Nhà nghiên cứu Vi Hồng lại cho rằng: “Đối với người Tày, từ lượn là từ để chỉ âm thanh hát lên với những làn điệu này nọ.. Ngay cả dân ca nghi lễ, mê tín cũng được gọi là lượn: lượn p
Trang 1Nhóm: Lượn
Trang 23 Kết luận
2 Các hình thức
sinh hoạt Lượn
1 Đặc điểm chung
của Lượn
Về khái niệm
Nguồn gốc của Lượn
Phân loại
Nghệ thuật
Diễn xướng
Một số bài Lượn tiêu biểu
So sánh với dân ca người Việt
Kết luận chung Khái quát nội dung bài:
3 Kết luận
Trang 31 ĐẶC ĐIỂM CHUNG
1.1 Về khái niệm
“Lượn là thể hát giao duyên phổ biến của dân tộc Tày – Nùng, bao giờ cũng có hai phía hát đối nhau Một bên
nam – một bên nữ, hoặc một bên chủ - một bên khách”
Trang 4 Nhà nghiên cứu Vi Hồng lại cho rằng: “Đối với người Tày, từ lượn
là từ để chỉ âm thanh hát lên với những làn điệu này nọ Ngay
cả dân ca nghi lễ, mê tín cũng được gọi là lượn: lượn pựt,
lượn tảo các bài hát của các ông bà làm nghề cúng bái:
Lượn “nàng hai” – Những bài hát mời nàng trăng xuống trần chơi, lượn “hảy phi” – những bài khóc đám tang ma, lượn
“suông lồng” – hát nghi lễ các bà then, lượn “tooc bổn” – những bài cầu chúc mùa màng… Những bài ca, những khúc ca được người ta lượn bao giờ cũng mang hơi thở trữ tình.”
Trang 51.2 Nguồn gốc của Lượn
Mỗi một làn điệu dân ca ra đời đều có huyền tích của mình
Với điệu hát lượn của người Tày cũng không nằm ngoài quy luật đó (người thuyết trình kể tóm tắt tích truyện)
Hàng năm, mỗi khi thu hoạch xong lúa, ngô cho vào đầy bồ là các bản làng đồng bào Tày lại cùng nhau tổ chức những ngày lễ hội và trong không khí ngày hội đó điệu hát lượn truyền thống không thể nào thiếu được
Trang 62 CÁC HÌNH THỨC SINH HOẠT LƯỢN
Phân loại
Diễn xướng
Nghệ thuật
Một số bài tiêu
biểu
So sánh với dân
ca người Việt
Trang 72.1 Phân loại
Lượn của người Tày gồm 3 loại chủ yếu: Lượn cọi, lượn Slương
và lượn Nàng ới Ngoài ra ở một số địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn còn có lượn Nàng hai (hay còn gọi là lượn Hai, lượn Trăng, Lượn Then)
Nếu như lượn cọi và lượn Nàng ới có địa bàn chính ở phía Tây Việt Bắc thì lượn slương lưu hành ở địa bàn Lạng Sơn là chính
Trang 82.2 Nghệ thuật
Lượn của người Tày được kết cấu chủ yếu theo thể thơ bảy chữ,
số câu lượn không giới hạn Thể thơ thất ngôn thường mang âm hưởng trang trọng, cổ kính nhưng đã được người Tày dùng một cách linh hoạt và sáng tạo Bên cạnh đó tác giả dân gian còn sử dụng một số câu thơ ngắn gồm 4 đến 5 âm tiết và một số bài phần mở đầu còn được bắt đầu bằng một số câu thơ dài có khi lên đến 9, 10 âm tiết Nhưng số lượng này rất ít gặp
Trang 92.3 Diễn xướng
Về hình thức sinh hoạt diễn xướng, đặc trưng của lượn là đối đáp, đối ca và nối tiếp ca.
Nối tiếp ca” là một hình thức nữa của sinh hoạt diễn xướng lượn Có hai loại nối tiếp ca.
Trang 102.4 Một số bài Lượn tiêu biểu.
Một số bài hát lượn tiêu biểu như: Đợi nàng – Nàng ới; Quê
hương tươi đẹp; Gọi anh Với những câu từ mộc mạc giản dị
mà không kém phần sâu sắc, thân thương “Gọi nàng a ơi ! qua núi, qua đèo, thiết tha nàng a nàng ơi !
Mùa xuân , lá hoa, nở riêng anh thiếu nàng a, nàng ơi !
Trang 112.5 So sánh với dân ca người Việt.
Điều khác biệt giữa Lượn với hình thức dân ca của người Việt (ví dụ dân ca quan họ Bắc Ninh) hát giao duyên đối đáp Điều khác biệt với các liền anh, liền chị trong quan họ Bắc Ninh ngày xưa không được phép lấy nhau, còn người Tày hát lượn là để tìm hiểu tiến tới hôn nhân bền chặt
Về thể thơ: Dân ca người Việt chủ yếu dùng thể thơ Lục bát Lượn chủ yếu dùng thể thất ngôn, hoặc ngũ ngôn…
Trang 123 KẾT LUẬN
Có thể nói lượn đã trở thành một thực thể trong đời sống tinh thần, một thành phần có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm của những người dân Tày yêu thích ca hát Thông qua lượn mà tiếng hát, lời ca ngân lên mọi lúc, mọi nơi, trong bản ngoài mường, trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần người Tày Nét đẹp văn hoá của đồng bào Tày qua hát lượn cần được giữ gìn, lưu truyền và phát triển để không bị mai một theo thời gian
Trang 13Phần diễn xướng