1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận: độc thoại nội tâm trong ông già và biển cả

18 1,5K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là: “Dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học” Từ điển thuật ngữ văn học..

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ.

Mỗi tác phẩm văn học ra đời đều là những đứa con tinh thần mà nhà văn bỏ ra biết bao tâm sức Nội dung tác phẩm được hiện lên qua hệ thống nhân vật với những lời văn mượt mà, trau truốt Một loạt những yếu tố để làm nổi bật lên nội dung tác phẩm trong đó ta không thể nào không nhắc đến lời văn nghệ thuật Lời văn nghệ thuật bao gồm nhiều kiểu loại trong đó nổi bật là độc thoại nội tâm Độc thoại nội tâm được rất nhiều tác giả sử dụng để xây dựng nên lời thoại cho hình tượng nhân vật của mình giúp cho nhân vật trở nên sinh động, sâu sắc.Trong đó ta phải kể đến Hê- minh- uê với tác phẩm “Ông già và biển cả”

II NỘI DUNG CHÍNH

A LÍ THUYẾT

1.KHÁI NIỆM.

Thuật ngữ lời văn nghệ thuật rất gần nghĩa với các thuật ngữ ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học, lời văn Đây là những thuật ngữ có nét tương đồng nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Lời văn nghệ thuật là hình thức vật chất

duy nhất cho sự tồn tại nội dung tác phẩm Nhờ vận dụng vào lớp lời văn mà toàn bộ

thế giới nghệ thuật được định hình Từ yếu tố trực tiếp, đầu tiên, duy nhất ấy người đọc

có cơ sở tìm hiểu, khám phá thế giới hình tượng và các lớp nội dung ý nghĩa của văn bản nghệ thuật Để làm rõ khái niệm này, chúng ta cần phân biệt nó với các khái niệm tương đồng như: ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học Ở một số trường hợp, chúng có thể dùng để thay thế cho nhau nhưng chúng hoàn toàn không đồng nhất

Nếu như ngôn từ nghệ thuật là chất liệu thì lời văn được lời văn nghệ thuật cần phải đặt nó trong toàn bộ ngữ cảnh mà văn bản nghệ thuật đó tồn tại Có thể xem văn học là nghệ thuật diễn ngôn Lời văn nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu thành bởi một hoặc nhiều thành phần diễn ngôn Các thành phần diễn ngôn trong một tác phẩm văn học như diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi, diễn ngôn trần thuật, diễn

Trang 2

ngôn thoại (đối thoại – độc thoại) đều được xem là bộ phận của lời văn nghệ thuật Nghiên cứu lời văn nghệ thuật trên toàn bộ hệ thống diễn ngôn sẽ cho ta thấy được mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn học và giữa tính xã hội của văn học và tính thẩm mĩ nghệ thuật Lời văn nghệ thuật thực chất là lời nói tự nhiên được nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật và nó là bộ phận cơ bản để tạo nên văn bản ngôn từ

Lời văn nghệ thuật chính là biểu hiện sinh động của cách viết Đó là: “Dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học” (Từ điển thuật ngữ văn học)

2 ÐẶC TRƯNG CỦA LỜI VĂN NGHỆ THUẬT.

2.1 Tính chính xác, trong sáng.

Tính chính xác, trong sáng có thể được coi là đặc trưng đầu tiên của lời văn nghệ thuật Chỉ với những lời văn chính xác, trong sáng, nhà văn mới có thể biểu hiện một cách đúng đắn và đầy đủ những sắc thái, cảm xúc, những điều mà nhà văn muốn diễn đạt Ngôn ngữ nói chung có thể diễn đạt được mọi thứ nhưng để đạt được điều đó, nhà văn phải vật lộn, học hỏi, tích lũy Nói như một nhà văn: "Trên đời không có sự giày

vò nào ghê gớm hơn sự giày vò của ngôn ngữ" hoặc như Maiacôpxki từng viết:

“Làm thơ

Chẳng khác gì khai thác

Chất hiếm radium

Lấy một gam

Mất hàng năm lao lực

Chỉ mỗi một từ

Có khi mất đứt

Hàng trăm nghìn

Trang 3

Tấn quặng xỉn ngôn từ.”

(Nói chuyện với người thanh tra tài chánh)

Tính chính xác của lời văn nghệ thuật cần được hiểu không phải theo nghĩa cơ giới, toán học mà là sự diễn đạt hoàn hảo nhất một tâm trạng, một sự vật, một ý nghĩ, một hiện tượng bằng một từ duy nhất đúng Guy de Maupassant cho rằng "Ðối tượng

mà anh (nhà văn) muốn nói đến, dù là cái gì đi nữa, cũng chỉ có một từ biểu hiện nó" Người ta thường nhắc đến việc chọn lựa từ ngữ trong sáng tạo nghệ thuật qua câu

chuyện "thôi, xao" Một hôm, Giả Ðảo (779-843), một nhà sư hoàn tục cưỡi ngựa về Tràng An Ông đương bận nghĩ đến 2 câu thơ vừa mới sáng tác:

“Ðiểu túc trì biên tụ

Tăng thôi nguyệt hạ môn"

(Chim đậu ở cây bờ ao

Nhà sư đẩy cửa dưới trăng)

Giả Ðảo băn khoăn không biết nên dùng chữ thôi (đẩy cửa) hay xao (gõ cửa) Ông buông cương, huơ tay bắt chước nhà sư lúc đẩy cửa, lúc gõ cửa Ngựa đi vào đám quân của một vị quan đang đi kinh lí Quân lính bắt Giả Ðảo trình quan May thay, viên quan đó chính là Hàn Dũ Sau khi nghe Giả Ðảo bày tỏ sự việc, Hàn Dũ suy nghĩ và góp ý nên dùng chữ "xao" (gõ) Có lẽ gõ gợi lên được hình tượng về âm thanh Sau này, người ta thường dùng chữ "thôi, xao" với ý nghĩa là cân nhắc từng chữ để sửa chữa bài văn, bài thơ cho thật tốt

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã dùng hàng loạt các từ khác nhau để chỉ người phụ nữ nhưng ở mỗi lời văn lại có những sắc thái khác nhau:

“- Ðau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

-Hồng quân với khách hồng quần

Ðã xoay đến thế vần vần chưa tha

- Rằng: hồng nhan tự thuở xưa

Trang 4

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu

- Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

- Canh khuya bức gấm rủ thao

Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân

- Cớ sao chị tốt một bề

Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao.”

Lời văn nghệ thuật đòi hỏi nhà văn phải lựa chọn nghiêm khắc để có được những

từ diễn đạt một cách đắc địa nhất tư tưởng, tình cảm của mình

2.2 Tính hàm súc.

Ðặc điểm này bắt nguồn từ nguyên tắc tiết kiệm trong ngôn ngữ, nghĩa là nói và viết sao cho "lời chật mà ý rộng", là sử dụng một số lượng chất liệu tối thiểu mà đạt được hiệu quả nghệ thuật tối đa Mượn ý của Tô Ðông Pha, Lê Quí Ðôn viết: "Ý hết mà lời dừng, ấy là cái lời rất mực trong thiên hạ Song lời dừng mà ý chưa hết được lại càng hay tuyệt"

2.3 Tính mơ hồ, đa nghĩa

Dù đây cũng là đặc điểm dễ nhận thấy trong lời nói hằng ngày Trong văn học, tính mơ hồ, đa nghĩa được nhân lên và trở thành một đặc điểm nổi bật bởi vì người nghệ

sĩ thường hướng tới lời văn mơ hồ, đa nghĩa nhằm tạo nên những tầng lớp nghĩa khác nhau, nhằm "khêu gợi vô số những tư tưởng, những quan niệm, những cách giải thích" Ðiều này về bản chất có thể phân biệt khá rõ giữa lời văn nghệ thuật và lời văn trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống

2.4 Tính tạo hình và biểu cảm.

Một đặc trưng có tầm quan trọng nhất nhằm phân biệt lời văn nghệ thuật với lời văn thuộc các lĩnh vực khác là tính tạo hình và biểu cảm Tạo hình là tạo nên một lời

Trang 5

văn giàu hình ảnh, tái tạo đối tượng trong hình thái cụ thể, không lặp lại của nó Chỉ bằng tính chất tạo hình, nhà văn mới làm sống lại một cách cụ thể, cảm tính những dáng

vẻ riêng biệt Bên cạnh đó, lời văn nghệ thuật còn biểu hiện những cảm nhận độc đáo của nhà văn với tư cách là nghệ sĩ và những nhà văn lớn bao giờ cũng có những độc đáo trong phong phong cách Tsêkhôp quan niệm "nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả"

Hai phẩm chất tạo hình và biểu cảm được kết hợp một cách hữu cơ, xuyên thấm vào nhau và trong nhiều trương hợp, khó thể tách rời Vì vậy cần nhìn chúng là một đặc điểm thống nhất của lời văn nghệ thuật: tạo hình để biểu cảm, biểu cảm để tạo hình, trong tạo hình có biểu cảm và ngược lại

Lời văn nghệ thuật của tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng có chức năng xây dựng hình tượng nên luôn luôn mang tính thẩm mĩ cao

3 Các kiểu lời văn nghệ thuật.

3.1 Lời văn gián tiếp.

Lời gián tiếp là toàn bộ lời văn của tác giả hay người trần thuật có chức năng trình bày sự vật, hiện tượng như ngoại hình, môi trường, phong cảnh, sự kiện vốn không tự nói được, được nói lên trong tác phẩm

Theo Bakhtin, lời gián tiếp có thể chia làm 2 loại: lời gián tiếp một giọng và lời gián tiếp 2 giọng

Lời gián tiếp một giọng là lời tái hiện hay bình phẩm các hiện tượng của thế giới theo ý nghĩa khách quan vốn có của chúng theo ý đồ của tác giả, không liên quan gì đến

ý thức, suy nghĩ của người khác về chúng trong văn học dân gian và văn học cổ, các tác giả thường sử dụng hình thức này Lời gián tiếp hai giọng là lời tái hiện, bình phẩm các hiện tượng, hướng tới lời và ý thức người khác, tranh luận, phản bác hay đồng tình

Trang 6

với chúng loại này có thể có các dạng lời nửa trực tiếp, lời gián tiếp của người kể chuyện và lời gián tiếp phong cách hóa

Ví dụ trong tác phẩm Chí Phèo:

Lời của tác giả khi miêu tả Chí Phèo giết Bá Kiến là lời văn gián tiếp: “Hắn kêu làng, không bao giờ người ta vội đến Bởi thế khi người ta đến thì hắn cũng đang giẫy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi Mắt hắn trợn ngược Mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra.”

3.2 Lời văn trực tiếp.

Lời trực tiếp chủ yếu là lời nhân vật và một bộ phận lời của tác giả thể hiện một cách trực tiếp trong tác phẩm Lời trực tiếp trong tác phẩm chủ yếu là những câu đối thoại giữa nhân vật này với nhân vật khác Có thể kể đến một số lời trực tiếp

Lời trực tiếp không phù hợp là lời nhân vật nghĩ một dằng, nói một nẽo, nghĩ ít, nói nhiều hoặc ngược lại Chẳng hạn, đoạn Kiều suy nghĩ trước khi khuyên Từ Hải ra hàng

và những lời của Kiều nói với Từ Hải Ở đây, cần hiểu lời nói của nhân vật không phải bằng câu chữ mà cần phải thấy ẩn ý, ý định của tác giả và nhân vật

Ví dụ trong tác phẩm Chí Phèo:

Lời của nhân vật Chí Phèo khi vác dao đến nhà Bá Kiến: “ Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này ? Tao không thể là người lương thiện nữa Biết không! Chỉ có một cách biết không ! Chỉ có một cách là cái này biết không !”

3.3 Lời văn nửa trực tiếp.

Là lời văn nghệ thuật có sự hoàn thanh giọng điệu từ hai giọng điệu nghệ thuật trở lên Lời nửa trực tiếp trong tác phẩm tự sự, về cơ bản đây là lời nhân vật, và qua lời nói này người đọc nhận ra suy nghĩ, diễn biến tâm trạng của nhân vật Sử dụng lời nửa trực tiếp là một trong những cách hữu hiệu để nhà văn vừa theo sát diễn biến tâm trạng nhân vật, vừa tạo điều kiện cho độc giả gần gũi, đồng cảm với nhân vật Biện pháp này

Trang 7

chỉ xuất hiện ở điểm nhìn trần thuật không tham dự, khi người kể đứng ngoài cuộc chứng kiến diễn biến câu chuyện về cuộc đời nhân vật

Ví dụ trong Chữ người tử tù:

Nguyễn Tuân đã nhập sâu vào nội tâm nhân vật nói lên nỗi lòng quản ngục:

“Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “nghĩ ngợi về câu nói ban chiều của thầy thơ lại”; “Quản ngục chỉ mong mỏi một ngày rất gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho… cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn

và can lại kia Thế là mãn nguyện Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết Có được chữ ông Huấn mà treo, là có một vật báu trên đời Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời mất” Đằng sau mỗi lời văn ấy là ước nguyện tha thiết, cháy bỏng, và tấm lòng chân thật hướng về cái đẹp của quản ngục Nguyễn Tuân đã đưa đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ sâu xa trước vẻ đẹp của “một tấm lòng trong thiên hạ”

4 Độc thoại nội tâm.

4.1 Các khái niệm có liên quan.

4.1.1 Ngôn ngữ nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật là lời trực tiếp do nhân vật nói lên trong tác phẩm (trong thế đối sánh ở mức tương đối với lời gián tiếp- lời trần thuật, miêu tả, lời tác giả)

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn xuôi có nhiều chức năng:

- Chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật

- Chức năng tự bộc lộ của nhân vật cho thấy sự tồn tại của nó

- Chức năng như một hành động, một sự kiện đối với nhân vật khác

Trang 8

- Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tác giả, đối tượng suy tư của tác giả.

- Chức năng biểu hiện nội tâm, thế giới bên trong của nhân vật …

Trong tác phẩm văn xuôi, ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng thức: Lời nội tâm (là đối tượng khảo sát của khoá luận) và lời thoại (lời đối thoại)

4.1.2 Độc thoại

Độc thoại có nghĩa là "Nói một mình"; trong ngôn ngữ học, độc thoại còn được gọi là đơn thoại Đó là hình thức giao tiếp trong đó chỉ có một bên nói còn một bên tiếp nhận Không có phản ứng của một người thứ hai và không bị tác động và chi phối bởi các nhân tố ngôn cảnh của một cuộc thoại Thoại trường ở đây không có các vai cùng tham gia với tư cách các tham thoại

Theo Đỗ Hữu Châu độc thoại là một quá trình giao tiếp ở đó "người nhận bị trừu tượng hoá, xem như không có mặt nhưng không có ảnh hưởng gì tới việc nói và viết cả"

và "nó xuất phát từ nguyên lý câu chỉ có một chiều: Người nói (viết)- câu"

Theo Lại Nguyên Ân: Độc thoại là phát ngôn dài dòng, rườm rà, không dự tính Nhà lí luận văn học Nga G.N Pôpêlốp cũng viết:

"Lời độc thoại là lời không nhằm hướng tới người khác và tác động qua lại giữa người

và người".

Như vậy có thể nói đặc thù của độc thoại là hình thức giao tiếp một chiều: Chủ

đề, bố cục, diễn biến theo mạch nội dung hoàn toàn có thể tuân theo một lôgic định trước của người nói (viết) Độc thoại có cũng có nhiều kiểu loại, hình thức khác nhau Chúng ta thường gặp 1 loại độc thoại đặc biệt rất phổ biến trong văn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn học) đó là độc thoại nội tâm lời độc thoại nội tâm là lời xuất phát từ tâm sự của chính nhân vật tự sự và rất tự nhiên, không gò bó

Vì thế mà ngôn ngữ độc thoại nội tâm có hình thức khá đa dạng, phong phú.Vậy độc thoại nội tâm thường dùng trong hoàn cảnh nào? Với mục đích gì? có những kiểu

Trang 9

dạng và cấu trúc như thế nào? đó cũng là những nội dung chính mà khoá muốn làm rõ trước khi tiến hành khảo sát ngôn ngữ độc thoại nội tâm

4.2 Độc thoại nội tâm.

Độc thoại nội tâm thuộc kiểu lời văn nghệ thuật trực tiếp Trước hết ta đi vào định nghĩa về độc thoại nội tâm

Theo Phùng Văn Tửu: “Độc thoại nội tâm là ngôn từ trực tiếp không diễn tả thành lời của nhân vật” Theo ông độc thoại nội tâm còn có một dạng khác là “độc thoại bên trong ở đó giọng nói của nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọng đối nghịch”

Theo tác giả Trôvenxki trong cuốn “Lý luận văn học” thì “Độc thoại nội tâm là hình thức ngôn ngữ của tư duy và ấn tượng nhân vật Trong cấu trúc của nó có thể xuất hiện hai khuynh hướng: Muốn dẫn dắt trật tự suy nghĩ và ấn tượng nhân vật, và phản ánh chúng trong những hình thức giao tiếp Mặt khác lại muốn tái hiện dòng ý thức về trật tự rối rắm trong hình thức nội tại của nó”

Trong lịch sử văn học thì khái niệm độc thoại nội tâm bắt đầu từ kịch cổ đại, độc thoại nội tâm đã xuất hiện như một hiện tượng đặc biệt trong kịch Sếcxpia Trong văn

tự sự cận đại, độc thoại nội tâm vẫn còn mang tính chất sân khấu, giống như một sự tự bộc lộ, “ chân thành”, “khách quan” Nhưng sang đến sáng tác của L.Tônxtôi thì độc thoại nội tâm được truyền đạt gần như không có sự can thiệp của tác giả, phản ánh được

cả ý thức lẫn vô thức của nhân vật Đến thế kỷ XX, độc thoại nội tâm có xu hướng xuất hiện dưới dạng dòng ý thức (đây là một biểu hiện cực đoan của độc thoại nội tâm)

Độc thoại nội tâm là một loại độc thoại tồn tại chủ yếu trong văn bản nghệ thuật (tiểu thuyết, truyện ngắn) là phương thức để truyền đạt tư tưởng, tình cảm nên các nhà văn thường sử dụng độc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệ thuật, nhằm thể hiện chân thực, sống động, nhân cách con người, với những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm thường thấy trong xã hội loài người Khi sử dụng độc thoại nội tâm tức là nhà văn muốn sử dụng một ngôn ngữ riêng, bỏ qua người đối thoại trực tiếp để đào sâu tính cách, tâm

Trang 10

hồn của nhân vật Có thể coi đó là hành vi “mượn lời”(mượn lời nhân vật) để thể hiện ý

đồ của tác giả; điều này làm hoạt động ý thức của nhân vật sinh động hơn, nhân vật được khai thác sâu hơn, chân thực và sống động hơn

Lời nội tâm là một dạng đặc biệt của lời trực tiếp Thực chất nó không phải là lời giao tiếp, mặc dầu nhân vật có thể hướng đến ai đó hoặc là lời được cấu tạo theo cách

của lời tự nhiên Lời nội tâm (độc thoại nội tâm) thường được chỉ ra bằng các từ “tự nhủ”, “thầm nghĩ” và không phải bao giờ cũng rành rọt mà thường rối ren, lộn xộn,

chắp nối Đó chính là hình thức tái hiện tính tự phát của dòng ý thức và cảm xúc Độc thoại nội tâm thường là những suy nghĩ, toan tính, tâm tư về cách sống, về gia đình, bạn

bè, và bản thân của nhân vật mà chỉ một mình nhân vật biết, không được thể hiện bằng

âm thanh Nhưng khi thể hiện dưới dạng viết nó mang đậm tính khẩu ngữ tự nhiên (Có

sự sắp xếp để đạt mục đích riêng của nhà văn).Vì thế các phát ngôn trong các đoạn độc thoại nội tâm là rất phong phú Có thể là đoản ngữ, câu đơn, câu phức phản ánh tâm lí, phương ngữ, phong tục, văn hoá từng vùng

Thông thường trong văn bản nghệ thuật, các đoạn độc thoại nội tâm được phát hiện thông qua các hình thức khác nhau của các phát ngôn đứng trước nó như:

Dạng phát ngôn kể, phát ngôn lập luận: “Tự hỏi rằng”, “Nghĩ rằng” , “Cho rằng như thế là ”, “Có sao không nhỉ?” …

Dạng cảm thán : “Chao ơi! mình mà, “ Khốn thay” “ Mình lại”

Hoặc dưới dạng hồi ức : “Hồi đó”, “nhớ lại hồi xưa” v v

Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được các đoạn độc thoại nội tâm Ngày nay khi các ý niệm (trong khoa học và mỹ học ) về đời sống tâm lí con người phát triển mạnh mẽ thì cách thức sử dụng độc thoại nội tâm (một thủ pháp các nhà văn thường dùng để miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật) cũng có nhiều biến đổi, nhiều hình thức phong phú và khó xác định hơn Cụ thể là: ranh giới giữa độc thoại nội tâm với “dòng ý thức”, “bình luận ngoại đề”, “ngôn từ nửa trực tiếp” và ngay cả “đối thoại”

Ngày đăng: 25/06/2017, 01:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w