nó trở thành tên phiếm chỉ với hàm nghĩa phân biệt thời gian có mặt cũng nhvai trò, địa vị xã hội giữa các lớp dân c của các nhóm Thái trong vùng
Nhóm Tày Mời theo Đặng Nghiêm Vạn là tên gọi bắt nguồn từ địa danhquê hơng cũ trớc khi họ di c vào Nghệ An là Mờng Muổi, Thuận Châu (SơnLa) [75, 26] Ngoài tên gọi Tày Mời, họ còn có tên phiếm chỉ là Hua Cốp vớihàm ý thấp hèn, thua kém về nhiều mặt so với hai nhóm Thái trên
Ngoài ba nhóm Thái trên ở miền Tây Nghệ An cò có nhóm Tày Khăng,
là bộ phận Thái di c từ Mờng Khăng thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) sang,
nh-ng số dân khônh-ng đánh-ng kể, họ ở rải rác trên vùnh-ng Kỳ Sơn và Tơnh-ng Dơnh-ng
Nh vậy, ta thấy tên gọi theo địa danh nơi c trú là hiện tợng phổ biến củangời Thái ở miền Tây Nghệ An cũng nh ở Việt Nam nói chung Tên gọi củacác nhóm Thái ít nhiều chứa đựng nội dung phản ánh thời gian và quá trình ctrú của họ, ở vào những giai đoạn sớm muộn khác nhau, trong đó có những têngọi cổ hơn nh Tày Dọ, Tày Nhại, và có những tên gọi chỉ mới xuất hiện vàogiai đoạn muộn hơn nh Tày Mờng, Tày Hàng Tổng… Và điều đặc biệt là ngờiThái ở miền Tây Nghệ An rất mờ nhạt trong việc phân theo hai ngành Đen,Trắng, rất nhiều trờng hợp khi đợc hỏi, họ không biết mình là Thái Đen hayThái Trắng, thế nhng ý thức tự nhận theo nhóm lại rất rõ ràng
Trang 151.2.2.2 Lịch sử c trú
Thời gian và sự có mặt của các nhóm Thái ở từng địa phơng của miềnTây Nghệ An sớm muộn khác nhau, trải qua những diễn biến hết sức phức tạp
Có nhóm đến trớc, nhóm đến sau, nội bộ không thuần nhất, chia làm nhiều đợt
ở Nghệ An nhiều câu chuyện thiên di và chuyển c của các nhóm Thái lại gắnliền với việc khai phá nên những cánh đồng rộng lớn, những công trình thủy lợi
nh Môn Sơn, Lục Dạ (Con Cuông), Xá Lợng (Tơng Dơng)… Theo giáo s ĐặngNghiêm Vạn, các nhóm Thái di c vào đất Nghệ An không thể sớm hơn thế kỷ
XI - XII và có thể hoài nghi ở những vùng trung du Nghệ An và dọc đờng 7 các
c dân có sinh sống liên tục ở đó hay không? Gần đây học giả PhápChamberlain (Cham-bơ-lai) trong hội thảo các phơng ngữ Thái vào tháng1/1991 tại Thái Lan cho rằng ngời Thái có mặt ở Nghệ An sớm hơn thế kỷ thứ
XI Luận cứ của tác giả là căn cứ vào việc nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử di ccủa ngời Tày Mèn ở tỉnh Kham Muộn (Lào) vốn có gốc gác từ Xiềng Mèn ở T-
ơng Dơng - Nghệ An [5, 32]
Tuy nhiên theo nguồn tài liệu thông sử thì sự có mặt của các nhóm Thái
ở vùng núi Nghệ An rõ rệt nhất là vào thời Trần và thời thuộc Minh thế kỷXIII - XV
ở khu vực đờng 7, sự có mặt của ngời Thái rõ rệt nhất là vào thời cuốiTrần sang Lê Sử cũ chép có Cầm Bành (Căm Panh) đợc quân Minh phong cholàm Tớng giữ thành Trà Lân (thành Nam - di tích gần huyện lỵ Con Cuông).Khi Lê Lợi đem quân vây thành hai tháng trời, Cầm Bành chống cự nhng cuốicùng cũng thất bại [75, 24] Lần tìm về quá khứ lịch sử, chúng ta thấy vùng đ-ờng 7 đã đợc nhắc đến trong sử sách từ thời Trần, thời Lê và nhất là thờiNguyễn Thời Trần, vùng đờng 7 đợc gọi là đất “Mật Châu”, sang thời thuộcMinh đất “Mật Châu” đợc gọi là Trà Long, năm 1407 lại đổi thành châu TràThanh Đến thời Lê, châu Trà Thanh đổi thành phủ Trà Lân gồm 4 huyện: HộiMinh, Kỳ Sơn, Tơng Dơng và Vĩnh Khang, tục gọi là Tứ Lân thời Nguyễn, nămMinh Mệnh thứ 2 (1882) phủ Trà Lân đổi thành phủ Tơng Dơng lãnh 4 huyện:
Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Vính Hòa và Hội Nguyên [5, 35]
Nh vậy, từ thời Trần và nhất là thời Lê, những bộ phận đầu tiên của ngờiThái rõ ràng đã có mặt tại rẻo đất đờng 7 và họ đã trải qua một thời gian định
c tơng đối lâu dài Cùng với việc khai khẩn ruộng nớc, mở rộng bản mờng dọctheo hai bờ sông Lam và các thung lũng nằm sâu trong núi từ địa phận thợnghuyện Anh Sơn lên Con Cuông và hạ huyện Tơng Dơng ngày nay Một chi tiết
Trang 16đợc ghi chép trong sử cũ đáng lu ý là: “năm 1425, sau khi giải phóng thành TràLân, Lê Lợi liền vỗ về các bộ lạc, khen thởng các tù trởng và trong một thờigian ngắn đã tuyển lựa đợc 5000 thanh niên xung vào đội nghĩa binh” Trong
số 5000 thanh niên ấy, chắc chắn phải bao gồm con em ngời Thái tham gia.Hiện nay ở địa phận huyện Con Cuông còn rất nhiều địa danh liên quan đếncuộc khởi nghĩa Lam Sơn nh: đền Toòng ở xã Lục Dạ thờ Khả Lam khai QuốcCông, đền Chín gian (noong Càu Hoòng), đền Đỏ (noong Đèng), Thung Đống(Tung Coong), hẻm Voi Chẹt (Cặp Xạng)… thuộc địa phận xã Chi Khê Tơngtruyền đó là những nơi nghĩa quân Lê Lợi bị giặc vây riết phải ăn cơm lam Nơinghĩa quân ăn mừng chiến thắng trong cái lán chín gian; nơi xơng giặc chất thành
đống và nơi nghĩa quân rửa giáo mác sau mỗi trận chiến thắng trở về [5, 35 - 36]
Từ thế kỷ XIV trở đi, ngoài các bộ phận Thái đã định c trớc vùng đờng 7còn đợc bổ sung thêm số lợng dân c bằng những đợt chuyển c liên tục, kéo dài
từ vùng Tây Bắc qua Thanh Hóa, vào phủ Quỳ rồi từ vùng Phủ Quỳ chuyểnsang nhập với các bộ phân Thái của vùng Con Cuông hạ Tơng Dơng Những bộphận Thái từ Tây Bắc qua Lào tràn xuống c trú dọc theo sông Nặm Mộ và cácthung lũng hẹp của huyện Kỳ Sơn; một bộ phận khác tiếp tục đi sâu vào c trúdọc theo sông Nặm Nơn c trú tại các xã vùng sâu của huyện Tơng Dơng hợpvới bộ phận Thái chuyển từ vùng Phủ Quỳ đến trớc đó
Tại khu vực đờng 48, căn cứ vào các nguồn tài liệu thông sử thì ngời Thái
có mặt tại Phủ Quỳ vào thời thuộc Minh Sử cũ chép: Vào thời thuộc Minh cóCầm Quý làm tù trởng cai quản trong vùng Khi Lê Lợi đem quân vào Nghệ An,Cầm Quý đã đem toàn bộ đội dân binh gia nhập nghĩa quân Trong cuốn “Nghệ
An Ký” của Bùi Dơng Lịch cũng ghi "Phủ Quỳ xa thuộc đất Bàn Nam tục gọi làMờng Tôn (hay Bôn) Đầu thời Lê do tù trởng Cầm Công chiếm giữ Đến thờiHồng Đức, tách ra thành phủ Trấn Ninh gồm 7 huyện" [37, 202]
Cũng từ thế kỷ XIV trở đi, vùng Phủ Quỳ liên tục tiếp nhận những đợtthiên di của ngời Thái ở vùng Tây Bắc, Thanh Hóa và cả Lào nữa Những cuộcchuyển c này kéo dài cho đến thế kỷ XVIII - XIX, khiến cho vùng Phủ Quỳ trởthành một trung tâm của ngời Thái ở vùng miền núi Nghệ An Do sự gia tăng
về dân số, vùng Phủ Quỳ trở thành “đất chật ngời đông” nên một bộ phận ngờiThái đã di chuyển sang vùng Con Cuông; một bộ phận khác tiếp tục chuyểnqua vùng Tơng Dơng Bên cạnh đó, có một số dòng họ từ Phủ Quỳ di c sangtận Lào (Xiêng Khoảng, Bulikhămxay) hợp với nhóm Phu Thay ở Lào, nhất làvào những năm nạn giặc Cờ Vàng, Cờ Đen
Trang 17Trong các nhóm Thái ở miền Tây Nghệ An, nhóm Tày Mờng là nhómquan trọng nhất và là nhóm có mặt sớm nhất so với hai nhóm Thái còn lại Địabàn c trú đầu tiên của họ là tại vùng Phủ Quỳ (cũ) bao gồm các huyện QuếPhong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp ngày nay Theo thần phả đền Chín gian ở MờngNoọc (Quế Phong) tục gọi là “Đền Pu Quai'' (Đền đồi hiến trâu) cho biết dòng
họ Sầm (còn gọi là “Lò Căm” hay Cầm) do hai anh em là Cầm Lứ và Cầm Landẫn dắt dòng họ Thái từ Tây Bắc vào Nghệ An (xem truyện “Con trâu bạc”),tính đến khi Pháp sang xâm lợc nớc ta, đã qua 17 đời làm thế tập tạo Mờngkiêm Chẩu hua (chủ phần hồn) vùng Quỳ Châu cũ [16, 207] Theo cách tínhcủa dân tộc học, một đời là 20 - 25 năm nên 17 đời tính tròn sẽ là khoảng 400năm Tính tổng cộng đến nay nhóm Thái này có mặt ở đây khoảng trên dới 500năm tức vào thời Lê Sơ
Tày Mờng là nhóm có mặt đầu tiên nên họ đợc tính là dân gốc Páy đinh(dân đinh) có công khai sơn phá thạch, xây dựng bản mờng trong vùng và đơngnhiên họ nắm toàn bộ hệ thống chức dịch quan trọng nhất Tuy vậy, nhóm TàyMờng cũng không phải là nhóm thuần nhất mà do nhiều bộ phận tụ hợp lại.Nhóm này có nhiều dòng họ vốn không phải gốc Thái nh: Nguyễn, Phạm,
Đinh, Lê, Bùi,… Sở dĩ có tình trạng trên là do một số ngời Kinh vì lý do nào đó
nh trốn thuế, lu quan, mắc nợ hay có tội với triều đình… phải chạy lên miềnnúi rồi sát nhập vào c dân bản địa
Nhóm Tày Thanh thờng c trú thành những bản riêng biệt ven sông Lamhay nằm sâu trong các thung lũng nhỏ ven khe suối Một số c trú xen kẽ vớinhóm Tày Mờng Theo Đặng Nghiêm Vạn thì nhóm Tày Thanh không phải chỉ
từ Thanh Hóa vào mà còn gồm cả một bộ phận Thái từ Mờng Thanh (ĐiệnBiên - Lai Châu) chuyển c qua Lào c trú rồi mới đến Nghệ An cách đây khoảng
200 - 300 năm nay [75, 27] Trong lời mo tiễn hồn ngời chết lên trời (Then) gọi
là “Xên Xống”, thầy mo thờng dẫn theo hai con đờng: dẫn hồn ngời chết đi
ng-ợc theo sông Lam đến Pu Đen Đin (ngọn núi cao nhất giáp biên giới Việt - Làotại Kỳ Sơn); còn một con đờng khác xuôi theo sông Lam đến nặm Tá khai -bến sông nơi sông giáp biển Dù tiễn hồn theo hai đờng, nhng cũng đều đa đếnMờng Thanh (mà dân gian quen gọi đó là Mờng Then quê cha đất tổ) Nh vậy,chúng ta có thể đoán định rằng: con đờng chuyển c của nhóm Tày Thanh vào
đất Nghệ An đợc xác định là theo hai hớng Một hớng từ Thanh Hóa sang PhủQuỳ (Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong), nhng vì đến muộn nênnhóm Tày Thanh phải sống xen ghép với nhóm Tày Dọ đã đến từ trớc đó Do
Trang 18vậy, trớc đây họ bị coi là: “dân ngụ c” (Páy c) và có địa vị thấp hơn trong xãhội Một hớng di c khác là từ Mờng Thanh (Điện Biên, Lai Châu) qua Lào rồimới vào đất Nghệ An và c trú ở vùng thợng nguồn sông Nậm Pao hay dọc theocác con suối Nậm Mộ, Nậm Nơn… Tuy nhiên, nhóm Tày Thanh cũng khôngphải chuyển c đến cùng một lúc, mà có bộ phận đến trớc, bộ phận đến sau, chialàm nhiều đợt khác nhau Khi chuyển c đến đây họ phải sống phân tán trongcác ngọn nguồn khe suối để tìm những vùng đất có thể khai khẩn đợc Do vậy,tuy đến sau nhng một số ngời đứng đầu nhóm Tày Thanh vẫn trở thành các chủ
đất nhỏ và lập nên những mờng riêng nh Mờng Quạ (Con Cuông) hay Xá Lợng(Tơng Dơng) Đôi khi họ cũng phải làm “cuông”, “nhốc” của các chủ đất vàcác chức dịch trong mờng, phải chịu nghĩa vụ lao dịch và cống nạp
Nhóm Tày Mời chuyển c đến vùng Nghệ An muộn hơn so với hai nhómThái trên Vì đến sau nên họ phải chịu thân phận “ăn” nơng hoặc phải càyruộng thuê cho các chủ Thái khác Do c trú xen kẽ, gần gũi với nhóm Tày M-ờng và nhóm Tày Thanh cho nên họ chịu ảnh hởng văn hóa, ngôn ngữ cũng nhphong tục tập quán của hai nhóm này Về nhân chủng, họ phần nào có nétgiống với c dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme Mặc dù họ không còn nhớ gì vềviệc chuyển c của tổ tiên mình nhng đồng tộc của họ ở Tây Bắc lại lu giữnhững tài liệu quý giá về thời gian và nguyên nhân ra đi của họ Trong cuốnsách của ông mo ở xã Chiềng Pấc - Mờng Muổi (Thuận Châu - Sơn La) có chép
“Khi Lê Thái Tổ đánh Đèo Cát Hãn (sử Thái chép là Cớt Căm), chúa MờngMuổi theo họ Đèo chống lại triều đình Để trừng phạt hành động đó, Lê Lợi đãcho đi một bộ phận dân Mờng Muổi vào Thanh Hóa, Nghệ An Vì vậy, nhómTày Mời vẫn tự gọi theo tên quê hơng cũ của mình Nhng qua thời gian tên ấy
đã bị gọi chệch đi, Tày Muổi thành Tày Mời” [75, 27] Nh vậy, khoảng thế kỷ
XV, một bộ phận Thái Đen ở Mờng Muổi (Thuận Châu - Sơn La) đã bị Lê Lợibắt làm tù binh và di chuyển họ vào Thanh Hóa và Nghệ An, họ đã dừng chânkhá lâu tại các huyện miền Tây tỉnh Thanh Hóa, sau đó họ mới chuyển c sangNghệ An và Lào vào giai đoạn muộn hơn Hiện nay, ở Nghệ An nhóm Tày Mời
c trú rải rác ở một số xã thuộc các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Tân Kỳ, ConCuông và Tơng Dơng
Qua phân tích trên chúng ta thấy thời gian và sự có mặt của từng nhómThái ở miền Tây Nghệ An sớm muộn có khác nhau và trải qua những diễn biếnhết sức phức tạp, có nhóm đến trớc, có nhóm đến sau, chia làm nhiều đợt, họ đãhình thành nơi đây ba nhóm Thái chính: Tày Mờng, Tày Thanh và Tày Mời
Trang 19Mặc dù, về cơ bản các nhóm Thái nơi đây có đặc trng thống nhất, nhng nhómTày Mờng tự nhận là Thái Trắng (Tày Khao), hai nhóm Tày Thanh và Tày Mời
tự nhận là Thái Đen (Tày Đăm) nên giữa họ cũng có những khác biệt nhất định
về đặc trng văn hóa đặc biệt là phong tục tập quán
1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của miền Tây Nghệ An
Hiện nay đời sống kinh tế của đồng bào Thái ở miền Tây Nghệ An đã cónhiều bớc khởi sắc Những năm qua nhờ chính sách của Đảng và Nhà nớc đầu
t vào các dự án phát triển kinh tế - xã hội cho vùng sâu, vùng xa, các xã đặcbiệt khó khăn, các xã biên giới nên đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Tháingày càng đợc cải thiện Các bản Thái đều đã có máy xay xát, thủy điện nhỏ,
có Parabol để xem Tivi, nhiều gia đình đã có xe máy, đàn gia súc đợc pháttriển; cơ sở hạ tầng đã có những bớc phát triển, 100% các xã đã đợc lắp đặt
điện thoại, hầu hết các xã đều có đờng ôtô vào trung tâm xã Để hiểu rõ về đờisống văn hóa tinh thần của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An, chúng ta nên điểmqua đời sống kinh tế - xã hội trong xã hội cổ truyền của ngời Thái ở miền TâyNghệ An
1.3.1 Kinh tế
Đại bộ phận ngời Thái sống ở chân núi, trong các thung lũng, dọc theocác con sông, ngọn suối, nơi có nhiều ruộng đất màu mỡ Ngời Thái là mộttrong những tộc ngời làm ruộng nớc sớm nhất trong khu vực Đông Nam á.Việc trồng lúa nớc luôn giữ vai trò chính và lúa là giống cây trồng chủ đạo củangời Thái Cây lúa đợc trồng hai vụ trong một năm, đây là hình thức trồng trọt
đã mang tính ổn định trên những mảnh ruộng vĩnh viễn, ít nhiều đợc bón phânchuồng, đã biết dùng cày, bừa để trồng lúa; dùng liềm hái, nhíp để thu hoạch.Ngời Thái ở miền Tây Nghệ An đã có một số cánh đồng đất tốt có thể thâmcanh từ hai đến ba vụ, nh cánh đồng Mờng Noọc (Châu Kim - Quế Phong)rộng khoảng 900 ha, cánh đồng Châu Tiến - Châu Bính (Quỳ Châu) rộngkhoảng 700 ha, cánh đồng Châu Hạnh (Quỳ Châu) rộng 300 ha, cánh đồngChâu Bình (Quỳ Châu) rộng 300 ha, cánh đồng Mờng Ham (Châu Quang -Quỳ Hợp), Mờng Chủng Láng (Châu Yên cũ - Quỳ Hợp) rộng 900 ha, cánh
đồng Mờng Choọng (Châu Lý - Quỳ Hợp) rộng trên 200 ha… và còn nhiềucánh đồng khác rộng trên 100 ha Các cánh đồng này chiếm gần 50% diện tíchlúa nớc hai vụ ở miền núi Nghệ An hiện nay Ngời Thái sớm biết tạo lập nhữngcông trình thủy lợi với hệ thống đắp phai, mơng Ngời Thái quan niệm “có nớcmới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa” (mì nặm chắng pên nà, mì nà chắng pên
Trang 20kháu) Câu thành ngữ nổi tiếng của ngời Thái khi nói về các hệ thống thủynông “mơng, phai, lái, lìn, cọn” đã khái quát phần nào kỹ thuật làm thủy lợi
điển hình của ngời Thái (“Mơng” là đờng khai để dẫn nớc từ miệng phai vàoruộng “Phai” là một loại đập ngăn suối dựng bằng gỗ, nứa, rơm, rạ, đất… đểdâng mực nớc vào mơng dẫn tới ruộng “Lái” là một dạng phai phụ thờng đợc
đắp trong các con mơng để dẫn nớc vào các triền ruộng, các thửa ruộng lẻ
“Cọn” nớc là công cụ phục vụ tới tiêu đợc làm bằng tre, gỗ áp dụng theonguyên tắc lợi dụng dòng suối chảy xiết để tạo ra một lực tác động làm choguồng quay rồi đa nớc lên vùng ruộng cao Khi guồng quay, các ống tre haynứa buộc theo hình chéo tự múc đầy nớc đa lên đổ vào mơng hay máng hứng
để chảy theo mơng tới ruộng “Lìn” là một hệ thống máng dẫn nớc vào ruộng,thờng đợc làm bằng loại cây có giống nh tre, luồng “Lìn” giống nh một con m-
ơng có tác dụng hứng nớc từ guồng cọn hoặc từ mơng dẫn nớc vào ruộng Thayvì không thể đào mơng đợc vì chớng ngại vật hoặc vì quá xa, thì “Lìn” là biệnpháp hữu hiệu nhất trong việc dẫn thủy nhập điền) Bên cạnh việc làm ruộnglúa nớc thì nơng rẫy cũng là thế mạnh của nền kinh tế truyền thống của ngờiThái Trên đất nơng họ trồng các loại cây lơng thực phụ nh ngô, khoai, sắn…
và hoa màu nh rau, đỗ, lạc, bầu bí… Phơng thức canh tác nơng rẫy đậm nét của
c dân Thái là theo kiểu “đao canh hỏa chủng” (phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt).Riêng nhóm Man Thanh c trú ở vùng sâu hiểm trở, dọc biên giới Việt - Lào,diện tích làm ruộng nớc ít, nguồn sống chủ yếu dựa vào nơng rẫy
Bên cạnh nông nghiệp trồng trọt, hoạt động kinh tế của ngời Thái miềnTây Nghệ An còn có chăn nuôi, làm nghề thủ công, trao đổi và săn bắn, hái l-
ợm cũng chiếm vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày
Chăn nuôi ở đây cũng đã phát triển với các loại vật nuôi khá phong phú:trâu, bò, lợn, gà, vịt… không chỉ làm thức ăn hàng ngày mà còn sử dụng trong
tế lễ hoặc tiếp khách Trong cuộc sống, trâu là con vật đợc ngời Thái rất quýtrọng Ngoài việc sử dụng sức kéo cho nông nghiệp, trâu còn là vật dùng đểcúng tế trời đất, tổ tiên… bởi vậy trâu vẫn đợc nuôi nhiều hơn so với các vậtnuôi khác Do đặc thù sống ở ven thung lũng và các sông, suối nên ngời Tháigiỏi bắt cá và thích ăn cá Họ đa cá ngang tầm với lúa gạo, trở thành món ănquen thuộc hàng ngày
Trang 21Sống giữa vùng núi rừng rậm nhiệt đới, các sản vật tự nhiên phục vụ cuộcsống con ngời khá phong phú Hơn nữa khi họ đến Nghệ An nh là những c dân đếnkhai khẩn đầu tiên nên việc tiến hành các hoạt động hái lợm và săn bắn rất thuậnlợi và chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống của đồng bào [39, 55 - 56] Có hailoại hình thức săn bắn tự nhiên: săn bắn tập thể và săn bắn cá nhân Nghề sănbắn không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần mở mang sinh hoạtvăn hóa cộng đồng Nếu nữ giới và trẻ em gắn với lao động hái lợm thì nam giớigắn với hoạt động săn bắn và đánh cá Đồng bào còn nhiều kinh nghiệm đánhcá bằng chài, đơm đó, làm “chặng” và các phơng thức đánh bắt cá tập thể nhânnhững dịp làm lễ có liên quan đến tôn giáo Bên cạnh các hồ cá lớn trong bản,cá đợc đánh bắt trên sông, cá còn đợc thả vào ruộng khi lúa đã xanh cây, mùagặt tháo nớc để bắt cá Đây chính là phơng thức canh tác rất đặc trng của tộc ng-
ời Thái Cá ruộng, ao hồ theo mùa vụ nông nghiệp cung cấp cho mỗi gia đìnhhàng tạ cá để làm mắm hoặc sấy khô dùng quanh năm
Ngời Thái ở đây còn có nghề thủ công truyền thống nh đan lát, dệt thêu,làm gốm, rèn sắt, mộc… trong đó nghề dệt phát triển hơn cả Phụ nữ Thái aicũng biết dệt vải, qua sản phẩm dệt nó thể hiện sự cần cù khéo léo của họ.Nghề dệt đợc coi là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá ngờiphụ nữ Thái trong xã hội cổ truyền Thái, đánh giá sự giàu nghèo trong mỗi gia
đình Thái Các sản phẩm đều lấy nguyên liệu từ sợi bông, tơ tằm và làm bằngnhững công cụ truyền thống Các sản phẩm nổi bật nh khăn piêu, váy áo, chăn
đệm, gối… Tuy nhiên, nghề dệt ở đây vẫn tiến hành theo mùa, tranh thủ lúcnhàn rỗi, cha xuất hiện các xởng dệt lớn với đội ngũ thợ lành nghề tách khỏitrồng trọt Trao đổi ở đây chủ yếu đợc diễn ra trong nội bộ tộc ngời hoặc vớicác dân tộc khác vùng Tất cả các hoạt động này chỉ mang tính chất bổ trợ vàphụ thuộc chặt chẽ vào trồng trọt, nó chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tự cấp, tự túc
là chính Bởi vậy, chăn nuôi cha trở thành ngành riêng, thủ công nghiệp chatách khỏi nông nghiệp, việc trao đổi buôn bán giữa các thơng nhân còn yếu ớt,mặt hàng nghèo nàn, cha thể hiện rõ nét do vậy ở họ cha diễn ra cuộc đại phâncông lao động xã hội
1.3.2 Văn hóa giáo dục
Trang 22Về tiếng nói, tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tày - Thái, gần với các thứ tiếngLào, Thái Lan.
Về chữ viết, đồng bào Thái có chữ viết từ thời cổ Chữ Thái cổ là mộtnhánh của chữ Phạn (chữ cổ ấn Độ) Năm 1961, Nhà nớc chủ trơng xây dựng
bộ chữ Thái La Tinh, nhng việc sử dụng chữ còn rất hạn chế
Về giáo dục, hầu hết các xã đều có trờng phổ thông cơ sở, số học sinhphổ thông so với trớc cách mạng tăng gấp hàng nghìn lần Hiện nay, ở Nghệ
An tất cả các xã có đồng bào dân tộc Thái sinh sống đều đã có trờng mầm non,cấp 1 và cấp 2, hầu hết đợc xây dựng kiên cố Tổng số học sinh Mẫu giáo:11.774 em, chiếm 3,78%; Tiểu học: 24.482 em, chiếm 7,86%; THCS: 25.362
em, chiếm 8,14%, trong đó có 343 em học trờng dân tộc nội trú; THPT: 755em; ĐH, CĐ: 560 em, trong đó số cử tuyển là 599 em (kể cả THCN và ĐH,CĐ) Số trẻ em không đợc đến trờng khoảng hơn 100 em (chủ yếu là số ở vùngsâu, vùng xa), chiếm khoảng 0,43% số trẻ em trong độ tuổi đến trờng Đa sốngời Thái ở Nghệ An đều biết tiếng phổ thông, có hơn 1500 ngời Thái biếttiếng phổ thông ở mức độ hạn chế, chiếm khoảng 0,51% [9, 3]
Cũng nh ngời đồng tộc ở Tây Bắc, ngời Thái ở Nghệ An có nền văn họcdân gian rất phong phú, giàu tính nhân văn và trữ tình, với đầy đủ các loại hìnhnh: câu đố, tục ngữ, đồng dao, truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện thơ màngời Thái quen gọi là Lái nh: Khủn Chởng, Khủn Tinh, Mộng Mơng (Trông m-ờng), Nộc Cốc Căm (Chim phợng hoàng), Nang Căm - Tạo ỉn (Nàng Căm -Chàng ín)… các làn điệu dân ca nh khắp, xuối, nhuôn… đợc nhiều ngời athích Ngời Thái có các lễ hội nh Xên bản - Xên mờng, lễ hội Xăng khan, Kixà… Về nghệ thuật dân gian có nhảy sạp, đánh cồng chiêng, khua luống, các
điệu múa xòe, múa Lăm vông
1.3.3 Xã hội
Dựa vào những truyện kể dân gian, những ghi chép trong các sách cổ,chứng tỏ đã từng tồn tại ở miền Tây Nghệ An một tổ chức xã hội Thái truyềnthống ổn định từ khoảng cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX Họ sống tậptrung thành từng bản, mờng Mờng là đơn vị hành chính cao nhất trong xã hộitruyền thống của ngời Thái miền Tây Nghệ An Đứng đầu mờng là chúa đất đ-
ợc gọi là “chẩu mờng” Tại những khu vực c dân đông đúc đều có mờng và domột chúa đất cai quản Dới mờng lớn do chúa đất cai quản là các mờng nhỏ docác lý trởng (chẩu bản) cai quản ở đây, thiết chế xã hội truyền thống của ngờiThái đợc các triều đại phong kiến khéo “lồng ghép” hệ thống chức dịch của
Trang 23mình để dễ bề quản lý dới hình thức là những đơn vị “kimi” Dới mờng là
“Bản” (mờng nhỏ), “Bản” là đơn vị cơ sở của mờng và là nơi c trú của các gia
đình phụ hệ Mỗi bản Thái thờng có từ 10 đến 40, 50 nóc nhà, bản thờng ởchân đồi hay ven suối, trong bản thờng có vài ba dòng họ Thái chung sống.Chức dịch cao nhất trong bản gọi là Tạo bản hay Trởng bản Trong các mờng
đều có đất “chiềng” là vùng trung tâm, là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng.Bản trung tâm cũng đợc gọi là bản chiềng ở những mờng nhỏ đơn vị này đợcgọi là “phống” hay “lộng”
Trớc đây mờng lớn nhất, mờng trung tâm ở vùng Phủ Quỳ là Mờng Noọcthuộc Quế Phong ngày nay và Mờng Chiêng Ngam thuộc Quỳ Châu ngày nay.Dòng họ có thế lực nhất nhiều đời thay nhau làm Chẩu mờng là họ Sầm Cho
đến nay vai trò của họ Sầm vẫn còn có thế lực trong vùng
Về chế độ sở hữu đất đai, theo luật tục tất cả đất đai, rừng núi, sôngsuối… đều thuộc quyền sở hữu công cộng, nhng trên thực tế, tất cả đều thuộcquyền sở hữu của chúa đất Do điều kiện lịch sử riêng của vùng đất này, nên từlâu ở miền Tây Nghệ An đã không còn ruộng công hoặc giả có thì số lợng cũngkhông đáng kể Ruộng mà ngời dân đợc chia gọi là “ruộng gánh vác” Với cơchế tuỳ vào vị trí của từng ngời trong xã hội mà ngời đó đợc u tiên hay đợc chia
đều nh các thành viên khác Nếu có gì thay đổi thì các mờng, bản tự điều chỉnhtrong nội bộ Chính vì cơ chế tự cân đối này mà chúa đất dần dần lũng đoạn,biến ruộng công thành ruộng t Phần ruộng chúa và ruộng chức dịch ngày cànglớn vì chúa đất nắm quyền phân phối, định mức các loại ruộng Ngoài các loạiruộng trên, nhiều gia đình Thái còn đợc chia các loại ruộng khác nh “ruộngcơm gói” (na khau hó) hay “ruộng góp” (na nay)
Với quan hệ sở hữu bất bình đẳng trên đây đã kéo theo sự bất bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ Khi đó, ngời nông dân luôn phải lao dịch nặng nề vàcống nạp các sản phẩm thu lợm đợc trong vùng chúa đất cai quản, kể cả các thứ
do sức lao động làm ra Với hình thức sở hữu t nhân phát triển nh vậy đã tạo ra
sự phân hóa giữa các tầng lớp trong xã hội thành hai cực ngày càng đối lậpnhau Giai cấp thống trị bao gồm các chúa đất thuộc dòng họ quý tộc và cácchức dịch đợc xác lập do xã hội truyền thống quy định hoặc do thực dân Pháp
bổ nhiệm ở miền Tây Nghệ An chỉ con cháu dòng họ Sầm (Cầm) mới đợc làmchẩu mờng Bộ máy chức dịch là tầng lớp trung lu có thế lực và địa vị trong xãhội Họ vừa mang tâm lý làm quan, vừa mang tâm lý làm dân Các chức dịch đ-
ợc hởng mọi quyền lợi về kinh tế và chính trị, thậm chí cả về mặt tín ngỡng
Trang 24Khi họ không còn giữ chức vụ gì thì trở thành ngời dân lao động bình thờng.Giai cấp bị trị bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, trong đó lực lợnglao động tự do đợc gọi là “Páy” chiếm đông đảo nhất trong xã hội Họ cóquyền đóng góp và tham gia vào các hoạt động xã hội Trong tầng lớp “Páy” lại
có “Páy đinh” (ở các bản Tày Mờng) và “Páy c” (ở các bản Man Thanh và TàyMời) Bên cạnh lực lợng nông dân lao động tự do còn có một bộ phận nhỏ lànông dân lao động bán tự do gọi là “Cuông” (hay “Nhốc”, “Thín”) Họ thờng làdân ngụ c và số đông là ngời khác tộc nh ngời ơđu, Khơ mú và một số ngờiHmông Cuối cùng, trong tầng lớp bị trị là những “Côn hơn” - đây là tầng lớptôi tớ trong nhà tạo bản, nhà các chức dịch nh Chánh tổng, Lý trởng… Họ làtầng lớp thấp nhất trong xã hội Sở dĩ họ thành “Côn hơn” là xuất phát từ cácnguồn gốc khác nhau nh mắc nợ không trả đợc cho chủ, gái bỏ chồng khôngnơi nơng tựa, ngời phạm tội không có tiền nộp phạt… Thân phận “côn hơn” cóthể thay đổi nếu có tiền chuộc lại hoặc đợc chủ giải phóng
Trong xã hội Thái còn có một bộ phận ngời chuyên làm nghề thầy mo
Đây là lớp ngời hiểu biết về phong tục, tập quán, văn hóa Thái Bộ phận thầy
mo này nhiều khi cũng tham gia vào cả các chức vụ của bản, mờng Họ lànhững ngời chuyên trách về lĩnh vực tôn giáo, thay mặt mờng, bản đứng ra tế
lễ, cầu phúc cho bản, mờng…
Gia đình ngời Thái ở miền Tây Nghệ An phần lớn là gia đình nhỏ phụquyền Dấu vết gia đình lớn chỉ còn lại ở vùng Cắm Muộn, Tri lễ (Quế Phong)
là trung tâm của mờng lớn trớc đây Trong gia đình phụ quyền ngời Thái quyềnlực tập trung vào ngời chủ gia đình Ngời cha có quyền quyết định mọi côngviệc trong gia đình từ tổ chức sản xuất, dựng vợ, gả chồng cho con cái đến việctham gia vào các hoạt động xã hội của mờng, bản
Hôn nhân của ngời Thái là hôn nhân một vợ một chồng Trờng hợp đathê chỉ xảy ra ở những gia đình quý tộc trớc đây D luận xã hội Thái rất lên ántrờng hợp vợ chồng sống không hoà thuận Luật tục Thái xử phạt rất nặngnhững trờng hợp vi phạm đạo đức gia đình, quan hệ ngoại tình, loạn luân… Gia
đình Thái nói chung giữ tập quán, khái niệm và những phong tục liên quan tớiquan hệ ba chiều của hệ thống thân tộc, theo ngời Thái mỗi chiều ấy đợc gọi làmột họ, tục ngữ có câu: “ngời có ba họ, nh nồi có ba rế” (cốn mí xam họ, mỏ
mí xam hế) Đó là quan hệ ải Nọng - Lúng Ta - Nhính Xao Hiểu nôm na, một
Trang 25chiều do mối quan hệ sinh thành tạo ra gọi là “ải Nọng” tức là những anh emtrai cùng sinh ra từ một cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ; hai chiều do quan hệhôn nhân tạo thành gọi là “Lúng Ta” họ ông cậu tức họ phía mẹ hay họ nhàgái Vai trò của ông cậu nói riêng và “Lúng Ta” nói chung rất đợc coi trọngtrong đời sống hàng ngày của đồng bào Thái nh giải quyết xích mích trong gia
đình, đặt tên cho con, dựng vợ gả chồng, phân chia tài sản; còn “Nhính Xao” là
họ ông chồng tức họ phía cha, họ nhà trai Cụ thể “Nhính Xao” gồm nhữngthành viên nữ trong một họ, khi cha có gia đình họ là em gái của các anh traitrong cùng một gia đình, nhng khi lấy chồng thành “Nhính Xao” của các anhtrai trong gia đình và lúc này các anh trai trong gia đình trở thành “ Lúng Ta”.Quan hệ này đối lập với quan hệ “Lúng Ta”, vì đã cùng “Nhính Xao” thì cho
dù là các họ khác nhau cũng không đợc lấy nhau vì coi họ nh là anh em cùng
mẹ với nhau Đây là nét nổi bật của văn hóa gia đình Thái
Về tín ngỡng, ngời Thái hầu nh không chịu ảnh hởng của các tôn giáo
nh Phật giáo, Công giáo Các hình thức tín ngỡng, tôn giáo của họ thể hiện rõtính chất sơ khai nhng cũng khá phức tạp Họ tin ở đa thần, vạn vật hữu linh.Ngời Thái cho rằng vũ trụ đợc chia làm 3 tầng: trên cùng là Mờng Trời (MờngPhạ), ở giữa là trần gian (Mờng Lùm), dới cùng là âm phủ (Mờng Boọc Đai).Ngời Thái xem cây trồng, vật nuôi, con ngời đều có hồn hay ma Họ quan niệm
ma có hai loại: ma ác và ma lành Hồn ma tốt thì giúp đỡ con ngời, hồn ma xấuthì làm hại con ngời Khi có ngời ốm tức là hồn bị con ma dụ dỗ đi đâu đó Do
đó, ngời ta phải nhờ các ông mo đi tìm hồn về trả lại cho ngời ốm, cũng chínhvì vậy mà vị thế ông mo càng đợc nể trọng
1.3.4 Một số nét văn hóa vật chất của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An
Văn hóa vật chất của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An rất phong phú và
đa dạng, nó là một lĩnh vực khá quan trọng trong văn hóa truyền thống của
ng-ời Thái nói chung, ngng-ời Thái miền Tây Nghệ An nói riêng Điều này nó đợcbiểu hiện rõ nét qua cách ăn uống, trang phục và nhà cửa của ngời Thái
Đồ ăn thờng ngày của ngời Thái trớc đây là gạo nếp, ngô khoai, gần đâymới có gạo tẻ và sắn Các món ăn đợc chế biến từ lơng thực nh xôi nếp, cơmlam, ngô đồ, nếp đồ trộn kê, sắn; các loại bánh trái trong ngày lễ, tết, lễ dạmhỏi hay trong dịp thăm viếng nhau Nếu nh lơng thực chính là gạo (gạo tẻ vàgạo nếp) thì thực phẩm chính là cá Cá không chỉ là nguồn đạm chính trong
Trang 26bữa ăn hàng ngày mà nó còn là lễ vật bắt buộc trong cới, hỏi, trong các lễ tếtthờng kỳ Cá là nguyên liệu chính để chế biến ra nhiều món ăn nh cá nớng, cá
đồ, cá chua, cá nấu canh lá chua, măng chua, cá lạp, cá gỏi, cá moọc, cá vùigio, nấu với mẻ, cá lam trong ống nứa… đã trở thành những món ăn truyềnthống góp phần để hình thành các giá trị văn hóa vật chất của ngời Thái Riêngmón cá cúng tết có thể rán, kho nhng truyền thống vẫn là “pá moọc”, “pá phẻ”,
“pá xổm” và “pá pình”
“Pá moọc” thờng xếp trên cỗ xôi, khoảng mời gói Đó là khúc cá tơi,trộn lẫn với tấm gạo đợc gói trong lá dong đem hông chín Đồng bào dùng cámát tơi để làm “pá moọc”
“Pá phẻ” là loại cá khô đợc gỡ hết xơng rồi hông chín Để chuẩn bị chomón cá tết này, ngời Thái thờng phải đi đánh cá trớc đó mời, mời lăm ngày.Khi đánh bắt đợc cá, họ lấy dao xẻ dọc sống lng từ đầu đến đuôi, rồi kẹp vàoque và sấy khô Món “pá phẻ” vừa dai vừa bùi lại không còn xơng, nên rất hấpdẫn ngời ăn
“Pá xổm” là món cá chua cũng đợc bày ra đĩa hay ra lá để xen với cácmón ăn khác trên mâm cỗ “Pá xổm” thờng đợc chuẩn bị từ một, hai tháng trớctết Đó là thứ cá muối chua trong các ống bơng, ống nứa sau khi đã bỏ đầu, bỏruột, chặt khúc rồi trộn với muối và thính Khi ăn đồng bào kẹp nó với hành,tỏi, rau thơm
“Pá pình” là món cá nớng Khi những ngày Tết đã gần đến, trên sông,suối đuốc sáng rực, suốt đêm mọi ngời hối hả tung chài bắt cá về để làm món
“pá pình”, “pá moọc” Những con cá béo lăn đợc nớng trên than hồng, nớc mỡchảy ra làm cho cá vàng rộm, ăn vào có vị ngọt đầu lỡi, lại có mùi thơm phức[16, 287 - 288]
Ngời Thái ăn đợc nhiều thứ, từ con niềng niễng đến con trâu, kể cả ếch,nhái, rắn, ba ba, tất cả các loại côn trùng nh ong non, trứng kiến… các loạichim, các gia súc, thú rừng… Các món ăn chế biến từ thịt có thịt luộc, thịt tái,thịt lạp, thịt sấy, thịt chua Đặc biệt có món “nậm pịa” là nớc rữa đắng ở ruộtcon lợn, trâu, bò, hơu, nai nớc rữa đó hòa với tỏi, ớt, nớc chua làm nớc chấm.Nói cách khác “nậm pịa” chính là nhũ tơng trong ruột non của các con vật
Đồng bào lấy thứ đó để chế biến thành nớc chấm thịt luộc và nớc nêm thịt, có vịhơi đắng, bùi Đây là một tập quán truyền thống của ngời Thái ở miền Tây Nghệ
An [29, 77] Đồng bào còn có vô số các loại rau, măng để nấu canh, luộc, đồ,
Trang 27làm chua, làm nộm, ăn ghém Tập quán trong bữa ăn thờng phân chia ngôi thứ,chủ khách, nam nữ, cùng với các kiêng kỵ liên quan
Đồ uống thông thờng của ngời Thái trớc đây là nớc mát dới suối trong
Đồng bào cũng có hái các loại lá trong rừng làm chè nấu nớc uống nh lá câycỏm xôi, lá cây vằng… Gần đây đồng bào đã uống nớc chè xanh, có gia đình tựtrồng trong vờn, có gia đình mua ngoài chợ về Ngời Thái rất thích uống rợu và
có thói quen dùng rợu để tiếp khách Rợu của ngời Thái chủ yếu có hai loại làrợu trắng (lẩu xiêu) chế từ ngũ cốc, sắn, các thứ củ trong rừng với thứ nem lá;
và rợu cần (lẩu xá) còn gọi là rợu trấu
Điều đặc biệt chúng ta cần nhấn mạnh ở đây là tập quán làm rợu cần vàcách thức uống rợu cần là một trong những yếu tố làm nên sắc thái giá trị vănhóa riêng của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An Với các món thực phẩm nh páxổm (cá chua), no xổm (măng chua), xịt xổm (thịt chua)… đã cho thấy kỹthuật làm chín thức ăn bằng gây lên men chua đặc trng của ngời Thái, và họcòn sử dụng bí quyết này để chế biến men rợu, để ủ rợu cần Men đợc làm từbột gạo tẻ, trộn với các loại lá cây nh đu đủ, quế, lá đào và một số lá khác tạohơng thơm, độ đắng ngọt của rợu Thế nhng, thành phần chủ yếu vẫn là gạo.Gạo sau khi ngâm khoảng một giờ đợc vớt lên cho ráo nớc và đem giã nhỏ.Việc làm men rợu trấu không thể dùng máy xay xát mà ngời làm phải đâmbằng tay mới ngon, vừa đâm vừa cho các thứ lá đã chuẩn bị sẵn cho vào giã
đều Điều cần lu ý là bột men không giã nhỏ quá, cũng không to quá, sau đó
đem trộn đều với nớc và vắt thành bánh Điều đặc biệt khi vắt bánh ngời ta vắttheo hình tròn và hình bầu dục, gọi là bánh đực và bánh cái Nhng đặc biệt hơnnữa là trong nhiều viên men chỉ có duy nhất một viên men đực Bánh đực t ợngtrng cho quyền uy của ngời đàn ông Thái Đây chính là tín ngỡng phồn thựctrong dân gian mong muốn duy trì nòi giống ngày càng phát triển, và cũng làquan niệm trời đất, giống nòi mà tạo hóa đã ban tặng cho con ngời Chính điềunày nó đã cho chúng ta thấy đợc nét đặc trng tinh túy của rợu cần
Việc chọn trấu để ủ rợu cũng là một công đoạn quan trọng không kém,trấu phải là trấu của lúa nếp trên rẫy mới sạch và thơm Trấu đợc giã bằng cối
gỗ, sau đó lấy trấu và rửa sạch, loại bỏ trấu lép nổi trên mặt nớc Phần còn lại
đem phơi khô, để ráo nớc Sau đó trộn đều với gạo hoặc sắn đã đợc giã nhỏ vàbắc lên bếp hông, giống nh hông xôi Khi chín nó đợc đổ ra và quạt nguội, rắc
Trang 28men và trộn đều Cuối cùng cho nguyên liệu vào vò nén chặt và bịt kín miệng.
Vò nhỏ từ 15 đến 20 ngày là dùng đợc, vò to từ 1 tháng đến 6 tháng mới dùng
đợc Rợu để càng lâu uống càng ngon
Có nhiều loại vò rợu, loại 4 cần, 6 cần, 8 cần và 12 cần Tùy theo vò tohay vò nhỏ mà quy định cắm cần rợu cho hợp lý Các dụng cụ dùng để uống r-
ợu không thể thiếu đợc là phong rợu, nó đợc làm bằng sừng trâu hoặc sừng bòtót Cần rợu hay còn gọi là “xe rợu” đợc làm bằng cây trúc trên rừng hoặc bằngcây mây Gáo múc nớc làm bằng gáo tre, lùng hoặc nứa già Những thứ này do
đàn ông làm, trong nhà nếu ngời đàn ông siêng năng thì sẽ có bộ gáo, phong vàcần rợu đẹp Những dụng cụ khác cũng phải có trong tiệc rợu nh nồi đồng đựngnớc, vò to thì sử dụng nồi đồng 4 quai, vò nhỏ thì sử dụng nồi đồng 2 quai Chủnhà bao giờ cũng có đệm vải bông lau cho khách đàn ông ngồi, ghế mây, ghế
gỗ cho khách là phụ nữ ngồi
Ngời uống rợu đầu tiên bao giờ cũng là khách quý cao tuổi và ngời phụnữ chủ nhà, sau đó mới đến những ngời cao tuổi khác, đợc sắp xếp trật tự, vừa
có sự đan xen giữa chủ và khách, vừa có nam, có nữ, có ngời khỏe, ngời yếu
Điều này đảm bảo ai cũng đợc uống và đạt quy định về số lợng nớc thêm vào
vò trong một thời gian nhất định đợc đo bằng lợng nớc chảy từ trong phong rợu
ra Với quy mô uống rợu cần đợc tổ chức chặt chẽ, nó thể hiện tình đoàn kếtgắn bó trong cộng đồng dân c và nó tạo nên nét văn hóa riêng có của đồng bàoThái nói chung và đồng bào Thái ở miền Tây Nghệ An nói riêng
Song song với tập quán văn hóa ẩm thực nói trên, ngời Thái đã sáng tạo
ra một hệ thống đồ dùng vật đựng nh loóng giã gạo, chõ đồ xôi, giỏ ép cơm (épkhầu)… đã trở thành những vật dụng không thể thiếu đợc trong đời sống hàngngày của họ Chính sở thích và tập quán trong ăn, uống là một mặt quan trọnggóp phần hình thành tính cách ngời Thái
Trong lĩnh vực văn hóa vật chất, làng bản và nhà cửa, trang phục của
ng-ời Thái luôn thể hiện những giá trị mang bản sắc văn hóa tộc ngng-ời Ngng-ời Thái ởmiền Tây Nghệ An vốn sống quần tụ thành các bản trong các thung lũng vừa
và nhỏ Tại vùng cao, bản của họ đợc tạo dựng trên các sờn đồi, ven các dòngsuối Bằng những kinh nghiệm truyền thống của mình ngời Thái luôn lập bảndựa trên hai yếu tố: đất thổ c, đất thổ canh (ruộng, nơng và vùng thiên nhiên)
và nguồn nớc (cho sinh hoạt và tới ruộng) Ranh giới giữa các bản đợc ngời
Trang 29Thái xác định bằng những con suối, eo úi, cây cổ thụ, hòn đá… Mỗi bản cómột nghĩa địa chung, bãi chăn thả chung và nguồn nớc chung Mỗi bản trungbình thờng có 30 - 40 nóc nhà Những bản có đến hơn một trăm nóc nhà chủyếu ở vùng Quỳ Châu.
Nhà cửa của ngời Thái vừa mang nét chung của nhà sàn Thái nói chungnhng có những nét riêng mang tính đặc thù của địa phơng ở miền Tây Nghệ
An, nhà cửa của đồng bào Thái thờng đợc làm rất to và trông chắc chắn hơnnhiều so với các c dân cùng sống trong vùng Nhà của ngời Thái thờng đợc làm
từ 3 đến 5 gian (hoòng) Gian gần với cầu thang chính có lan can bên ngoài gọi
là “hoòng noọc” hay “sâu hoòng”, giành riêng cho thờ ma nhà, nơi tiếp nhữngkhách quý, những ngời có chức vụ Gian này bao giờ cũng có vách ngăn vớicác gian khác bằng ván hoặc mên (phên) Các gian giữa là nơi sinh hoạt của gia
đình Ngời Thái gọi các gian này là “hoòng cuông” hay “sâu khoăm” Giancuối cùng gọi là “hoòng chan” hay “sâu tán” giành cho phụ nữ và là nơi chứa
đựng những đồ dùng trong gia đình ở đó có đặt một cái bếp để nấu ăn hàngngày, chạn bát, khung cửi, liền đó có sàn làm sân phơi, để đồ đựng nớc… Trừ
“hoòng noọc” nhà đợc chia dọc làm hai phần, phần ngoài và phần trong Phầntrong đợc chia thành những buồng nhỏ, buồng nào cũng có vách ngăn Buồnggần “hoòng noọc” là của cha mẹ (nếu còn ông bà là của ông bà), tiếp theo làcủa anh chị cả, rồi đến anh chị hai, anh chị ba… và của con trai cha vợ, con gáicha chồng trong gia đình Chật quá thì nhà nối thêm gian ở phía “hoòng chan”.Phần ngoài đặt cái bếp, dùng để nấu ăn khi nhà có việc, có khách và sởi ấm vàomùa đông Sàn nhà có gia đình làm bằng ván, thông thờng và phổ biến làmbằng cây mét (luồng) hoặc cây bơng đập dập, lau mắt Mái nhà hình chữ nhậtgóc nhọn không còn dấu vết mái nhà tròn, hình rùa nh ở Tây Bắc Nhà thờngbốn mái, hai mái chính và hai mái phụ ở hai đầu hồi Tất cả đều đợc lợp bằnglá cọ hay lá gồi, rất khít nhau, có thể bền tới 15 năm, 20 năm, khói thờngxuyên quyện vào phía dới lớp tranh này, góp phần rất nhiều cho việc làm chomái nhà bền lâu hơn [16, 263 - 264] Nhìn chung, trong nhà của ngời Thái tuy
có một số vách ngăn qua các buồng song các cột lại đợc lẫn vào bên trong,hàng cột giữa có nơi chỉ làm cột lửng đặt trên xà ngang nên rất rộng rãi, thoáng
đãng Điểm đáng chú ý về kiểu nhà cổ truyền của ngời Thái miền Tây Nghệ An
là sự thống nhất kết cấu nhà sàn Cách chắp nối các cấu kiện bằng những
Trang 30nguyên vật liệu rời, không tạo vì cột, vì kèo và mộng thắt mà bằng dây lạt buộchoặc dây mây Điều đặc biệt là “xáu hoòng” cột chính của nhà, khi cất nhà baogiờ ngời ta cũng dựng trớc tiên Phía trong nhà ở góc sát đầu cột ngời ta đặtchạn để thờ cúng tổ tiên Bởi vậy, cột này cũng có tên là ''xau phi hơn” (cột manhà) Ngời Thái lên nhà sàn bằng hai chiếc cầu thang đóng liền vào nhà sàn,một cầu thang chính ở phía trớc nhà và một cầu thang phụ ở phía sau nhà, nó đ-
ợc làm lối đi vào bếp núc, khi có việc nhà và thờng là nơi lên xuống của phụ nữtrong gia đình Trong tâm thức tín ngỡng dân gian của ngời Thái, thang của nhà
là lối lên xuống giành riêng cho ngời, không cho loài ma Từ tập quán ấy nênngời Thái không khiêng thi hài ngời quá cố qua cầu thang chính mà phải phávách bắc cầu thang ở phía đầu hồi để đa đi chôn Hiện nay, xu hớng nhà sànchuyển sang nhà đất là rất phổ biến, nhất là những nơi gần thị trấn và các trục
đình dệt thành Họ thờng đi chân đất hay đi dép đan bằng sợi mây hay sợi tremỏng Trong ngày hội, họ thờng mặc bộ cánh lành lặn làm bằng vải sồi, độichiếc khăn mới màu xanh da trời, ngời có tuổi thì mặc chiếc áo năm thân.Trong khi đó, trang phục của phụ nữ Thái luôn cầu kỳ và đẹp đẽ áo của phụnữ Thái điển hình cho lối trang phục các c dân ở khu vực Đông Nam á với 3loại: “áo chui đầu” (Đông Nam á), áo xẻ ngực (Việt - Mờng), áo xẻ nách(Hán) Ngày thờng phụ nữ Thái mặc áo ngắn xẻ ngực có ống tay dài (xửa cóm)
áo may sát vào thân, trông gọn, làm nổi bật các đờng nét của thân hình phụ nữ.Ngày hội, phụ nữ Thái mặc chiếc áo dài kiểu ngời Kinh, xẻ nách, dài đến mắtcá chân, màu đen hay chàm Đôi khi có ngời mặc một loại áo giống nh áochoàng màu trắng, đỏ, xanh lá cây hay tím Lịch sự nhất là chiếc áo cánh màulá cây hay màu tím mà phần cổ, cánh tay áo có thêu hoặc viền màu đỏ Phía tr-
ớc áo thờng có một chuỗi mảnh thiếc hay bạc đợc đính vào hai bên tà áo, lẫnvào những đờng chỉ thêu sặc sỡ Đáng chú ý hơn cả là chiếc váy (xỉn) nhuộm
Trang 31chàm và chân váy đợc thêu các họa tiết hoa văn rất đặc trng nh hình con rồng,hình mặt trời, hình quả trám, các loại lá hoa… Khi ra đờng chị em thờng códây thắt lng và bộ xà tích Ngoài ra ngời Thái còn có chiếc “khăn piêu” nổitiếng, nó có màu đen tuyền hoặc thêu hoa văn với các màu sắc sặc sỡ rất đợccác cô gái Thái yêu thích Phụ nữ có tuổi thờng đội “khăn tải”, hai đầu thêu sặc
sỡ, một đầu có tua một đầu có múi nh quả táo Đối với ngời già thờng mangchiếc “ khăn pang” nhuộm chàm thâm, thêu kín đáo các đờng chỉ xanh đỏ ở hai
đầu Điều cần lu ý là trang phục của ngời Thái ở đây ngoài những giá trị vănhóa vật thể, chúng còn đợc sử dụng nh những tín hiệu để xác định nghề nghiệphoặc địa vị của từng loại ngời trong xã hội Trang phục đi hội khác trang phụcthờng ngày, trang phục quý tộc khác trang phục bình dân, trang phục của thầy
mo, thầy cúng khác với trang phục dân thờng… Với các tập quán sinh hoạt vănhóa xung quanh trang phục nó có giá trị nh các chuẩn mực để đánh giá các cánhân trong xã hội và những bộ trang phục này còn bảo lu nhiều giá trị về mặtlịch sử, văn hóa tộc ngời, đồng thời thể hiện những triết lý sâu sắc về vũ trụ vànhân sinh Ngày nay, trang phục Thái cổ truyền chỉ còn thấy ở những phụ nữcao tuổi Hầu hết đàn ông Thái và lớp trẻ đều ăn mặc theo lối ngời Kinh.Những bộ trang phục truyền thống chỉ xuất hiện trong các dịp tang ma, tế lễ vàhội hè
đều thể hiện tấm lòng trân trọng quý mến ngời con gái Trên bình diện chung
đó, hôn nhân của ngời Thái nói chung và hôn nhân của ngời Thái ở miền TâyNghệ An nói riêng gồm nhiều nghi lễ phản ánh văn hóa và lối sống cũng nhchuẩn mực ứng xử của dân tộc mình
Trang 32Tìm hiểu hôn nhân của ngời Thái ở miền Tây Nghệ An chắc chắn chúng
ta phải tìm hiểu hôn nhân của ngời Thái ở vùng Quỳ Châu cũ Bởi vì cả phủ QuỳChâu cũ là địa bàn sinh sống của ngời Thái, nó đợc xem là cái nôi của ngời Thái
ở miền Tây Nghệ An với các trung tâm nổi tiếng nh Mờng Noọc (Quế Phong),Mờng Chiêng Ngam (Quỳ Châu), vùng Khủn Tinh (Quỳ Hợp)…
Trớc đây, ngời Thái có tục lệ con gái phải thạo dệt vải, con trai phải khéo
đan chài mới đợc lập gia đình Đến tuổi trởng thành trai gái đợc tự do tìm hiểunhau, yêu đơng, đính ớc với nhau, song thờng do bố mẹ quyết định và phải đợchai họ cho phép Tiêu chuẩn để chọn vợ chọn chồng thờng phải môn đăng hộ
đối, phải xứng đáng với đẳng cấp của dòng họ, địa vị của gia đình Ngoài ra,nhà trai còn để ý đến tính nết, sức lao động, sắc đẹp của ngời con gái NgờiThái thờng nói: “Chọn vợ trông mẹ vợ, chọn trâu trông con đầu đàn” Vì họcho rằng con gái thờng ảnh hởng tính nết của ngời mẹ
Việc cới xin của những ngời bần cùng trong xã hội Thái, những ngời dânthờng và những chức dịch trong đẳng cấp quý tộc có sự khác nhau rõ rệt.Những ngời bần cùng đến với nhau và cới nhau rất giản dị, đợc tiến hành mộtcách nhanh chóng Họ làm một bữa cơm sơ sài có mời một vài già bản, một vàithân nhân trong dòng họ, một vài ngời quen thân của gia đình, làm một vài con
gà, con vịt thờng thờng, lớn hơn thì có một con lợn, một ít hông xôi, một vài vòrợu,… mọi ngời ăn uống vui vẻ và thế là xong mọi việc Đám cới của họ đợcbáo cáo với ông trởng bản, ông trởng bản chấp nhận và thế là đám cới trở nênhợp pháp
Đối lập với đám cới của những ngời bần cùng trong xã hội thì đám cớicủa các chức dịch trong đẳng cấp quý tộc đợc tổ chức rất long trọng và linh
đình Bởi vì con Tạo lấy Nàng (vợ) đợc coi là việc hệ trọng của bản mờng, nó
đợc xem là việc xây đắp cho cái “gốc” của bản mờng Nàng sẽ sinh ra dònggiống quý tộc tiếp tục làm Phìa, Tạo là chủ bản mờng Tục lệ cới xin của Tạo
và Nàng qua nhiều nghi thức từ lệ mở gói ăn hỏi, lệ “hỏi dứt lời, dạm đứt giá”,
lệ dẫn con trai lên làm rể ở quản, lệ làm lễ nhập phòng và tổ chức cới lên, lệ tổchức cới xuống và đón dâu về nhà chồng, lệ bô lão toàn mờng đặt danh xngcho vợ Tạo mờng, lệ làm “lễ tiễn đa áo”
Trên cơ sở t liệu của các nhà nghiên cứu đi trớc kết hợp với những câuchuyện truyền miệng của các nghệ nhân, các thầy mo, già làng… chúng tôi xin
Trang 33trình bày tục lệ cới hỏi của tầng lớp bình dân của ngời Thái ở miền Tây Nghệ
An mà hiện nay ngời Thái ở đây vẫn dùng trong các hôn lễ của mình
Sau khi ngời con trai tìm đợc ngời con gái vừa ý, họ đã trao kỷ vật làmtin cho nhau, thông thờng chàng trai trao cho cô gái một vòng tay bằng bạc còncô gái trao lại tấm khăn hoặc vật trang sức cho chàng trai Sau đó chàng trai đ a
kỷ vật đó ra tha với cha mẹ và xin phép đi hỏi vợ Sau khi cha mẹ cho phép thìbên nhà trai tìm một Phô lam (ông mối) và một Me lam (Bà mối) để lo việc lễnghi đồng thời thay thế cha mẹ đẻ trông coi thực hiện các lễ tục, trách nhiệm tổchức mọi việc có liên quan đến cới hỏi cho tới khi lễ cới kết thúc, dĩ nhiên làmọi khoản chi phí đều do cha mẹ chú rể phải chịu Ông, bà mối đợc tìm ở đâythờng là những ngời đợc dân bản tôn trọng, có nhiều con cái, gia đình khá giả,
am hiểu phong tục tập quán lại biết ăn nói Thông thờng, chồng đã làm ôngmối thì vợ làm bà mối Các bớc cới hỏi đợc tiến hành nh sau:
2.1.1 Lễ đi hỏi
2.1.1.1 Đi hỏi lần đầu tiên (dắp xáo)
Lễ này còn đợc gọi là lễ dạm hỏi hay lễ chạm ngõ Nhân chọn đợc ngàylành tháng tốt nhà trai gồm có ông bà mối, mẹ của chàng trai và một số ngờithân trong họ nội ngoại mang lễ vật đến nhà gái Lễ dạm hỏi gồm 2 mớ trầucau, 1 vò rợu cần (rợu trấu), 2 chai rợu xiêu và một ít bánh kẹo hoa quả Lễ nàythờng đợc tiến hành về ban đêm, nó nhằm thông báo sự kết họ giữa hai bên.Thông thờng nhà gái nhận lễ vật Hôm sau họ bắn tin cho nhà trai biết, nếu ngthuận thì họ nhận lễ, nếu không ng thuận thì họ nhờ ngời mang trả lễ vật
2.1.1.2 Đi hỏi lần thứ hai (hoóng phạc xì)
Lễ vật lần này gồm 4 mớ trầu cau với 1 đĩa trầu têm gồm 6 miếng, 2 chairợu xiêu, 1 vò rợu cần, một ít bánh kẹo hoa quả Đi hỏi lần này nhằm củng cốmối quan hệ thân tình giữa hai bên
2.1.1.3 Đi hỏi lần thứ ba (hoóng phạc hốc)
Lễ vật lần này gồm 6 mớ trầu cau, 1 đĩa trầu têm 6 miếng, 2 vò rợu cần(một vò đi theo thủ tục 6 mớ trầu cau còn một vò để mợn ông mối) Đi hỏi lầnnày cũng nhằm thắt chặt tình cảm giữa hai bên
2.1.1.4 Đi hỏi lần thứ t (hoóng phạc pẹt)
Lễ vật lần này gồm 8 mớ trầu cau, 1 đĩa trầu têm 8 miếng, 2 vò rợu cần(một vò đi theo lễ trầu cau, một vò để nạp cùng của làm tin Của làm tin ngày
xa ngời con trai phải nạp cho bên gái một đôi vòng tay bằng bạc, còn bên gái
Trang 34nạp cho bên trai tấm khăn hoặc cái áo để làm tin Hiện tại bây giờ ngời ta nạpcủa làm tin cho bên gái bằng tiền mặt).
2.1.1.5 Đi hỏi lần thứ năm (hoóng phạc mạc tàng)
Gồm có bố hoặc mẹ, anh chị em, ông bà mối… phải 10 ngời trở lên
nh-ng phải là số chẵn Lễ vật thờnh-ng là 10 mớ trầu cau, 1 đĩa trầu têm 10 miếnh-ng, 2
vò rợu cần, 2 chai rợu xiêu, ngoài ra còn có một số ống cơm lam, ống cá ớpchua, gặp nhà khá giả thì có thêm con lợn cùng với thùng gạo nếp Đặc biệtphải có một nén bạc hoặc hiện vật gì đó có giá trị tơng đơng nén bạc để trao tr-
ớc cho nhà gái, gọi là “khờng chiệt” (giống nh tiền đặt cọc) Bên nhà gái cómời lúng ta (ông ngoại, anh em trai của mẹ vợ) đến dự lễ ăn hỏi và nói chuyệnvới nhà trai Nhà gái cũng có vò rợu cần đa ra tiếp nhà trai gọi là “lầu toọp
đoong” Nội dung của lần ăn hỏi này là nhà trai xin thôi không có lễ vật trầucau gì nữa, đến tháng bên trai đi thăm bên gái ít nhất một lần chứ không mang
lễ Và cũng tại lần ăn hỏi này, đã tập trung đợc đông đủ anh em họ hàng hai họnhà trai và nhà gái, qua cuộc nói chuyện giữa ông mối thay mặt nhà trai thachuyện và ông ngoại (hoặc ông cậu) thay mặt bố mẹ cô gái tiếp chuyện đã giớithiệu anh em hai bên và hai bên họ hàng đã gọi chàng trai, cô gái là dâu, là rểrồi
Cũng ngày này, nhà gái đã định đồ dẫn cới và định cả ngày cho chàngtrai sang ở rể Tục ở rể thờng có các mức độ thời gian khác nhau nh:
ở rể tạm thời: Vì thời gian đến ngày cới đợc tiến hành không xa nên
chàng trai thờng ở từ mời đến mời lăm ngày cho đến ngày cới Đây là tục ở rểcủa con nhà giàu, ở cho có lệ Có khi chàng rể còn không sang ở mà cho “con h-
ơn” (ngời làm trong nhà) sang ở rể thay Đối với những chàng rể con nhà chứcsắc hoặc đã có cơng vị trong xã hội có khi đợc đặc cách không phải ở rể
ở rể định ngày: Trờng hợp này là những chàng rể ít tiền của, phải ở làm
công để thế của, khi cần đồ dẫn cới Chàng rể này đợc coi nh con trai trong gia
đình Thời gian ở rể do nhà gái định thờng khoảng vài ba năm
ở rể lâu dài: Trờng hợp này là những chàng rể nghèo, ở để làm công cho
cha mẹ vợ và cũng để nhà gái thử thách khả năng lao động, thử thách khả năngứng xử, cáng đáng mọi công việc trong gia đình Tục ở rể này về thời giankhông định kỳ, luật tục Thái có câu:
Trang 35Dụ khơi xam pi mết cạ
Dụ hạ pi đạy păn nừng khim
Tức là ở rể 3 năm thì đợc trừ hết tiền cới, ở rể 5 năm khi ra ở riêng đợcchia một phần tài sản của nhà bố mẹ vợ
Tục lệ đặt ra, dù là chàng trai nào khi ở rể cũng không đợc ăn cơm cùngmâm với mẹ vợ và các chị dâu, chị gái, em dâu, em gái trong gia đình Cha đợccoi là chính thức, chàng rể phải ngủ nhà ngoài
Ngày nay, thông thờng sau khi ăn hỏi là có thể tiến hành ngay lễ cớichính thức Tục ở rể chỉ còn trên danh nghĩa, nhất là đối với lớp thanh niên đithoát ly công tác
2.1.2 Lễ cới
Đây là nghi lễ chính thức công nhận cô dâu và chú rể là vợ chồng
2.1.2.1 Lễ vật cới
Cũng nh lúc đi ăn hỏi bên nhà trai gồm có bố hoặc mẹ, anh chị em, ông
bà mối… lễ vật gồm có 12 mớ trầu cau, 1 đĩa trầu têm 12 miếng, 1 vòng bạc vàdăm vuông lụa hoặc vải để làm lễ tạ ơn mẹ vợ đã nuôi nấng vợ mình nên ngời.Còn tiền cheo cới thì tùy hai bên đã thỏa thuận trong ngày ăn hỏi, thờng là 5nén bạc (còn gọi là trâu nằm), một hoặc hai trâu đứng, 2 vò rợu cần, 1 hoặc 2con lợn, 10 kg gạo nếp, 10 chai rợu xiêu, 40 ống cơm lam, 40 bánh nếp góitheo kiểu sừng trâu (“pành hâu quái”) biểu thị sự tôn kính, sung túc và cầumong con cháu sẽ sinh sôi phát triển Đón tiếp nhà trai có bố mẹ cô dâu, các
“lúng ta” và một số anh em ruột của bố mẹ cô dâu Nhà gái cũng phải mở một
vò rợu cần, mổ một con lợn và hông vài hông xôi để đãi nhà trai Điều kiêng kỵ
là trong ngày này tuyệt đối không đợc mổ trâu hoặc bò vì nh thế vợ chồng mớicới làm ăn sẽ gặp khó khăn Trong ngày nạp lễ vật cới này hai bên định ngày c-
ới Ngày đó phải là ngày chẵn, tháng chẵn theo lịch Thái (gọi là mừ cụ, pớn cụ)
và tránh ngày mất (mừ bòng nậm) của bố mẹ Đám cới của ngời Thái đợc tổchức ở hai nơi nhà gái và nhà trai
2.1.2.2 Đám cới ở nhà gái (ê đoong nọi)
Sau khi chọn đợc ngày đẹp để tổ chức đám cới, trớc ngày cới nhà traingoài ông bố, ông mối, còn phải có 20 ngời gồm bốn chàng trai, bốn cô gái,bốn ông già, bốn bà già (trong đó có bà mối) và một số ngời khác gánh gạo,khiêng lợn (còn nguyên sống), rợu cần, rợu xiêu, đồ nấu nớng, trầu cau, bánhsừng trâu… đem đến nhà gái Ông mối trình với nhà gái các lễ vật đem đến rồi
Trang 36nhà trai tự mổ lợn, hông xôi, làm thức ăn cho lễ cới Nhà trai còn đích thân đimời họ hàng bên nhà gái, mời “lúng ta”, ngời già cả trớc, sau đó mới mời nhữngngời khác Bên nhà gái cũng mổ lợn, hông xôi, đa rợu nhà ra tiếp khách Làmxong mâm cỗ (thờng khoảng hơn 10 mâm) đợc bày trớc bàn thờ tổ tiên để báocáo, sau đó hai họ ăn uống, hát hò đối đáp nhau suốt đêm Các làn điệu nhuôn,xuối vang lên nhằm cầu mong cho cô dâu chú rể khỏe mạnh, hạnh phúc.
Trớc khi cô gái về nhà chồng, nhà gái chuẩn bị t trang của cô gái do cô
ta tự làm lấy nh chăn mới, nệm mới, gối mới… (đây đợc xem là một loại củahồi môn) Số chăn nệm này tùy theo khả năng nhà gái mà số lợng có thể nhiềuhơn quy định của phong tục nhng ít nhất ngoài đồ dùng cá nhân phải có một
đôi nệm, một đôi gối, một chiếc chăn để tặng cha mẹ chồng Với tài may sắmcủa cô dâu, cô dâu có thể tặng anh em bên nhà chồng đôi gối, đôi nệm, khănpiêu, … Thông thờng, các thiếu nữ Thái từ tuổi 15 đã biết lo cho tơng lai củamình Ngoài công việc lao động trong gia đình, họ còn làm thêm vốn riêng quachăn nuôi gia súc, trồng bông, chăn tằm kéo tơ dệt vải, tự nhuộm may quần áocho các thành viên trong gia đình và cho bản thân Có những cô gái đảm đang,khéo léo khi về nhà chồng đã mang theo vài ba hòm quần áo may sẵn và vảivóc mới, dùng cả đời cha hết Chính phong tục này, đám cới đã góp phầnkhuyến khích phụ nữ Thái duy trì và phát triển nghề dệt truyền thống với cácsản phẩm đặc trng nh chăn, nệm, khăn piêu… Đối với những cô dâu Thái dùgia đình nghèo khó mấy cũng phải lo bằng đợc số chăn nệm mà phong tục đãquy định Những đồ t trang này đợc đem ra trình diện trớc chú rể và họ hàngnhà trai
Trớc lúc con gái về nhà chồng, ngời mẹ không bao giờ quên dặn dò, chỉ bảo con gái một cách ân cần, chi tiết để con mình làm tốt bổn phận làm dâu ở nhà ngời Về sau, những lời dặn dò này đã trở thành bài hát nổi tiếng của ngời Thái mà hầu nh bất kỳ ngời mẹ nào cũng thuộc để dặn dò con gái trớc lúc về nhà chồng:
Con về làm dâu Đừng chải tóc trớc cửa chính nhà to
Đừng ngồi chơi ở bậc thang cuối Tục nhà sàn suốt đời phải nhớ
Trang 37Chiếc ghế trên của bố chồng đừng dựa Anh của chồng đừng ngắm đừng a Trái luật lệ bố chồng, phải đền trâu Trái luật lệ anh chồng phải đền rợu Trái luật họ nhà chồng phải đền bạc nén Mất vòng tay, mất tấm chăn thổ cẩm cha mẹ dành cho Mất cả tấm khăn piêu cha mẹ để phần
Con gái yêu, đi làm dâu chớ trốn về nhà cha mẹ.
[71, 26]
Khi nàng dâu chuẩn bị ra khỏi căn buồng của mình, ông mối thay mặt họnhà trai và chàng rể nói những lời ca ngợi công ơn bố mẹ vợ đã sinh thành,nuôi dỡng ngời con gái nên ngời để bây giờ làm dâu nhà mình và sẽ duy trìdòng giống cho dòng họ sau này Tiếp đó chàng rể bng đĩa trầu xin đón dâu và
tự tay mình đeo cho mẹ vợ một vòng cổ, một hoặc hai vòng tay bằng bạc, biếumột vò rợu, dăm vuông lụa hoặc vải nhằm tạ ơn mẹ vợ đã nuôi nấng vợ mìnhnên ngời
2.1.2.3 Đám cới ở nhà trai (ê đoong luông)
Tục đón dâu
Bên nhà trai đi đón dâu, ngoài chú rể còn phải có hai ngời con gái và haingời con trai đẹp cha vợ cha chồng, còn ngời già thì không hạn chế đi baonhiêu cũng đợc nhng phải đủ đôi, không đợc lẻ
Lễ đa dâu của nhà gái đợc tổ chức vào lúc sáng sớm, khi mặt trời cha tỏ.Ngời Thái quan niệm đó là thời gian tốt nhất cho việc đa dâu Khi đa dâu nhàgái bắc cầu bằng hai sợi chỉ, một sợi chỉ trắng và một sợi chỉ đỏ từ trong nhà rangõ Sở dĩ nhà gái bắc cầu bằng hai sợi chỉ là nhằm mục đích cho cô dâu bớcqua cầu chỉ đỏ để sinh đợc con trai và bớc qua cầu chỉ trắng để về sinh đợc congái Mục đích của nhà gái là để con gái nhà mình về làm dâu nhà chồng sinh đ-
ợc con trai, con gái đủ bề để nối nghiệp gia đình chồng một cách tốt nhất Việcbớc qua hai cầu bằng hai sợi chỉ này tiếng Thái gọi là:
“Tày khố pé - Mí lực chái ai Tày khố đai - Mí lực nhinh xáo”
Cùng với những ngời bên nhà trai đi đón dâu thì bên nhà gái đi đa dâugồm có lúng ta, những ngời thân trong gia đình và bạn bè cô dâu, những ngờibạn của cô dâu thờng đi sau gùi của hồi môn cho cô dâu Còn cha mẹ của côdâu, theo tập tục chỉ đợc tiễn con gái ra khỏi cầu thang nhà rồi dừng lại, không
Trang 38đợc đi theo đoàn đa dâu nhng họ thờng tặng cho chú rể một nén bạc và một tấmlụa Dù nhà chồng xa hay gần thì theo tập tục đoàn đa dâu cũng phải dừng lạinghỉ dọc đờng, nếu ở xa thì dừng lại cơm nớc, nếu ở gần thì chỉ nghỉ trong chốclát Trong khi đó, tại nhà trai mọi ngời đã mổ lợn, hông xôi… chuẩn bị bữa tiệcmặn Cách chế biến thức ăn, bày biện mâm cỗ để cúng, để tiếp khách cũnggiống bên nhà gái nhng ở đây số ngời tham gia đông hơn nên mâm cỗ nhiềuhơn Khi đa dâu về đến đầu bản, nhà trai phải qua lễ mở cửa bản gồm một chairợu, một cơi trầu nhằm báo cáo từ nay cô gái này sẽ là ngời của bản ông mối,
bà mối lấy hai cái áo ngày thờng cô dâu chú rể thờng mặc để trùm đầu cho haingời, áo cô dâu trùm lên đầu chú rể còn áo chú rể thì trùm lên đầu cô dâu NgờiThái quan niệm làm nh vậy để cho hồn cô dâu và chú rể nhập vào nhau, từ nay
họ sẽ cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng sinh con đẻ cái
Trớc khi đón cô dâu bớc chân vào nhà chồng, ngời ta tiến hành làm “lễrửa chân” cho cô dâu và chú rể Nớc dùng để rửa chân cho cô dâu chú rể đợclấy từ một con suối trong vắt trên đỉnh núi xa, sạch sẽ và tinh khiết, đợc đựngtrong hai ống nứa, khi cô gái đặt chân trái, chàng trai đặt chân phải lên bậc cầuthang thứ nhất thì bà mối đem hai ống nứa để rửa chân cho hai ngời ở dới cầuthang ngời ta đã đặt sẵn hai cái nồi đồng xếp vào nhau để hứng nớc rửa châncho cô dâu chú rể, trong đó có để những đồng bạc trắng Việc này nó tợng trngcho nớc vàng nớc bạc đã đợc dùng làm lễ rửa chân cho cô dâu chú rể với hàm ý
đuổi mọi tà ma, không cho chúng bám theo vết chân, quấy rối hạnh phúc của
đôi trẻ, và mong ớc cô dâu chú rể sẽ vứt bỏ những phiền muộn lo âu, chỉ vớimột tâm hồn trong sáng thuần khiết để bắt đầu một cuộc sống mới Sau đó bàmối lấy mấy đồng bạc trắng đó tặng cho đôi trẻ
Sau khi rửa chân xong cô dâu chú rể dắt tay nhau, thi nhau lên cầu thang
Sở dĩ thi nhau lên cầu thang bởi vì ngời Thái quan niệm nếu cô dâu lên trớc thìsinh con gái đầu lòng, còn chú rể lên trớc thì sinh con trai đầu lòng Tuy nhiênbao giờ cô gái cũng nhờng cho chàng trai lên trớc mình một nhịp cầu thangnhằm ớc nguyện để sinh con trai đầu lòng, nhng mặt khác ngời con trai đi trớccòn tỏ rõ quyền uy, đồng thời cũng là ngời lo toan gánh vác những việc nặngnhọc cho cô gái sau này, không những thế trong cuộc sống chàng trai sẽ luôn làngời đi trớc, là ngời nâng đỡ, bảo vệ che chở cho cô gái đợc bình yên
Trang 39Đoàn đa dâu bớc vào nhà, đợc cả họ nhà trai đón tiếp nồng nhiệt Sau đóhai họ chào nhau, họ nhà trai mời nhà gái ngồi lên phía trên Khi lên đến nhàsàn, ở nhà sàn có cột đặt bàn thờ ở đó ngời ta gọi là “xáu hoòng” thì cô dâu dựavào đó một tí, cô dâu dựa vào “xáu hoòng” hàm ý để chỉ dựa vào ma nhàchồng Sau đó cô dâu và chú rể vào đứng trớc cửa buồng cới, ở trong buồng,nhà trai đã trải giờng chiếu, chăn đệm đầy đủ, có một bà già nhất bản ăn nênlàm ra có con trai con gái đầy đủ nằm đắp chăn sẵn ở giờng cô dâu chú rể Tiếp
đó bà mối nói và vỗ tay: “Bà ơi trời sáng rồi dậy đi!” Bà mối hỏi tiếp “Bà mơthấy gì?”
Bà già trả lời: “Bà mơ cha đẹp” và bà già tiếp tục ngủ
Bà mối hỏi tiếp lần hai “Bà mơ thấy gì?”
Bà già trả lời: “Bà mơ cha đẹp” và bà già tiếp tục ngủ
Bà mối hỏi tiếp lần ba “Bà mơ thấy gì?”
Bà già thức dậy và nói: “Bà mơ hai vợ chồng hạnh phúc, ăn nên làm ra,
có con trai con gái nối nghiệp gia đình”
Sau đó bà già dậy và hai vợ chồng vào buồng cới
Lễ Ký khâu cò huồm (ăn chung trứng)“ ”
Trong tất cả các nghi lễ đợc tiến hành trong đám cới của ngời Thái thì lễ
“Ký khâu cò huồm” (ăn chung trứng) đợc xem là đặc biệt hơn cả Lễ này đợcxem là lễ ra mắt, thừa nhận nàng dâu của ngời Thái Nó tơng tự nh lễ trao dâu
và nhận dâu của ngời miền xuôi Sau lễ này đợc tổ chức thì chàng trai và cô gái
đã chính thức thành vợ thành chồng
Lễ vật bao gồm hai quả trứng gà đã luộc chín, hai cái bát, hai đôi đũa,hai đĩa một đĩa đựng mía và một đĩa đựng muối, hai đĩa trầu cau và một vò rợucần có cắm bốn cần, trong đó hai cần để cô dâu chú rể uống với nhau có buộcnhững sợi đay chuốt trắng Trong lễ cới của ngời Thái các lễ vật đều mang sốchẵn, tất cả đều phải có đôi Quả trứng tợng trng cho sự gắn bó keo sơn khôngthể tách rời nhau, lòng trắng quả trứng tợng trng cho sự trinh bạch, lòng đỏ quảtrứng tợng trng cho sự mặn nồng đằm thắm Mặt khác lòng trắng quả trứng còn
đợc ví nh ngời đàn ông Thái, lòng đỏ quả trứng đợc ví nh ngời phụ nữ Thái.Ngời đàn ông luôn luôn dang rộng cánh tay ôm chặt ngời phụ nữ vào lòng đểchở che bao bọc, giống nh lòng trắng và lòng đỏ quả trứng vậy
Trang 40Sau khi đọc lời cúng xong, ông mối chia đôi mỗi quả trứng thành haiphần bằng nhau và đặt chéo cánh tay mình chia cho cô dâu chú rể cùng ăn Đalần thứ nhất hai bàn tay ông mối để sấp với ý mong muốn cô dâu chú rể sẽ sinh
đợc con gái đầu lòng để sớm có ngời đỡ đần Đa lần thứ hai thì hai bàn tay ôngmối lại để ngửa với hy vọng cô dâu chú rể sẽ sinh đợc con trai nối dõi Đặcbiệt, mỗi lần đa trứng cho cô dâu và chú rể, phần đa cho chú rể cánh tay của
ông mối bao giờ cũng để chéo trên cánh tay còn lại Bởi vì, ngời Thái quanniệm ngời đàn ông luôn luôn cao hơn ngời phụ nữ Phần còn lại, cô dâu và chú
rể chia đều cho những đứa trẻ đến dự lễ cùng ăn để sau này đợc sinh con traicon gái đủ bề Cô dâu và chú rể còn ăn mía chấm với muối hàm ý nói lên tìnhcảm hai vợ chồng thơng yêu nhau rất đậm đà sâu nặng (ngọt ngào nh mía và
đậm đà, mặn nồng nh muối vậy)
Với lễ này cô dâu chú rể đã “Ky xảy huộm mon - Non hơn huộm hòng”tức là đã ăn chung nhau quả trứng, ngủ chung nhau một giờng để yêu thơngnhau và sinh con đẻ cái Ngay trong lễ “Ký khâu cò huồm” thì cô dâu chú rễ sẽ''Ký lâu cò huồm'' tức là uống chung vò rợu cần với nhau Cũng giống nh việc
ăn trứng chung, ông mối bắt chéo hai cần rợu với nhau để cho cô dâu chú rểcùng uống, nó thể hiện sự giao thoa, khăng khít giữa hai tâm hồn với nhau Ng-
ời Thái quan niệm uống rợu sẽ giúp họ luôn say nồng, thăng hoa và ấm áp nhmùa xuân vậy Còn những sợi đay chuốt trắng đợc buộc trên hai cần rợu tợngtrng cho sự bách niên giai lão và hạnh phúc bền chặt giữa hai ngời cho đến lúc
đầu bạc răng long Cũng trong lễ “Ký khâu cò huồm” này cô gái đợc búi tóclên cao và lệch về bên trái Kể từ giờ phút này mặc dù cha động phòng hoa trúcnhng cô gái đã đợc xem là gái đã có chồng Việc búi tóc lệch về bên trái là dấuhiệu riêng, duy nhất để phân biệt giữa ngời con gái và ngời phụ nữ Thái đã cóchồng Ngày nay tục này nhiều nơi đã bỏ hoặc có thì cũng chỉ là tợng trng
Tục cúng tổ tiên (cúng ma ở nhà trai)
Nếu nh ngời miền xuôi trớc khi làm lễ thành hôn, cô dâu chú rể phảithắp hơng cúng gia tiên thì ngời Thái có tục cúng ma ở nhà trai cũng rất đợc coitrọng Lễ vật gồm có một thủ lợn còn nguyên vẹn cùng với xôi, thịt, một chai r-
ợu, một đĩa trầu cau, một vò rợu cắm 4 cần,… và lấy áo của cô dâu đặt trên bànthờ Từ trong buồng cới, ông mối dẫn dâu đến trớc mâm lễ và đọc bài cúng báocho ma nhà (tổ tiên) biết là có con dâu, xin ra mắt với tổ tiên từ hôm nay côdâu sẽ trở thành thành viên của gia đình Ông mối cúng xong, cô dâu lạy ba lạy