1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

tieu luan luat kinh doanh

26 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 476 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thương mại trước năm 1986: Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó bằng tiền

Trang 1

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANHTIỂU LUẬN MÔN:LUẬT KINH DOANH

Trang 2

MỤC LỤC Trang

LỜI MỞ ĐẦU 3

I.Thương mại là gì? 4

1.1 Thương mại trước năm 1986: 4

1.2 Thương mại sau năm 1986: 5

II.Giao kết là gì? Hợp đồng thương mại là gì? Giao kết thương mại cần có những gì: 7

2.1 Giao kết, hợp đồng là: 7

2.1.1 Khái niệm: 7

2.1.2 Phân loại: 9

2.2 Hợp đồng thương mại là: 9

2.2.1.Khái ni m: ê 9

2.2.2 Các hình thức hợp đồng thương mại: 10

2.3.Những điều cần biết về hợp đồng thương mại: 14

2.3.1.Các qui đinh đê thưc hi n hợp đồng thương mại: ê 14

III.Chỉ số xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp và việc kí kết hợp đồng trong thương mại 19

3.1 Khái niệm chỉ số xu hướng 19

3.2 Cách tính chỉ số xu hướng 20

3.3 Các chỉ tiêu tính chỉ số xu hướng 21

3.4 Mô hình tình trạng kinh doanh 23

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

có những gì, thực hiện như thế nào và chỉ số xu hướng kinh doanh ra sao.Không những thế, ý nghĩa của bài tiểu luận còn cho ta biết thêm những vấn đềnào cần nắm chắc, cần được làm rõ trong kinh doanh thương mại.

3

Trang 4

I.Thương mại là gì?

1.1 Thương mại trước năm 1986:

Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ

v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiềnthông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương

mại hàng đổi hàng (barter) Trong quá trình này, người bán là người cung cấp

của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả chongười bán một giá trị tương đương nào đó

Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được Dạng nguyên thủy của

thương mại là hàng đổi hàng (barter), trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng

hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán Ví dụ,một người A đổi một con bò lấy 5 tấn thóc của người B chẳng hạn Hình thứcnày còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân (chẳng hạn do bên bánkhông tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán) Tronghình thức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, dongười bán mặt hàng A lại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm

Việc phát minh ra tiền (và sau này là tín dụng, tiền giấy và tiền ảo (tức khôngphải tiền tồn tại dưới hình thức được in hay được đúc ra) như là phương tiệntrao đổi đã đơn giản hóa đáng kể hoạt động thương mại và thúc đẩy hoạt độngnày, nhưng bên cạnh đó nó cũng phát sinh ra nhiều vấn đề mà hoạt động thươngmại thông qua hình thức hàng đổi hàng không có Vấn đề này được xem xét cụthể hơn trong bài Tiền Hoạt động thương mại hiện đại nói chung thông qua cơchế thỏa thuận trên cơ sở của phương tiện thanh toán, chẳng hạn như tiền Kếtquả của nó là việc mua và việc bán tách rời nhau

Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyênmôn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉtập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về mộtlĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác.Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vựcnày đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra cáchàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kíchthước của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất

Trang 5

hàng loạt Vì thế, thương mại theo các giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cảhai khu vực.

1.2 Thương mại sau năm 1986:

Kinh tế đối ngoại được rộng mở theo phương châm Việt Nam muốn làm bạn vàđối tác tin cậy với tất cả các nước Tính tới tháng 7 - 2000 nước ta ký Hiệp địnhthương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, đưa tổng số nước có quan hệ ngoạithương với nước ta từ 50 nước năm 1990 lên 170 nước năm 2000 Năm 2004tổng mức lưu chuyển ngoại thương nước ta đạt 54,46 tỷ USD tăng gấp 11,34 lần

so với mức 5,10 tỷ USD năm 1990 trong đó xuất khẩu 26,50 tỷ USD tăng 11,02lần; nhập khẩu 31,95 tỷ USD, tăng gấp 11,61 lần Nhịp độ tăng bình quân hàngnăm tổng mức lưu chuyển ngoại thương thời kỳ 1991 - 2004 đạt 18,94% trong

đó xuất khẩu 18,70%; nhập khẩu 19,14%

Phải nói ngay rằng, sau khoán hộ trong nông nghiệp, thương mại là lĩnh vực đổimới sớm nhất ở nước ta Từ sau Đại hội VI của Đảng, các doanh nghiệp thươngmại mới được làm thương mại thực sự, người tiêu dùng được lên ngôi "thượngđế" Đó là một sự giải phóng! Đó là sự chuyển đổi từ thương mại nhà nước,thành nền thương mại xã hội, thương mại tự do Đầu tiên là sự tập dượt, mộtphần mua bán theo kế hoạch, một phần mua bán theo thị trường Dần dầnchuyển sang cơ chế thị trường thuận mua vừa bán, với nhiều thành phần kinh tếtham gia Ở các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, đến nay thương mại quốc doanhchỉ chiếm 15- 20% tổng mức lưu chuyển hàng hóa xã hội Còn 80-85% là thuộc

về các thành phần thương mại khác Nhờ đổi mới chất lượng hàng hóa, mẫu mã,bao bì, hàng hóa Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt: tốt hơn, đẹp hơn, tiện dụnghơn! Hằng năm, người tiêu dùng đã bình chọn gần 500 danh hiệu "Hàng ViệtNam chất lượng cao" thuộc nhiều thành phần kinh tế Sự cạnh tranh trên thịtrường đã làm cho các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới trang thiết bị để làm

ra hàng hóa chất lượng cao hơn, quảng cáo, tiếp thị rộng rãi hơn mới mongchiếm lĩnh thị trường trong nước và cả nước ngoài Người tiêu dùng không chỉ

tự do mua hàng nội, mà còn được mua nhiều loại hàng ngoại mà mình ưa thích.Nhờ đó, xã hội có thêm nhiều phương thức bán hàng mà thời bao cấp nằm mơcũng không thấy như bán hàng qua điện thoại, bán hàng tận nhà, mua hàng trênmạng, dùng hàng có thưởng v.v

Nhờ đổi mới, hội nhập, nền kinh tế nước ta đã tựcung tự cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần

Đó là cái gốc của sự phát triển Sự chuyển biếnnày không chỉ ở các doanh nghiệp, mà đã lan đến

5

Trang 6

tuyệt đại bộ phận nông dân Người nông dân nước ta hôm nay đã biết suy nghĩtrồng cây gì, nuôi con gì để sinh lợi nhiều nhất Ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum,Lâm Đồng, Quảng Nam từ 20 năm nay, nông dân đã trồng hàng trăm hecta càphê, hồ tiêu, quế, bông vải Mỗi năm nước ta xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn càphê nhân Các tỉnh như Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình cũng đãtrồng được hàng trăm hecta cao su, hồ tiêu, cà phê, mang lại nguồn lợi xuấtkhẩu lớn Sau “khoán 10” , đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vựa lúa lớncủa cả nước, mỗi năm thu hoạch 27 triệu tấn lúa, xuất khẩu 3,5-4,5 triệu tấngạo, biến nước ta từ chỗ nhập khẩu mỗi năm nửa triệu tấn gạo (1985), thànhmột trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Đến nay trên cả nước

đã xuất hiện hàng nghìn hộ nông dân tỷ phú, hàng chục triệu hộ nông dân giàu

có Nhiều thương hiệu nông - lâm - thủy sản Việt Nam đã được khẳng định trênthị trường như cà phê Ban Mê Thuột, bưởi Năm roi, bưởi Phúc Trạch, thanh tràHuế, gạo Tám Thơm, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Lục Ngạn, thủy sản đônglạnh Đà Nẵng, Quảng Nam, yến sào Khánh Hòa v.v

Nhờ chủ trương tự do hóa thương mại, 20 năm qua nước ta đã hình thành mộttầng lớp doanh nhân mới, đưa thương hiệu Việt Nam đi khắp thế giới Đây làbước ngoặt lịch sử! Ngày trước nhà văn Phan Khôi bảo rằng, trong đời ông chỉphục 2 doanh nhân là ông Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Văn Vĩnh, "vì họ lànhững kẻ trượng phu, có đầu óc độc lập, dám làm những việc lớn" Ngày nay,những thương nhân như thế nước ta có hàng vạn! Đây là đội quân chủ lực, làlực lượng nòng cốt để phát triển và hội nhập Nguyên Thủ tướng Chính phủPhan Văn Khải có lần khẳng định: "Doanh nhân thành đạt thì quốc gia hưngthịnh" Từ chỗ 10.000 doanh nghiệp nhà nước năm 1986, đến nay nước ta đã cóhơn 160.000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Trong đó đội ngũdoanh nghiệp tham gia xuất khẩu là 35.418 (trong đó có 31.418 doanh nghiệpngoài quốc doanh), tăng gấp 965 lần so với năm 1986 (lúc đó chỉ có 37 doanhnghiệp nhà nước tham gia xuất khẩu) Nước ta đã có hàng trăm doanh nghiệptầm cỡ như: giày dép Bitís, cà phê Trung Nguyên, Vietnam Airline, VietxoPetro, Vinamilk Nhiều doanh nhân Việt Nam có chí làm ăn lớn, có lòng tự tôndân tộc cao, lấy chữ tín làm đầu, đã tạo nên uy tín của nước ta trên trường quốc

tế Tham gia thị trường Việt Nam còn có đông đảo các hãng bán sỉ, bán lẻ quốc

tế, các hãng dịch vụ viễn thông, ngân hàng v.v

Trong quan hệ buôn bán thế giới, từ chỗ chỉ trao đổi hàng hóa qua khối cácnước xã hội chủ nghĩa, thì từ năm 1990 đến nay, nước ta đã mở rộng quan hệthương mại với 224/255 thị trường các nước và vùng lãnh thổ; ký 87 hiệp địnhthương mại song phương; tham gia các tổ chức ASEAN, APEC, ASEM và gianhập WTO 7-11 vừa qua Chúng ta đã tham gia Khu mậu dịch tự do AFTA;khối ASEAN, đang đàm phán để hình thành Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN +Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, Tân Tây Lan

Trang 7

Rõ ràng, thương mại Việt Nam 20 năm qua đã phát triển vượt bậc theo hướng

xã hội hóa, tự do hóa, từng bước hội nhập toàn cầu Đó là sự tiến triển hợp thờiđại Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn nhiều rào cản cần tiếp tục khắc phục Trong

đó, đáng chú ý là tư tưởng ỷ lại nhà nước trong các doanh nghiệp quốc doanh;tình trạng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dândoanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Một điều quan trọng là chúng

ta vẫn đang tách rời giữa thương mại với sản xuất, làm cho chi phí hàng hóatăng lên, sức cạnh tranh yếu đi; nước ta gia nhập WTO, nhưng không ít doanhnghiệp vẫn đang bình chân như vại Đó là thách thức lớn mà mỗi doanh nghiệpphải tính toán để khỏi “thua ngay trên sân nhà", khỏi bị loại khỏi cuộc chơi tự

do thương mại toàn cầu khi vào WTO !

Trước tháng 12/1988, tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường thấphơn thị trường tự do hàng chục lần Các công ty xuất khẩu lẩn tránh việc đưangoại tệ vào ngân hàng bằng cách nhập khẩu hàng hóa quay vòng Vào tháng12/1987, Vietcombank công bố tỷ giá ngoại tệ là 3.000 đồng/USD Đây là bướctăng vọt so với tỷ giá 368,2 đồng công bố từ đầu năm, tuy vẫn còn thấp hơnmức giá 4.300 đồng ở thị trường tự do Trong các tháng tiếp theo, tỷ giá đượcđiều chỉnh với biên độ chênh lệch khoảng 10% so với giá thị trường

Sự thay đổi tỉ giá đã có tác động rất mạnh đến cán Cân thương mại Nếu chỉ xéttrong khu vực giao dịch bằng USD, xuất khẩu trong giai đoạn từ 1989 đến 1992bình quân tăng 50% mỗi năm Tỉ lệ nhập siêu so với xuất khẩu đã lập tức giảmmạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần như Cân bằng vào năm 1989 vàthậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990

II.Giao kết là gì? Hợp đồng thương mại là gì? Giao kết thương mại cần có những gì:

2.1 Giao kết, hợp đồng là:

2.1.1 Khái niệm:

Hợp đồng là một hình thức văn bản hành chính và

giao dịch trong kinh doanh Nó giữ vai trò rất

quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà Nước và

kinh doanh cũng như thực hiện các hành vi giao

dịch của mỗi cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày

Nói đơn giản hơn : Đó là một văn bản, thỏa thuận

giữa hai bên (mang tính chất như thủ tục hành chính) của một quan Nhà nước

X, Y, Z nào đó với một cơ quan Nhà nước khác, của một cá nhân A, B, C nào đó

7

Trang 8

với một cá nhân khác, của một cá nhân với một Cơ quan, Doanh nghiệp hayCông Ty N nào đó có tư cách pháp nhân Trong đó hai bên cùng thỏa thuậnmọi vần đề như : Dân sự, lao động, kinh tế, ngân hàng, tài chính (Hợpđồng lao động, HĐ xây dựng, HĐ buôn bán, HĐ vay mượn, HĐ kế thừa )

Và cả hai bên cùng có quyền lợi cũng như trách nhiệm & nghĩa vụ với nhau.Nhà nước cho phép mọi cá nhân cũng như các cơ quan, Doanh nghiệp, Công tyđều có quyền làm các loại hợp đồng (như trên đã nói) nhưng phải tuân thủ Luậtpháp Nhà nước Không được làm những hợp đồng thỏa thuận trái với Luật phápcủa Nhà nước CHXHCN Việt nam

Hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự

thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi

hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những

quan hệ cụ thể

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại

là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản

Theo điều 428 (BLDS)về hợp đồng mua bán tài sản "Hợp đồng mua bán tài sản

là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán"

Hợp đồng mua bán hàng hóa gồm:

+Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước

+ Hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (quốc tế) (xem điều 753 BLDS), thông thường một hợp đồng được coi là dạng này có các yếu tố sau:

>> Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài

>> Hợp đồng được giao kết ở nước ngoài

>> Hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch hoặc không cùng nơi cư trú

Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân

Hình thức có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thể hiện được sự thỏathuận mua bán hàng hóa giữa các bên (có thể: bằng lời nói, văn bản, hoặc hành

vi của các bên giao kết) (điều 24 LTM2005)

Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa

Nội dung, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán

Chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợiích vật chất mới được hình thành và được gọi là hợp đồng dân sự

Trang 9

Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và

tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp Điều 1101 Bộ luật Dân

sự Napoleon quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó mộthoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giaomột vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó

2.1.2 Phân loại:

Có hai loại hợp đồng là hợp đồng hành chính và hợp đồng dân sự Bởi hai loạihợp đồng phải tuân theo chế độ pháp lý khác nhau và khi có tranh chấp xảy racũng được giải quyết ở hai loại toà án khác nhau Cơ sở để phân biệt hai loạihợp đồng này là có hay không có sự bình đẳng giữa các chủ thể pháp luật Cụthể, trong hợp đồng dân sự, các chủ thể luôn có quan hệ bình đẳng; còn tronghợp đồng hành chính một bên luôn là pháp nhân công quyền tham gia vì lợichung, còn bên kia có thể là pháp nhân công hoặc tư hoặc là cá nhân và vì lợiích của mình, vì thế vấn đề bình đẳng giữa các chủ thể khó có thể đạt đượcDựa trên những căn cứ khác nhau, Bộ luật Dân sự hiện hành của Cộng hoà Phápphân chia hợp đồng thành 8 loại sau:

- Hợp đồng song vụ – Điều 1102 ;

- Hợp đồng đơn vụ – Điều 1103;

- Hợp đồng ngang giá – Điều 1104;

- Hợp đồng không ngang giá – Điều 1104;

- Hợp đồng không có đền bù – Điều 1105;

- Hợp đồng có đền bù – Điều 1106;

- Hợp đồng có tên – khoản 1 Điều 1107;

- Hợp đồng không có tên – khoản 1 Điều 1107

9

Trang 10

đánh giá và tư vấn cho mình trước khi ký kết các hợp đồng Nhiều chuyên giakinh tế từng đặt câu hỏi: Đâu là yếu tố quan trọng nhất của một thương vụ làmăn? Phần lớn câu trả lời nhận được là: tính chặt chẽ và hình thức của hợp đồng.

Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán

hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằmmục đích sinh lợi khác

2.2.2 Các hình thức hợp đồng thương mại:

Tại Ford, một trong những hãng sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, bên cạnhhàng nghìn các hợp đồng mua bán xe hơi mỗi ngày, hãng còn tham gia vào rấtnhiều giao dịch kinh doanh khác như đầu tư, phân phối, mua nguyên vật liệu…John Mene, cố vấn pháp luật của Ford, cho biết: “Trung bình mỗi ngày, cácgiám đốc, trưởng phòng ban của hãng chúng tôi phải ký kết gần 3000 hợp đồngkhác nhau Và chỉ cần một hợp đồng có sai sót thôi cũng đủ để chúng tôi mất đihàng triệu USD Do vậy, quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng luôn được thựchiện rất chặt chẽ, có nhiều chữ ký của các nhân viên tham gia vào việc soạnthảo hợp đồng”

Hợp đồng kinh doanh, dù được soạn

thảo bằng văn bản hay chỉ là những thỏa

thuận bằng lời, đều đóng vai trò là “hòn

đá tảng” cho các hoạt động đầu tư và

phần lớn các hoạt động kinh doanh khác

của công ty Mỗi hợp đồng sẽ là cơ sở

tạo thành các yếu tố liên quan, từ đó

thiết lập các quan hệ kinh doanh giữa

các đối tác như nhân lực, khách hàng,

nhà thầu, chi phí, quyền lợi và trách

nhiệm…Xây dựng được mẫu hợp đồng chuẩn sẽ giúp công ty tập trung quản lývào các vấn đề thiết yếu Muốn vậy, trước tiên, các công ty phải xác định rõ mốiquan hệ làm ăn, sau đó là xác định những điều khoản và nội dung thiết yếu củamối quan hệ kinh doanh đó, chẳng hạn như quyền và trách nhiệm của các bên,bồi thường như thế nào khi có thiệt hại xảy ra… Những bản dự thảo hợp đồngtạm trong quá trình lên kế hoạch kinh doanh sẽ đảm bảo cho công ty sớm nhậndiện và xử lý kịp thời các vấn đề thiết yếu có thể bị bỏ qua

Thực tế cho thấy đã có nhiều trường hợp các bên giao kết hợp đồng với nhau vàtiến hành các hoạt động kinh doanh, nhưng rồi khi một tranh chấp nhỏ xảy ra,một trong hai bên đối tác lại lợi dụng sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng để thulợi riêng cho mình Chẳng hạn, nếu đối tác ký kết hợp đồng với bạn chưa cógiấy phép đăng ký kinh doanh và quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh cóphát sinh tranh chấp, mà đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp họ vẫn chưahoàn tất thủ tục pháp lý đó để thực hiện phần việc đã thoả thuận trong hợp đồng,

Trang 11

thì hợp đồng kinh doanh này bị coi là vô hiệu toàn bộ Lúc này, người thiệt hại

sẽ là bạn bởi bạn là người kinh doanh hợp pháp, nhưng trong trường hợp nàybạn sẽ không có căn cứ để yêu cầu bên đối tác kinh doanh thực hiện các nghĩa

vụ đã ký kết

Tự do thoả thuận là một trong những nguyên

tắc quan trọng trong giao kết hợp đồng kinh

doanh Điều này có nghĩa là các bên được phép

lựa chọn hình thức thích hợp khi ký kết hợp

đồng Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn pháp luật

trong các giao dịch hợp đồng giữa các bên,

cũng như để bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích

kinh doanh đối với một số loại hợp đồng pháp

luật đòi hỏi người chịu trách nhiệm ở công ty giao kết hợp đồng phải tuân theonhững hình thức nhất định, ngược lại, hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực Vì thế,yếu tố hình thức hợp đồng kinh doanh và ảnh hưởng của nó đến hiệu lực củahợp đồng sẽ rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình

thức nhất định của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức biểu hiện này,người ta có thể biết được nội dung của giao dịch kinh doanh đã xác lập Hìnhthức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng

cứ xác nhận các quan hệ kinh doanh đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xácđịnh trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra Hình thức của hợp đồng có thể là lờinói, văn bản hoặc các hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật có quy địnhgiao dịch kinh doanh phải được thể hiện bằng hình thức văn bản hoặc phải đượccông chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quyđịnh về hình thức khi ký kết hợp đồng

Có thể nói, hình thức hợp đồng được hiểu là sự thể

hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục mà

pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp

đồng phải tuân thủ khi ký kết một số loại hợp đồng

nhất định

Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại

giao dịch là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận

trọng hơn khi giao kết kinh doanh và nhằm đảm

bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch kinh doanh, quyền và nghĩa vụcũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật kinh doanh

Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm làhình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào Về

11

Trang 12

vấn đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khácnhau.

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một sốhợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu

vi phạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý Vi phạmcác quy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật

tự công Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằngnhững hình thức nhất định theo đòi hỏi của pháp luật thì chừng đó chưa có hợpđồng Pháp luật một số nước coi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi íchcông cộng nên hợp đồng vô hiệu tuyệt đối Ví dụ, pháp luật của Đức đã đưa racác đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện về hình thức đểnhằm bảo vệ những người không có kinh nghiệm đối mặt với những tình huốngbất ngờ, cũng như để hạn chế phương pháp chứng cứ Tuy nhiên, việc pháp luậtquy định hợp đồng phải được thiết lập bởi những hình thức nhất định sẽ vô tìnhtạo nên khoảng cách nhất định giữa sự thỏa thuận mong muốn của các bên vớihiệu lực của hợp đồng Hay ở một số nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ(common law), người ta quan niệm hình thức văn bản là bắt buộc đối với cáchợp đồng có giá trị Đơn cử Anh và Úc, hợp đồng bắt buộc phải được lập thànhvăn bản khi giá trị của nó lớn hơn 10 bảng Anh Quy định này xuất phát từ hệthống luật án lệ coi các văn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và có tính chất nhưluật đối với các bên và đó chính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩm quyềnxem xét giải quyết tranh chấp Nhờ đó, hợp đồng ở các nước này được soạnthảo rất chặt chẽ

Một số nước theo hệ thống luật lục địa

(continental law) như Pháp, Thụy Sỹ thì

coi tự do ký kết hợp đồng là nguyên tắc

cơ bản Ở các nước này, sự thoả thuận thể

hiện ý chí chung của các bên đã là điều

kiện đủ để hình thành nên hợp đồng, cho

dù chúng được thể hiện dưới bất cứ hình

thức nào Nguyên tắc này coi trọng “chữ

tín”, nghĩa là khi đã cam kết điều gì thì

các bên phải tự giác thực hiện Thực tế

này đã giúp loại bỏ các trường hợp hợp

đồng bị vô hiệu vì có vi phạm về hình thức

Có lẽ do không coi hình thức là điều kiện xác định tính hợp pháp của hợp đồng

mà luật của nước Pháp có sự phân biệt giữa giao dịch kinh doanh không có hiệulực với giao dịch kinh doanh do không tuân thủ theo thủ tục nhất định (mà trênthực tế dù hợp đồng có hiệu lực song lại không thể chứng minh được, hoặckhông đủ chứng cứ để chứng minh trước toà án về sự tồn tại của hợp đồng khi

Trang 13

có tranh chấp) Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch kinh doanh không có hiệulực và giao dịch kinh doanh có hiệu lực nhưng không thể chứng minh được trênthực tế là không lớn, bởi nếu giao dịch có hiệu lực nhưng không thể chứng minhđược một cách dễ dàng thì rất khó khăn để xác định sự tồn tại của nó, mà chỉ cóthể được xác định khi có sự thừa nhận của các chủ công ty mà thôi Vì vậy, đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ công ty Pháp thường ký kếthợp đồng bằng văn bản cho dù pháp luật có đòi hỏi hay không.

Hệ thống pháp luật của Đức lại hoàn toàn khác Mặc dù, hình thức của giao dịchkinh doanh không có chức năng chứng cứ, nhưng vi phạm điều kiện về hìnhthức sẽ đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng Sự giải thích duy nhất đối với việctrói buộc một chế tài mạnh như vậy là do nhà làm luật quan tâm tới việc bảo vệcác bên trước những tình huống bất ngờ Do đó, Đức đã đưa vào phần chungcủa Bộ luật dân sự nguyên tắc: giao dịch pháp luật không được thực hiện bằnghình thức hợp pháp thì sẽ bị vô hiệu hoặc không có giá trị Điều này được lýgiải là các đòi hỏi hình thức được dự liệu để nhằm bảo vệ những người không

có kinh nghiệm trước sự bất ngờ, cũng như hạn chế phương pháp chứng cứ.Luật dân sự Việt cũng có cách tiếp cận như vậy về hình thức hợp đồng

Đối với các giao dịch thương mại, khuynh hướng của các nước thuộc hệ thốngluật châu Âu là hướng tới sự không bắt buộc về hình thức Khuynh hướng này

đã được thể hiện rất rõ trong nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, theo đókhông có sự bắt buộc về hình thức của hợp đồng Ngược lại, ở Mỹ, Bộ luậtthương mại đòi hỏi hợp đồng mua bán hàng hoá phải thể hiện bằng văn bản nếugiá cả vượt quá một con số xác định và hướng tới mục đích tất cả các giao dịchđều phải được thể hiện bằng văn bản

Như vậy, không có hệ thống pháp luật nào có thể miễn trừ hoàn toàn các đòi hỏi

về hình thức, song việc có thừa nhận hình thức là điều kiện hiệu lực của hợpđồng hay không lại phụ thuộc cách tiếp cận vấn đề của pháp luật từng nước Dovậy, trong giao dịch kinh doanh, trước khi tiến hành ký kết hợp động kinh doanhvới các đối tác nước ngoài, bạn cần xem xét và nắm vững các quy định phápluật về hợp đồng của nước đó Một lời khuyên đối với các công ty là khi ký kếtHợp đồng kinh doanh quốc tế, công ty nên thoả thuận với đối tác để luật điềuchỉnh Hợp đồng là luật của nước mình Có như thế, khi có tranh chấp xảy ra,công ty sẽ đỡ mất thời gian tìm hiểu pháp luật nước ngoài và có thêm lợi thế đểgiải quyết các vướng mắc phát sinh

Sau cùng, văn hoá và trình độ kinh doanh của mỗi công ty thể hiện ở việc giaotiếp trong đàm phán và ký kết hợp đồng Đó là mối quan hệ giữa người bán vàngười mua, là văn hoá trong giao tiếp với khách hàng, với đối tác kinh doanh

“Lời chào cao hơn mâm cỗ”, bạn nên thể hiện sự tôn trọng khách hàng và đốitác qua sự chặt chẽ và nghiêm túc của các bản hợp đồng “Xây dựng và chuẩn bị

13

Ngày đăng: 27/06/2017, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức và theo các phương thức mà pháp luật - tieu luan luat kinh doanh
Hình th ức và theo các phương thức mà pháp luật (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w