1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected

99 407 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 921,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, Phần 1 bao gồm chương 1 và 2, cung cấp những kiến thức khái quát về quản trị như khái niệm quản trị, hiệu quả và kết quả quản trị, các yếu tố ảnh hưởng tới quản trị, phương phá

Trang 1

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

MỞ ĐẦU

Trong quá trình tổ chức quản lý sản xuất, chủ doanh nghiệp phải trả lời các câu hỏi: Làm gì? Làm cho ai? Khi nào làm? Làm ở đâu?, Làm như thế nào? v.v Để trả lời, họ phải có 5 yếu tố quan trọng, đó là Tiền (Money), Con người (Man), Máy móc

- kỹ thuật (Machine), Thị trường (Marketing) và Quản trị (Management) Đây là mô hình quản trị 5M

QTH là môn khoa học nghiên cứu về lý thuyết quản trị Trong QTH cần hiểu rõ khái niệm của quản trị, người quản trị viên ở các cấp khác nhau có những yêu cầu

và điều kiện gì, những yếu tố nào tác động đến quản trị, các chức năng của quản trị, v.v Môn học này gồm 2 phần, được sắp xếp thành 7 chương:

Chương 1 Quản trị và lý thuyết quản trị

Chương 2 Nhà Quản trị và nhà Doanh nghiệp

Chương 3 Ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định

Chương 4 Hoạch định trong quản trị

Chương 5 Tổ chức trong quản trị

Chương 6 Điều khiển trong quản trị

Chương 7 Kiểm tra trong quản trị

Trong đó, Phần 1 bao gồm chương 1 và 2, cung cấp những kiến thức khái quát

về quản trị như khái niệm quản trị, hiệu quả và kết quả quản trị, các yếu tố ảnh hưởng tới quản trị, phương pháp quản trị, quá trình phát triển của lý thuyết quản trị, nhà quản trị và nhà doanh nghiệp, ra quyết định và thực hiện quyết định quản trị Phần 2 bao gồm các chương 4,5,6,7 và sẽ đi sâu phân tích các chức năng của quản trị, đó là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm soát

Trang 2

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

1 Quản trị

Quản trị tiếng Anh là Management, vừa có ý nghĩa quản lý, vừa có ý nghĩa quản trị, nhưng chủ yếu với ý nghĩa quản trị thuật ngữ này của các nước khác đều coi quản lý là thuật ngữ được dùng với cơ quan Nhà nuớc trong quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn quản trị là thuật ngữ được dùng đối với cấp cơ sở trong đó có các tổ chức kinh doanh - các doanh nghiệp

1.1.Khái niệm

1.1.1 Quản trị

Quản trị là sự tác động có mục đích của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức

Các yếu tố của quản trị:

• Chủ thể quản trị (một người hay nhiều người) là tác nhân tạo ra tác động; Đối tượng của quản trị (một hay nhiều người hoặc TLSX )

• Một tổ chức – là một đơn vị, bao gồm các thành viên có quan hệ với nhau

có cùng mục tiêu hoạt động như tổ chức Đảng, đoàn, trường học, các hội

• Mỗi một tổ chức có mục tiêu cụ thể khác nhau, do vậy mục tiêu là căn cứ hoạt động chung của cả chủ thể và đối tượng bị quản trị

1.1.2 Tổ chức và các hoạt động của tổ chức

1.1.2.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của tổ chức

Tổ chức được hiểu như là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động

để đạt được mục đính chung Ví dụ như chính quyền, đảng phái, gia đình, doanh

nghiệp, trường học, tổ chức tôn giáo, …

Các tổ chức có rất nhiều loại tùy theo tiêu thức phân loại, nhưng các tổ chức đều có các đặc điểm sau:

1) Mọi tổ chức đều mang tính mục đích (mỗi tổ chức có mục đích riêng của tổ chức đó)

2) Mọi tổ chức đều là những đơn vị xã hội Bao gồm nhiều người có các chức năng nhất định và có quan hệ với nhau dựa trên cơ sở phân công và hiệp tác lao động

3) Mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được mục đích của tổ chức mà trọng tâm lấy kế hoạch là cách thức hoạt động chủ yếu

Trang 3

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

4) Mọi tổ chức phải thu hút và phân bổ nguồn lực (Nhân, tài, vật lực và thông tin) cần thiết để đạt mục đích của mình

5) Mọi tổ chức đều hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác Doanh nghiệp cần các yếu tố đầu vào ở các tổ chức cung cấp, cần các chính sách của tổ chức nhà nước, cần tiêu thụ sản phẩm ở các tổ chức mua sản phẩm của họ

6) Mọi tổ chức cần có những nhà Quản trị để tổ chức, liên kết, phối hợp các thành viên và các yếu tố khác để hoàn thành mục tiêu của tổ chức

1.1.2.2 Các hoạt động cơ bản của tổ chức

Hoạt động của tổ chức phụ thuộc vào mục đích tồn tại; Lĩnh vực hoạt động; Quy mô và phương thức hoạt động được chủ thể lựa chọn Tuy nhiên mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một quá trình liên hoàn trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường Đối với các tổ chức sản xuất kinh doanh, các hoạt động đó

là :

1) Tìm hiểu và dự báo xu thế biến động của môi trường

2) Tìm kiếm và huy động các nguồn vốn

3) Tìm kiếm các yếu tố đầu vào của quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ 4) Tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm

5) Cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường

6) Thu lợi ích của tổ chức và phân phối các lợi ích đó

7) Hoàn thiện đổi mới, nâng cao chất lượng các sản phẩm

1.1.2 Quản trị học

Quản trị học là khoa học nghiên cứu, phân tích về công việc quản trị trong các

tổ chức (những hoạt động của tổ chức); Khái quát hoá các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết áp dụng trong mọi lĩnh vực của xã hội

Quản trị học không nghiên cứu các hoạt động quản trị chức năng, nhưng quản trị học cung cấp các khái niện cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể như quản trị sản xuất, quản trị Marketing, quản trị nhân sự, quản trị vật tư, quản trị hành chính

1.2 Vị trí của quản trị

Trang 4

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

1.3 Phân loại Quản trị

Có nhiều loại quản trị, theo lĩnh vực hoạt động có Quản trị hành chính, Quản trị kinh doanh Theo nội dung cụ thể có Quản trị nhân sự, Quản trị tài chính, Quản trị marketing Trong phần này chúng ta chỉ nghiên cứu quản trị trong lĩnh vực kinh doanh

Quản trị kinh doanh là quá trình tác động, có tổ chức, có hướng đích của chủ

doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng dến quản trị kinh doanh :

Vốn

Kỹ thuật

Lao động Quản trị

Thị Trường

Trang 5

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Hình 1.2 Sơ đồ lo-gic của khái niệm quản trị kinh doanh

Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật hoạt động của quản trị thì quản trị kinh doanh là

sự kết hợp các yếu tố (lao động, vật chất, khơng gian và thời gian) để đạt đến mục tiêu đã định - thực chất là quản trị con người

Xét về mặt kinh tế - xã hội quản trị kinh doanh vì mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị kinh doanh xuất phát từ tính quy luật mà các nhà quản trị phải sử dụng

2 Quản trị là khoa học, là nghệ thuật

3- Quản trị vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật cao

Bởi quản trị không những đòi hỏi phải hoàn thành các mục tiêu đã đề ra mà phải hoàn thành chúng với hiệu quả cao nhất có thể được

a-Tính khoa học của Quản trị thể hiện:

Thứ nhất, quản trị phải đảm bảo phù hợp với sự vận động của các qui luật tự

nhiên, xã hội Điều đó đòi hỏi việc quản trị phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các qui luật khách quan chung và riêng của tự nhiên và xã hội

Những người lao động trong doanh nghiệp

Thị trường

Luật định và thơng lệ xã hội

Những cơ sở cung ứng đầu vào

Các đối thủ cạnh tranh Khách hàng

Các cơ hội, các rủi ro Mục tiêu của

doanh nghiệp

Trang 6

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Thứ hai, trên cơ sở đó mà vận dụng tốt nhất các thành tựu khoa học, trước hết là

triết học, kinh tế học, toán học, tin học, điều khiển học, công nghệ học, … và các kinh nghiệm trong thực tế vào thực hành quản trị

- Thứ ba, quản trị phải đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi tổ chức

trong từng giai đoạn cụ thể Điều đó cũng có nghĩa, người Quản trị vừa phải kiên trì các nguyên tắc vừa phải vận dụng một cách linh hoạt những phương pháp, những kỹ thuật Quản trị phù hợp trong từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định

b-Tính nghệ thuật của quản trị thể hiện:

Nghệ thuật là kỹ năng, kỹ xảo, bí quyết, cái “mẹo” của quản trị Nếu khoa học là

sự hiểu biết kiến thức có hệ thống thì nghệ thuật là sự tinh lọc kiến thức để vận dụng phù hợp trong từng lĩnh vực, trong từng tình huống Ví dụ:

- Trong nghệ thuật sử dụng người trước hết phải hiểu đặc điểm tâm lí, năng lực

thực tế của con người, từ đó sử dụng họ vào việc gì, lĩnh vực gì, ở cấp bậc nào là phù hợp nhất; có như vậy mới phát huy hết khả năng và sự cống hiến nhiều nhất của mỗi cá nhân cho tập thể

- Nghệ thuật giáo dục con người Giáo dục một con người có thể thông qua nhiều

hình thức: khen – chê, thuyết phục, tự phê bình và phê bình, khen thưởng và kỷ luật đều đòi hỏi ở tính nghệ thuật rất cao Áp dụng hình thức, biện pháp giáo dục không phù hợp chẳng những giúp cho người ta tiến bộ hơn mà ngược lại làm phản tác dụng, tăng thêm tính tiêu cực trong tư tưởng và hành động

- Nghệ thuật giao tiếp, đàm phán trong kinh doanh Cũng đòi hỏi tính nghệ

thuật rất cao Trong thực tế không phải người nào cũng có khả năng này, cùng một việc như nhau đối với người này đàm phán thành công còn người khác thì thất bại

- Nghệ thuật ra quyết định quản trị Quyết định quản trị là một thông điệp biểu

hiện ý chí của nhà quản trị buộc đối tượng phải thi hành được diễn đạt bằng nhiều hình thức như: văn bản chữ viết, lời nói, hành động, … Ngoài đặc điểm chung của quyết định quản trị mang tính mệnh lệnh, cưỡng chế ra thì mỗi hình thức của quyết định lại có những đặc điểm riêng, chẳng hạn như quyết định bằng lời không mang tính bài bản, khuôn mẫu như quyết định bằng văn bản chữ viết nhưng lại đòi hỏi ở tính sáng tạo, thích nghi và tính thuyết phục hơn

-Nghệ thuật quảng cáo Trước hết là gây ấn tượng cho người nghe, người đọc

Nhưng trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng làm được điều đó Có những quảng cáo chúng ta xem thấy vui vui, thích thú, có cảm tình sản phẩm của họ Nhưng cũng có quảng cáo lại thấy chán ngán, gây bực bội, phiền muộn cho người nghe, người

Trang 7

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

đọc, … Vì sao như vậy? Đó chính là nghệ thuật quảng cáo “Nghệ thuật vĩ đại nhất của nghề quảng cáo, là ấn sâu vào đầu óc người ta một ý tưởng nào đó nhưng bằng cách thức mà người ta không nhận thấy được điều đó - khuyết danh” (trích trong “Lời vàng cho các

nhà doanh nghiệp” – nhà xuất bản trẻ năm 1994)

- Nghệ thuật bán hàng: “Nghệ thuật bán tức là nghệ thuật làm cho người mua tin

chắc rằng họ có lợi khi họ mua - SHELDON” (trích: “Lời vàng cho các nhà doanh nghiệp”

– nhà xuất bản trẻ năm 1994)

Nghệ thuật là cái gì đó hết sức riêng tư của từng người, không thể “nhập khẩu”

từ người khác Nó đòi hỏi ở người quản trị (mà trước hết là người lãnh đạo) không những biết vận dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học hiện có vào hoàn cảnh cụ thể của mình mà còn tích lũy vốn kinh nghiệm của bản thân, của người khác để nâng chúng lên thành nghệ thuật – tức biến nó thành cái riêng của mình

3 Kết quả và hiệu quả của quản trị

Kết quả là thành quả đạt được ở đầu ra của quá trính quản trị, là đạt được mục tiêu, hồn thành nhiệm vụ được giao Q = f(x)

Hiệu quả là tương quan so sánh giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào của qúa trình quản trị H = Q/TC (TC là chi phí làm ra Q)

Kết quả Hiệu quả

Gắn với mục tiêu, mục đích cần

đạt được

Gắn với phương pháp hoặc phương tiện thực hiện

Về cơ bản tỷ lệ thuận với chi phí Tỷ lệ ngịch với chi phí

Ví dụ: Hai người cùng học, cùng bỏ thời gian như nhau, nhưng kết quả cĩ người chỉ đạt yêu cầu, cĩ người loại giỏi, như vậy kết quả là hai người đều đạt yêu cầu nhưng người học giỏi đạt hiệu quả cao

3 Phương pháp lãnh đạo (phương pháp chung)

- Theo TS Yves Enregle thì “Lãnh đạo là làm cho người khác làm việc và hiểu biết công việc để làm cho người khác làm” Muốn tác động đến người khác làm việc, người

lãnh đạo phải thông qua các phương pháp

Phương pháp lãnh đạo là tổng thể các cách thức tác động của người lãnh đạo đến đối tượng nhằm thực hiện những mục tiêu mong đợi Nếu so với chức năng, nguyên tắc thì phương pháp là bộ phận năng động nhất, người lãnh đạo không những phải biết lựa

Trang 8

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

chọn phương pháp thích hợp cho từng tình huống và đối tượng cụ thể mà còn phải biết thay đổi phương pháp khi phương pháp đó tỏ ra không thích hợp và thay thế vào đó những phương pháp thích hợp hơn Vì vậy, phương pháp là rất phong phú và đa dạng, nhưng có thể phân chúng thành 3 loại sau:

a Phương pháp hành chính

- Là phương pháp sử dụng quyền lực mang tính chất bắt buộc đối tượng phải thực hiện nhiệm vụ của mình

- Các công cụ để thực hiện quyền lực của mình: Các quyết định quản trị; các công cụ kế hoạch; các công cụ tổ chức; các công cụ chính sách, chế độ và cả các công cụ kỹ thuật quản trị khác

- Sử dụng phương pháp hành chính trong quá trình lãnh đạo một tập thể người là điều rất cần thiết, bởi ở đó nó thể hiện cái quyền lãnh đạo của người lãnh đạo, buộc đối tượng phải phục tùng vô điều kiện, làm cho công việc được tiến hành một cách nhanh chóng và tương đối dễ thực hiện Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng phương pháp này cũng sẽ dẫn đến sự nhàm chán nếu không muốn nói là sự sợ hãi của cấp dưới khi họ nhận quá nhiều mệnh lệnh hành chính, là cơ hội phát sinh ra bệnh quan liêu giấy tờ, xa rời thực tế

b Phương pháp kinh tế

- Là sử dụng các biện pháp khuyến khích bằng lợi ích vật chất Chẳng hạn như tăng giảm tiền lương, tiền thưởng, tiền phụ cấp, tiền bồi dưỡng, … hiện nay “khoán” là hình thức khuyến khích bằng lợi ích vật chất mang lại nhiều hiệu quả ở nhiều ngành nghề trên nhiều lĩnh vực khác nhau, bởi nó có sự ràng buộc giữa quyền lợi và nghĩa vụ lại với nhau, vì muốn có quyền lợi bắt buộc phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình

Sử dụng phương pháp này có ý nghĩa rất to lớn trong công tác lãnh đạo, nó phát huy tính năng động sáng tạo của cấp dưới và tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy đối tượng thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh phương pháp kinh tế mà bỏ qua các phương pháp khác sẽ khuyến khích cho chủ nghĩa thực dụng phát triển, làm xói mòn các nguyên tắc – đạo lý và nhân cách của con người, sẽ gây nguy hại về kinh tế – xã hội

c Phương pháp giáo dục

- Là phương pháp tác động lên tinh thần của người lao động, nhằm khơi dậy tính tính tích cực, tính tự giác, hăng hái thi đua hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Phương pháp giáo dục có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong một tổ chức, bởi con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, cần phải được phát triển toàn diện về: tư tưởng, trình độ, năng

Trang 9

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

lực, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân sinh quan, thế giới quan, … có như vậy con người mới có khả năng tự làm chủ bản thân và xã hội

Có nhiều cách khác nhau để tiến hành việc giáo dục con người Nhưng căn cứ vào

nội dung giáo dục người ta chia thành hai loại: giáo dục cơ bản và giáo dục cụ thể

- Giáo dục căn bản giúp cho con người phát triển toàn diện Thông qua các hình

thức đào tạo dài hạn cũng như bồi dưỡng ngắn hạn phù hợp với trình độ và điều kiện của từng đối tượng khác nhau

- Giáo dục cụ thể là giáo dục từng mặt, cho từng tình huống cụ thể Thông qua các

hình thức: khen - chê; thuyết phục; tự phê bình và phê bình; khen thưởng - kỷ luật; tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất, động viên khuyến khích, khen thưởng những tập thể và cá nhân tích cực, hạn chế những tập thể cá nhân thiếu tích cực

Mỗi loại phương pháp nêu trên đều có những ưu, nhược điểm riêng Vì vậy, trong quản trị cần kết hợp đồng thời các phương pháp lãnh đạo

d Sự kết hợp các phương pháp lãnh đạo

Trong lãnh đạo cần sử dụng kết hợp các loại phương pháp nhằm tạo ra một động lực mạnh mẽ hơn, phương pháp hành chính tạo ra động lực chính trị, phương pháp kinh tế tạo ra động lục vật chất, phương pháp giáo dục tạo ra động lực tinh thần

Đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp sẽ khắc phục cho nhau những nhược điểm trong mỗi loại phương pháp Nếu chỉ phương pháp hành chính không thôi thì dễ gây sự ức chế căng thẳng; hoặc quá nhấn mạnh khuyến khích bằng lợi ích vật chất thì dễ sinh

ra tư tưởng thực dụng; hay chỉ coi trọng giáo dục không thôi thì cũng sẽ nhàm chán Ttặng một cái bằng khen kèm theo một chiếc “bao thư” là vậy

IV- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ HỌC

1-Đối tượng nghiên cứu của quản trị học

Quản trị học là một khoa học xã hội, nhiên cứu các mối quan hệ giữa người và

người trong quá trình quản trị gọi tắt là quan hệ quản trị Đó là quan hệ giữa chủ thể

quản trị (hệ thống quản trị, bộ phận quản trị, người quản trị) và đối tượng quản trị (hệ thống bị quản trị, bộ phận bị quản trị, người bị quản trị) Mặt khác, quan hệ quản trị còn

là quan hệ giữa các cấp các khâu trong hệ thống quản trị, như quan hệ giữa giám đốc và

trưởng phòng, giữa trưởng phòng với tổ trưởng, … giữa các bộ phận khâu dệt với khâu hồ, giữa khâu hồ với in hoa, … trong công ty dệt chẳng hạn

Trang 10

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Xét trên bình diện rộng, quan hệ quản trị là một bộ phận trong “quan hệ sản xuất”

(Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ phân phối và quan hệ quản lý) Tuy nhiên,

“quan hệ sản xuất” ở đây chỉ đề cập đến phạm vi trong một tổ chức (Doanh nghiệp), nhằm tìm ra những qui luật vận động của nó; đề ra những đường lối, phương hướng, những nguyên tắc, những phương pháp chung nhất làm kim chỉ nam cho các nhà thực hành quản trị doanh nghiệp vận dụng có hiệu quả

Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu trên, nội dung môn học bao gồm các chương cụ thể như sau:

2-Nội dung

+ Chương 1: Dẫn nhập

+ Chương 2: Sự phát triển của các lý thuyết quản trị

+ Chương 3: Chức năng hoạch định

+ Chương 4: Chức năng tổ chức

+ Chương 5: Chức năng điều khiển

+ Chương 6: Chức năng kiểm soát

+ Chương 7: Phá sản và cứu nguy phá sản

Trong 7 chương tập trung giải quyết các chủ đề chính:

- Thông qua việc tìm hiểu các lý thuyết Quản trị, nắm vững các nguyên tắc và những vấn đề mang tính nguyên tắc – qui luật của quản trị

- Làm rõ nội dung các chức năng (Nhiệm vụ chung – nhiệm vụ tổng quát) của quản trị

- Nắm vững các phương pháp (chung) và một số phương pháp – biện pháp cụ thể

của quản trị

3- Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo nắm vững các nội dung trên, chúng ta cần phải tiến hành qua các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

a- Phương pháp duy vật biện chứng

Phép duy vật biện chứng là phương pháp chung cho sự nghiên cứu của tất cả các khoa học, trong đó có quản trị học Vì phép biện chứng triết học Mac – Lênin là một khoa học về các qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; nó đòi hỏi xem xét và giải quyết những vấn trong mối tác động qua lại của các sự vật và hiện tượng trong sự

Trang 11

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

phát sinh, vận động và phát triển của chúng Trên cơ sở những nhận thức đó, để nghiên cứu quản trị học đạt kết quả tốt chúng ta cần phải có các quan điểm sau:

a1 Quan điểm tổng hợp

Nó cho phép chúng ta có phương pháp đánh giá sự vật và hiện tượng một cách toàn diện, đích thực bản chất, từ đó có những hành động đúng, chính xác Ngược lại, nếu xem xét đánh giá sự vật và hiện tượng một cách phiến diện, chỉ nhìn thấy một mặt nào đó mà vội vàng kết luận thì dễ dẫn đến hành động sai lầm và gây hậu quả nghiêm trọng Chẳng hạn, khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến doanh nghiệp thì phải tính đến các yếu tố bên trong (các yếu tố văn hóa) lẫn bên ngoài tổ chức (môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật và môi trường kinh doanh quốc tế)

a2 Quan điểm hệ thống

Hệ thống là tổng hợp các bộ phận hợp thành, chúng có mối quan hệ lẫn nhau; con người, một cổ máy, một chiếc đồng hồ là một hệ thống hoàn chỉnh, nó bao gồm nhiều bộ phận hợp thành và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Hệ thống một tổ chức (doanh nghiệp) bao gồm nhiều bộ phận hợp thành như bộ phận lãnh đạo, bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng, bộ phận kế toán tài vụ, … chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất của tổ chức Vì vậy, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó của bộ phận phải tính đến các mối quan hệ hữu cơ của cả hệ thống

Mặt khác, hệ thống doanh nghiệp là một hệ thống mở, không thể có một hệ thống đóng tồn tại được Do đó, chúng ta không chỉ nghiên cứu chúng trong mối liên hệ của các bộ phận bên trong tổ chức mà còn phải xem xét chúng trong mối liên hệ cả hệ thống của nền kinh tế và toàn cầu

a3 Quan điểm lịch sử

Lịch sử luôn gắn liền với thời gian (quá khứ, hiện tại và tương lai), trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội … khác nhau không thể tùy tiện xem xét đánh giá sự vật và hiện tượng một cách giống nhau Chẳng hạn, với điều kiện của nền kinh tế thị trường chúng ta không thể lấy những sự việc và hiện tượng của thời bao cấp để đánh giá hay nhận xét, mà phải đặt chúng trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ; Và, ngược lại cũng không thể gán ghép những sự việc và hiện tượng trong điều kiện của nền kinh tế hiện thời đem so sánh với thời kỳ bao cấp,

b- Vận dụng các phương pháp cụ thể của các khoa học khác

Quản trị học không những là một khoa học xã hội mà còn là một khoa học ứng dụng Dẫn đến sự tất yếu phải vận dụng các phương pháp cụ thể của các khoa học khác như khoa học thống kê, tin học, tâm lí học, xã hội học, … trong quản trị là cần thiết Chẳng hạn, sử dụng các phương pháp phán đoán suy luận, mô hình hóa, sơ đồ hóa, đàm

Trang 12

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

thoại, thực nghiệm, điều tra, quan sát, nghiên cứu mẫu, phân tích, nghiên cứu tình huống, … tất cả đều giúp cho ta có cơ sở khoa học xác đáng, nắm vững bản chất của vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu

5 Lý thuyết quản trị kinh doanh

5.1 Lý thuyết quản trị kinh doanh là khoa học về quản trị kinh doanh

Là một khoa học vì lý thuyết quản trị kinh doanh cĩ đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản trị trong quá trình kinh doanh Những quan hệ này cĩ thể là: Quan hệ giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác (đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp liên kết, các doanh nghiệp cung ứng đầu vào), quan hệ giữa doanh nghiệp với mơi trường (pháp lý, cấp trên, Nhà nước, cĩ xu hướng văn hố, khung cảnh xã hội), quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với cá nhân và tập thể lao động trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các chủ doanh nghiệp và quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với khách hàng v.v

Lý thuyết quản trị kinh doanh nghiên cứu các quan hệ quản trị kinh doanh nhằm tìn ra những quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật đĩ trong quá trình quản trị kinh doanh một cách cĩ hiệu quả Lý thuyết quản trị kinh doanh sẽ cung cấp những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các mơn học về quản trị kinh doanh cụ thể theo lĩnh vực hoặc theo chuyên mơn hố: Quản trị sản xuất, quản trị tiếp thị, quản trị nhân lực, quản trị tài chính v.v hoặc quản trị doanh nghiệp cơng nghiệp, quản trị doanh nghiệp thương mại, quản trị doanh nghiệp nơng nghiệp v.v

5.2 Lý thuyết quản trị kinh doanh là một khoa học liên ngành

Là khoa học liên ngành vì nĩ sử dụng trị thức của nhiều khoa học khác nhau: Quản trị học, kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, tin học, tốn học, luật học v.v xuất phát điểm của khoa học liên ngành này là tính tổng hợp trong lao động của ngành quản trị kinh doanh

5.3 Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của lý thuyết quản trị kinh doanh

là phương pháp phân tích hệ thống

Ngồi các phương pháp chung sử dụng chung cho nhiều ngành khoa học như phương pháp tốn, thống kê, tâm lý và xã hội v.v lý thuyết quản trị kinh doanh lấy phương pháp phân tích hệ thống làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu của mình Phương pháp phân tích hệ thống lý thuyết quản trị kinh doanh được đặc trưng bởi các nội dung sau:

- Xem doanh nghiệp như một hệ thống mở, vận động và tồn tại theo những quy

Trang 13

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

ảnh hưởng trong mối quan hệ tác động qua lại để tạo thành một chỉnh thể Nếu một nhân tố, một bộ phận nào đó có “ vấn đề” sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố và bộ phận khác và đến cả hệ thống

- Doanh nghiệp không chỉ là một hệ thống nói chung mà là một hệ thống kinh

tế - xã hội

- “ Vấn đề” không cố định ở một nhân tố hoặc bộ phận hoặc bộ phận nào của doanh nghiệp mà luôn biến động Giải quyết tốt vấn đề của nhân tố hoặc bộ phận này có thể lại xuất hiện vấn đề thuộc nhân tố hoặc bộ phận khác

- Nhân tố phát triển chủ yếu của doanh nghiệp là những nhân tố bên trong

5.4 Nội dung của lý thuyết quản trị kinh doanh

5.4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản trị kinh doanh

Quản trị kinh doanh mang tính khoa học, vì chỉ có nắm nắm vững và tuân thủ đúng đòi hỏi cả các quy luật khách quan xảy ra trong quá trình kinh doanh và quản trị kinh doanh mới đảm bảo cho việc kinh doanh đạt được kết quả mong muốn Toàn bộ nội cung của việc nhận thức và vận dụng quy luật được nêu trong phần

cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản trị kinh doanh bao gồm; Lý thuyết hệ thống kinh doanh và quản trị kinh doanh, vận dụng quy luật trong quản trị kinh doanh, các nguyên tắc và phương pháp quản trị kinh doanh, nghệ thuật quản trị kinh doanh biểu hiện việc sử dụng các phương pháp quản trị kinh doanh ở mức độ cao

5.4.2 Quá trình tiến hành quản trị kinh doanh

Quá trình quản trị kinh doanh bao gồm: Tổ chức thu nhận và xử lý thông tin,

đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định quản trị kinh doanh; các phương tiện và công cụ sử dụng trong quản trị kinh doanh Nội dung thứ hai của lý thuyết quản trị kinh doanh nhằm giúp cho các nhà quản trị kinh doanh hiểu rõ công nghệ quản trị kinh doanh, những phương tiện và công cụ cần thiết để tiến hành quản trị kinh doanh

5.4.3 Nội dung của quản trị kinh doanh

Nội dung của quản trị kinh doanh là thực hiện các chức năng quản trị kinh doanh Bởi vậy nội dung thứ ba của lý thuyết quản trị kinh doanh là nghiên cứu các chức năng của quản trị kinh doanh bao gồm: Chức năng hoạch định, chức năng tổ chức, chức năng điều hành và chức năng kiểm tra

5.4.4 Đổi mới các hoạt động quản trị kinh doanh

Trang 14

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Quá trình kinh doanh luôn luôn đặt ra những nhiệm vụ với cho các nhà quản trị Hoàn thiện quản trị kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển doanh nghiệp Để cứu vãn sự đổ vỡ của doanh nghiệp hoặc đưa doanh nghiệp sang một bước phát triển cao hơn về chất đều đòi hỏi sự hoàn thiệu những nhân tố quản trị kinh doanh Phân tích kinh tế, chống lại rủi ro trong kinh doanh, đổi mới doanh nghiệp, hiệu quả quản trị kinh doanh là nội dung thứ tư của lý thuyết quản trị kinh doanh

5.5 Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị kinh doanh

Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị kinh doanh, hay nói chính xác hơn lịch

sử phát triển tư tưởng quản trị kinh doanh đã trải qua các giai đoạn sau:

5.5.1 Giai đoạn trước chủ nghĩa tư bản

Lý thuyết của quản trị nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng trong giai đoạn

này mang tính cách là một thứ triết học trong quản lý xã hội mà thành tựu lớn nhất phải kể đến là của các nhà chính trị và triết học từ thời cổ xưa: Trung Quốc, Hy Lạp,

La Mã, đặc biệt là của các nhà tư tưởng lớn Trung Quốc cổ đại (Quản Trọng, Lão

Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử ) Nhưng trong giai đoạn này lý thuyết quản trị chưa tách khỏi triết học để thành một khoa học độc lập

5.5.2 Giai đoạn từ khi có chủ nghĩa tự bản ra đời đến khi xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn này, lý thuyết quản trị nói chung, quản trị kinh doanh nói riêng được từng bước tách khỏi triết học và dần dần trở thành một bộ môn khoa học độc lập Giai đoạn này diễn ra vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và bao gồm các trường phái như: Trường phái cơ cấu và chế độ của hệ thống, trường phái quan hệ con người với môi trường trong hệ thống, trường phái định lượng về quản trị, trường phái quản lý của các xã hội chủ nghĩa v.v

+Trường phái cơ cấu và chế độ của hệ thống

Trường phái này nghiên cứu trong phạm vi hệ thống (xí nghiệp nhà máy) ở góc

độ tạo ra cơ cấu tổ chức quản trị hợp lý, một chế độ điều hành khoa học và chặt chẽ để đem lại hiệu quả cao cho công tác quản trị doanh nghiệp, đóng góp to lớn cho trường phái này phải kể tới các nhà quản lý Robert Owen, Andrew Ure, Charles Babbage, Frederick Winslow Taylor, Henri Fayol v.v

Robert Owen (1771 - 1858) là một trong những chủ xí nghiệp đầu tiên ở Scotland tiến hành tổ chức một “ xã hội công nghiệp” có trật tự và kỷ luật Ông chú

ý tới nhân tố con người trong tổ chức và cho rằng nếu chỉ quan tâm đầu tư tới thiết

Trang 15

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

kết quả Quan điểm quản trị của R Owen mặc dù giản đơn nhưng đã bước đầu chuẩn bị cho sự ra đời của bộ môn quản lý độc lập

Andrew Ure (1788 - 1857), người đã sớm nhìn thấy vai trò của quản trị và việc đào tạo kiến thức cho các nhà quản trị Ông là một trong những người đầu tiên chủ trương đào tạo bậc đại học cho các nhà quản trị và quản trị là một nghề

Charles Babage (1792 - 1871), người đầu tiên đề xuất phương pháp tiếp cận

có khoa học trong quản trị Ông rất quan tâm tới các mối quan hệ giữa người quản trị và công nhân và cũng là một người góp phần tích cực đưa quản trị trở thành một

bộ môn khoa học độc lập

Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916), người được thế giới phương Tây gọi

là “ cha đẻ của thuyết quản trị khoa học”, là một trong những người mở ra một “ kỷ nguyên vàng ”trong quản trị của người Mỹ, người xây dựng một phương pháp quản trị ở các doanh nghiệp tại Mỹ, Anh, Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản F.W Taylor nhìn nhận con người như một cái máy Ông cho con người là một kẻ trốn việc và thích làm việc theo kiểu người lính, vì thế cần thúc họ làm việc bằng cách phân chia các công việc một cách hết sức khoa học để chuyên môn hoá các thao tác của

họ, để họ hoạt động trong một dây chuyền và bị giám sát chặt chẽ, không thể lười biếng Ông viết như sau:

“ Khi người ta bảo anh nhặt một thỏi kim loại và khênh đi, anh sẽ nhặt nó và đi,

và khi người ta bảo anh ngồi xuống và nghỉ thì anh hãy ngồi xuống Anh phải làm việc đó ngay lập tức trong suốt cả ngày và không một lời cãi lại ”

“ Nhà quản trị là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch Trách nhiệm của họ là lập

kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức công việc Ở những chỗ khác, họ phải tập trung vào việc lên kế hoạch sản xuất, kiểm soát nguyên vật liệu, thủ tục hành chính và mọi chi tiết nhỏ nhặt có liên quan tới những công việc nay”

Tư tưởng cốt lõi của F.W Taylos là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhặt nhất, đều có một “ khoa học” để thực hiện nó Ông đã tập hợp, đã liên kết các mặt kỹ thuật và con người trong tổ chức ông cũng đã ủng hộ học thuyết con người kinh tế

và cho rằng việc khuyến khích bằng tiền đối với người lao động là cần thiết để họ sẵn sàng làm việc như một người lính có kỷ luật

F W Taylos đưa ra 4 nguyên tắc quản trị:

- Nhân viên quản trị phải am hiểu khoa học, bố trí lao động một cách khoa học

để thay thế cho các tập quán lao động cổ hủ

Trang 16

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Người quản trị phải lựa chọn người công nhân một cách khoa học, bồi dưỡng nghề nghiệp và cho họ học hành để họ phát triển đầy đủ nhất khả năng của mình (còn trong quá khứ thì họ tự chọn nghề, tự cố gắng để nâng cao tay nghề)

- Người quản trị phải cộng tác với người thợ đến mức có thể tin chắc rằng công việc được làm đúng với các nguyên tắc có căn cứ khoa học đã định

- Công việc và trách nhiệm đối với công việc được chia đều như nhau giữa người quản trị và người thợ Nhân viên quản trị phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với công việc mà mình có khả năng hơn (còn trong quá khứ thì toàn bộ công việc

và phần lớn trách nhiệm là đổ vào đầu người công nhân)

Henri Fayol (1841 - 1925), người chủ trương phải có một lý thuyết quản trị khoa học dựa trên các quy tắc và chức năng nhất định Trong cuốn “ Lý thuyết quản trị hành chính chung và trong công nghiệp ” xuất bản ở Pháp năm 1915, ông viết: “ Tôi hy vọng rằng một lý thuyết sẽ bắt nguồn từ cuốn sách này ” và “ Quản trị hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” Ông

đã kết luận rằng: Một nhà quản trị tài năng có được thành công không phải nhờ những phẩm chất cá nhân, mà nhờ ở các phương pháp mà anh ta đã áp dụng cũng như các nguyên tắc chỉ đạo hành động của anh ta

Theo H Fayol quản trị doanh nghiệp phải thực hiện những nguyên tắc sau:

- Có kế hoạch chu đáo và thực hiện kế hoạch một cách nghiêm chỉnh

- Việc tổ chức (nhân tài, vật lực) phải phù hợp với mục tiêu, lợi ích, yêu cầu của doanh nghiệp

- Cơ quan quản trị điều hành phải là duy nhất, có năng lực và tích cực hoạt động

- Kết hợp hài hoà các hoạt động trong doanh nghiệp với những cố gắng phối hợp

- Các quyết định đưa ra phải rõ ràng, dứt khoát và chuẩn xác

- Tổ chức tuyển chọn nhân viên tốt, mỗi bộ phận phải do một người có khả năng và biết hoạt động đứng đầu, mỗi nhân viên phải được bố trí vào nơi có thể phát huy khoa họcả năng của họ

- Nhiệm vụ phải được xác định rõ ràng

- Khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của mọi người trong doanh nghiệp

- Bù đắp lâu dài và thoả đáng cho những công việc đã được hoàn thành

Trang 17

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Các lỗi lầm và khuyết điểm phải bị trừng phạt

- Phải duy trì lỷ luật doanh nghiệp

- Các mệnh lệnh đưa ra phải thống nhất

- Phải tăng cường việc giám sát trong doanh nghiệp (cả đối với lao động và vật lực)

- Kiểm tra tất cả mọi việc

Hạn chế chủ yếu của H.Faylol là ông chưa chú ý đầy đủ các mặt tâm lý và môi trường xã hội của người lao động, hệ thống của ông vẫn bị đóng kín, chưa chỉ rõ mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, thị trường, các đối thủ cạnh tranh

và các ràng buộc của Nhà nước

+ Trường phái quan hệ con người với con người trong hệ thống

Trường phái này đã quan tâm thoả đáng đến yếu tố tâm lý con người, tâm lý tập thể và bầu không khí tâm lý trong xí nghiệp, nơi những người lao động làm việc,

đã phân tích yếu tố tác động qua lại của trường phái với con người trong hoạt động

ở xí nghiệp Đại diện của trường phái này là Mary Parker Follett (1868 - 1933), người đã phê phán các nhà quản trị trước kia chưa quan tâm đến khía cạnh tâm lý

và xã hội của quản trị, là Elton Mayo (1880 - 1949), người rất quan tâm đến yếu tố

cá nhân trong tập thể (nhóm), mặc dù ông đánh giá con người là thụ động trong quan hệ với tập thể v.v

+ Trường phái định lượng về quản trị

Lý thuyết quản trị mới này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Lý thuyết định lượng về quản trị (quantitative management theory) Khoa học quản trị (management science), lý thuyết hệ thống (system theory), nghiên cứu tác vụ “ hay vận trù học” (operations research), được xây dựng trên nhận thức cơ bản rằng “ quản trị là ra quyết định ” (management is decion - making) và muốn việc quản trị có hiệu quả, các quyết định phải đúng đắn Để có thể ra những quyết định đúng, nhà quản trị phải có một quan điểm hệ thống khi xem xét sự việc, thu thập và xử lý thông tin

Lý thuyết định lượng về quản trị được hỗ trợ tích cực bởi sự phát triển nhanh chóng của công nghệ điện toán, giúp giải quyết nhiều mô hình toán phức tạp với tốc

độ cao

Nói chung, lý thuyết định lượng về quản trị có thể được tóm tắt trong các nội dung sau đây:

Trang 18

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Nhấn mạnh đến phương pháp khoa học trong việc giải quyết các vấn đề quản trị

- Áp dụng phương thức tiếp cận hệ thống để giải quyết các vấn đề

- Sử dụng các mô hình toán học

- Định lượng hoá các yếu tố kinh tế và kỹ thuật trong quản trị hơn là các yếu tố tâm lý xã hội

- Sử dụng máy tính điện tử làm công cụ

- Đi tìm quyết định tối ưu trong một hệ thống khép kín

5.5.3 Giai đoạn từ đầu những năm 1970 đến nay

Trong thời kỳ này các trường phái tiêu biểu sau:

+ Trường phái quản trị của các nước tư bản chủ nghĩa

Các nước tư bản chủ nghĩa trước cuộc khủng hoảng kinh tế thừa, trước các bế tắc của những năm 1960 đã khoa họcẩn trương điều chỉnh lại các quan điểm và cách thức quản lý của mình và họ đã tạm thời thu được những kết quả nhất định - các nhà quản trị phương Tây, tiêu biểu là P Drucker là người đầu tiên mở cửa phạm vi quản trị của doanh nghiệp ra với thị trường khách hàng và ràng buộc của

xã hội, của các đối thủ cạnh tranh và của các nhà cung ứng vật tư thiết bị cho doanh nghiệp Theo P Drucker, quản trị có 3 chức năng quản trị công nhân, công việc, quản trị các nhà quản trị và quản trị một doanh nghiệp Quản trị theo P Drucker còn là sự chủ động sáng tạo kinh doanh chứ không phải là sự thích nghi thụ động; đó là việc bám chắc vào khách hàng và thị trường Với tư tưởng này, P Drucker đã là một trong những nhà quản trị góp phần xây dựng nhiều lý thuyết quản trị kinh doanh hiện đại ngày nay (Marketing, kinh tế vĩ mô ) Chính với quan điểm nói trên P Drucker đã góp phần giải quyết các bế tắc tưởng như không giải quyết nổi của chủ nghĩa tư bản Ông đã được các nhà tư bản phương Tây và Nhật, Mỹ gọi là “ Peter đại đế ” Hạn chế của ông là ở chỗ không đề cập tới bản chất lợi ích của hoạt động quản trị, điều mà các nhà tư bản luôn luôn né tránh vì bản chất bóc lột của nó

Các nhà quản trị Bắc Âu lại gắn quản trị doanh nghiệp với việc điều hoà lợi ích một phần cho xã hội thông qua các cơ quan quản lý của Chính phủ Chính điều này

đã làm cho nhiều nước Bắc Âu (Thuỵ Điển, Đan Mạch, Hà Lan ) cũng tự nhận mình là các nước xã hội chủ nghĩa Các nước này đã nhanh chóng trở thành các quốc gia phồn vinh, các tư tưởng quản trị của họ được nhiều nước theo dõi, học tập nhưng trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20 này, các nước này cũng đang bước vào

Trang 19

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Các nhà quản trị Nhật Bản và các nước ASEAN bổ sung thêm việc quản trị theo phương thức kết hợp hiện đại với sức mạnh của truyền thống dân tộc và con người, họ tạo ra một động cơ tâm lý mạnh cho cộng đồng xã hội với mong muốn nhanh chóng trở thành cường quốc dẫn đầu thế giới Các nước này cũng đã “vang bóng một thời” và nhưng thành tựu của họ vẫn đang được nhiều người ca ngợi, mặc dù nhưng năm gần đây tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu chững lại

+ Trường phái quản trị ở các nước xã hội chủ nghĩa

Giai đoạn I: cùng với sự ra đời và phát triển các nước xã hội chủ nghĩa cho đến trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) tan rã Dựa trên quan điểm triết học Mác-Lênin cho rằng: quản lý kinh tế là một hoạt động tất yếu khách quan và có tính độc lập tương đối, nảy sinh do kết quả khách quan và có tính độc lập tương đối, nảy sinh do kết quả của quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong quản lý Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động C.Mác nói “Trong tất cả những công việc mà có nhiều người hiệp tác với nhau , thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất yếu phải biểu hiện ra ở trong một ý chí điều khiển và trong nhưng chức năng khác không có quan

hệ với nhưng công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc, vậy: đó là một thứ lao động sản xuất cần phải được tiến hành trong một phương thức sản xuất có tính chất kết hợp” (C.Mác - Tư bản, quyển thứ ba, T.II, NXB Sự thật, Hà Nội, tr 92) Khi phân tích quản lý tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã chỉ rõ: quản lý kinh tế có hai mặt, mặt tổ chức - kỹ thuật và mặt kinh tế - xã hội Mặt tổ chức - kỹ thuật là do nhu cầu phát triển của quá trình sản xuất quyết định, mặt kinh tế - xã hội là do các quan

hệ sản xuất thống trị quyết định C.Mác đã đặc biệt quan tâm đến thực chất của quản lý tư bản chủ nghĩa là mặt kinh tế - xã hội của nó và bản chất bóc lột do mặt kinh tế - xã hội quy định C.Mác đã nêu luận điểm: Công việc quản lý của nhà tư bản không chỉ là chức năng đặc biệt bắt nguồn từ bản chất của quá trình lao động,

xã hội và có quan hệ với quá trình lao động xã hội, và với chức năng như thế, việc quản lý được quyết định bởi sự đối kháng tất yếu giữa kẻ bóc lột và nguyên liệu sống của sự bóc lột đó Ở đây mâu thuẫn giữa những người sản xuất trực tiếp và những kẻ sở hữu tư liệu sản xuất càng ngày càng gay gắt thì thực chất bóc lột của quản lý càng bộc lộ rõ hơn

Với quan điểm trên, các nước xã hội chủ nghĩa sau khi có chính quyền, đã tiến hành tổ chức nền kinh tế một cách có hiệu quả dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn làm các nước

tư bản chủ nghĩa phải lo ngại và tìm cách tiêu diệt Chủ nghĩa xã hội đã để lại nhiều hình tượng tốt đẹp về một xã hội công bằng và nó đã thực sự đứng vững trong giai

Trang 20

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

đoạn đĩ, khi mà mức độ phát triển của xã hội mới đạt ở trình độ trung bình (nhu nhu cầu và sự phát triển của con người chưa thực sự cao)

Giai đoạn II: Bắt đầu từ khi sảy ra sự sụp đổ của Liên Xơ và Đơng Âu (cũ), do khơng thích nghi được với sự biến đổi của mơi trường (sự phát triển ở mức độ cao của dân cư, dân trí, mức sống, các yêu cầu mới về phát triển cơng nghệ, sự tấn cơng ở quy mơ lớn của chủ nghĩa tư bản, sự thối hố của một bộ phận các giới quan chức chính quyền, sự biến chất của một số các phần tử xã hội trước cuộc sống vật chất của các nước tư bản chủ nghĩa) Cĩ hai xu thế:

- Các nhà quản lý kinh tế Đơng Âu đã thay đổi lập trường quan điểm về lợi ích của quản lý, chủ trương đa nguyên về chính trị, xĩa bỏ nhanh chĩng chế độ cơng hữu về tư liệu sản xuất, khuyến khích tự do cạnh tranh, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước tư bản chủ nghĩa, họ hy vọng đĩ là con đường duy nhất để đưa các nước này thốt khỏi khủng khoảng tồn diện với rất nhiều bế tắc và đổ vỡ Hậu quả tất yếu khơng thể tránh khỏi là sự từ bỏ chủ nghĩa xã hội Việc đánh giá các quan điểm và phương thức quản lý của các nước này cịn quá sớm, cần phải để cho lịch sử phán xét và để cho lực lượng quần chúng nhân dân của các nước này tự lên tiếng

+ Một hướng khác của các nước xã hội chủ nghĩa là vẫn kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, nhưng phải nhanh chĩng đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với địi hỏi của các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường và sự giao lưu quốc tế, sao cho quy tụ được đơng đảo nhân dân dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp vơ sản, chấp nhận kinh tế thị trường mở cửa, chấp nhận cạnh tranh nhưng trong khuơn khổ cĩ sự điều tiết vĩ mơ của Nhà nước (như Việt Nam , Trung Quốc )

Tĩm lại: Lịch sử phát triển tư tưởng quản trị là lịch sử của các tìm kiếm và thử nghiệm, lịch sử của các thành cơng và thất bại, lịch sử của nhiều quá trình kế tiếp nhau vơ tận

VI- TÓM TẮT CHUNG CÁC LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu cuối cùng của các lý thuyết quản trị Tuy nhiên, mỗi lý thuyết có một cách tiếp cận vấn đề (cách thức đặt vấn đề) và chỉ ra con đường đi đến mục tiêu không thống nhất nhau

- Các lý thuyết quản trị thuộc trường phái Cổ điển và trường phái Tác phong cho

rằng năng suất lao động quyết định đến hiệu quả; còn lý thuyết Định lượng về quản trị lại cho rằng sự đúng đắn của các quyết định quản trị mới là chìa khóa của hiệu quả

- Để tăng năng suất lao động, lý thuyết Cổ điển về quản trị cho rằng, cần phải tổ

chức lao động khoa học, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, khuyến khích bằng lợi ích vật

Trang 21

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

chất và tăng cường kiểm tra kiểm soát chặt chẽ (tức đề cao những yếu tố vật chất) Trái

lại, lý thuyết tác phong cho rằng, tâm lý; quan hệ xã hội; thỏa mãn nhu cầu cá nhân

(tức đề cao những yếu tố phi vật chất) quyết định đến năng suất lao động Còn lý thuyết

Định lượng về quản trị coi việc ứng dụng các thành tựu khoa học vào việc định lượng,

đảm bảo tính đúng đắn của các quyết định quản trị mới là khâu quyết định đến hiệu quả

- Mỗi lý thuyết đều có sự đóng góp cũng như hạn chế nhất định Các nhà quản trị hiện đại ngày nay đã và đang tìm kiếm “cái mẫu số chung” để “thâu tóm” chúng thành một lý thuyết quản trị có hệ thống để nhằm đến sự hoàn thiện Song, rất tiếc những ý tưởng tốt đẹp đó chưa trở thành hiện thực, vẫn còn nhiều khảo hướng hội nhập khác nhau như: khảo hướng theo quá trình quản trị, khảo hướng theo hệ thống, khảo hướng theo tình

huống ngẫu nhiên Trong đó, khảo hướng theo quá trình quản trị hiện đang được nhiều

người người ủng hộ, vì nó đang có nhiều ưu điểm so với các hướng hội nhập khác cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn

Trang 22

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Chương 2 NHÀ QUẢN TRỊ VÀ NHÀ DOANH NGHIỆP

1 Nhà quản trị

Quản trị và quản lý được xem như tương đương về ý nghĩa, tuy trong thực tế các từ này được vận dụng với mục đích khác nhau Quản trị được hiểu là nghệ thuật dùng người, điều này đúng trong ý nghĩa quản trị dù là khoa học, nhưng đi vào thực tế lại là nghệ thuật dùng người để một tổ chức hoạt động có kết quả trong kinh doanh và phi kinh doanh Một giám đốc, một trưởng khoa, một cha xứ họ đạo, chủ nhà hàng, v.v đều là các nhà quản trị Các công việc tuy khác nhau trong lĩnh vực hoạt động, mhưng đều có bản chất giống nhau là điều khiển một tổ chức, thông qua các chức năng của quản trị

1.1 Khái niệm nhà quản trị

Thế nào là một quản trị viên?

• Đó là tất cả những cá nhân thực hiện những chức năng nhất định trong bộ máy quản trị ở các cấp

• Đó là những người sử dụng các tài nguyên có tổ chức để đạt được mục đích đạt được

• Đó là những người lãnh đạo đưa ra các quyết định

• Đó là những người là công tác quản trị của tổ chức

Nhà quản trị hoặc quản trị viên làm việc cùng với và thông qua những người khác

Những người khác không chỉ là thuộc cấp bên trong của tổ chức, mà còn bao gồm những nhân sự bên ngoài hệ thống tổ chức của mình như khách hàng, nhà cung cấp, đại diện các hiệp hội

Trọng trách của nhà quản trị là cân bằng các mục tiêu đối kháng và xếp đặt

ưu tiên giữa các mục tiêu đã định Nhà quản trị cần phải tư duy, phân tích, để nắm chắc cấc vấn đề Cần khái quát để tổng hợp và kết hợp các tương quan nhiệm vụ khác nhau

1.2 Phân loại quản trị viên

Trong bất kỳ tổ chức nào nhà quản trị có 3 cấp: Quản trị viên cấp cao, quản trị viên cấp trung gian và quản trị viên cấp cơ sở

1.2.1 Quản trị viên cấp cao

Trang 23

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Chủ tịch hội đồng, các tổng giám đốc, thủ tưởng và các cấp phó cục vụ viện, trường chịu trác nhiệm về thành quả cuối cùng của tổ chức Quản trị viên cao cấp thường có nhiệm vụ quyết định đến chiến lược của tổ chức

1.2.2 Quản trị viên cấp trung gian

Trưởng phòng, trưởng ban, chủ nhiệm khoa, cửa hàng trưởng, quản đốc phân xưởng thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức bằng cách phối hợp các công việc cần thực hiện nhằm hoàn thành mục tiêu chung Quản trị viên cấp trung gian thường đưa ra các quyết định mang tính chiến thuật trong nhiêm vụ của mình

1.2.3 Quản trị viên cấp cơ sở

Là những quản trị viên ở cấp cuối cùng trong hệ thống cấp bậc quản trị viên như tổ trưởng, nhóm trưởng, trưởng ca, đốc công có nhiên vụ hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển nhân viên của mình hàng ngày để hoàn thiện mục tiêu chung của

tổ chức Các quản trị viên cấp cơ sở thường tham gia các công việc như các thành viên của họ Quản trị viên cấp cơ sở còn gọi là các giám sát viên, có nhiệm vụ đặt

ra các quyết định tác nghiệp tại nơi lam việc, trong công tác háng ngày, hàng tuần

Hình 2.1 Các quản trị viên và nhiêm vụ của họ trong tổ chức trong một tổ

chức

1.3 Chức năng của quản trị

Đó là các công việc khác nhau, những hình thức hoạt động mà các nhà quản trị phải thực hiện (tác động đến đối tượng) trong quá trình quản trị một tổ chức

Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đều thống nhất quản trị có các chức năng chủ yếu sau:

Quản trị viên cao cấp

Quản trị viên cấp trung gian

Quản trị viên cấp cơ sở

Cấp quyết định chiến lựợc

Cấp quyết định chiến thuật

Cấp quyết định tác nghiệp

Trang 24

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

a Theo hướng tác động:

Hình 2.2 Mối quan hệ giữa các chức năng quản trị

• Hoạch định, định hướng (lập kế hoạch, lập các dự án )

• Tổ chức bộ máy, cơ cấu, cấp quản trị

• Điều khiển hoạt động của doanh nghiệp

• Kiểm tra và điều chỉnh quá trình hoạt động của doanh nghiệp

b Theo nội dung hay lĩnh vực hoạt động của nhà Quản trị:

Trang 25

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Tính thống nhất của các chức năng quan trị thể hiên trên ma trận sau

Quản trị marketng

Quản trị triển (R&D

Quản trị sản xuất

Quản trị nhân lực

Quản trị tài chính

1.4 Các kỹ năng của quản trị viên

Kỹ năng là khả năng làm việc của nhà quản trị Các nhà quản trị đều phải nắm chắc yêu cầu của các quy luật để vân dụng vào các kỹ năng cơ bản Có 3 kỹ năng

cơ bản: Chuyên môn, nhân sự, nhận thức hay tư duy

Hình 2.3 Các kỹ năng quản trị của các Quản trị viên

1.4.1 Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ hoặc kỹ thuật

Như soạn thảo hợp đồng kinh tế, lập kế hoạch, lập dự án, sử dụng máy tính, thiết kế cơ khí, nắm vững kỹ thuật của chyên môn, tổ chức quản lý sản xuất v.v Đây là kỹ năng rất cần cho quản trị viên cấp cơ sở

Kỹ năng nhận thức (tư duy)

Kỹ năng tổ chức

Kỹ năng chuyên môn

Quản trị viên cấp cơ sở

Quản trị viên cấp trung gian Quản trị viên cấp cao

Trang 26

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

1.4.2 Kỹ năng tổ chức

Là khả năng cùng làm việc, tập hợp, tổ chức và động viên các nhân viên của mình để hoàn thành các công việc của tổ chức Kỹ năng này ở mọi cấp quản trị đều cần thiết

1.4.3 Kỹ năng nhận thức hay tư duy

Đó là khả năng tổng hợp, suy luận để ra các quyết định Kỹ năng này có vai trò đặc biệt với quản trị cấp cao

Các nhà quản trị cấp cao cần có tư duy chiến lược, giải quyết các vấn đề chính sách, hoạch định chiến lược cho một tổ chức

1.5 Các quy luật

Khả năng làm việc của các quản trị viên phụ thuộc rất nhiều vào sự nhận thức

và vận dung yêu cầu của các quy luật khách quan

Các quy luật hình thành khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, tuy nhiên mỗi loại quy luật lại ra đời và hoạt động khác nhau

1.5.1 Quy luật xã hội: Tập quán, giới tính

1.5.2 Quy luật tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, quy luật sinh trưởng và phát triển của sinh vật

1.5.3 Quy luật kinh tế: Tối đa hoá lợi nhuận, cung cầu, cạnh tranh .Các quy luật kinh tế gắn liền với hoạt động của con người

1.6 Vị trí của nhà quản trị

Nhà quản trị có vi trò quan trọng trong một tổ chức, được chia vào 3 nhóm: Nhóm quan hệ với con người, Nhóm thông tin, nhóm quyết định

1.6.1 Quan hệ với con người

Người lãnh đạo tác động lên các thành viên trong tổ chức để hoàn thành nhiệm

vụ được giao

- Người liên lạc hoặc giao dịch, đại diện có tính tượng trưng cho một tổ chức, thay mặt cho tổ chức trong các nghi lễ, các cuộc tiếp xúc xã giao

1.6.2 Vai trò thông tin

- Người cung cấp thông tin, người phát ngôn

- Người phổ biến thông tin

- Người thu thập và thẩm định thông tin

Trang 27

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

1.6.3 Nhóm vai trò quyết định

- Nhà doanh nghiệp

- Người giải quyết các công việc phát sinh

- Người phân phối tài nguyên

Nhà doanh nghiệp có 3 mục đích cơ bản: Có lợi nhuận, được tự chủ và thoả mãn trong cuộc sống

Có lợi nhuận doanh nghiệp mới tồn tại, vì không thể có doanh nghiệp nào tồn tại trong kinh doanh lỗ triền miên

Lợi nhuận được coi là động lực, là mục đích cơ bản của doanh nghiệp

Được tự chủ trong kinh doanh là Nhà doanh nghiệp tự quyết định quá trình kinh doanh, sẵn sàng chụi rủi ro, không phụ thuộc vào người khác

Nhà doanh nghiệp thấy thoả mãn với hoạt động của mình

2.2 Những đặc tính của nhà doanh nghiệp

Nhà doanh nghiệp muốn thành công cần phải tự tin, chịu khó có óc quyết đoán

và có nghị lực, thông thường, lứa tuổi từ 25-40 là lứa tuổi thích hợp với công việc kinh doanh, hăng hái tạo sự nghiệp Nhà doanh nghiệp cần có 3 đặc tính hàng đầu:

• Luôn thôi thúc để thành đạt

• Rất tự tin và hoàn toàn làm chủ vận mạng của mình

• Chịu rủi ro ở mức vừa phải

Bản thân nhà doanh nghiệp phải là nhà quản trị

Tính hướng ngoại của nhà doanh nghiệp thể hiện ở vấn đề tiên quyết đặt ra cho chiến lược kinh doanh là cơ hội, còn các nhà quản trị mang tính chất ưu thế hướng nội ở chỗ lấy nguồn lực làm đối tượng chủ yếu Doanh nghiệp đi từ ngoài

Trang 28

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

vào trong, còn các vấn đề chiến lược của nhà quản trị đi từ trong ra ngoài, từ gần đến xa

2.3 Cán bộ quản trị kinh doanh

Để kinh doanh doanh nghiệp phải thực hiện 5 khâu liên hoàn:

• Có đường lối kinh doanh đúng;

• Có bộ máy quản trị gọn nhẹ;

• Có đội ngũ cán bộ kinh doanh;

• Biết tận dụng và khai thác thời cơ;

• Có phương pháp quản trị kinh doanh thích hợp

Trong 5 khâu đều xuât hiện yếu tố cán bộ quản trị kinh doanh

2.3.1 Khái niệm

Cán bộ quản trị kinh doanh là cán bộ làm lao động quản trị kinh doanh trong các doanh nghiệp hoặc các đơn vị kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh trực tiếp trên thị trường

Cán bộ quản trị kinh doanh chỉ là một bộ phận của cán bộ quản lý

2.3.2 Phân loại

- Cán bộ lãnh đạo (tổng giám đốc, chủ nhiệm, chủ hộ, )

- Cán bộ chuyên môn (cán bộ kỹ thuật, cán bộ tâm lý, cán bộ pháp lý cán bộ tài chính, cán bộ thi trường, )

- Nhân viên thực hiện (người bán hàng, người phục vụ, )

Trong 3 loại cán bộ trên, cán bộ lãnh đạo chiếm vị trí quyết định

Cán bộ

QL kinh tế

Cán bộ QL ở các cơ quan chức năng cấp trên

Cán bộ quản trị kinh doanh

Cán bộ lãnh đạo chuyên mônCán bộ thực hiện Cán bộ

Trang 29

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

2.3.3 Vai trò, nhiệm vụ của cán bộ kinh doanh

- Vai trò: Cán bộ quản trị kinh doanh là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại đường lối phát triển doanh nghiệp

- Vị trí của cán bộ quản trị kinh doanh:

+ Xét về mặt lao động cán bộ quản trị kinh doanh là cầu nối các yếu tố trong và ngoài doanh nghiệp thành một khối thống nhất trong phạm vi chức năng của mình Với cán bộ lãnh đạo, vị trí của họ là phối hợp lao động và công việc chung, phải khâu nối các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp và thông tin thị trường thành một khối có trách nhiệm dẫn dắt hệ thống đến mục tiêu đã định

Với cán bộ chuyên môn và nhân viên thực hịên phải hoàn thành công việc được giao

+ Xét về mặt lợi ích, cán bộ quản trị kinh doanh là cầu nối liền giữa các lợi ích

xã hội - xí nghiệp và người lao động Do vậy cán bộ quản trị kinh doanh chỉ chú ý đến một trong các lợi ích đều dẫn đến mâu thuẫn

+ Xét về mặt nhận thức và vận dụng các quy luật cán bộ quản trị kinh doanh là những người trực tiếp nhận thức các quy luật để ra các quyết định

- Nhiệm vụ của cán bộ quản trị kinh doanh

Tuỳ theo chức năng cụ thể, cán bộ quản trị kinh doanh có các nhiệm vụ khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp

Đối với cán bộ quản trị kinh doanh đều có 2 nhiệm vụ quan trọng là:

+ Phải xây dựng tập thể những người dưới quyền thành một thể thống nhất đoàn kết, năng động và có chất lượng cao

+ Lãnh đạo tập thể dưới quyền hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra

2.3.4 Yêu cầu đối với cán bộ quản trị kinh doanh

2.3.4.1 Về phẩm chất chính trị

- Có khả năng và ý chí làm giầu cho doanh nghiệp theo khuôn khổ pháp luật và thông lệ kinh doanh

- Biết đánh giá hậu quả công việc của bản thân của doanh nghiệp

2.3.4.2 Về năng lực chuyên môn

2.3.4.3 Về năng lực tổ chức

2.3.4.4 Về đạo đức và ý thức luật pháp kinh doanh

Trang 30

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Nội dung của chương này gồm các nội dung chính sau:

• Tiến trình làm quyết định

• Tính hợp lý của các yêu cầu làm quyết định

• Phân loại các quyết định

• Những cơ sở lý thuyết ra quyết định

• Phương pháp ra quyết định

• Phẩm chất cá nhân cần có để nhà quản trị ra các quyết định đúng đắn

• Thông tin đối với quá trình ra quyết định

1 Khái niệm và chức năng của quyết định trong quản trị

1.1 Khái niệm

Quyết định quản trị kinh doanh là hành vi sáng tạo của chủ doanh nghiệp

(lãnh đạo doanh nghiệp) nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của doanh nghiệp, để giải quyết một vấn đề đã chín muồi

Quyết định là công việc vô cùng quan trọng của bất kỳ cấp quản trị nào, quyết định là những tác động vào các đối tượng, nếu quyết định đúng sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, nếu quyết định sai thì có tác dụng ngược lại

Làm quyết định bao gồm việc xác định: Ai làm quyết định? Quyết định cái gì?, Khi nào? ở đâu? Và làm như thế nào cho tốt Một quyết định đúng chỉ có thể dựa trên cơ sở nắm vững sự vận động của các quy luật khách quan Quyết định phụ thuộc vào trình độ của cán bộ ra quyết định

Nội dung của quyết định là trả lời các câu hỏi:

• Phải làm gị?

• Không làm hoặc làm khác đi có được không?

• Làm như thế nào?

Trang 31

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

1 Xác định vấn đề cần quyết định Quyết định vấn đề gì?

2 Liệt kê các yếu tố quyết định Quyết định những vấn đề gì?

3 Chọn lọc các thông tin để ra quyết định? Những vấn đề gì liên quan đến quyết định ?

4 Xác định các giải pháp? Làm thế nào để quyết định thực hiện được tốt?

i Đưa ra các phương án khác nhau để lưa chọn

ii So sánh và xác định ưu tiên các phương án này

iii Lựa chọn phương án tốt nhất thích hợp với tình huống cần quyết định, đồng thời dự liệu phương án thay thế

Trang 32

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

5 Triển khai thực hiện phương án đẫ chọn Triển khai quyết định như thế nào?

6 Đánh giá kết quả thực hiện quyết định Quyết định có được chấp hành tốt không?

Một quyết định hợp lý cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Nhận ra đúng vấn đề để quyết định Bao gồm các hoạt động xác định sự hiện diện và tầm quan trọng của vấn đề

- Nhận ra đúng thời cơ để quyết định

* Vấn đề là điều có thể làm cho khả năng của tổ chức bị thử thác khi muốn đạt

được mục tiêu mong nuốn

* Thời cơ là điều có thể giúp cho tổ chức dịp may mục tiêu đã định

- Mọi quyết định của nhà quản trị phải hướng đến các mục tiêu cụ thể

- Các quyết định phải có tính khả thi nhàm đạt kết quả tối ưu cuat tổ chức

- Các quyết định phải dự vào cơ sở khoa học, tính thống nhất, tính thẩm quyền, tính định hướng, tính trình tự trước sau kết hợp với tính linh hoạt

Chọn giải pháp quyết định Nhận ra

đúng vấn đề

Trang 33

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

4 Phân loại các quyết định

4.1 Theo phản ứng của người ra quyết định, quyết định chia ra quyết định trực giác và quyết định lý giác

- Quyết định trực giác là quyết định xuất phát từ trực giác của người ra quyết định Quyết định theo loại này dễ, nhanh chóng, nhưng dễ bị mắc sai lầm, bảo thủ

vì các quyết định loại này dựa vào kinh nghiệm, ít khả năng đề ra cái mới hay cải tiến

- Quyết định lý giải dựa trên sự nghiên cứu và phân tích có hệ thống các vấn

đề trước khi đưa ra quyết định Quyết định loại này có những cơ sở khoa học, thường dựa vào các luận cứ chắc chắn, thường được một tập thể bàn bạc, thảo luận trước khi người thủ trưởng ra quyết định

4.2 Theo tính chất của vấn đề, quyết định được chia ra quyết định chiến lược

và quyết định tác nghiệp

Các quyết định trong sản xuất kinh doang là các quyết định tác ngiệp cụ thể: Chọn phương án tối ưu cho sản xuất, quyết định sản xuất bao nhiêu hay quyết định ngừng sản xuất (bài tập về quyết định chọn phương án và sản xuất ở cuối chương)

4.3 Theo thời gian quyết định được chia thành quyết định dài hạn và quyết định ngắn hạn

Phân loại quyết định

3 Theo thời gian QĐ năng hạn, trung hạn, dài hạn

4 Theo chức năng QĐ về kế hoach, về tổ chức, về nhân sự

5 Theo phạm vi thực hiện QĐ toàn cục, bộ phận, chuyên đề

6 Theo lĩnh vực hoạt động QĐ kỹ thuật, kinh tế, pháp lý

7 Theo quy phạm QĐ theo chương trình, không theo

chương trình

Trang 34

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

5 Các yêu cầu đối với quyết định quản trị kinh doanh

1 Mục tiêu của doanh nghiệp

2 Tuân thủ luật pháp và thông lệ thị trường

3 Thực trạng của doanh nghiệp

7 Các yếu tố ảnh hưởng đến ra quyết định

Quyết định mang tính khách quan hay chủ quan phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và đạo đức của quản trị viên

- 7.1 Động cơ của người ra quyết định

- 7.2 Bản lĩnh của người ra quyết định

b Tài năng và kỹ năng

- 7.3 Hệ thống chíh sách , pháp luật của Nhà nuớc, của các cấp

- 7.4 Biến động của thị trường

8 Phương pháp ra quyết định

Để ra được các quyết định các nhà quản trị phải hiểu tại sao phải ra quyết định, quyết định dựa vào đâu, quyết định ra làm gì Điểm xuất phát của nó là các tin tức, các phản ảnh đó là các thông tin

8.1 Khái niệm thông tin trong quản trị

Có nhiều quan niệm khác nhau về thông tin

Trang 35

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Các nhà thống kê gọi thông tin là độ đo sự giảm tính bất định khi thực hiện một biến cố nào đó

- Các nhà kỹ thuật coi thông tin là bất kỳ một thông báo nào được tạo thành bởi một số lượng dấu hiệu nhất định Đó là tất cả các thông báo, các tài liệu, các số liệu, các chỉ tiêu

- Các nhà quản lý thông tin là những thông báo, số liệu có nội dung, có giá trị dùng làm nguyên liệu cho việc ra quyết định

+ Thông tin luôn luôn là quá trình định hướng, phản ảnh mối quan hệ qua lại giữa người tạo ra tin và người sử dụng tin Không có người sử dụng tin thì không

có khái niệm thông tin

+ Tài liệu, số liệu được chia 3 loại:

* Tài liệu, số liệu có ích cho ra quyết định là thông tin

* Tài liệu, số liệu dùng để ra quyết định sau này là thông tin dự trũ

* Tài liệu, số liệu không liên quan đến việc ra quyết định là tư liệu, số liệu thừa, không phải thông tin

Thông tin là những tin tức mới, được thu nhận, được cảm thụ và được đánh

giá là có ích cho việc ra quyết định hoặc giải quyết một vấn đề nào đó trong quản trị

8.2 Vai trò của thông tin trong quản trị

8.2.1 Thông tin là đối tượng lao động của cán bộ quản trị nói chung và người lãnh đạo nói riêng

Là đối tượng lao động khi cán bộ quản trị khai thác nó để quản trị kinh doanh, trong đó thông tin thực hiện phản ánh trạng thái của đối tượng quản trị rất cần thiết

Có 3 loại thông tin mà các nhà quản trị kinh doanh phải quan tâm:

- Thông tin ở đầu vào

- Thông tin ngược từ đầu ra

- Thông tin từ môi trường

8.2.2 Thông tin là công cụ của các nhà quản trị

Các nhà quản trị dùng thông tin để tác động lên các đối tượng quản trị

- Là căn cứ để tiến hành xây dựng chiến lược, các kế hoạch của doanh nghiệp

- Thông tin là cơ sở để hạch toán kinh tế

Trang 36

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Thông tin tác động trực tiếp vào các khâu của quá trình sản xuất

Hình 3.2 Mối liên hệ thông tin của doanh nghiệp

Các nhà quản trị chỉ có thể tác động chính xác và hiệu quả cao đến đối tượng khi có đầy đủ thông tin về các yếu tố sản xuất, về các đối tượng

Thông tin với tư cách là sự phản ảnh khách quan của các quá trình vật chất, là hình thức liên hệ thường xuyên giữa các chủ thể quản trị với các đối tượng quản trị Trong quản lý kinh tế, mọi cơ quan và cán bộ quản lý đều gắn liền với nhau bằng dòng tin Các dòng tin đó hợp thành mạng lưới thông tin thống nhất, mà đầu ra thông tin từ cơ quan này là đầu vào thông tin của cơ quan kia Mỗi cơ quan quản lý

là một đầu mối trong mạng lưới thông tin thống nhất, mà ở mỗí đầu mối đó nhận được các dòng tin của các nguồn khác nhau, đồng thời lại truyền đi các dòng tin cho các đầu mối khác Các dòng tin trong hệ thống thông tin đan chéo lẫn nhau Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin, mạng lưới thông tin toàn cầu trên mạng intelet là điều kiện cho các cơ quan, các nhà quản trị khai thác thông tin

Những nhân tố làm tăng vai trò thông tin trong quản trị kinh doanh

- Sự bùng nổ về thông tin, yêu cầu có phương pháp khoa học để thu thập xử lý một khối lượng thông tin lớn

- Sự ra đời của máy tính điện tử, tin học, lý thuyết thông tin

8.3 Đặc điểm của thông tin trong quản trị

- Thông tin không phải vật chất nhưng không tồn tại ngoài vật mang tin ( tài liệu, sách báo, ti vi, máy tính, vv )

Chủ thể quản trị kinh doanh

Đối tượng quản trị

Trang 37

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Mỗi người, mỗi doanh nghiệp đều có thể trở thành một trung tâm nhận và phát tin

8.4 Phân loại thông tin và các yêu cầu với thông tin trong quản trị

8.4.1 Phân loại thông tin

8.4.1.1 Theo quan hệ với một hệ thống cho trước

- Thông tin bên ngoài do cấp trên đưa đến doanh nghiệp

+ Các văn bản pháp chế

+ Các chỉ thị, mệnh lệnh của cơ quan cấp trên

+ Các văn bản hướng dẫn về kiểm tra, thanh tra, định mức,

- Thông tin bên trong Đánh giá thực trạng của doanh nghiệp

- Thông tin chỉ đạo

- Thông tin thực hiện

8.4.1.3 Theo cách truyền tin

- Thông tin theo các báo cáo định kỳ

- Thông tin có tính báo cáo đột xuất

8.4.1.4 Theo phương thức thu nhận và sử lý

- Thông tin khoa học kỹ thuật

- Thông tin thu trực tiếp quá trình sản xuất

8.4.1.5 Theo hướng chuyển động

- Thông tin chiều dọc

- Thông tin chiều ngang

- Thông tin lên

- Thông tin xuống

8.4.1.6 Theo số lần gia công

Trang 38

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

- Thông tin sơ cấp

1) Maximax Lựa chọn tối ưu trong cách lựa chọn đã cho kết quả tối đa

Trước tiên ta đi tìm kết quả tối đa bên trong mỗi cách lựa chọn, sau đó rút ra cách lựa chọn nào có số lớn nhất

2) Maximin Chọn ra trong số các cách lựa chọn có kết quả tối thiểu, lấy ra

cái tối đa Trước tiên ta đi tìm kết quả tối thiểu bên trong mỗi cách lựa chọn, sau đó rút ra cách lựa chọn nào có số lớn nhất

3) May rủi ngang nhau Chỉ tiêu này giúp ta tìm ra kết quả trung bình lớn

Trang 39

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Cách

lựa chọn

Thị trường thuận lợi

Thị trường không thuận lợi

đa Theo dòng

thiểu Theo dòng

bình Theo dòng Xây dựng phân

8.6 Ra quyết định khi có ít thông tin

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp so sánh

8.7 Trường hợp có rất ít hoặc không có thông tin

+ Là quyết định theo xác suất Có nhiều trạng thái tự nhiên, mỗi trạng thái có một xác suất riêng Nếu số liệu trong bảng quyết định có các giá trị có điều kiện và xác suất phân bố cho mỗi trạng thái tự nhiên thì ta có thể xác định giá trị mong đợi bằng tiền (EMV)

EMV = (tiền thanh toán ở trạng thái tự nhiên thứ nhất) x ( xác suất của trạng thái tự nhiên thứ nhất)

+ (tiền thanh toán ở trạng thái tự nhiên thứ hai) x ( xác suất của trạng thái tự nhiên thứ hai)

Trang 40

bÀI GI¶NG QU¶N TRÞ HäC tHS bïI THÞ nGA

Cách lựa chọn

Thị trường thuận lợi

Thị trường không thuận lợi

9 Dự báo

Trong quản trị doanh nhiệp, các nhà quản trị thường phải ra các quyết định tuy chưa rõ kết quả như thế nào? Để các quyết định gần đúng với thực tế hơn, các nhà Quản trị phải ước đoán sự việc xẩy ra trong tương lai thế nào Ước đoán tốt là mục tiêu của dự báo Dự báo là công cụ quan trọng trong ra các quyết định

Có 2 các tiếp cận dự báo: Phân tích định tính và phân tích định lượng

9.1 Các phương pháp định tính chủ yếu:

+ Lấy ý kiến của bộ phận điều hành

+ Lấy ý kiến của lực lượng bán hàng

+ Lấy ý kiến của lực lượng mua hàng

+ Phương pháp chuyên gia ( phương pháp Delphi)

9.2 Các phương pháp định lượng (bài tập ví dụ)

+ Mô hình chuỗi thời gian:

• Bình quân giản đơn

• Bình quân di động

• San bằng số mũ

• Hoạch định theo xu hướng

+ Dự báo theo đường khuynh hướng

• Phương pháp đường thẳng thống kê

Ngày đăng: 29/06/2017, 13:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Các bước ra quyết định - BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected
Hình 3.1. Các bước ra quyết định (Trang 32)
Sơ đồ minh họa cơ cấu tổ chức theo kiểu chức năng. - BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected
Sơ đồ minh họa cơ cấu tổ chức theo kiểu chức năng (Trang 58)
Sơ đồ minh họa cơ cấu tổ chức theo kiểu chương trình – mục tiêu. - BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected
Sơ đồ minh họa cơ cấu tổ chức theo kiểu chương trình – mục tiêu (Trang 60)
Hình  thành  Nguyên nhân của - BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected
nh thành Nguyên nhân của (Trang 85)
Bảng 7.1. Một số điểm kiểm tra thiết yếu trong một số lĩnh vực quan trọng  của doanh nghiệp - BÀI GIẢNG - Quản trị học (Bùi Thị Nga)_unprotected
Bảng 7.1. Một số điểm kiểm tra thiết yếu trong một số lĩnh vực quan trọng của doanh nghiệp (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w