Cũng theo nhà nghiên cứu La Khắc Hòa, ở mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu nghệ thuật, mỗi khuynh hướng sáng tác bao giờ cũng có những chủ thể phát ngôn riêng của nó; những chủ thể này b
Trang 1I Đặt vấn đề
Trong bài viết “ Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật” của nhà nghiên cứu La Khắc Hòa (Lã Nguyên) có nói tới vấn đề hệ hình giao tiếp trong văn học Ông cho rằng: “Nếu tác phẩm văn học là thế giới của những người nói, nếu thừa nhận, trong thế giới ấy, lời nói là những phát ngôn đầy
ắp nội dung tư tưởng hệ, thì khi nghiên cứu các loại hình giao tiếp nghệ thuật, câu
hỏi đầu tiên tất yếu sẽ nảy ra là: ở đây, ai nói? (hay là người nói đại diện cho nhãn
quan giá trị và lý tưởng thẩm mỹ của lực lượng xã hội nào?), nói với ai? nói kiểu
gì? Diễn đạt theo ngôn ngữ triết học thì đó là vấn đề về vị thế của hình tượng chủ
thể trong giao tiếp bằng lời ở sáng tác của một khuynh hướng nghệ thuật cụ thể.” Cũng theo nhà nghiên cứu La Khắc Hòa, ở mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu nghệ thuật, mỗi khuynh hướng sáng tác bao giờ cũng có những chủ thể phát ngôn riêng của nó; những chủ thể này bao giờ cũng giao tiếp với nhau theo một cách nào đó tạo thành một kiểu quan hệ liên chủ thể như một hiện tượng lịch sử
Quay trở lại vấn đề: “Sự phát triển của văn học thời trung đại sang thời cận-hiện đại thực chất là sự thay đổi hệ hình giao tiếp.” Để giải quyết vấn đề này ta cần phải làm sáng tỏ hai luận điểm: Hệ hình giao tiếp và các phương diện của hệ hình giao tiếp? Sự thay đổi của các phương diện này từ thời trung đại sang thời cận-hiện đại như thế nào thông qua việc tìm hiểu văn học thời kì cận đại thế kỉ XIX ở khu vực các nước Âu-Mĩ?
II Giải quyết vấn đề
Vấn đề thứ nhất: Hệ hình giao tiếp là gì? Hệ hình giao tiếp được hiểu một cách
đơn giản là mối quan hệ mật thiết giữa ba phương diện: Chủ thể phát ngôn; đối tượng tiếp nhận phát ngôn và cách thức phát ngôn Ba phương diện này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ hình giao tiếp bền vững
Trang 2Các phương trong hệ hình luôn có sự thống nhất với nhau và tạo thành một hệ hình hoàn chỉnh, trong đó yếu các phương diện vừa chi phối vừa tác động qua lại lẫn nhau Chủ thể phát ngôn ở đây là người nói, người trực tiếp truyền tải thông tin thông qua lời nói Đối tượng tiếp nhận là người nghe, người tiếp nhận thông tin
mà chủ thể truyền đạt Cách thức phát ngôn thông qua các cách nói của chủ thể Như vậy khi đối chiếu với văn học, hệ hình ngôn ngữ với ba phương diện của mình có điểm tương đồng với đặc thù của văn học: Chủ thể phát ngôn chính là lực lượng, đội ngũ sáng tác văn học; Đối tượng tiếp nhận phát ngôn là độc giả tiếp nhận tác phẩm văn học; Cách thức phát ngôn là tư duy nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm văn học
“Sự phát triển của văn học thời trung đại sang thời cận-hiện đại thực chất là sự thay đổi hệ hình giao tiếp.” Để làm rõ nhận định này cần tìm hiểu và làm rõ ba phương diện của hệ hình giao tiếp qua việc tìm hiểu văn học thời trung đại sang tới thời cận-hiện đại và thấy được sự thay đổi của các phương diện
Vấn đề thứ hai: Để tìm hiểu sự thay đổi của hệ hình ngôn ngữ qua các phương diện từ văn học thời trung đại sang thời cận hiện đại cần khái quát những đặc điểm và thành tựu của văn học trung đại Từ đó nêu ra những đặc điểm và thành tựu văn học thời cận hiện đại ở các nước Âu-Mĩ để tìm ra sự thay đổi khác biệt so với thời kì trước, từ đó rút ra kết luận khái quát về sự thay đổi các phương diện của hệ hình ngôn ngữ
Ở văn học thời kì trung đại ta cần tìm hiểu văn học Hi Lạp-La Mã và văn học thời kì phục hưng để nắm được một cách chung nhất về đặc điểm văn học thời kì này
Văn học cổ đại Hi Lạp gồm 3 bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau: thần thoại, thơ, kịch Điểm nổi bật trong thần thoại Hi Lạp chính là hình ảnh các vị thần Hệ thống các vị thần trong thần thoại Hi Lạp đa dạng và phong phú, được miêu tả rất gần với cuộc sống đời thường của con người, khác với các vị thần của phương Đông Thần thoại Hi Lạp là những câu chuyện rất hấp dẫn về các vị thần và các
Trang 3anh hùng với những tính cách, khát vọng, tình cảm gần gũi với con người Đằng sau cái vẻ cổ xưa thần thoại là những vấn đề nhân văn và nhân sinh rất con người được thể hiện qua hình ảnh các vị thần Không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay vô
số chủ đề thơ kịch, tiểu thuyết của châu Âu lấy đề tài từ những vị thần của Hi Lạp Những giá trị nhân văn của văn học Phục hưng có thể được bắt nguồn từ đây
Về thơ ca, nổi bật lên là hai bộ sử thi Iliade và Odixe của Homer, có giá trị cả về lịch sử lẫn văn học, để lại cho thế giới nhiều điển tích văn học cho đến ngày nay: gót chân Asin, con ngựa thành Troy…Hai bộ sử thi này cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ La Mã lựa chọn đề tài để sáng tác
Nghệ thuật kịch Hi Lạp ra đời và phát triển rực rỡ với nhiều nhà soạn kịch nổi tiếng: Etsin, Sôpôclơ…Đây chính là nguồn gốc của kịch châu Âu đương đại và sau này chính Shakespear là người đã kế thừa truyền thống và tinh hoa của kịch Hi Lạp, La Mã cổ đại đưa nghệ thuật kịch lên tuyệt đỉnh
Văn học La Mã về sau chủ yếu tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học
Hi Lạp Hai tập sử thi nổi tiếng của Hi Lạp là Iliat va Ôđixe đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, nhà soạn kịch La Mã tiêu biểu như nhà thơ Vieecsgilut với trường ca Eneit có chủ đề, kết cấu, tình tiết ngôn từ được phỏng theo sử thi Iliat và Ôđixe Hay các nhân vật trong Iliat và Ôđixe như tráng sĩ Agamemnong trở thành nhân vật trong vở Orextex của Etsin
Thời kì Phục hưng, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của văn học Hi Lạp và
La Mã, văn học Tây Âu phát triển rực rỡ, để lại nhiều tác phẩm giá trị cho văn học thế giới
Về thơ ca, tiêu biểu là Đantê với “Thần khúc”, mở đầu cho thơ ca thời kì phục
hưng Ngoài ra còn có Pêtêraca, Bôcaixô… Đây đều là những tác giả say mê nghiên cứu và chịu những ảnh hưởng nhất định từ nền văn học của Hi Lạp và La
Mã Về tiểu thuyết, Rabơle được xem là học giả vĩ đại nhất của văn học Phục hưng Pháp với tác phẩm “Cuộc đời đáng chán của người khổng lồ Gácgăngchuya
và người con Păngtagruyen”, trở thành cha đẻ của hai nhân vật khôi hài nhất trong lịch sử văn chương Đặc biệt trong nền văn học Phục hưng nổi lên một học giả
Trang 4lừng danh là nhà văn Xecvantec với tác phẩm Đônkihôtê Cuốn tiểu thuyết là một bắc tranh chân thực, rõ ràng về xã hội Tây Ban Nha thế kỉ XVI, đồng thời cũng là tác phẩm châm biếm toàn bộ xã hội phong kiến Tác phẩm mang tầm ảnh ưởng tới toàn thế giới thời bấy giờ
Về kịch, đại văn hào William Shakespears đã trở thành nhà soạn kịch vĩ đại của không chỉ của nước Anh mà của cả thế giới với các tác phẩm: Romeo và Juliet, Hămlet, Macbeth, vua Lear…Những tác phẩm của ông vừa mang tính chất bi kịch vừa mang tính chất hài kịch nhưng tràn đầy một sức sống huy hoàng, mạnh mẽ Tài năng và tầm ảnh hưởng của ảnh hưởng của ông đã được cả thế giới công nhận Qua vài nét phác thảo ta có thể thấy được ba phương diện của hệ hình giao tiếp trong văn học trung đại ở các nước Âu-Mĩ
Thứ nhất về lực lượng sáng tác văn học: Văn học Hi Lạp-La Mã cổ đại với lực lượng sáng tác là đông đảo quần chúng nhân dân thông qua các sáng tác về thần thoại về những vị anh hùng và thông qua đó thể hiện ước mơ khát vọng của con người Văn học phục hưng với những những tác giả lớn nhưng số lượng tác giả còn khá khiêm tốn Đantê, Rabơle, Xecvantec, William Shakespears… Các tác giả phần đông xuất phát từ lực lượng trí thức, thượng lưu trong xã hội Thế giới quan chi phối cảm hứng sáng tác là cách nhìn về cuộc sống của các nhà văn trung đại tại cái thời điểm khác nhau Mục đích chung là phục vụ đời sống tinh thần con người,
cụ thể là những khát vọng của con người trong thần thoại Hi Lạp hay trước hết để mua vui cho công chúng trong các vở kịch của Shakespears…
Thứ hai: Lực lượng tiếp nhận thời kì này phần đông vừa là lực lượng sáng tác vừa
là lực lượng tiếp nhận (trong văn học Hi-Mã) hay lực lượng thượng lưu, tầng lớp trên trong văn học thời phục hưng
Thứ ba: Tư duy nghệ thuật thời trung đại các nước Âu-Mĩ chịu sự ràng buộc của các yếu tố văn hóa tinh thần nên mang đặc điểm cơ bản nên nó gắn với cơ sở căn
rễ lịch sử-văn hóa của nền văn học trung đại, nội dung hướng thượng tôn giáo và hình thức thể loại mang tính quy phạm
Trang 5( “Shakespears thường mượn các cốt truyện nước ngoài của các nhà văn Ytalia, Pháp, Tây Ban Nha, của các nhà văn La Max cổ đại Ông vận dụng các thủ pháp quen thuộc của kịch bác học và của kịch hề dân gian Ông chịu ảnh hưởng của nhà hài kịch La Mã cổ đại bậc thầy Plôt.”- [2, tr 203] )
Bước sang thế kỉ XIX văn học ở các nươc Âu-Mĩ đã có những sự chuyển biến mới, có những bước phát triển vượt bậc so với thời kì trung đại trước đó Văn học phương Tây thế kỉ này bao gồm nhiều khuynh hướng, trào lưu với
nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới Trong đó, hai trào lưu văn học chủ yếu là chủ nghiã lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực phê phán đã hình thành ở hầu hết các nước phương Tây Văn học các nước Tây Âu có những đặc điểm chung và cũng
có những sắc thái riêng do hoàn cảnh đấu tranh xã hội, ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và sự kế thừa truyền thống văn nghệ của mỗi nước quy định
Để khái quát được sự phát triển của văn học Âu-Mĩ thế kỉ XIX ta sẽ bám sát theo hai trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực phê phán ở các nước Pháp, Anh, Đức, Mĩ để từ đó thấy được sự thay đổi hệ hình giao tiếp qua các phương diện của nó
Thứ nhất: Chủ nghĩa lãng mạn ở các nước Âu-Mĩ cụ thể là các nước có nền văn học phát triển nhất đó là Pháp, Anh, Đức, Mĩ…
Ở Pháp, văn học Pháp thế kỉ 19 đã phản ánh những biến động cách mạng, những
tư tưởng lớn của thời đại như chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỉ và chủ nghĩa xã hội khoa học nửa sau thế kỉ, cuộc sống xã hội chính trị của nhân dân Pháp, nhiều trào lưu là khuynh hướng văn học liên tục xuất hiện qua các thời kì khác nhau với nhiều tác giả danh tiếng
Chủ nghiã cổ điển “mới” và âm vang văn học cách mạng tư sản Trong những năm đầu của Cách mạng Pháp (1789-1794), chủ nghĩa cổ điển lại xuất hiện và ngự trị nền văn học Dòng văn học này tiếp tục khuynh hướng quay về nghệ thuật
cổ đại và có nhiều nét chung với chủ nghĩa cổ điển trước cách mạng Nhưng về nội dung ý thức hệ, nó hoàn toàn khác biệt Chủ nghĩa cổ điển “mới” sau Cách mạng phản ánh cuộc đấu tranh của đẳng cấp thứ ba nhằm đạt được tự do chính trị
Trang 6và quyền bình đẳng trong xã hội mới sau khi đã lật đổ giai cấp phong kiến quí tộc
Nó miêu tả những thắng lợi của cách mạng và niềm hân hoan của nhân dân đặt lợi ích chung trên lợi ích riêng tư Xã hội tư sản mới ra đời cũng cần một chủ nghĩa anh hùng để biểu dương và củng cố chế độ mới Nhưng những nhânvật tư sản cũng sớm bộc lộ những mặt trái của họ nên nhà văn muốn dựa vào những hình tượng cổ đại “Họ tìm thấy trong những truyền thống cổ điển của nền cộng hoà La
Mã những lí tưởng về hình thức nghệ thuật, những ảo tưởng mà họ cần thay thế cho những nội dung hạn chế tư sản nhằm duy trì sự hân hoan của tấn bi kịch lớn lao”(K.Marx)
Từ đó hình thành các thể loại đa dạng như bi kịch cổ điển, tụng ca, trào phúng, bài ca cách mạng.Cách mạng đã đóng cửa các phòng khách thính văn nghệ
(salon), phát triển báo chí để tạo nên dư luận công chúng mới, mở rộng diễn đàn cho các cuộc tranh luận với thể loại mới: văn hùng biện chính trị, xuất hiện một
số nhà hùng biện tài năng như Mirabeau
Văn học lãng mạn Pháp phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong khoảng giữa hai cuộc Cách mạng (1789 và 1848) Ðúng như nhận định của Marx, khuynh hướng lãng mạn là sự phản ứng đầu tiên đối với Cách mạng Pháp và tư tưởng Ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó Văn học lãng mạn đã kế thừa các nhân tố sau: Chủ nghĩa tình cảm, một tư trào văn chương thế kỷ XVIII ra đời nhằm cân đối với tính lý trí của văn học Ánh sáng vốn nặng về lý trí
Về triết học, chủ nghĩa lãng mạn chủ yếu mang tính duy tâm chủ quan Đặc biệt văn học lãng mạn chịu ảnh hưởng khá sâu của học thuyết “chủ nghĩa xã hội không tưởng“ của Owen và Furier Về nghệ thuật, thiên về tính trữ tình yêu thiên nhiên như một phương thức giải thoát thư giãn, phản ứng với hiện thực xã hội ngột ngạt bon chen.Văn học lãng mạn vẫn có chú ý ít nhiều đến hiện thực đau khổ của người lao động.Nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa chú ý xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nó là cá nhân dị biệt, ngẫu nhiên, bất chấp sự vận động của hoàn cảnh khách quan.Tính chất nhân đạo tràn ngập các tác phẩm lãng mạn
Trang 7Văn học lãng mạn Pháp trong thời kì này xuất hiện khá nhiều những nhân tài có tầm ảnh hưởng không chỉ tới nền văn học Pháp mà còn ảnh hưởng tới nền văn học của cả nhân loại Các tác giả tiêu biểu như: Bà Dờ Xtan (1767-1817); Sa-tô-bri-ăng (1768-1848); Lamactin (1790-1869); Vinhi (1797-1863); Victo Huygo (1802-1885); Gior-giơ Xăng (1804-1876); Anfre đơ Muy-Xê (1810-1857)…
Ở Anh, năm 1798 tập thơ “Ballad trữ tình” của hai sinh viên đại học Cambridge được xuất bản ở thành phố Briston Họ ước mơ xây dựng một nước cộng hòa với lí tưởng đem lại tình thương yêu, tự do và hiểu biết cho mọi người Họ cộng tác với nhau quyết tâm cải cách thi ca Họ trở thành hai nhà thơ lãng mạn đầu tiên của nước Anh: Uliams Edworth (1770-1850) và Samuel Coloridge (1772-1834) Hai nhà thơ trẻ đi du lịch sang Đức, Pháp Họ dịch và đọc tác phẩm của Schiler, Goeth
và Rousseau…Thơ của hai người thể hiện khát vọng tự do: biểu hiện tất cả các sự kiện và mô tả thiên nhiên giao hòa với tình cảm và hành động của con người Cùng một số người khác họ thành lập nhóm thơ Lake School (trường phái thơ Vùng hồ) Trường phái này là tiêu biểu cho dòng văn học lãng mạn Anh đương thời Họ muốn thoát lý thực tại xã hội tư sản, xa lánh chốn thị thành Thơ của họ hướng về quá khứ, những con người và hiện tượng đơn giản bình thường, gần gũi thiên nhiên Hình thức thi ca cũng đổi mới.Từ sau năm 1810, hình thành nhóm nhà thơ nhà văn lãng mạn tiến bộ nổi tiếng như Walter Scott, Byron, Shelli,
Keats .Tác phẩm của họ thể hiện quan điểm dân chủ, đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở châu Âu Họ ngưỡng vọng Cách mạng tư sản Pháp, coi đó là sự kiện chính trị tất yếu trong tiến trình lịch sử của loàingười Họ quan tâm đến khát vọng của giai cấp công nhân Anh đầu thế kỷ XIX
Những nhà văn lãng mạn nổi tiếng của nước Anh thời kì này như: Walter Scott- nhà văn lãng mạn tiến bộ Anh; Byron- nhà thơ, nhà viết kịch và tiểu thuyết gia Anh; Seli- nhà văn lãng mạn Anh…
Ở Đức, do hoàn cảnh nước Đức phân chia thành nhiều bang, nhiều công quốc nhỏ bé và cho mãi đến những năm hai mươi của thế kỉ XIX vẫn chưa có phong trào dân chủ tư sản nên khác một số nước ở Tây Âu, văn học lãng mạn Đức nhìn
Trang 8chung có nhiều yếu tố bảo thủ, tiêu cực Triết học cổ điển Đức đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học lãng mạn Tách rời thực tại, phát huy trí tưởng tượng, lấy ý niệm làm nguồn cảm hứng, văn học lãng mạn đã dựa theo triết học siêu hình cho rằng vũ trụ là sự sáng tạo của tinh thần Các nhà văn lãng mạn đầu tiên đi tìm một khuynh hướng nghệ thuật mới đối lập với chủ nghĩa
cổ điển, một khuynh hướng nghệ thuật đề cao chủ quan nhằm biểu hiện những ấn tượng, những tâm trạng cá nhân
Tác giả nổi tiếng của văn học lãng mạn Đức là Novalix (1772 – 1801) thường được đề cao là “hoa hồng chúa” hoặc “bông huệ thiên thanh” Nhà thơ khát vọng tất cả cái gì bao phủ trời đêmvà tìm thấy ở đó một ánh sáng siêu nhiên giải thoát nhà thơ khỏi cuộc đời trần tục trong một số tác phẩm khác như Khúc ca tinh thần viết về Đức mẹ và Jêxu, hoặc Những đồ đệ của Xait… Ông thể hiện nỗi buồn, khát vọng thoát li, những liên hệ thần bí giữa vũ trụ và con người Tiểu thuyết Henrich Von Offedingen chưa hoàn thành với nhân vật chính là một chàng kị sĩ du lịch qua xứ sở Hi Lạp, đến vùng đất Công giáo thời thập tự chinh, gặp gỡ người tình “Bông hoa xanh” mà Hairich thường ôm ấp trong mộng.Sáng tác của Novalix tiêu biểu cho khuynh hướng lãng mạn tiêu cực ở Đức Về lí luận, Novalix đã khẳng định quan điểm thoát li, xa rời hiện thực của ông: “Tôi lãng mạn hóa bằng cách cho cái thấp hèn một ý nghĩa cao cả, cái bình thường một vỏ huyền bí, cái đã quen vẻ đẹp của cái không quen, cái hữu hạn vẻ đẹp của cái vô hạn…Tiểu thuyết phải hoàn toàn là thơ Thơ là tâm trạng hài hòa trong lòng ta, nơi mọi cái đều được
tô đẹp” Cacaile đã nhận định sự nghiệp sáng tác của Novalix tuy ngắn ngủi nhưng
“thật phong phú về những ý hướng dẫn dắt đến một thế giới mới” Đó chính là thế giới tinh thần lãng mạn ở Đức đầu thế kỉ XIX
Ở Mĩ, sau cách mạng thành công, nước Mĩ bắt đầu ý thức được khả năng văn học của dân tộc Đầu thế kỉ XIX, các nhà văn thực sự, những người có tài năng và sống bằng nghề cầm bút mới xuất hiện và có vị trí trong xã hội Mỹ
Trong nửa đầu thế kỉ XIX, New York là trung tâm tập hợp, thu hút những nhà
Trang 9văn chuyên nghiệp đầu tiên New York chẳng những là trung tâm thương nghiệp, hàng hải, giao thông đường bộ mà còn là đại bản doanh của văn học nghệ
thuật.New York đã chói sáng lên 2 nhà văn lừng lẫy nước Mĩ: Washington Irving nhà viết tiểu luận, và James Fenimore Cooper nhà tiểu thuyết, lại còn lôi kéo nhà thơ William Bryant từ Massachussetts, nhà viết truyện Edgar Allan Poe
từ Virginia đến Mỗi người là một tài năng độc đáo , mặc dù còn chịu ảnh hưởng của các trào lưu văn học Anh hoặc lục địa nhưng vẫn biểu hiện được nét độc đáo của người Mỹ là độc đáo về sự lựa chọn đề tài , về kĩ thuật biểu hiện và tính dân tộc
Mĩ có thiên hướng bẩm sinh về văn học lãng mạn bởi những vẻ đẹp thiên nhiên trời phú, khí hậu, thời tiết đa dạng, phong cảnh đa dạng hữu tình, những bãi đất dài từ các hồ lớn đến bờ biển vịnh Mexico tạo ra cái đẹp muôn vẻ thiên nhiên Nhiều biển hồ mênh mông, thác nước hùng vĩ, những bãi cỏ xanh tươi đến tận chân trời, những khu rừng nguyên sinh, những khoảng không gian có vẻ vô bờ bến
để nảy sinh biết bao nhiêu nguồn cảm hứng sâu sắc, mãnh liệt Ranh giới giữa cuộc sống dân Mỹ với cuộc sống của các bộ lạc người Anh–điêng da đỏ quen lối sống hoang dã chẳng có bao xa tạo nên một không khí gần như huyền thoại
Ở Mỹ, chủ nghĩa lãng mạn không bao giờ biểu hiện bằng sự say
mê cực đoan Khi xuất hiện, tình yêu không bao giờ ồn ào sôi động mà có chừng mực, lí tưởng hóa, xua đuổi sự ham muốn, cảnh giác chống sự bùng nổ sắc
dục.Tiểu thuyết lãng mạn Mỹ làm rung động người đọc bằng những yếu tố siêu nhiên, thần bí hoặc là các bí ẩn của tâm hồn và các bi kịch của ý thức
Thơ ca cũng bắt nguồn từ bấy nhiêu yếu tố, nhiều nhất là ở tình yêu đối với thiên nhiên, ở linh tính về sự có mặt của Thượng đế trong thế giới trầntục, ở lòng thương yêu con người và cuộc đời.New York trong nửa đầu thế kỉ 19 đã từng là trung tâm văn học sôi động nhất ở Mỹ lúc ấy mới chỉ là một thành phố nhỏ nhưng rất thuận lợi cho sự nở rộ những vụ mùa đầu tiên của văn học Mỹ
Trang 10Những tác giả tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn như: Washington Irving (1783-1859); James Fenimore Cooper (1789-1851); Herman Melville (1819-1891); Ralph Waldo Emerson (1803-1882)…
Thứ hai: Chủ nghĩa hiện thực phê phán ở các nước Âu-Mĩ đã trải quả một thời
kì đỉnh cao, nó phản ánh một bước chuyển mình vượt bậc của văn học cận hiện đại, thêm vào đó là sự đổi mới văn học theo chiều hướng “hiện thực hóa” theo những biến đông của lịch sử xã hội
Ở Pháp, Văn học hiện thực xuất hiện sau năm 1820 dưới thời Trung hưng, phát triển mạnh mẽ cho đến những năm 60 sau năm 1848.Sau cuộc Cách mạng, chính quyền thuộc về giai cấp đại tư sản mà Marx gọi là bọn “quí tộc tài chính” Đồng tiền thống trị mọi lĩnh vực xã hội với quyền lực và sức mạnh tha hóa của nó Cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra và giai cấp công nhân dần dần trưởng thành đã dẫn tới cuộc Cách mạng tháng Sáu năm 1848 Đây cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ của trào lưu văn học hiện thực với những nhà văn ưu tú: Stendhale, Balzac, Merimee, Xtăngdan…
Văn học phê phán thời kì này có vai trò quan trọng đối với việc nhận thức xã hội Trong chủ nghĩ hiện thực Pháp, sự hư hỏng của con người được trình bày như là
sự bộc lộ trực tiếp bản chất sinh vật,được khẳng định như là bản tính tự nhiên cố hữu của nó…
Ở Anh văn học hiện thực phê phán ra đời vào những năm 30 của thế kỉ XIX trong thời kì của những cuộc đấu tranh giai cấp Mác nhận định về văn học hiện thực Anh: “Trường phái hiện đại xuất sắc của các nhà tiểu thuyết Anh, mà cách tác phẩm minh xác và hùng biện đã vạch ra cho mọi người nhiều sự thật hơn tất cả những nhà chính trị chuyên nghiệp, những nhà lý luận và đạo đức gộp lại, đã mô
tả hết thảy những tầng lớp của giai cấp trung gian từ gã thu thực lợi “tối ư đáng kính” và gã chiếm hữu chứng khoán…” Có thể nói văn học thời kì này giống như một bức tranh phơi bày hiện thực xã hội với chất liệu chính đó là yếu tố hiện thực, trữ tình, châm biếm đậm nét và những họa sĩ tài ba như: William Thackeray