Việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định thường từ 3-5 năm cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro liên quan đến tính thanh khoản th
Trang 1 RỦI RO ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
RỦI RO GIÁ HÀNG HÓA
Rủi ro giá hàng hóa hiểu đơn giản là rủi ro gặp phải khi giá hàng hóa biến động, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Các công ty bán hàng hoá được hưởng lợi khi giá lên, nhưng sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực khi giá xuống Trong khi đối với các công ty sử dụng loại hàng đó làm nguyên liệu đầu vào thì sẽ chịu tác động theo hướng ngược lại Tuy nhiên, ngay cả các công ty không có liên quan gì đến buôn bán hàng hóa vẫn phải đối mặt với rủi ro Khi giá cả hàng hóa leo thang, người tiêu dùng có xu hướng hạn chế chi tiêu Điều này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, bao gồm cả các khối kinh tế dịch vụ
kiểm soát được nhu cầu cung cầu hiện nay, thị trường thay đổi như thế nào, nguồn cung ứng ra sao, từ đó kiểm soát đượv giá cả
RỦI RO TRUYỀN THÔNG
Rủi ro truyền thông đề cập tới tác động tiêu cực của truyền thông đến việc kinh doanh của một công ty Dòng thông tin vô tận cập nhật liên tục trên toàn thế giới đặt ra những rui ro cho mọi công ty có thể làm sụp đổ toàn bộ nền kinh tế, chứ không riêng bất kì cổ phiếu nào Thậm chí ngay cả nền kinh tế toàn cầu cũng sẽ chịu ảnh hưởng một cách rõ nét
Tránh tạo ra sự cố truyền thông ko đáng có, nó ảnh hưởng đến danh tiếng thương hiệu, thường xuyên có các buổi gặp gỡ truyền thông, tạo bộ mặt ấn tượng, tham gia các haojt động truyền thông, từ thiện nếu có, củng cố vị trí doanh nghiệp
RỦI RO XẾP HẠNG
Rủi ro xếp hạng xảy ra khi một doanh nghiệp được đánh giá và xếp hạng tín dụng Chỉ số xếp hạng tín dụng rất quan trọng đối với doanh nghiệp Xếp hạng tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất mà doanh nghiệp phải trả khi vay vốn Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp niêm yết cònmột chỉ số khác quan trọng hơn chỉ số xếp hạng tín dụng Đó là chỉ số đánh giá của các nhà phântích Mọi sự thay đổi trong chỉ số này đối với một cổ phiếu sẽ gây tác động tâm lí mạnh mẽ tới các nhà đầu tư Những thay đổi trong xếp hạng, dù tiêu cực hay tích cực, đều gây ra biến động lớn hơn nhiều so với bản thân sự kiện ban đầu – nguyên nhân khiến các nhà phân tích điều chỉnh xếp hạng của một công ty
RỦI RO LỖI THỜI
Lỗi thời là rủi ro kinh doanh khi một doanh nghiệp không đổi mới và cải tiến Rất ít doanh nghiệp tồn tại đến 100 năm, và trong số rất ít đó không một doanh nghiệp nào còn giữ lại quy trình kinh doanh từ ngày đầu thành lập Nguy cơ lỗi thời lớn nhất xuất hiện khi một doanh nghiệp khác có thể sản xuất sản phẩm tương tự với giá rẻ hơn Cạnh tranh toàn cầu khiến hiểu biết công nghệ trở nên ngày càng sâu sắc và khoảng cách kiến thức ngày càng thu hẹp Rủi ro lỗithời vì thế ngày càng cao
Thay đổi trang thiết bị hiện đại, cách quản lí mới, cải tiến được sản phẩm cũng như cách thức tạo ra sản phẩm,
Trang 2RỦI RO KIỂM TOÁN
Rủi ro kiểm toán xuất hiện khi kiểm toán viên, quy trình tuân thủ nội bộ, thanh tra hoặc cơ quan
có thẩm quyền khác không kịp thời phát hiện những sai phạm trong công ty Có thể do có lãnh đạo biển thủ tiền của công ty, thu nhập không rõ nguồn gốc hoặc bất kì hình thức gian lận tài chính nào khác Thị trường sẽ nhanh chóng phản ứng tiêu cực một khi tin tức được công bố Rủi
ro kiểm toán có thể hủy hoại nghiêm trọng thanh danh của doanh nghiêp và rất khó để cứu vãn
Quản lí thắt chặt nhân viên kế toán, kiểm soát mọi giao dich thu chi trong doanh nghiệp, tránh những việc làm phi pháp, gian lận trong doanh nghiệp, đồng thời nhanh chóng phát hiện xử lý kịp thời trước khi ảnh hưởng tệ hơn
RỦI RO PHÁP LÍ
Rủi ro pháp lí đề cập đến mối quan hệ thiếu đồng bộ giữa chính phủ và doanh nghiệp Cụ thể, đó
là khi chính phủ có những hành động nhằm hạn chế hoạt động của một doanh nghiệp hay một ngành Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến những nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp đó hoặc ngành đó Trong thực tế, nguy cơ này có thể xảy ra dưới một số hình thức – các
vụ kiện chống độc quyền, các quy định, các tiêu chuẩn mới hoặc các loại thuế đặc thù Các ngành phải đối mặt với rủi ro pháp lí ở các mức độ khác nhau, nhưng rủi ro này tồn tại với mọi ngành sản xuất cũng như dịch vụ
Về lý thuyết, chính phủ sẽ đóng vai trò cân bằng lợi ích của doanh nghiệp và xã hội Chính phủ sẽ can thiệp khi hoạt động của doanh nghiệp gây hại cho xã hội và khi doanh nghiệp không tự nguyện thay đổi Trong thực tế, chính phủ có xu hướng can thiệp quá mức cần thiết Pháp luật nhấn mạnh tầm quan trọng của chính phủ đối với công chúng, cũng như giới thiệu thành viên quốc hội trước công chúng Những động lực này làm rủi
ro pháp lí trở nên nghiêm trọng hơn
RỦI RO LẠM PHÁT VÀ RỦI RO LÃI SUẤT
Hai rủi ro này có thể hoạt động độc lập hoặc song song Rủi ro lãi suất, trong ngữ cảnh này, chính là những khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải khi vay vốn với lãi suất cho vay tăng cao Lãi suất tăng đồng nghĩa với chi phí tăng, các doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động Lãi suất cho vay thường leo thang trong thời điểm mà lạm phát xảy ra trầm trọng vì tăng lãi suất là một biện phát kiềm chế lạm phát thường được sử dụng Trong giai đoạn này, doanh nghiệp có thể thấy rõ chi phí vay vốn của mình tăng cao khi giá trị mà mỗi đồng vốn vay đem về lại giảm mạnh Hai rủi ro này không không ảnh hưởng nhiều tới các doanh nghiệp cókhả năng chuyển các chi phí này thành giá mà người tiêu dùng phải trả Lạm phát cũng làm giảmlòng tin người tiêu dùng Lãi suất và lạm phát tăng kết hợp với suy giảm niềm tin của người tiêu dùng sẽ làm suy yếu nền kinh tế, và trong một số trường hợp sẽ dẫn tới lạm phát đình đốn
(stagflation)
RỦI RO MÔ HÌNH
Rủi ro mô hình xảy ra khi các giả định của các mô hình kinh tế và kinh doanh là không đúng với thực tế Khi mô hình kinh tế không còn chính xác, các doanh nghiệp phụ thuộc vào những mô hình này sẽ bị tổn hại Giống như hiệu ứng domino, các công ty gặp khó khăn sẽ gây khó khăn cho các công ty phụ thuộc vào họ và cứ tiếp diễn như vậy Cuộc khủng hoảng thế chấp 2008-
Trang 32009 là một ví dụ điển hình của rủi ro mô hình Trong trường hợp này, một mô hình nguy cơ rủi
ro đã không thể hiện chính xác những gì đáng lẽ nó phải phản ánh
1 Rủi ro từ tính thanh khoản thấp của chứng khoán đầu tư
Tính thanh khoản thấp của chứng khoán mà nhà đầu tư đang sở hữu có thể do chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được hoặc không được phép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư Hàng hóa thông thường không thể bán được phần nhiều do: chất lượng và tiện ích của hàng hóa không đáp ứng nhu cầu; không phù hợp với “gu” của người mua; cung vượt quá cầu; có hàng hóa khác thay thế tương đương, thậm chí có sức hấp dẫn hơn Đối với chứng khoán, tính thanh khoản của nó thấp do một số nguyên nhân sau:
– Tình trạng tài chính và triển vọng thị trường của công ty, tổ chức phát hành chứng khoán không tốt Thật không may cho nhà đầu tư chứng khoán, khi vì một lý do nào đó, chứng khoán
mà họ đã mua là của một công ty, tổ chức có tình trạng tài chính thiếu lành mạnh và triển vọng cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng như khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của công ty, tổ chức đókhông đảm bảo hiệu quả vững chắc Rủi ro đối với nhà đầu tư sẽ là tối đa khi công ty, tổ chức phát hành chứng khoán bị phá sản hoặc đơn giản là lặng lẽ “biến mất” trên thương trường sau những “pha” “tự đánh bóng” khá chuyên nghiệp, giật gân nhằm thu hút, dẫn dụ những nhà đầu tư
Trên thị trường chứng khoán hiện nay, vẫn đang tiếp tục diễn ra tình trạng công khai và nô nức đấu giá mua cổ phiếu của cả những công ty trên thực tế đã bị phá sản vì trình trạng tài chính âm, không thể trả nợ, hoặc của những công ty, quỹ đầu tư thậm chí mới có quyết định thành lập, chưa
hề triển khai hoạt động trên thực tế…
– Lựa chọn không đúng cơ cấu chứng khoán đầu tư Nhà đầu tư chứng khoán có thể chịu rủi ro
từ việc “bỏ hết trứng vào một giỏ” Việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5 năm) cũng có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro liên quan đến tính thanh khoản thấp của các chứng khoán này, nhất là khi họ cần tiền để trảlãi vay ngân hàng hoặc muốn rút vốn về để đầu tư vào nơi khác có lãi hơn, an toàn hơn…
– Sự cạnh tranh khốc liệt và biến động khôn lường của thị trường Ngay cả những chứng khoán tốt nhất có sức hấp dẫn nhất, “hot” nhất thuộc dạng “blue-chip” cũng có thể không giữ vững được vị thế của mình một cách ổn định, lâu dài trước sự cạnh tranh và biến động tới chóng mặt của thị trường trong xu thế toàn cầu hóa Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải hứng chịu cả hai dạng thiệt hại “khấu hao hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính thanh khoản của các chứng khoán mà họ nắm giữ
2 Rủi ro từ thông tin chứng khoán và thị trường
Ra đời cách đây trên 200 năm, bất chấp những thăng trầm của các ngành, nghề, sản phẩm kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán ngày càng trở thành một bộ phận không thể thiếu được củanền kinh tế hiện đại với đặc trưng cơ bản là kinh tế thông tin Hiếm có hoạt động kinh doanh nào
Trang 4mà sự thành bại của nhà đầu tư lại gắn bó mật thiết, thậm chí phụ thuộc vào sự đa dạng, hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác các thông tin có liên quan trực tiếp và gián tiếp như đầu
tư chứng khoán
Pha chút hóm hỉnh, khôi hài, nhưng không phải không có lý khi có người đã phác họa chân dung nhà đầu tư chứng khoán: luôn háo hức trước mọi tin đồn và hăng hái góp phần vào tin đồn; luôn cảnh giác đề phòng nhưng cũng dễ nhẹ dạ, cả tin; tinh khôn và nhạy cảm; quen biết nhiều, nhưngkhông kết thân với ai trong làng chứng khoán (!) Trong số họ, ai là người nắm được nhiều, nhanh, chính xác thông tin, người đó sẽ dễ dàng chiến thắng và chiếm thế thượng phong, giảm thiểu những rủi ro “chết người” do mù mờ thông tin Khả năng lắng nghe, phân tích đọc “vị” các
“chiêu thức” và cả nghệ thuật “tung tin đồn”, gây nhiễu trên thị trường chứng khoán của cả các
“đại gia” hoặc “đại bợm” kinh doanh chứng khoán, hay của bản thân các công ty, tổ chức phát hành chứng khoán, là biện pháp đặc hiệu để nhà đầu tư tự bảo vệ mình, tránh những cạm bẫy và rủi ro gắn với các loại thông tin “mờ ảo” trên thị trường đặc thù này
Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén không đầy đủ, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên cùng “sân chơi”, hoặc đơn giản là về tình hình thờitiết hay dịch bệnh nào đó… đều có thể trở thành đầu mối trực tiếp gây ra các thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư chứng khoán
3 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của các sàn, trung tâm giao dịch và công ty chứng khoán
Vì yêu cầu đặc thù đòi hỏi bắt buộc phải thông qua các tổ chức trung gian, môi giới trong kinh doanh chứng khoán, nên các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải chịu những rủi ro liên quan đếncác quy định, quy trình nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ của các tổ chức trung gian này, điển hình là các rủi ro liên quan đến việc tổ chức khớp lệnh và phân lô giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có tổ chức
– Hình thức khớp lệnh định kỳ gây rủi ro cho nhà đầu tư vì họ không thể hủy ngang lệnh đã đặt mua hàng bán trước khi kết thúc phiên khớp lệnh, bất chấp những biến động mới bất lợi trên thị trường cho họ, nếu họ không muốn chịu phạt về sự thay đổi quyết định này Khớp lệnh định kỳ cũng có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư vì dễ gây tình trạng cung – cầu ảo trên thị trường và cả tìnhtrạng nghẽn mạch, quá tải hoặc phân biệt đối xử theo kiểu bỏ rơi nhà đầu tư nhỏ ở các sàn, trung tâm và công ty chứng khoán Tuy vậy, việc khớp lệnh định kỳ có thể tạo cơ hội để nhà đầu tư giảm bớt thiệt hại khi hủy lệnh đã đặt sau khi khớp lệnh đối với các chứng khoán còn dư chưa xử
lý hết trong phiên giao dịch gần nhất mà họ tham dự
– Khớp lệnh liên tục là giao dịch trên cơ sở khớp liên tục các lệnh mua – bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch, không phải chờ đến thời điểm định kỳ như kiểu khớplệnh định kỳ Trong nguyên tắc xử lý khớp lệnh liên tục này thì quyền ưu tiên luôn dành cho các lệnh mua có mức giá cao hơn và các lệnh bán có mức giá thấp hơn Trường hợp các lệnh mua và bán có đồng mức giá thì quyền ưu tiên sẽ dành cho lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước Việc
tổ chức khớp lệnh liên tục cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh thận trọng, chính xác hơn, được giải
Trang 5quyết nhu cầu mua – bán nhiều hơn, nhanh chóng, bình đẳng hơn và giảm thiểu tình trạng cung –cầu ảo trên thị trường chứng khoán.
Bên cạnh những ưu điểm trên, việc khớp lệnh liên tục có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư theo 2 cách: hoặc rủi ro vì lệnh mua – bán của họ bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác có lệnh tương tự nên không thực hiện được sớm hoặc hết các lệnh đã đặt (thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh khi khớp lệnh định kỳ thường chỉ khớp được khoảng 60% số lệnh đã được nhập vào hệ thống); hoặc rủi ro vì họ buộc phải mua – bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm hiện hành cao (khi mua vào) hoặc thấp hơn (khi bán ra) so với mức lệnh đã đặt Sở dĩ có sự rủi ro này là vì trong quy trình khớp lệnh liên tục sử dụng loại “lệnhthị trường” – gọi tắt là MP Lệnh này có nghĩa là lệnh mua tại mức giá thấp nhất (sàn) hoặc lệnh bán tại mức giá cao nhất (trần) trên thị trường Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc trên màkhối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa thực hiện hết, thì MP sẽ được xem là lệnh bán tại mứcgiá thấp hơn tiếp theo hiện hành trên thị trường Do thực hiện nguyên tắc ưu tiên khi khớp lệnh là: bán ở mức giá thấp, mua ở mức giá cao, nên thiệt hại cho nhà đầu tư đặt lệnh bán sẽ càng lớn nếu giá bán được ngày một giảm trong quá trình khớp lệnh này vì lệnh mua sẽ khớp số lượng bán với bất kỳ giá nào cho đến khi đủ số lượng Khi đó, nhà đầu tư dễ bị lâm vào tình trạng mua vào ở giá trần và bán ra ở giá sàn
Trong khớp lệnh liên tục, hiệu lực lệnh của nhà đầu tư trong nước được tính từ khi lệnh được nhập vào hệ thống cho đến khi kết thúc ngày giao dịch, hoặc bị hủy bỏ Riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài, nếu lệnh mua nhập vào hệ thống không được khớp, hoặc chỉ được khớp một phần vào thời điểm, thì sẽ bị hủy, sau đó nhà đầu tư muốn mua thì phải tiếp tục đặt lệnh trở lại
Các nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán còn có thể phải đối diện với các rủi ro gắn với
sự điều chỉnh quy định về số lượng giao dịch cổ phiếu thực hiện, cụ thể từ mức 10 cổ phiếu trướcđây, đã nâng lên tối thiểu 100 cổ phiếu mỗi lô giao dịch trong quá trình khớp lệnh liên tục ở Thành phố Hồ Chí Minh Các rủi ro đối với nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ có thể gồm:
– Không thể xé nhỏ các khoản đầu tư như trước, vì đã “bỏ hết trứng vào một giỏ”
– Không có cơ hội mua các hàng – chứng khoán tốt vì chúng chỉ được giao dịch theo lô lớn
– Chịu thiệt hại do phải là người “bán lẻ”, “mua lẻ” với giá thấp hơn (tới 10%) so với các nhà đầu tư có số lượng cổ phiếu đủ lô quy định, trong khi đó họ cũng không có cơ hội mua lẻ thêm
cổ phiếu (giả sử đã có 90) để làm tròn 100 cổ phiếu cho đủ lô theo quy định
– Chịu nhiều cảnh phân biệt đối xử khác khi thụ hưởng các dịch vụ chứng khoán nếu vẫn muốn
là người trực tiếp đầu tư, không muốn thông qua các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ tín thác và các công ty chứng khoán…
4 Rủi ro từ các chấn động thị trường trong và ngoài nước
Các nhà đầu tư chứng khoán (nhất là các nhà đầu tư nhỏ, lẻ) có thể phải gánh chịu nhiều rủi ro liên quan đến các chấn động thị trường trong nước hoặc nước ngoài, bởi:
Trang 6– Các trào lưu mua, bán chứng khoán theo tâm lý đám đông, đầy cảm tính và xúc cảm, làm phá
vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường
– Các hoạt động đầu cơ, tung tin đồn thất thiệt, gây nhiễu thông tin và tự “đánh bóng”, thổi giá hoặc thậm chí lừa đảo và thông đồng có tổ chức của một số nhà đầu tư chuyên nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh khác đủ tạo nên động thái thăng, trầm của thị trường để trục lợi
– Các chấn động thị trường khác từ nước ngoài (cuộc khủng hoảng tài chính – tiền lệ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở châu Á là một thí dụ điển hình)
Ngoài ra, các nhà đầu tư còn chịu các rủi ro liên quan đến động thái chính sách của Chính phủ, chẳng hạn như: chính sách 2 giá trong phát hành cổ phiếu (giảm giá từ 20-40% cho các nhà đầu
tư chiến lược hoặc cán bộ, công nhân viên của công ty cổ phần hóa lần đầu); những thay đổi trong chính sách tỷ giá, lạm phát, tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong công ty cổ phần của các nhà đầu tưchiến lược, các nhà đầu tư nước ngoài; chính sách xuất – nhập khẩu, độc quyền hoặc các quan hệquốc tế song phương – đa phương v.v
Cuối cùng, rủi ro lớn nhất và cũng là nguồn cội của mọi rủi ro trong đầu tư chứng khoán là sai lầm do thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng tổng hợp, phân tích và phản ứng thị trường một cách nhạy bén, chính xác của bản thân nhà đầu tư…Đã vĩnh viễn qua rồi những cơ hội ngắn ngủi và các ảo tưởng về kinh doanh chứng khoán thật dễ chịu và hấp dẫn: mua chứng khoán vào, “đắp chiếu”, đợi giá lên một chiều rồi khi cần tiền thì bán ra Sự phát triển của kinh tế thông tin, kinh tế tri thức đòi hỏi và cho phép phải tri thức hóa các hoạt động kinh doanh, trong đó có kinh doanh chứng khoán, để đầu tư chứng khoán thực sự “ích nước, lợi nhà”
Rủi ro từ bản thân nhà đầu tư
- Rủi ro do thiếu kiến thức phân tích, đầu tư theo cảm tính Không hiếm trường hợp các loại chứng khoán đều đồng loạt giảm giá mạnh trong khi chỉ mấy ngày trước đó giá cao hơn 10 đến 15%, các nhà đầu tư vẫn tranh nhau đặt mua Những tính toán dựa trên cơ sở phân tích thông tin,phân tích kỹ thuật đều không thể giải thích được diễn biến của thị trường trong những trường hợp này
- Rủi ro do đầu tư theo đám đông
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam rủi ro do đầu tư theo đám đông là rất lớn
- Rủi ro do đầu tư theo tin đồn
Hầu hết các tin đồn đều mang dấu hiệu trục lợi, có chủ ý và chủ yếu nhắm vào các nhà đầu tư nhỏ lẻ thiếu bản lĩnh
-Rủi ro do sử dụng đòn bẩy tài chính lớn
Khi thị trường khởi sắc rất nhiều nhà đầu tư trong nước đã mạnh dạn vay tiền để đầu tư chứng khoán nhằm tăng nhanh thu nhập, góp phần đẩy giá chứng khoán lên rất cao Trong điều kiện rủi
ro rất cao của thị trường chứng khoán Việt Nam, việc bán giải chấp khi giá chứng khoán xuống thấp làm cho mức độ suy sụp của thị trường càng thêm nghiêm trọng
***Rủi ro từ những báo cáo thị trường của các tổ chức phân tích đánh giá tín nhiệm
Thị trường đã không ít lần nghiêng ngả theo các đánh giá, nhận định của của các tổ chức đầy danh tiếng trong và ngoài nước như HSBC hay SSI
-Rủi ro từ chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khoán
Tại Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực của nhiều công ty chứng khoán còn rất hạn chế khiến
Trang 7sự tư vấn hay cung cấp thông tin từ nhân viên cho khách hàng nhiều khi rất hời hợt và thiếu chính xác
Công nghệ ở một số công ty chứng khoán không đáp ứng yêu cầu dễ dẫn đến việc chậm trễ trongđặt lệnh và hủy lệnh, nghẽn mạng trong quá trình giao dịch… làm mất cơ hội và gây rủi ro cho nhà đầu tư
Lạm dụng nghiệp vụ tự doanh và kẽ hở luật pháp cũng như thiếu đạo đức nghề nghiệp
*** Rủi ro từ Sở giao dịch chứng khoán
Do còn thiếu kinh nghiệm, Sở giao dịch chứng khoán thiết lập các chính sách quản lý thị trường chưa đầy đủ, chưa chính xác, chưa đủ tính răn đe đã tạo ra một thị trường không minh bạch, không lành mạnh… gây rủi ro cho nhà đầu tư
*** Rủi ro từ tổ chức lưu ký
Công nghệ của tổ chức lưu ký chậm được nâng cấp, không đáp ứng yêu cầu dễ dẫn đến việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng còn chậm trễ Cho đến nay, việc chuyển giao chứng khoán vẫn còn chờ T+3 gây thiệt hại về thanh khoản cho nhà đầu tư Với khả năng nắm được số dư tiền và chứng khoán của từng tài khoản, Trung tâm lưu ký chứng khoán có trong tay những thông tin quan trọng bậc nhất trên thị trường
*** Rủi ro từ các công ty niêm yết
- Rủi ro do đầu tư tài chính, đầu tư chéo lớn
Sử dụng đòn bẩy tài chính cao, vay mượn quá đà nhằm mở rộng các hoạt động kinh doanh khônghiệu quả có thể đặt doanh nghiệp vào nguy cơ mất khả năng kiểm soát Khi thị trường sụt giảm, chỉ cần một mắt xích bị thua lỗ khiến cho thị giá giảm thấp hơn giá gốc mà các công ty trong chuỗi liên kết nắm giữ, các công ty này buộc phải trích lập dự phòng rủi ro giảm giá theo luật định gây rủi ro lớn cho nhà đầu tư
- Rủi ro trích lập dự phòng tỷ giá
Các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu hay vay vốn nước ngoài lớn có rủi ro trích lập dự phòng tỉ giá là rất đáng lưu ý
- Rủi ro từ tình hình công bố thông tin của các công ty niêm yết
Nhiều công ty công bố thông tin sai lệch lớn giữa trước và sau kiểm toán Có công ty báo cáo lãi lớn nhưng khi kiểm toán mới lộ ra lãi không đáng kể hoặc lỗ nhiều hơn con số đã báo cáo trước
đó Cũng có công ty đang lỗ hóa lời
*** Rủi ro từ môi trường kinh tế vĩ mô trong nước
Thâm hụt thương mại không ngừng gia tăng, lạm phát luôn luôn là mối đe dọa Đó là những biểuhiện rõ nét nhất về tính bất ổn của kinh tế vĩ mô Điều này tiềm ẩn những rủi ro lớn và thường xuyên cho thị trường chứng khoán
*** Rủi ro chính sách
Sự thay đổi thường xuyên các luật thuế như thuế thu nhập, thuế tài nguyên, thuế nhập khẩu, thuế môi trường; Chính sách về tiền lương tối thiểu; Chính sách bảo vệ môi trường … làm tăng chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, làm giảm thu nhập của nhà đầu tư Chính sách ngoại hối chưa
ổn định gây nguy cơ rủi ro về tỷ giá Chính sách lãi suất làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp, làm giảm giá các loại chứng khoán Chẳng hạn, đầu năm 2008, với các biện pháp mạnh nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản từ 8,25% lên 14% Chính điều này đã làm cho VN-Index sụt giảm liên tục từ 1100 điểm xuống còn 496 điểm
*** Rủi ro từ môi trường tự nhiên
Việt Nam nằm trong vùng có nhiều hạn hán, bão, lũ Các công ty nằm ở các tỉnh miền trung và các tỉnh miền núi phía bắc có nguy cơ rủi ro khá cao do bão và lũ quét Các công ty hoạt động trong ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản trên biển cũng có nguy cơ rủi ro lớn từ các trận bão
Trang 8biển Các công ty hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi cũng thường xuyên đối mặt với các rủi ro
về dịch bệnh
-Rủi ro từ môi trường kinh tế quốc tế
Nền kinh tế Việt Nam có ñộ mở rất lớn nên phụ thuộc rất nhiều vào các thị trường xuất khẩu Vì vậy những bất ổn từ môi trường kinh tế quốc tế có ảnh hưởng khá rõ đến rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam như khủng hoảng nợ tại các nước Châu Âu, đặc biệt là từ Hy lạp loang ratrong năm 2010
***Giải pháp đối với các nhà đầu tư cá nhân
****Các giải pháp chung
Để hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán nói chung, nhà đầu tư cần được trang bị kiến thức vềthị trường và các kỹ thuật phân tích các thành tố của thị trường chứng khoán như:
- Phân tích môi trường vĩ mô trong và ngoài nước
- Phân tích mối liên hệ giữa thị trường chứng khoán với các thị trường tài chính khác
- Phân tích các công ty niêm yết: Cần chú ý phân tích làm rõ các khía cạnh như lợi thế cạnh tranh, năng lực quản trị công ty, tình hình tài chính công ty, chu kỳ ngành
- Xác định đúng giá trị nội tại của cổ phiếu và hiểu rõ bản chất sự dao động giá trên thị trường chứng khoán
- Phân tích và lựa chọn thời điểm mua bán có lợi nhất
- Lựa chọn quan điểm đầu tư một cách nhất quán
-Các giải pháp cụ thể
Đầu tư theo danh mục ñể kiểm soát rủi ro phi hệ thống
+ Giải pháp tốt nhất để kiểm soát rủi ro phi hệ thống là nhà đầu tư nên đầu tư theo danh mục gồm nhiều cổ phiếu chứ không nên đầu tư dồn hết vào 1 cổ phiếu
+ Chọn đưa vào danh mục đầu tư nhiều loại cổ phiếu ở các ngành, các lĩnh vực khác nhau với các qui mô khác nhau để phân tán rủi ro, loại bỏ rủi ro phi hệ thống
- Kiểm soát rủi ro phi hệ thống có tính bất thường bằng cách sớm phát
hiện và loại bỏ các mã cổ phiếu có nguy cơ rủi ro bất thường của các công ty niêm yết Nhà đầu
tư chỉ có thể kiểm soát các rủi ro phi hệ thống bất thường này bằng các giải pháp sau:
+ Phải thường xuyên thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau về các công ty niêm yết có trong danh mục, đặc biệt là các báo các tài chính có kiểm toán Kịp thời loại bỏ khỏi danh mục đầu tư những mã cổ phiếu có nguy cơ rủi ro bất thường cao như hỏa hoạn, thiên tai, gian lận tài chính, công bố thông tin tài chính sai để gian lận, lãnh đạo chạy theo các dự án đầu tư có rủi ro cao do suy giảm trách nhiệm quản trị công ty, lãnh đạo công ty thực hiện các mánh khóe lừa đảo,lãnh đạo công ty cờ bạc…
+ Hạn chế đầu tư vào những doanh nghiệp có tình hình đầu tư tài chính và đầu tư chéo lớn, đầu
tư tràn lan sang các ngành nghề không cốt lõi
Lựa chọn mã cổ phiếu đưa vào danh mục đầu tư dựa trên hệ số bê-ta để kiểm soát rủi ro hệ thống
và có được mức sinh lợi cao nhất có thể
Kiểm soát rủi ro danh mục bằng cách quản trị năng động danh mục:
+ Thường xuyên điều chỉnh một cách chủ động danh mục đầu tư bằng cách bán hoặc mua các chứng khoán trong danh mục cho phù hợp với những biến chuyển của thị trường
+ Luôn duy trì một lượng tiền mặt thích hợp để có khả năng xử lý trước các tình huống biến động của thị trường nhằm làm giảm bớt tác động rủi ro của nó Theo kinh nghiệm của các nhà đầu tư lớn trên thế giới, tỉ lệ đó trung bình khoảng từ 20-30% Khi xuất hiện “biên độ hơn giá”
để bán hấp dẫn thì bán ra để tăng tỉ lệ tiền mặt Khi xuất hiện “ biên độ an toàn” để mua hấp dẫn thì mua vào để giảm tỉ lệ tiền mặt
Trang 9+ Cân nhắc đầu tư một tỉ lệ nhất định vào chứng khoán có nguồn thu cố định như trái phiếu công
ty hay trái phiếu chính phủ cũng là một lựa chọn tốt để tăng tính năng động trong quản trị danh mục đầu tư tương tự như một tỉ lệ tiền mặt nói trên
***Kiểm soát thành phần rủi ro hệ thống thị trường trong rủi ro danh mục đầu tư:
+ Cần phải không ngừng nâng cao kiến thức về kinh tế vĩ mô Thường xuyên
cập nhật thông tin về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị Đặc biệt chú ý đến tính chu
kỳ của nền kinh tế Nâng cao kỹ năng phân tích thông tin về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường chính trị và các tác động chính sách Nếu không, cần sử dụng các dịch vụ tư vấn của các công ty chứng khoán có uy tín
+ Chú ý sự biến động của các biến vĩ mô có tác động đã được kiểm định đến rủi ro hệ thống thị trường chứng khoán Việt Nam như lạm phát, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, mức độ tăng trưởng nóng của GDP, tỉ lệ nhập siêu trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vào các thời điểm chuẩn bị công bố thông tin hằng quí của Tổng cục thống kê
+ Chú ý tác động của biến chính sách lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước đến rủi ro hệ thốngthị trường vào các thời điểm chuẩn bị công bố thông tin lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
+ Thường xuyên theo dõi diễn biến chỉ số giá chứng khoán của các thị trường chứng khoán khác trên thế giới Trong ñó, chú ý sự biến động của thị trường chứng khoán Trung Quốc và Mỹ là hai thị trường có ảnh hưởng rõ nhất đến rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên cần lưu ý, sự ảnh hưởng này rất nhẹ chỉ chiếm khoảng 10% biến động của VN-Index Do đó, nhà đầu
tư không nên bán tháo hay đổ xô mua vào với giá cao theo các biến động giá trên các thị trường này
+ Cần rèn luyện bản lĩnh đầu tư, kiên trì với chiến lược đầu tư đã lựa chọn,
hạn chế đầu tư theo tâm lý đám đông Nâng cao kỹ năng phân tích kỹ thuật dựa trên diễn biến giá
và khối lượng giao dịch ñể hạn chế rủi ro tâm lý đám đông
+ Hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính trong trường hợp thị trường có độ rủi ro cao và còn nhiều bất ổn
+ Tỉnh táo với các thông tin không chính thức, nên có sự phân tích, đối chiếu thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để đưa ra những nhận định chính xác
Bằng cách phán đoán sớm khả năng diễn biến xấu của nền kinh tế có thể giảm thành phần rủi ro
hệ thống thị trường trong rủi ro của danh mục đầu tư bằng cách tăng tỉ trọng tiền mặt và các tài sản đầu tư phi rủi ro trong danh mục theo mức độ tiến triển xấu của nền kinh tế
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHẦN MỀM
32
156
Người mua nên yêu cầu phiên bản mới nhất hoặc giải pháp trọn gói
2 Giao diện tới các hệ thống
nội bộ và hệ thống bên
ngoài có thể không hoàn
thành đúng hạn
42
31
122
1 Bắt đầu sớm, quy định chuẩn kết nối
2 Cập nhật hệ thống cũ lên chuẩn mới
3 Làm việc ngay với các hệ thống bên ngoài để
Trang 10thống nhất chuẩn.
3 Triển khai thử nghiệm có
thể không đầy đủ cho việc
xác định đảm bảo hiệu
năng khi triển khai diện
rộng
42
31
122
1 Chuẩn bị, kiểm tra và tuân theo kế hoạch thử nghiệm chi tiết, xác định những cấu phần quan trọng và những nghiệp vụ thiết yếu bắt buộc phải thử nghiệm
2 Chấp nhận thực tế việc triển khai thí điểm sẽkhông hoàn hảo và chỉ ra những gì cần sửa trước khi triển khai diện rộng cũng như những việc cần điều chỉnh sau đó
4 Biện pháp phòng ngừa
thảm họa có thể không
như mong đợi
32
33
96
Chỉ ra yêu cầu rõ ràng và cụ thể, yêu cầu kịch bản kiểm tra hệ thống phòng ngừa thảm họa
53
259
1 Ban quản lý cấp cao phải tham gia vào quá trình xây dựng chính sách để đảm bảo hiểu rõ được ảnh hưởng của bất kỳ thay đổi quan trọng nào
2 Xây dựng các thay đổi cần thiết vào hệ thống thông qua quy trình quản lý thay đổi đã được phê duyệt
2 Phạm vi và yêu cầu có thể
tăng, dẫn đến thiếu kinh
phí
53
53
259
1 Mọi thay đổi về phạm vi sẽ phải qua tiến trình phê duyệt sự thay đổi và phải đảm bảo phù hợp với kinh phí được phê duyệt trước đó
2 Đặt các mức ưu tiên cho yêu cầu nghiệp vụ và yêu cầu kỹ thuật vào tiến trình ra quyết định
3 Hệ thống có thể không đáp
ứng nhu cầu hoặc mong
đợi của người dùng
31
42
122
1 Đảm bảo nhân viên ở các cấp tham gia vào việctái thiết kế quy trình nghiệp vụ và hệ thống
2 Huy động người dùng vào việc kiểm tra và,
3 Thử nghiệm nhiều chức năng chính
4 Có những yêu cầu nghiệp
vụ đặc biệt mà dự án không
thể đáp ứng
32
32
94
Báo cáo lên ban quản lý dự án những vấn đề này
để chỉ ra ảnh hưởng tới quy trình nghiệp vụ và chiến lược kinh doanh
Con người
Trang 111 Nguy cơ nhân viên giỏi sẽ
rời khỏi dự án giữa chừng
vì chênh lệch thu
53
53
259
Tạo ra cơ hội thăng tiến, học tập tại nước ngoàiLắng nghe cán bộ, đánh giá và áp dụng cải tiến của họ vào công việc
2 Người dùng có thể không
muốn sử dụng hoặc từ
chối hệ thống mới
53
53
259
Thuyết phục, tập huấn, tuyển nhân viên mới, định kỳ luân chuyển cán bộ giữa các phòng ban
3 Người dùng có thể không
biết cách sử dụng hệ thống
mới
52
53
256
1 Thực hiện đào tạo và hỗ trợ người sử dụng, cung cấp kiến thức về hệ thống mới
2 Biên soạn, tập hợp đầy đủ tài liệu tập huấn
3 Thường xuyên theo dõi, giám sát việc hiểu và chấp nhận hệ thống mới (thông qua các ứng dụng hỗ trợ, thực hiện khảo sát), điều chỉnh việc tập huấn dựa trên các kết quả đánh giá này
4 Truyền thông rõ ràng về hệ thống mới tới nhân viên, nhấn mạnh việc nhân viên sẽ tham gia triển khai thí điểm để đảm bảo hệ thống mới đáp ứng yêu cầu của họ
4 Lãnh đạo ở các cơ quan
trực thuộc có thể không
ủng hộ hệ thống mới
31
53
153
1 Lãnh đạo cấp cao quan tâm thường xuyên tới
dự án, thường xuyên gửi những báo cáo tích cực
về dự án cũng như mong muốn về dự án tới các cấp lãnh đạo phía dưới
2 Lãnh đạo cấp cao làm việc với lãnh đạo chính quyền địa phương để đảm bảo truyền thông điệp
về dự án mới, đảm bảo sự chỉ đạo cũng như hỗ trợ của chính quyền địa phương trong khi thực hiện, triển khai dự án
Trang 12Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặcvùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó.
Bảo quản thực phẩm: bảo quản tốt thực phẩm thì thực phẩm mới tươi ngon đc,
Vận chuyển thực phẩm
NGÀNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN
1 Theo tính chất khách quan của rủi ro, người ta thường chia ra: rủi ro thuần tuý và rủi ro suy tính (rủi ro suy đoán) (Pure Risks and Speculative Risks) + Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro tồn tại khi có nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời, đó là loại rủi ro xảy ra liên quan tới việctài sản bị phá huỷ Khi có rủi ro thuần tuý xảy ra thì hoặc là có mất mát tổn thất nhiều, hoặc là cómất mát tổn thất ít và khi rủi ro thuần túy không xảy ra thì không có mất mát tổn thất Hầu hết các rủi ro chúng ra gặp phải trong cuộc sống và thường để lại những thiệt hại lớn về của cải vật chất và có khi cả tính mạng con người đều là rủi ro thuần tuý Thuộc loại rủi ro này có rủi ro do hoả hoạn, lũ lụt, hạn hán, động đất… + Rủi ro suy tính (rủi ro suy đoán) là rủi ro tồn lại khi có một nguy cơ tổn thất song song với một cơ hội kiếm lời Đó là loại rủi ro liên quan đến quyết định lựa chọn của con người Thuộc loại này là các rủi ro khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh (SXKD) trên thị trường Người ta có thề dễ dàng chấp nhận rủi ro suy tính nhưng hầu như không
có ai sẵn sàng chấp nhận rủi ro thuần tuý Nhận xét: Việc phân chia rủi ro thành rủi ro thuần tuý
và rủi ro suy tính có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn kỹ thuật để đối phó, phòng tránh rủi
ro Đối với rủi ro suy tính, người ta có thể đối phó bằng kỹ thuật Hedging (rào cản) còn rủi ro thuần tuý được đối phó bằng kỹ thuật bảo hiểm
2 Theo hậu quả để lại cho các hoạt động của con người, người ta chia thành rủi ro số đông (rủi
ro toàn cục, rủi ro cơ bản) và rủi ro bộ phận (rủi ro riêng biệt) + Rủi ro số đông là các rủi ro gây
ra các tổn thất khách quan theo nguồn gốc rủi ro và theo kết quả gây ra Những tổn thất này không phải do cá nhân gây ra và hậu quả của nó ảnh hưởng đến số đông con người trong xã hội Thuộc loại này bao gồm các rủi ro do chiến tranh, lạm phát, thất nghiệp, động đất, lũ lụt + Rủi
ro bộ phận là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan của từng cá nhân xét theo cả về nguyênnhân và hậu quả Tác động của loại rủi ro này ảnh hưởng tới một số ít người nhất định mà không ảnh hưởng lớn đến tòan xã hội Thuộc loại này bao gồm các rủi ro do tai nạn (tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hoả hoạn,…) do thiếu thận trọng trong khi làm việc cũng như trong cuộc sống (rủi ro do mất trộm )
4 Theo nguồn gốc phát sinh các rủi ro, có các loại rủi ro sau: + Rủi ro do các hiện tượng tự nhiên: đây là nguồn rủi ro cơ bản dẫn đến các rủi ro thuần tuý và để lại những hậu quả rất
nghiêm trọng đối với con người Nước lũ, nắng nóng, hoạt động của núi lửa, Việc nhận biết cácnguồn rủi ro này tương đối đơn giản nhưng việc đánh giá khả năng xảy ra cũng như mức độ xảy
ra của các rủi ro xuất phát từ nguồn này lại hết sức phức tạp bởi vì chúng phụ thuộc tương đối ít vào con người, mặt khác khả năng biểu biết và kiểm soát các hiện tượng tự nhiên của con người còn hạn chế + Rủi ro do môi trường vật chất: các rủi ro xuất phát từ nguồn này là tương đồi nhiều, chẳng hạn như hoả hoạn do bất cẩn, cháy nổ + Rủi ro do các môi trường phi vật chất khác: Nguồn rủi ro rất quan trọng và làm phát sinh rất nhiều rủi ro trong cuộc sống chính là môi trường phi vật chất hay nói cụ thể đó là các môi trường kinh tê, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc
Trang 13môi trường hoạt động của các tổ chức, Đường lối chính sách của mỗi người lãnh đạo của quốc gia có tốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế (ban hành các chính sách kinh tế, áp dụng các quy định và thuế, cắt giảm hoặc xóa bỏ một số ngành
nghề…) Quá trình hoạt động của các tổ chức có thể làm phát sinh nhiều rủi ro và bất định Việc thay đổi tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất tín dụng, quan hệ cung - cầu trên thị trường, giá cả thị trường diễn biến bất ổn, đều có thể đem lại rủi ro cho các tổ chức SXKD Việc phân loại rủi ro theo các nguồn phát sinh giúp cho các nhà quán lý rủi ro tránh bỏ sót các thông rin khi phân tích đồng thời giúp cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro sau này
5 Theo khả năng khống chế của con người: có thể chia ra rủi ro có thể khống chế và rủi ro không thể khống chế Một số loại rủi ro khi xảy ra, con người không thể chống đỡ nổi Thuộc loại này có các rủi ro do thiên tai, địch hoạ, Tuy nhiên, đa số các rủi ro con người có thể chống
đỡ hoặc có những biện pháp nhằm hạn chế được thiệt hại nếu có những nghiên cứu, dự đoán được khả năng và mức độ xây ra
6 Theo phạm vi xuất hiện rủi ro có thể chia ra rủi ro chung và rủi ro cụ thể + Rủi ro chung là cácrủi ro gắn chặt với môi trường chính trị, kinh tế và pháp luật Các rủi ro chính trị gồm có rủi ro
về hệ thống chính trị, rủi ro chính sách thuế; rủi ro do cơ chế quản lý cấp vĩ mô; rủi ro về chế độ độc quyền; rủi ro do chính trị sách hạn chế nhập khẩu; rủi ro do không đạt được hoặc không gia hạn hợp đồng;… Các rủi ro thương mại quốc gia gồm có rủi ro do lạm phát; rủi ro do tỷ lệ lãi suất thay đổi; rủi ro do sản phẩm hàng hoá mất giá; rủi ro do chính sách ngoại hối và đặc biệt ở Việt Nam còn có thể có rủi ro do không chuyển đổi được ngoại tệ;… Các rủi ro gắn với môi trường pháp luật quốc gia gồm có rủi ro do thay đổi chính sách pháp luật và qui định; rủi ro về việc thi hành pháp luật; rủi ro do trì hoãn trong việc bồi thường;… + Rủi ro cụ thể là các rủi ro gắn liền với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD) cụ thể hoặc lĩnh vực hoạt động khác
Minh họa cho nhóm này, một số rủi ro thường gặp trong thực tế bao gồm: Thời gian thực hiện
dự án quá gắt: Thời hạn thực hiện và bàn giao sản phẩm quá ngắn, xuất hiện ngay từ đầu dự án, hoặc có khả năng xuất hiện cao trong lúc thực thi Các rủi ro này liên quan đến các điều cam kết cấp cao, hoặc do quá thiếu dữ liệu để ước lượng, hoặc do dự án sử dụng công nghệ mới, độ phức tạp cao do đó rủi ro hầu như được “nhìn thấy” trước Thiếu thời gian cho kiểm định: Kiểm định (testing) là một khâu khá quan trọng và chiếm nhiều thời gian, đặc biệt ở các giai đoạn cuối …
NGÀNH XÂY DỰNG
Rủi ro từ bên ngoài
I Nhóm rủi ro liên quan đến nhà nước, thị trường
Trang 143.1 Thiếu sót trong thiết kế
3.2 Ước lượng giá cả không chính xác
3.3 Thay đổi thiết kế do chủ đầu tư
3.4 Tiến độ thi công do TVTK lập
6 Các nhà thầu tư vấn khác có liên quan đến công việc xây dựng
III Nhóm rủi ro liên quan đến lựa chọn nhà thầu tư vấn (Đấu thầu, chỉ định thầu)
1 Năng lực thực hiện
2 Thái độ, ý thức với công việc
3 Chiến lược đấu thầu
4 Các tình huống trong đấu thầu
5 Phương thức thanh toán
6 Điều kiện nghiệm thu
7 Thời hạn thực hiện hợp đồng
V Nhóm rủi ro liên quan đến đền bù, giải toả mặt bằng.
Phần 2: Rủi ro từ nội bộ
I Rủi ro từ tổ chức thi công
1 Nhân lực (trình độ tay nghề, thái độ làm việc, số lượng, an toàn lao động)
2 Vật liệu cung cấp (Tiến độ, chất lượng)
3 Cách thức quản lý tại công trường
4 Tiến độ thi công
5 Máy móc thi công
6 Quản lý, bảo quản nguyên vật liệu tại công trường
7 Các công việc liên quan đến thủ tục, hồ sơ
8 Hao hụt trong thi công
II Rủi ro từ khâu cung ứng
1 Tiếp nhận yêu cầu cấp vật tư
2 Các vấn đề liên quan khác
III Rủi ro từ lập kế hoạch và quản lý dự án
1 Lập kế hoạch, triển khai thực hiện dự án: lập dự toán thi công
2 Các vấn đề liên quan
IV Rủi ro từ chuẩn bị, thực hiện ý tưởng đầu tư
1 Thu thập thông tin đưa vào dự án
2 Hợp đồng liên kết
3 Quá trình đấu thầu dự án, thuê đất
4 Các vấn đề khác
Trang 15II MỘT SỐ RỦI RO ĐIỂN HÌNH TRONG 1 DỰ ÁN XÂY DỰNG
II.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
II.1.1 Chất lượng của dự án chưa cao do độ tin cậy của dự báo và các thông tin ban đầu chưa chính xác
II.1.2 Sự không phù hợp giữa mục tiêu của dự án và tình hình thực tế.
II.1.3 Chọn địa điểm XD không phù hợp.
II.1.4 Rủi ro do lựa chọn kỹ thuật và công nghệ không phù hợp:
Rủi ro do lựa chọn kỹ thuật và công nghệ không phù hợp là một trong những rủi ro lớn đối với dự án
II.1I5 Lựa chọn phương án nguồn vốn gặp nhiều khó khăn, rủi ro
II.1.6 Chất lượng phân tích hiệu quả tài chính và an toàn tài chính của dự án chưa cao II.1.7 Rủi ro do các nguyên nhân về thủ tục hành chính, pháp lý.
II.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư
II.2.1 Các rủi ro ở khâu thiết kế do các nguyên nhân sau:
Do chất lượng công tác thăm dò khảo sát thiết kế chưa cao
Do năng lực của tổ chức thiết kế
Công tác thẩm định và phê duyệt thiết kế còn sai sót
II.2.2 Các rủi ro ở khâu đấu thầu XD mua sắm thiết bị và thi công XD
Do việc tổ chức đấu thầu XD và mua sắm thiết bị chưa tốt
Do quy chế đấu thầu chưa hoàn chỉnh
Do các hiên tượng tiêu cực trong đấu thầu
II.2.3 Các rủi ro ở khâu tiến hành tổ chức thi công Xây dựng công trình:
II.2.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên tác động từ bên ngoài
Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường khí hậu: Do đặc điểm của ngành XD chủ yếu sản xuất ngoài trời trong một thời gian dài nên các yếu tố thời tiết khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện dự án, chất lượng và chi phí của dự án
Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường: Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện dự án.
II.2.3.2 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật
Các rủi ro này liên quan đến việc đầu tư trang bị máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình thực hiện dự án và việc sử dụng các máy móc thiết bị đó.
Rủi ro trong đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị, rủi ro trong việc sử dụng máy móc thiết bị: II.2.4 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao.
II.2.5 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ thủ tục hành chính, pháp lý.
Các rủi ro này có thể hiểu là các nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự thay đổi một số chính sách của nhà nước, các qui định pháp luật, các thủ tục hành chính ảnh hưởng tới khả năng hoàn thành dự án theo kế hoạch
Nhìn chung, các rủi ro trong giai đoạn thực hiện đầu tư đều nằm trong 4 yếu tố: Thời gian - Giá cả - Chất lượng - Sự phối hợp giữa các bộ phận.
II.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa vào khai thác
• Rủi ro không hoàn thành dự án đúng thời hạn.
• Rủi ro không thể chế tạo ra sản phẩm với công nghệ đã có và không đảm
bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật qui định.
• Rủi ro không thể chuyển từ sản xuất thử (nhà mẫu) sang sản phẩm thực tế
mà không có những thay đổi lớn ngoài dự kiến về các nguồn lực huy động.
• Rủi ro do chất lượng của công việc nghiệm thu chưa cao.
• Rủi ro do tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm thay đổi nhu cầu sử dụng hoặc
nhu cầu không như dự kiến ban đầu.
• Rủi ro do cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng và các đối thủ mới
• Rủi ro trong quá trình thẩm định và phê duyệt quyết toán VĐT.
• Rủi ro lớn nhất ở giai đoạn vận hành sau khi bàn giao là không đảm bảo
được các chỉ tiêu hiệu quả đã tính toán khi lập dự án đầu tư do các sự cố
về tự nhiên, về công nghệ và tổ chức sản xuất, về tài chính, về kinh tế và
xã hội.
Trang 16Rủi ro hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng
rủi ro dễ nhận biết đầu tiên là rủi ro tác nghiệp Chẳng hạn: thông tin sai sự thật về khách hàng, về tìnhhình tài chính, tình hình kinh doanh, tính thanh khoản, quản trị điều hành của doanh nghiệp, uy tín củadoanh nghiệp; cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng lập hồ sơ khống để vay vốn; cán bộ ngânhàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận “thù lao”; cán bộ ngân hàng quản lý kháchhàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữlại chi tiêu cá nhân
một loại rủi ro cực kỳ nguy hiểm là rủi ro tín dụng và thanh khoản
Hiện nay, hoạt động cho vay trong các ngân hàng vẫn là chủ yếu, chiếm từ 70% đến 90% tổng tài sản
có và một tỷ lệ tương đương trong tổng thu nhập của hệ thống ngân hàng Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu mặc
dù đã được cải thiện song vẫn ở mức cao và đang có xu hướng tăng lên Sở dĩ có tình trạng này là do
Ba là, nhiều nợ xấu phát sinh do việc chậm cấp ngân sách Nhà nước để giải ngân cho các dự án, đặcbiệt là các dự án xây dựng cơ bản dẫn tới nợ đọng vốn của ngân hàng
lỗi trong khi ghi sổ sách kế toán, lỗi thẻ tín dụng, hay một số thiết bị trong hoạt động ngân hàng bịhỏng Một số sự kiện có thể gây ra tổn thất rất lớn như các hoạt động kinh doanh chứng khoán tráiphép, tham nhũng, làm giả sổ sách hay các yếu tố bên ngoài như thiên tai, hỏa hoạn
Rủi ro con người
Là rủi ro liên quan đến nhân viên của ngân hàng; chẳng hạn như cán bộ ngân hàng thông đồng vớikhách hàng để lập hồ sơ khống để vay vốn, cán bộ ngân hàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay
Trang 17mục đích nhận thù lao, cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi vayngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại chi tiêu cá nhân, hay như nhân viên thiếukinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới hạch toán sai, nhầm lẫn …
Rủi ro hệ thống
Là rủi ro có thể xảy ra như nhập dữ liệu sai, kiểm soát thay đổi kém, kiểm soát dự án kém, lỗi lập trình,lỗi dịch vụ, an ninh hệ thống, sự không phù hợp của hệ thống…
Rủi ro bên ngoài
Là các rủi ro xảy ra bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và thường do các sự kiện củangân hàng khác nhưng ảnh hưởng tác động đến ngành như gian lận và trộm cắp bên ngoài, hỏa hoạn,thiên tai, bố trí thuê ngoài không thành công, biểu tình, bạo loạn …
Rủi ro pháp lý
Là rủi ro từ sự không rõ ràng của các hoạt động pháp lý hoặc không rõ ràng trong việc áp dụng và hiểucác hợp đồng, luật hay quy chế Ở một số nước, rủi ro pháp lý bắt nguồn từ sự không rõ ràng của quanđiểm pháp lý
Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Đối với bản thân ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh tức là thu nhập giảm.Thu nhập giảm làmcho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp khó khăn Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán,rủi ro tíndụng khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn.Các khoản cho vay có thể mấthoặc khó đòi trong khi tiền gửi khách hàng vẫn phải trả lãi, làm mất đi những cơ hội kinh doanh tốtcủa ngân hàng.Nếu rủi ro xảy ra mức độ quá lớn,nguồn vốn của ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khảdụng bị thiếu, lòng tin của khách hàng giảm tất yếu sẽ dẫn tới phá sản ngân hàng
Đối với nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều thành phầnkinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác.Vì vậy,kết quảkinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nóphụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và khách hàng.Hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tếchưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh
tế có nhiều rủi ro.Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn chocác doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã
Trang 18hội.Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng
mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.Giải pháp: Chính phủ buộc phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và từ đây đã đẻ ra không ít hậuquả: lãi suất thực âm, trần lãi suất huy động bị khống chế đến mức 12%/năm, dẫn đến nguồn tiền trênthị trường cấp 1 bị cạn, trong khi không ít ngân hàng đã cho vay lỡ trớn và khả năng trả nợ của doanhnghiệp bị yếu kém Chính phủ và bộ ngành sẽ phải có những động thái điều chỉnh vĩ mô mà trước mắt
là tháo dỡ “vòng kim cô” trần lãi suất
Hoạt động xử lý rủi ro tín dụng của NHTM
- Xử lý các nguyên nhân chủ quan về phía NHTM
+ Tổ chức hợp lý và khoa học quy trình tín dụng theo hướng chặt chẽ và có hiệu quả, tập trung vào bagiai đoạn: nghiên cứu khách hàng, giám sát khách hàng vay và thu nợ
+ Xây dựng chiến lược khách hàng
- Xử lý nợ quá hạn:Khi một khoản cho vay có vấn đề thì không phải NHTM sẽ mất trắng NHTM cầnphải tìm cách thu hồi toàn bộ hoặc một phần khoản vay Có hai sự lựa chọn đối với xử lý nợ quá hạn:khai thác hoặc thanh lý Tuy vậy cần nhấn mạnh ở đây ba nguyên tắc xử lý nợ quá hạn là: chống xoá
Một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng luôn là một hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của NHTM Vì vậy việc phòngngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng
Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phân tích tín dụng
– Đối với khách hàng cá nhân: Cần theo dõi, nắm bắt được thông tin cá nhân của khách hàng một cáchkịp thời, chính xác về: Tuổi tác, trình độ học vấn, công việc đang làm…để có được đánh giá chính xác
về tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng thông qua mô hình điểm số tín dụng đối vớikhách hàng cá nhân