1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tổng hợp các văn hóa - lễ hội Việt Nam part 3 pdf

10 377 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 456 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lễ hội Dâng hoa măng của người La Ha vẫn tồn tại đến ngày nay, phần lễ là để cảm tạ trời đất, tổ tiên, sông núi luôn phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, phần hội thì sôi nổi, vui vẻ, tuy

Trang 1

21

có trong lễ hội, các loại hoa rừng trang trí và các dụng cụ cần thiết khác, để tổ chức tại nhà thầy lang

Khi đã cúng xong, thầy lang cho các con nuôi về dâng lễ, cúng mời các vị thần

mà dân tộc La Ha che chở cho người La Ha trường tồn, để có được sức mạnh như Thần Hổ-chúa Sơn Lâm thắng mọi dã thú, bảo vệ cuộc sống cho dân bản Con nhím là thần đất, phải cúng nó để gây cảm tình, để nó không phá cắn lúa; phải mời về ăn nó sẽ bảo vệ thành quả lao động của mình, sống lâu, vững chắc như tảng đá lớn Là con chim cu gáy-thần của các loài chim hay ăn lúa trên nương cũng phải cúng nó, để bảo vệ lúa nương cho mình Cuối cùng là cúng con ma cang cói, một thú rừng to như con mèo, dân tộc nào ở miền núi cũng sợ nên phải cúng nó để nó không quấy rầy sức khỏe nhân dân

Cúng các thần xong, thầy lang biểu diễn các trò mà ông đã chữa khỏi cho "bệnh nhân" Ông giả làm người bị bướu cổ khi buộc cái bát ăn cơm vào cổ mình Ông diễn các trò làm người què chân, người ngớ ngẩn, hình ảnh người đi coi nương vung cây sào, hú đuổi lũ chim, sóc cút khỏi nương nhà Cuối cùng là trò giả làm con khỉ (tô rôốc), ông bò quanh cây móc giữa nhà, vừa bò, vừa kêu chí chóe, mắt đảo nhìn rất nhanh, để tìm hoa, ngô, chuối lộc ở cây móc, lúc thì gãi tai, gãi bụng, lúc thì nhảy nhót, chộp lấy bắp ngô Một tiếng súng nổ, ông giả lăn đùng ra chết, nhiều tiếng cười vang khen người thiện xạ

Khi màn độc diễn của thầy lang kết thúc, dân bản vào ngay màn múa "tăng bu", một điệu múa độc đáo của người La Ha, rộn ràng mạnh mẽ, đạo cụ chỉ là 1 ống tre trổ xuống tấm ván theo nhịp "chát chát", tay lúc vung ra sau, khi thì 2 tay cầm ống tre nghiêng sang bên trái, nghiêng sang bên phải, múa say sưa, đặc biệt phụ nữ múa rất mềm dẻo, khỏe khoắn, linh hoạt Điệu múa này đã được các đoàn "văn công" chuyên nghiệp dàn dựng trình diễn nhiều nơi, được khán giả ngoại tộc hoan nghênh từ khi giải phóng Tây Bắc

Sau tăng bu, là các điệu múa cày bừa, cầu mưa, múa khăn, múa kiếm, múa trống Cuối cùng là điệu múa "A sừng lừng", một điệu múa độc đáo ở miền núi

Trang 2

nhiều nơi, tuy về hình thức có vẻ thô tục, nhưng lại xuất phát từ thực tiễn cuộc sống quá nghèo thuở xưa, nạn hữu sinh vô dưỡng rất phổ biến, người La Ha nghĩ ra phải thờ "dương vật" để hy vọng người La Ha con đàn cháu đống, mẹ tròn con vuông

Lễ hội Dâng hoa măng của người La Ha vẫn tồn tại đến ngày nay, phần lễ là để cảm tạ trời đất, tổ tiên, sông núi luôn phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, phần hội thì sôi nổi, vui vẻ, tuy còn một số mặt hạn chế, nhưng vẫn thể hiện được những nét phong tục, văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt khác hẳn các dân tộc anh em khác trên địa bàn Lễ hội lành mạnh, vui vẻ, là dịp gặp gỡ dân tộc có quy mô rộng để ôn lại truyền thống, trao đổi thông tin kinh nghiệm làm ăn, chữa bệnh để cùng nhau phát triển cùng 11 dân tộc anh em khác đang ở trên địa bàn Sơn La

Tục kết hàng phe của người Nùng Chảo

Người Nùng Chảo ở bản Đồng 10, xã Tam Hiệp (Yên Thế - Bắc Giang) có một tập quán tốt đẹp được nhiều người biết đến đó là "tục kết hàng phe" Đây là tập tục được duy trì từ nhiều năm nay, thể hiện tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng người Nùng Chảo

Trang 3

23

Xuất phát từ quan điểm chung của các tộc người từ xa xưa là mọi người sinh ra ai cũng phải chết, đó là sự mất mát không thể bù đắp Vì vậy, gia đình họ cần được chia sẻ đau thương, giúp đỡ trong giờ phút đau buồn ấy Từ đó, đã thúc đẩy mọi người trong bản tham gia kết phường để giúp đỡ gia chủ công việc của một đám tang

Phường hàng phe có một người đứng ra để chủ trì, phụ trách giúp tang chủ lo công việc của đám tang được gọi là "Tầu phé" "Tầu phé" được luân chuyển theo tuần tự từng đám tang: gia đình có người chết của đám tang trước sẽ là "Tầu phé" của đám tang sau "Tầu phé" phân công công việc giúp đỡ tang chủ cụ thể như: chăn trâu, cắt cỏ, thu hái mùa vụ cho từng thành viên Nếu gia đình tang chủ gặp khó khăn về kinh tế, "Tầu phé" đứng

ra vay bất cứ thành viên trong hội có điều kiện kinh tế khá giả để giúp cho tang chủ không phải lo lắng về tài chính cũng như mọi việc khác Xưa kia, trong hội có người chết được báo tang bằng tiếng súng lớn, ngày nay được thay bằng hồi kẻng Ngay sau đó, các thành viên ở hội phe có mặt đầy đủ tại nhà tang chủ, tận tâm phục vụ đám tang cho đến khi đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng Các buổi phục vụ mọi người đều về nhà mình ăn cơm Khi tang ma xong, mọi người tập trung về gia đình tang chủ để ăn bữa cơm với lời cảm ơn của tang chủ, đồng thời hội họp để rút kinh nghiệm cho những đám tang sau Nếu ai không tham gia đầy đủ các đám, thực hiện công việc giúp đỡ không nhiệt tình, thiếu trách nhiệm, làm hư hại, mất tài sản của gia chủ thì bị nhắc nhở hoặc khi đến

Trang 4

lượt nhà mình có tang cả hội không ai đến giúp đỡ

Hy vọng rằng tục kết hàng phe sẽ tiếp tục được duy trì và ngày càng phát huy được ý nghĩa cao đẹp

Se lanh dệt vải - Nét đẹp của phụ nữ dân tộc H’Mông ở Sơn La

Trồng lanh lấy sợi, dệt vải được coi là một nghề có những nét đẹp riêng trong đời sống của người phụ nữ dân tộc H’Mông ở Sơn La Tấm vải với nét hoa văn độc đáo, được vẽ lên

đó bởi đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Với họ, tấm vải lanh là một vật thể thiêng liêng, mang đậm giá trị tinh thần to lớn

Ở Sơn La, dân tộc HMông chiếm hơn 12% dân số toàn tỉnh Họ sinh sống hầu khắp các địa bàn và thường ở trên các triền núi cao Đồng bào Mông có nhiều nhóm, gồm Mông Đơ (Mông trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Đu (Mông đen) Đến với các bản Mông ở Sơn La, những ngôi nhà gỗ thấp được xây dựng theo một kiểu kiến trúc, thấp thoáng trong làn sương, hiện ra hoang sơ và lạ lẫm

Đi dọc quốc lộ 6, từ xã Noong Luông lên đến gần thị trấn Mộc Châu, đều có thể bắt gặp những người phụ nữ Mông bên cạnh tấm vải lanh, đang chăm chú hoàn thành những sản phẩm của mình Họ làm ở bất cứ nơi đâu có thể: trước cửa chính, sau hiên nhà, bên ô cửa sổ, cạnh con đường hay nơi phiên chợ…Vào mùa nông nhàn, người phụ nữ Mông lại tranh thủ tước sợi dệt vải, trang trí hoa văn lên đó và may thành những chiếc áo, chiếc váy để cho con mặc trong ngày khai trường hay kịp cho những phiên chợ sắp tới

Để dệt được một tấm vải lanh, người phụ Mông phải mất đến hàng tuần mới xong Họ tranh thủ dệt sau những ngày bận rộn trên nương dẫy Trung bình mỗi

Trang 5

25

năm, một người có thể dệt được 4 đến 5 tấm lanh dài khoảng 20 vuông khổ nhỏ,

đủ để may một chiếc váy đẹp Hầu hết người Mông đều trồng lanh dệt vải Các

em gái Mông từ 7 đến 10 tuổi đã được mẹ, chị tập cho thêu thùa, lớn lên có bộ váy áo đẹp đi chợ, đi hội Gầu tào…Vải lanh sau khi được dệt dùng để may quần

áo, làm khăn quấn đầu, xà cạp, làm chăn và cả bao đựng ngô thóc…Các công đoạn để hình thành lên một tấm vải lanh, từ lúc đập lanh, tước dập vỏ lanh, kéo sợi đến dệt lanh đều được làm bằng tay Tuy không đẹp bằng vải lụa của người Việt, nhưng người Mông rất ưa dùng các sản phẩm của họ làm ra

Để tạo được hoa văn trên váy, người phụ nữ Mông đã dùng tới sáp ong, “nhúng bút vào sáp được đun chảy, rồi vẽ lên vải các họa tiết Sau đó đem vải nhuộm chàm, tới khi có màu sẫm sẽ đem vải nhúng vào nước sôi, sáp sẽ tan ra và để nổi lên các họa tiết màu trắng trên tấm vải đó Cùng với các đường nét hoa văn

vẽ bằng sáp ong, chiếc váy của đồng bào dân tộc Mông được tô điểm bằng những đường thêu với các màu pha trộn khá tinh tế, màu trội hơn thường thiên

về màu đỏ và vàng, tạo lên màu rự rỡ của chiếc váy Người Mông còn dùng chỉ nhiều màu để thêu, váy có nhiều màu sắc cũng đẹp hơn”

Mỗi nhóm Mông khác nhau, váy áo cũng có nét khác nhau, váy của người Mông Hoa màu chàm có thêu hoặc in hoa ở gấu váy, nẹp áo ở ngực có thêu hoa văn hình con ốc Váy của phụ nữ Mông Đen ngắn hơn, màu chàm, hoa văn trắng, có thêu hoa ở cánh tay và hò áo Váy của phụ nữ Mông Xanh may bằng vải chàm, sát gấu có thêu hoa văn hình chữ thập trong các hình vuông Váy của phụ nữ Mông Trắng để nguyên vải sợi lanh se, có thêu chỉ màu sắc sặc sỡ quanh gấu

Vẻ đẹp trên những trang phục truyền thống của người Mông không chỉ “quyến rũ” những người đàn ông Mông đêm đêm thổi tiếng khèn bên đầu dốc đợi “bắt” bạn tình, mà còn hút hồn nhiều du khách trong và ngoài nước ghé thăm những bản Mông nơi rẻo cao

Ngày nay, những bộ váy áo bằng vải lanh của người Mông còn trở thành hàng hóa, được bày bán ở nhiều khu du lịch vùng Tây Bắc, như Mai Châu (Hòa Bình

Trang 6

), Mộc Châu (Sơn la)… Và giá thành của nó cũng không hề rẻ chút nào Váy cỡ nhỏ thì được bán với giá từ 300 đến 400 ngàn đồng, váy to hơn thì được bán từ

800 nghìn đến 1 triệu đồng Tùy theo mức độ chi tiết hoa văn trên váy mà giá thành cũng khác nhau

Đặc sắc múa tứ linh ở Đại Thắng, Nam Định

Là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, xã Đại Thắng (Vụ Bản) hiện còn lưu giữ nhiều môn thể thao, trò chơi dân gian như múa rồng, kỳ lân, rùa, phượng

Các hoạt động múa rồng, lân, rùa, phượng ở Đại Thắng có từ rất lâu, bắt nguồn từ làng Thi Liệu (gồm các xóm Thanh Ý, Đồng Hòa, Thái Hưng và xóm Tiên) nơi có đình, chùa thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ - một võ tướng nổi tiếng có nhiều công trạng dưới triều Ngô, Đinh Vào ngày 16-11 âm lịch hàng năm, làng Thi Liệu tổ chức hội làng có sới vật

và các trò chơi dân gian, trong đó có múa rồng, kỳ lân… Từ làng Thi Liệu, đến nay múa linh vật đã phát triển Ở 12/17 xóm của xã có đội kỳ lân, trong đó xóm Thanh Ý thuộc làng Thi Liệu xưa phát triển mạnh nhất với đầy đủ các con vật “tứ linh” trong tín ngưỡng dân gian: rồng, kỳ lân, rùa, phượng Đội múa linh vật các xóm thu hút nhiều người, từ công chức nghỉ hưu, những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn, nhất là thanh niên trong xóm Hàng năm, vào ngày mùng 4 Tết Nguyên đán, khi xã tổ chức mừng thọ người cao tuổi, múa linh vật được tổ chức Ngay từ sáng sớm mùng 4 Tết, đội múa rồng,

kỳ lân đến từng gia đình trong xã có cụ được mừng thọ để chúc mừng Buổi chiều, đội

Trang 7

27

rồng, kỳ lân lại rước các cụ lên trụ sở UBND xã dự lễ mừng thọ Ngoài ra, trong các ngày hội làng Thi Liệu, Thiện An, Thượng Linh, Đông Linh…, hình ảnh kỳ lân múa vờn quả cầu đi trước kiệu thờ Thành Hoàng làng đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm với người dân nơi đây Hoạt động múa linh vật đông vui nhất vẫn là trong dịp xã tổ chức Tết Trung thu cho thiếu niên, nhi đồng Vào dịp này, các xóm đều tổ chức các đội múa linh vật tham gia

lễ dâng hương tưởng nhớ công lao các liệt sỹ trong nghĩa trang liệt sỹ của xã, sau đó, biểu diễn phục vụ nhân dân Hoạt động này không chỉ góp vui mà còn giáo dục thế hệ trẻ biết nâng niu giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của cha ông Phong trào múa “linh vật” mạnh nhất của xã Đại Thắng là Hội tứ linh xóm Thanh Ý Được thành lập từ năm 1990 với lúc đầu chỉ có múa rồng, kỳ lân, đến năm 1998 thì Hội tứ linh xóm có đủ bộ “tứ linh” gồm rồng, kỳ lân, rùa, phượng với 28 hội viên thường xuyên tham gia sinh hoạt Con rồng của hội gồm 9 khúc, dài gần 30m, với 18 người múa, trong đó riêng phần đầu rồng

có 2-3 người tham gia Để làm nên con rồng này, các hội viên của Hội đi học hỏi kinh nghiệm của các nghệ nhân khắp nơi và các bậc cao tuổi trong xóm sao cho thể hiện được nét thần uy của con vật đứng đầu tứ linh trong tín ngưỡng dân gian Các linh vật khác như kỳ lân, rùa và phượng dù chế tạo đơn giản hơn nhưng mang nét đẹp đặc sắc riêng Ông Nguyễn Hữu Cẩn, người đã gắn bó lâu dài với Hội tứ linh xóm Thanh Ý cho biết, mỗi năm Hội tứ linh tổ chức biểu diễn khoảng 15 lần trong các dịp: Lễ mừng thọ, khánh thành nhà thờ các dòng họ, hội làng, lễ hội chùa Bi (Nam Giang), chùa Yên Tiến (Ý Yên)… Hội tứ linh của xóm cũng vinh dự được góp mặt trong các sự kiện lớn của tỉnh, huyện như Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ I, Đại hội TDTT huyện, lễ hội Phủ Dầy hàng năm…

Hoạt động múa linh vật ở xã Đại Thắng không chỉ thể hiện khát khao của người dân về một cuộc sống thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc mà góp phần bảo tồn và phát triển các trò chơi dân gian mang đậm nét đẹp văn hoá dân tộc

Trang phục người Xinh Mun

Mỗi dân tộc đều có trang phục truyền thống của riêng mình, với người Xinh Mun

Trang 8

những bộ trang phục truyền thống là cội rễ để hình thành nên một bản sắc văn hoá dân tộc

* Trang phục nam

Trang phục truyền thống của nam giới Xinh Mun có phần hơi đơn giản Ngoài bộ quần áo mặc hàng ngày, người đàn ông Xinh Mun chỉ có thêm chiếc khăn quấn trên đầu, chiếu túi đeo bên người khi đi nương, xuống chợ Áo dài ngang tới bắp chân, áo được may bằng vài dệt sợi bông, nhuộm chàm, có màu xanh đen, giống chiếc áo dài của đàn ông Thái Đen, Khơ Mú

Thân áo được may thành bốn mảnh, phía sau gồm hai mảnh ghép giữa sống lưng, phía trước là hai mảnh Cổ tròn, được may thành nẹp ôm xung quanh cổ khi mặc Dải khuy chạy từ cổ xuống áo, qua vai xuống nách và chạy dọc sườn trái xuống ngang thắt lưng Khi mặc áo này, người Xinh Mun hay cuốn trên đầu một chiếc khăn bằng vải nhuộm chàm, dài khoảng 80cm Cách quấn khăn của

họ cũng giống người Thái Đen: quấn mỏ rìu quay ra phía trước trán Quần của đàn ông Xinh Mun giống quần của nam giới Thái Đen Quần thường may ngắn trên mắt cá trên, ống rộng, nhuộm tràm Quần không có cạp để luồn dây lưng

mà dùng thắt lưng buộc lại khi mặc

* Trang phục nữ

Trang phụ nữ truyền thống gồm váy, áo, khăn, thắt lưng

Trang 9

29

Váy thường may ngắn hở bắp chân, tạo thành một vòng khép kín Cạp váy bằng vải hoa Gấu váy bên trong nẹp bằng vải đỏ Khi mặc người ta kéo sát phía sau thân váy bó vào mông, phần còn thừa dồn hai bên hông và kéo về phía trước bụng Khi mặc váy bao giờ phụ nữ Xinh Mun cũng phải dùng thắt lưng thắt chồng khít lên phần cạp váy Thắt lưng dệt bằng tơ tằm, dài khoảng 2,5m, rộng khoảng 15cm nhuộm màu xanh lá cây

Áo của phụ nữ Xinh Mun ngắn may bằng vải bông, áo có thân ngắn, cộc tới ngang eo, cổ cao và tròn, tay áo bó sát và dài tới mắt cá tay Áo có khuy phía trước, làm bằng đồng, nhôm hoặc bằng bạc giống hình con bướm Hàng khuy bên phải là con đực, hàng khuy bên trái là con cái Mỗi chiếc áo có từ 11-12 đôi Khi mặc để hở phần thắt lưng tạo nên vẻ đẹp riêng của người con gái Xinh Mun Phụ nữ Xinh Mun đội khăn piêu giống người Thái làm bằng vải bông nhuộm chàm Piêu được trang trí bằng cút ở bốn góc và xung quanh mép Họ thường trang trí số cút lẻ, mỗi chùm ba cút gọi là piêu cút xam Ngoài áo, váy, khăn, phụ

nữ Xinh Mun còn đẹp vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bằng bạc

Khau cút - Nét văn hoá, tâm linh trong tín ngưỡng người Thái - Tây Bắc

Trang 10

Trong toàn bộ nền văn hoá vật chất (văn hoá vật thể) của dân tộc Thái Tây Bắc, ngôi nhà sàn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, nếu như không muốn nói là quan trọng nhất Nó quan trọng không chỉ ở giá trị vật chất đo đếm được bằng khái niệm định lượng, mà còn ở phạm trù tâm linh - tín ngưỡng Và ở đó, cái khau cút trên các chái nhà, từng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nói về sự tích và ý nghĩa của biểu tượng Khau cút có nhiều ý kiến khác nhau

Có ý kiến cho rằng đó là cặp sừng trâu cách điệu, biểu tượng của một nền văn minh lúa nước Có ý kiến cho rằng với trang trí hoạ tiết hoa sen, Khau Cút có ít nhiều liên quan tới đạo Phật Lại có ý kiến cho rằng, với hoạ tiết hình trăng, Khau cút gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa của người Thái ở thế kỷ XI, anh em luôn nhớ về nhau

Chuyện rằng ngày ấy đã lâu lắm rồi, lâu đến mức ngay cả những người già nhất bản, già nhất mường và thậm chí những bậc cao niên nhất của dân tộc Thái, cũng không còn biết đó là khi nào Nghe nói, sau những cuộc binh đao triền miên, một bộ phận người Thái đã buộc phải ra đi tìm đất sống Chuyện này, theo các nhà nghiên cứu, xảy ra những hơn 1.000 năm trước, kể từ khi hai anh em trai Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn quân xuôi dòng Nậm Tao (thế kỷ XI) Trước khi ngậm ngùi rời quê hương xứ sở để thiên di về phương Nam, lời hẹn buổi loạn ly của tổ tiên người Thái là: Dù ở bất cứ phương trời nào, khi làm nhà hãy nhớ gắn trên mỗi đầu nóc chái nhà một cái dấu tương tự như hình mặt trăng khuyết, để sau này các thế hệ hậu duệ có thể qua đó mà nhận ra dòng giống của mình Và rồi, hơn 2.000 năm qua kể từ thế kỷ thứ III - II trước Công nguyên, cái dấu mang hình mặt trăng khuyết trong truyền thuyết đã như một lời nguyền truyền kiếp, trở thành cái khau cút quen thuộc gắn với đời sống văn hoá, đời sống tâm linh của tộc người Thái Tây Bắc hiện nay

Giờ đây, mỗi khi gặp một bản bất kỳ của đồng bào Thái, hình ảnh đầu tiên mà thị giác

Ngày đăng: 13/07/2014, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w