1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Triết lý nhân sinh của người dân nam bộ trong chuyện kể ba phi

119 420 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 839,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, việc kết hợp hài hòa giữa tính uyên bác, khoa học của Triết học với sự mềm mại, uyển chuyển, dí dỏm, giản dị, đời thường qua những câu truyện kể Ba Phi, đồng thời định dạng truy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



LÊ THỊ BÍCH TRANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ

TRONG TRUYỆN KỂ BA PHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



LÊ THỊ BÍCH TRANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ

TRONG TRUYỆN KỂ BA PHI

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRẦN ĐĂNG SINH

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG……… 6

Chương 1 Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong truyện kể Ba Phi - một số vấn đề lý luận và thực tiễn……….6

1.1 Một số khái niệm cơ bản……… 6

1.1.1.Triết lý,Triết lý nhân sinh……… 6

1.1.2 Văn học dân gian và văn học dân gian Nam Bộ……….11

1.1.3 Triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong văn học dân gian………… 17

1.2 Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong Truyện kể Ba Phi 1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong văn học dân gian qua Truyện kể Ba Phi………18

1.2.2 Điều kiện lịch sử - văn hóa ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong văn học dân gian qua Truyện kể Ba Phi……… 29

1.2 Nội dung Triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi……….38

1.2.1 Nội dung Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong văn học dân gian……….38

1.2.2 Nội dung Triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi………42

Tiểu kết chương 1……… 59

Chương 2 Giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong truyện kể Ba Phi………61

Trang 4

2.1.1 Truyện kể Ba Phi thể hiện lối sống gần gũi, chan hòa với thiên nhiên……….61 2.1.2.Truyện kể Ba Phi phản ánh mối quan hệ thân ái đoàn kết giữa con người với con người……… 67

2.2 Hạn chế của triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong Truyện

kể Ba Phi………73

2.2.1 Truyện kể Ba Phi thể hiện tư duy kinh nghiệm của người nông dân Nam Bộ……… 74 2.2.2.Truyện kể Ba Phi phản ánh lối sống tiểu nông của người nông dân Nam Bộ……….75

2.3 Giải pháp phát huy các giá trị triết lý nhân sinh của người dân Nam

bộ trong Truyện kể Ba Phi………77

2.3.1 Nâng cao nhận thức của người dân Nam bộ về triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi……….78 2.3.2 Đưa triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong đó có truyện kể Ba Phi vào trong chương trình các bậc học phổ thông……… 80 2.3.3 Đa dạng hóa hình thức để chuyển tải nội dung triết lý nhân sinh trong truyện kể Ba Phi tới các tầng lớp nhân dân……….83

Tiểu kết chương 2……… 85 KẾT LUẬN………87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, quý thầy, cô là giảng viên Khoa Triết học Trường Đại học Sự phạm Hà Nội, đặc biệt là PGS, TS Trần Đăng Sinh – Người hướng dẫn khoa học

Tôi xin gửi đến quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và cá nhân PGS, TS Trần Đăng Sinh lời cảm ơn và sự trân trọng vì đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học của mình Qua đây, tôi cũng xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thịnh vượng đến quý thầy, cô và gia đình

Lê Thị Bích Trang

Trang 6

hướng dẫn khoa học của PGS, TS.Trần Đăng Sinh

Các tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả

Lê Thị Bích Trang

Trang 7

1 Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb thành phố

Hồ Chí Minh

2 Anh Động (1978), Ven rừng Tràm (tiểu thuyết), Văn nghệ Minh Hải

3 Anh Động (2000), Truyện Ba Phi, Nxb Kim Đồng Hà Nội

4 Anh Động (1994), Chuyện của Bác Ba Phi, Văn nghệ Châu Đốc

5 Nguyễn Chí Bền chủ biên (2001), Tổng hợp Văn học dân Gian Việt Nam, (tập 8), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội

6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo

dục

7 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác - Lênin,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

8 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình Triết học Mác - Lênin,

Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội

9 Trương Chính, Phong Châu (1987), Tiếng cười dân gian Việt Nam,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

10 Hà Châu (1999), Truyện kể Ba Phi – Một sản phẩm đặc sắc vùng

ĐBSC, Nxb Mũi Cà Mau

11 Nguyễn Giao Cư (1998), Truyện nói Trạng, Nxb Đà Nẵng

12 Nguyễn Giao Cư (2001), Giai thoại truyện Trạng, Nxb Trẻ

13 Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,

Nxb Khoa học xã hội

14 Cao Huy Đính (1964), Người anh hùng làng Dóng, Nxb Khoa học

15 Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt

Trang 8

văn

17 Vũ Tố Hảo, Hà Châu (2012), Tư tưởng tiến bộ - triết lý nhân sinh

thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong văn học dân gian, Nxb Thời đại

18 Nguyễn Hùng Hậu (2004), Triết lý trong văn hóa phương Đông, Nxb

Đại học Sư phạm Hà Nội

19 Hoàng Ngọc Hiến (2004), “Mấy tương quan đáng chú ý trong triết lý

nhân sinh người Việt”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (3),

20 Nguyễn Hữu Hiếu (1987), Truyện kể dân gian Nam Bộ, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh

21 Nguyễn Hữu Hiếu (2004), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua

chuyện tích và giả thuyết, Nxb Khoa học Xã hội

22 Tô Duy Hợp (2005), Giá trị bền vững của Triết lý dân gian trong

toàn cầu hóa, Hội thảo Quốc tế Toàn cầu hóa: Những vấn đề triết học

ở châu Á - Thái Bình Dương, Viện Triết học, Hà Nội

23 Nguyễn Khánh Hoàng (2016), Triết lý nhân sinh của người dân Nam

Bộ trong đờn ca tài tử, Luận văn Thạc sĩ khoa học Triết học, Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

24 Vũ Hùng (1994), “Tìm hiểu những yếu tố triết học (hay triết lý dân

gian) trong tục ngữ Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (1)

25 Dr Nguyễn Đình Hòa (1967), Vietnamse- English Student Dictionary

(Revised and Enlarged Edition), Nxb Saigon

26 Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Vũ Quang Nhơn (2003), Văn

học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục

27 Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (1995) chủ biên, Các vùng văn hóa

Trang 9

Văn hóa - Thông tin, Hà Nội

29 Huỳnh Khánh (2002), Truyện Ba Phi, một di sản văn hóa phi vật thể

Cà Mau, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội

30 Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh

31 Thái Văn Long (2001), Lịch sử và địa lý Cà Mau (tập 2), Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội

32 Đặng Văn Lung, Hoàng Văn Trụ (1991), Trạng cười Việt Nam, Nxb

35 Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Cần Thơ (1997), Văn học dân gian Đồng

bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục

36 M.F.ôp-xi-a-nhi-côp (1987), Mỹ học Mác-Lênin (Bản dịch của Phạm

Văn Bích), Nxb Văn hóa, Hà Nội

37 C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội

38 C.Mác - Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc

gia

39 Bùi Văn Nguyên (1961), Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục

40 Bùi Mạnh Nhị (1985), Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2

41 Bùi Mạnh Nhị (2003), Văn học dân gian những công trình nghiên

cứu, Nxb Giáo dục

42 Nguyễn Thị Nhung (2006), Tìm hiểu truyện Ba Phi vùng Tây Nam

Trang 10

43 Phạm Xuân Nam (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt

yếu, Nxb Khoa học xã hội

44 Sơn Nam (1970), Văn minh miệt vườn, Nxb An Tiêm Sài Gòn

45 Sơn Nam (1985), Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa, Nxb

TP.HCM

46 Sơn Nam (1992), Cá tính miền Nam, tái bản, Nxb Văn hóa

47 Sơn Nam (1994), Đình miếu và lễ hội dân gian, tái bản Nxb Đồng Tháp

48 Sơn Nam (2005), Nói về Miền Nam và thuần phong mỹ tục Việt Nam, tái

bản, Nxb Trẻ

49 Nhà xuất bản Tiến Bộ và Nhà xuất bản Sự Thật (1975), Từ điển Triết

học, Nxb Tiến Bộ, Liên Xô

53 Nguyễn Văn Phúa (1957) sưu tầm và phân tích, Trạng Lợn, Trạng

Quỳnh, Nxb Minh Đức Hà Nội

54 Trần Thanh Phương (1986), Xứ sở phù sa, Nxb Cửu Long

55 Phan Quang (1985), Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Mũi Cà Mau

56 Trương Hữu Quýnh (2004) chủ biên, Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến

1858, Nxb Đại học Sư phạm

57 Nguyễn Đức Siêu (2003), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học Sư

phạm

Trang 11

gia Hà Nội

60 Hồ Sỹ Quý (1998), Mấy suy nghĩ triết học và triết lý, Tạp chí Triết học

61 Tài liệu Hội thảo khoa học “Truyện Ba Phi và Văn hoá dân gian Nam

Bộ” ngày 28/11/2002 tổ chức tại thành phố Cà Mau

62 Nguyễn Phương Thảo (1997), Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác

thảo, Nxb Giáo dục Hà Nội

63 Đoàn Quang Thọ, Phạm Văn Sinh (1997), Đại cương lịch sử triết học,

Nxb Thống kê, Hà Nội

64 Trần Ngọc Thêm chủ biên (2004), Văn hóa học và văn hóa Việt Nam,

Nxb Đại học sư phạm

65 Trần Ngọc Thêm (2013), Tính cách văn hóa Nam Bộ như một hệ

thống, Hội thảo vùng đất Nam Bộ thời kỳ cận đại, Nxb Cần Thơ

66 Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội

67 Ngô Đức Thịnh chủ biên (1990), Quan niệm về Folklore, Nxb Khoa

học xã hội

68 Phan Ngọc Thu (1985), Thơ ca dân gian, Nxb Văn hóa thông tin

69 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - khoa Triết (2016), Triết lý nhân sinh

trong văn hóa Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị

70 Phan Anh Tuấn (1990), Những câu chuyện lý thú về Bác Ba Phi, Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh

71 Phan Anh Tuấn, Bác Ba Phi kể chuyện, Nxb Mũi Cà Mau

72 Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục

Hà Nội

73 Nguyễn Việt Tùng (1978), "Những mẫu chuyện về Bác Ba Phi", Báo

Trang 12

bản

75 Trần Từ (1994), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb

Khoa học xã hội Hà Nội

76 Thái Duy Tuyên (2007), Triết học giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học sư

phạm

77 Võ Xuân Trang (1984), Chuyện Trạng Vĩnh Hoàng, tập 1, Nxb Sở văn

hóa và thông tin Bình Trị Thiên

78 Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn

hóa Thông tin

79 Nguyễn Như Ý (1998), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin,

Hà Nội

80 Phạm Thu Yến (chủ biên), Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà (2008),

Giáo trình Văn học dân gian, Nxb Đại học Sư phạm

TẠP CHÍ (xếp theo thứ tự chữ cái tên tác giả)

1 Nguyễn Bá (2002), Bác Ba Phi – con người và tác phẩm, Cà Mau

2 Nguyễn Chí Bền (1999), Sự vận động của Truyện Trạng trong không gian

và thời gian, Tạp chí Đông Nam Á số 2

3 Trần Đức Các (1978), Về việc điều tra văn học dân gian từ một số điểm

đến việc nghiên cứu một thể loại, Tạp chí Văn hóa số 3

4 Hà Châu (1971), Từ nhân vật cổ tích đến nhân vật truyện cười, Tạp chí văn học số 5

5 Hà Châu (1976), Giới thiệu về một nguồn văn học dân gian: Truyện kể

miền Tây Nam, Báo Nhân dân số ra ngày 30 tháng 6 năm 1976

6 Trần Tấn Công (2002), Vài suy nghĩ về Bác Ba Phi và những câu truyện

kể, Cà Mau

Trang 13

độc đáo ở Nam Bộ, Cà Mau

9 Anh Đào (2002), Bác Ba Phi trong suy nghĩ của lớp trẻ, Cà Mau

10 Nguyễn Hữu Hiếu (2002), Tính cách nông dân Nam Bộ trong truyện kể

Bác Ba Phi, Cà Mau

11 Trương Thanh Hùng (2002), Bác Ba Phi và tinh thần lạc quan dân tộc,

Cà Mau

12 Tô Hoàng (2002), Truyện Ba Phi dưới góc nhìn điện ảnh, Cà Mau

13 Trần Hoàng (2002), Những sắc thái độc đáo của tiếng cười dân gian

Nam Bộ qua truyện kể Bác Ba Phi, Cà Mau

14 Huỳnh Khánh (2002), Truyện Ba Phi, một di sản văn hóa phi vật thể của

Cà Mau, Cà Mau

15 Đinh Gia Khánh (1997), Văn học dân gian địa phương và vai trò của

nghệ nhân dân gian, Tạp chí văn hóa số 6 – 1997

16 Võ Trường Kì (2002), Tiếng cười Bác Ba Phi còn vang mãi, Cà Mau

17 Nguyễn Xuân Kính (2002), Cảm hứng lạc quan trong văn học nghệ thuật

dân gian, Tạp chí văn học dân gian số 4 – 1984

18 Vưu Nghị Lực (2002), Tâm thế văn hóa ứng xử với thiên nhiên trong

chuyện kể Bác Ba Phi, Cà Mau

19 Bùi Mạnh Nhị (2002), Rừng cười Ba Phi nơi đất rừng Phương Nam, Cà

Mau

20 Lê Minh Quốc (1998), Bác Ba Phi – một nông dân Cà Mau đã trở thành

huyền thoại, Báo ảnh Đất Mũi số 4 (tháng 5 năm 1998)

21 Trịnh Sâm (2002), Nghệ thuật tổ chức văn hóa bản trong truyện cười Ba

Phi, Cà Mau

22 Phan Anh Tuấn (2002), Ba Phi – nhân vật xứng danh với những câu

Trang 14

24 Hoàng Tiến Tựu (1977), Vấn đề phân vùng và ý nghĩa phương pháp luận

của nó, TCDTH số 6-1977

25 Nguyễn Quốc Văn (2002), Bác Ba Phi không nói dóc, Cà Mau

26 Trần Quốc Vượng (2002), Ba Phi – U Minh – Cà Mau và tâm lý ngoa dụ

của con người, Cà Mau

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Triết lý nhân sinh là một nội dung đặc thù của văn hóa Việt, triết lý đó thể hiện đậm nét trong Folklore (văn hóa dân gian), mà văn học là một bộ phận cấu thành

Văn học dân gian là một loại sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân Nhưng bên cạnh đó, văn học dân gian còn có những yếu tố nghệ thuật khác ngoài ngôn từ Những yếu tố ấy thuộc loại hình nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thời gian và không gian và được tiếp nhận bằng cả thính giác lẫn thị giác Văn học dân gian ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử loài người và được nhân dân sáng tác, lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng

Trong kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng, Truyện kể Ba Phi đã trở thành một hiện tượng văn hóa đặc sắc, với những sắc thái biểu hiện cái hài nghệ thuật khá độc đáo Chính vì vậy, những Truyện kể Ba Phi - phần lớn do chính Ba Phi kể, một số do người khác dựa theo lối kể của Ba Phi mà sáng tác nên - đã được lưu truyền sâu rộng khắp vùng Nam Bộ Tuy nhiên, cho đến nay Truyện kể Ba Phi vẫn chưa được nghiên cứu một cách đồng bộ Đặt truyện Ba Phi vào hệ thống truyện cười xoay quanh một nhân vật ta thấy rằng: Trạng Quỳnh và Trạng Lợn được tập trung nghiên cứu nhiều hơn còn truyện Ba Phi và một số truyện Trạng cùng

hệ thống như Ông Ó, Thủ Thiệm… ít được chú ý nghiên cứu một cách qui mô

và dưới cái nhìn Folklore học

Qua những câu Truyện kể Ba Phi đã sưu tầm được, ngoài việc ta có thể

hình dung được một miệt đất rừng U Minh trù phú “chim kêu như hát bội, cá lội vàng tợ mắm nêm” mà còn nêu bật lên tính cách của người Nam Bộ với những nét nổi bật như tinh thần trọng nghĩa khinh tài, tính bộc trực, nếp sống hào phóng và lòng hiếu khách của những con người phóng khoáng, lạc quan

Trang 16

khẩn hoang mở đất và kiên cường đánh giặc để bảo vệ mảnh đất của mình

Bên cạnh hiện thực xã hội sinh động đó, ta lại thấy ở Truyện kể Ba Phi những

tố chất dân gian đặc thù Nam Bộ với tiếng cười hóm hỉnh, hồn hậu, thoải mái được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn trong cuộc sống, làm bật lên tiếng cười nhằm mục đích mua vui giải trí và phê phán thói hư tật xấu trong xã hội đương thời Do vậy, nghiên cứu truyện kể Ba Phi từ góc độ triết lý nhân sinh không chỉ có ý nghĩa đóng góp về mặt tư liệu cho kho tàng truyện Trạng Việt Nam dưới một góc nhìn mới mà còn góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của người dân Nam Bộ nói riêng và của người Việt nói chung Hơn nữa, việc kết hợp hài hòa giữa tính uyên bác, khoa học của Triết học với

sự mềm mại, uyển chuyển, dí dỏm, giản dị, đời thường qua những câu truyện

kể Ba Phi, đồng thời định dạng truyện Trạng Nam Bộ dưới góc nhìn Folklore học sẽ nâng giá trị văn hóa dân tộc lên một tầm cao mới và đó chính là lý do

tôi chọn đề tài: Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

2 Lịch sử nghiên cứu

Liên quan đến vấn đề Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi, đã có những công trình nghiên cứu sau: Trương Chính -

Phong Châu, Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1987 Nguyễn Giao Cư, Truyện nói Trạng, Nxb Đà Nẵng, 1998 Nguyễn Hữu Hiếu, Truyện kể dân gian Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987 Vũ Ngọc Khánh, Kho tàng truyện cười Việt Nam (tập 3), Nxb Văn hóa - Thông

tin, Hà Nội, 1995 Thạch Phương - Hồ Lê - Huỳnh Lứa - Nguyễn Quang Vinh

(1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh M.F.Ôp-xi-a-nhi-côp, Mỹ học Mác-Lênin (Bản dịch của Phạm Văn Bích), Nxb Văn hóa, HN, 1987 Phan Anh Tuấn, Những câu chuyện lý thú về

Bác Ba Phi, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990 Khoa ngữ văn trường ĐHSP

Cần Thơ (1997), Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long Nxb Giáo dục

Trang 17

Đề tài luận văn trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa những kết quả

đã nghiên cứu, nghiên cứu triết lý nhân sinh qua những câu truyện kể Ba Phi

để thấy được tính cách của người Nam Bộ với những nét nổi bật như tinh thần trọng nghĩa khinh tài, tính bộc trực, nếp sống hào phóng và lòng hiếu khách, lạc quan khẩn hoang mở đất và kiên cường đánh giặc để bảo vệ mảnh đất của mình, dùng tiếng cười hóm hỉnh, hồn hậu và thoải mái được xây dựng trên cơ

sở mâu thuẫn trong cuộc sống, làm bật lên tiếng cười nhằm mục đích mua vui giải trí và phê phán thói hư tật xấu trong xã hội đương thời

Luận văn góp phần một mặt, làm phong phú thêm cho kho tàng văn học dân gian Việt Nam, làm thay đổi nhận thức và cách nhìn nhận đánh giá về các giá trị văn hóa truyền thống nói chung, mặt khác, phản ánh một cách khá sinh động triết lý nhân sinh về thiên nhiên và con người ở địa đầu phương Nam Tổ quốc, đồng thời làm sáng tỏ cơ bản một luận điểm đó là: Văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt Nam" Vì vậy, qua truyện kể Ba Phi của văn học dân gian Nam Bộ thể hiện rất rõ ý nghĩa và giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc Những gì hướng về và vì sự sống của con người đều chứa đựng tính nhân sinh

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những nội dung cơ bản về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi, luận văn rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống của người dân Nam Bộ và đề ra một số giải pháp

cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa đặc trưng truyền thống của người dân Nam Bộ qua Truyện kể Ba Phi

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu của đề tài là Triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Triết lý nhân sinh của người dân

Trang 18

Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

5 Giả thuyết khoa học

Trong bối cảnh hiện nay, nếu biết khai thác tốt giá trị triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi thì không những góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân gian, văn hóa ứng xử và những giá trị truyền thống mang đậm bản chất Nam Bộ mà còn nâng giá trị văn hóa dân tộc lên một tầm cao mới

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở hình thành và nội dung triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

Đề ra giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về vấn đề triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

8 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và

chủ nghĩa duy vật lịch sử

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khoa học để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu như: phương pháp logic - lịch sử; phân tích và tổng hợp; so sánh; trừu tượng hóa và khái quát hóa; điền dã và chú giải tài liệu

Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

9.1 Luận điểm cơ bản

- Triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi phản ánh đời sống vật chất và sinh hoạt vật chất, có ý nghĩa định hướng cho văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ trong lịch sử

- Triết lý nhân sinh trong Truyện kể Ba Phi góp phần làm sâu sắc giá trị văn hóa truyền thống của người dân Nam Bộ cần phải được bảo tồn và phát huy

Trang 19

trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay

9.2 Đóng góp mới của luận văn

- Một là, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi

- Hai là, tiếp cận văn hóa dân gian Nam Bộ trong Truyện kể Ba Phi từ góc độ triết học, rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống của người dân Nam

Bộ, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị nhân sinh của người dân Nam bộ nói riêng và của dân tộc nói chung

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục làm 2 chương và 4 tiết

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ TRONG TRUYỆN KỂ BA PHI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.Triết lý,Triết lý nhân sinh

Trước tiên để tiếp cận hai khái niệm Triết lý và triết lý nhân sinh chúng ta cần phân biệt giữa Triết lý và Triết học

Trang 20

Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên ở Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp, Triết học xuất hiện từ hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống của họ Từ "triết học" có nguồn gốc:

- Ở phương Đông, đối với người Trung Quốc cổ đại, chữ "triết" xuất hiện trong Kinh thi với nghĩa là “trí” tức là hiểu biết sâu rộng Còn người Ấn Độ, triết học được hiểu là darshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải

- Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp là Philôsôphia-nghĩa là yêu mến, ngưỡng mộ sự thông thái Như vậy, Philôsôphia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người

Tuy nhiên, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học luôn được xem

là hình thái cao nhất của tri thức và những nhà triết học là những nhà thông thái

có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của thế giới

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau và mỗi định nghĩa tùy theo cách tiếp cận ở từng góc độ khác nhau mà nhấn mạnh chức năng, đối tượng, nhiệm vụ của triết học khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con

Trang 21

người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó và những quan điểm mà triết học đưa ra phải là những quan điểm khách quan

"Triết lý", theo Giáo sư Hoàng Trinh: "Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những tư tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày Có những dân tộc đã có những triết lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống khái niệm của nó" [43, tr.21]

Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Triết lý được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là

lý luận triết học, thứ hai là quan niệm chung và sâu sắc của con người về vấn đề nhân sinh và xã hội [30, tr.1707]

Ở những giai đoạn phát triển của lịch sử, triết lý là sự suy ngẫm, đúc kết, tổng kết những điều cơ bản nhất về các mối quan hệ trong đời sống thực tế, mọi mặt của cộng đồng, sự chiêm nghiệm rút ra những quy luật khách quan của tự nhiên, phục vụ cho thực tiễn của đời sống Triết lý không chỉ là những kết luận được rút ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nhất định mà triết lý còn là những tư tưởng, quan điểm phản ánh bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh hoạt mọi mặt của cá nhân hay cộng đồng theo hướng khẳng định niềm tin, giá trị, đạo lý có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ hành động của con người trong những hoàn cảnh nhất định Nói cách khác, triết lý là kết quả của sự suy ngẫm chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm và luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội

Trang 22

Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống cũng như trong hoạt động thực tiễn [69, tr.14]

Triết lý làm rõ ràng qua ngôn ngữ những suy nghĩ của con người, nhận thức được rõ họ đang suy nghĩ điều gì, các niềm tin, thái độ, cách nhìn nhận của

họ về bản thân hay thế giới là như thế nào Triết lý là nỗ lực xây dựng một thế giới quan thống nhất làm cơ sở cho suy nghĩ và hành động Thế giới quan này phải mang một viễn kiến sâu sắc để mang lại ý nghĩa lớn lao cho hành động Nhưng như thế vẫn chưa đủ, triết lý không chỉ đưa ra một thế giới quan, mà nó phải được hỗ trợ bởi các lập luận Lập luận là hình thức chặt chẽ để bảo vệ một triết lý trước sự tấn công của người khác, cũng như để thuyết phục người khác khi họ chưa chấp nhận về thế giới quan của mình

Sự hình thành một triết lý thường có ý thức, nhưng cũng có thể vô thức

Có người diễn đạt dễ dàng triết lý của bản thân, có người không làm nổi, do trình

độ hoặc triết lý chưa thật định hình Dù sao, nghĩa chữ “triết” ở đây cũng tương

tự như trong Triết Học - đều hàm ý đẹp, sáng láng, cao minh Khác nhau là triết học lấy tiêu chuẩn khách quan để đánh giá; còn triết lý đưa ra những luận điểm một cách chủ quan Có triết lý của cá nhân, của nhóm, tầng lớp… thậm chí của

cả dân tộc Một dân tộc trải nhiều biến cố, nếu vẫn tồn tại, sẽ rút ra một triết lý phù hợp để tồn tại lâu dài, thoát bị đồng hóa hoặc bị diệt Lúc này, triết lý trở thành minh triết Lịch sử đã ghi nhận rất nhiều Minh triết như của Phật, của đức Giêsu, đức Ala…Và đã được rất nhiều người tâm đắc và được xem như một tín ngưỡng của một tôn giáo

Theo quan điểm của chúng tôi triết lý là một hoạt động rất tự nhiên của con người, được đúc kết qua kinh nghiệm và chỉ qua kinh nghiệm mới hiểu được, giúp chúng ta nhận thấy rằng: triết lý vừa là thể hiện tư tưởng linh động vừa là suy tư về tư tưởng linh động ấy.Triết lý vừa là hành động vừa là thái độ giải thích

Trang 23

cho hành động hay cụ thể, triết lý là những quan điểm về con người và những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người, được con người đúc kết qua kinh nghiệm sống và phát triển hàng ngày

Từ những căn cứ trên chúng ta cần xác định rõ hai khái niệm triết học và triết lý vì ở một số quốc gia không có sự phân chia rõ ràng giữa hai khái niệm này, thậm chí còn đồng nhất hai khái niệm này thành một Có nhiều quan điểm đồng nhất giữa triết học và triết lý, xem triết học và triết lý là hai khái niệm có nội hàm và ngoại diên giống nhau, xem triết học và triết lý là hai từ đồng nghĩa, tức là chỉ khác nhau về từ ngữ chứ không khác nhau về nghĩa Tại Việt Nam chúng ta vẫn có sự phân biệt giữa triết học và triết lý; nhưng tài liệu phân biệt rạch ròi hai khái niệm đó dường như chưa có và vẫn còn nhiều tranh luận về hai khái niệm này Liên quan đến vấn đề này, TS Nguyễn Đình Hòa trong cuốn Từ điển Việt – Anh có phân biệt triết học là philosophy (the study – nghiên cứu) với triết lý là philosophy (of a man or religion – của một người hoặc một tôn giáo) Triết lý còn được dùng như một động từ - to philosophize [25, tr 610]

Làm rõ sự khác biệt và mối quan hệ giữa triết học với triết lý, GS.TS Phạm Xuân Nam viết “Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học… nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học, bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó tin theo”[43, tr.23-24]

Cũng liên quan đến vấn đề này có quan điểm cho rằng: hai từ triết học và triết lý ở Việt Nam là hai khái niệm khác nhau chứ không phải hai từ đồng nghĩa [23, tr.23] Không như triết học, triết lý rất đa dạng, đủ cỡ, đủ mức, nếu triết học hình thành do nghiên cứu thì triết lý do trải nghiệm trong cuộc sống nhằm ứng phó tối ưu với một thực tiễn Tùy góc độ, một thực tiễn có thể sinh nhiều triết lý

Trang 24

Nếu lý luận triết học khó thay đổi, thì triết lý có thể thay đổi rất nhanh khi thực tiễn thay đổi

Do vậy, qua nghiên cứu chúng tôi một lần nữa khẳng định hai từ triết học

và triết lý ở Việt Nam là hai khái niệm khác nhau chứ không phải là hai từ đồng nghĩa Và triết lý được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, có triết lý nhân sinh, triết lý về vũ trụ, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý đạo đức, triết lý pháp luật

Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, triết lý nhân sinh được hiểu như sau:

Nhân sinh (Nhân: người, Sinh: sống) là cuộc sống của con người Nhân sinh quan (Quan: xem xét) là lập trường của một người trong việc nhận xét mọi mặt của cuộc sống, nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống của con người [30, tr.1317]

Triết lý nhân sinh theo nghĩa rộng là những quan niệm về cuộc sống của con người và lý giải cụ thể lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa giá trị cuộc sống của con người, đưa ra những chuẩn mực phù hợp để con người cần phải sống như thế nào cho xứng đáng

Triết lý nhân sinh theo nghĩa hẹp, là hệ thống quan điểm của con người về bản thân, về mối quan hệ của bản thân con người với tự nhiên và mối quan hệ của con người với con người trong xã hội Bên cạnh đó, triết lý nhân sinh còn thể hiện nhu cầu, lợi ích, khát vọng, hoài bão, mong ước của con người về tự nhiên cũng như về các mối quan hệ giữa những con người với nhau Triết lý nhân sinh

có tác động to lớn đến đời sống con người, nó trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội

"Triết lý nhân sinh là những quan niệm, quan điểm chung của một người, một cộng đồng người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống, là những quan niệm của con người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng

Trang 25

sống của con người" [69, tr.15].

Như vậy, triết lý nhân sinh là những tư tưởng, quan điểm, triết lý của con

người về những vấn đề xoay quanh cuộc sống của con người và được chính con người khái quát lên trong suốt quá trình sống và phát triển lâu dài của con người

1.1.2 Văn học dân gian và văn học dân gian Nam Bộ

Văn học dân gian

Để có được thuật ngữ "văn học dân gian" là phải trải qua cả một quá trình lịch sử phát triển kéo dài từ cách gọi tự phát trong dân gian - những người góp phần sáng tạo ra văn học dân gian - cho đến cách gọi định danh mang tính khoa học hơn của những nhà nghiên cứu Từ thế kỷ XX trở về trước trong các tài liệu sưu tầm về bộ phận văn học này còn lại, chỉ lưu hành những thuật ngữ gọi riêng lẻ từng thể loại văn học dân gian như: truyện đời xưa, truyện cười, truyện cổ tích

Mà thật sự chưa có một sự giới thuyết khoa học nào về những tên gọi này Người

sử dụng chỉ mặc nhiên coi tên gọi về một thể loại nào đó có tính bao quát về một

bộ phận văn học truyền miệng trong dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác mà thôi

Đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những khái niệm liên quan đến văn học dân gian như: Văn chương bình dân, văn chương đại chúng, văn học đại chúng, văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học truyền miệng, sáng tác truyền miệng dân gian, sáng tác dân gian, văn nghệ dân gian Tuy nhiên, trong ngành nghiên cứu văn học dân gian sau này, các thuật ngữ ấy không có tính bao quát những đặc trưng quan trọng của văn học dân gian và điều đáng nói ở đây

là những thuật ngữ ấy đã gây ra hiện tượng sử dụng khái niệm không thống nhất, gây nhiều khó khăn phức tạp trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu

Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu có những thuật

Trang 26

ngữ được sử dụng dịch từ "Folklore" như văn hóa dân gian, văn nghệ dân gian, văn học dân gian Folklore làm một thuật ngữ tiếng Anh (Folk: nhân dân - lore: hiểu biết trí tuệ) được William J.Thoms - nhà nhân chủng học người Anh sử dụng lần đầu năm 1846 và sau đó thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi năm 1889 Theo ông, Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn của các thời trước [67, tr.39] Thuật ngữ này, sau đó được chuyển dịch sang tiếng Việt thành văn hóa dân gian (tương ứng với thuật ngữ Folklore theo nghĩa rộng của từ này) bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân dân (chủ yếu là văn hóa dân gian truyền thống) Bên cạnh đó, Folklore còn được hiểu

là văn nghệ dân gian (hay Folklore văn nghệ) bao gồm cả nghệ thuật tạo hình (như hội họa, điêu khắc, nặn tượng ) và nghệ thuật biểu diễn hay diễn xướng (như văn học, âm nhạc, vũ đạo, sân khấu dân gian ) ở đây, xin được sử dụng thuật ngữ Folklore theo cách dịch Folklore văn học - đó là văn học dân gian Đây là thành phần cốt lõi phát triển mạnh mẽ và lâu bền nhất của nghệ thuật diễn xướng dân gian bao gồm các loại sáng tác dân gian có thành phần nghệ thuật ngôn từ (như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, tục ngữ, ca dao, dân ca, câu đố )

Trong "Giáo trình văn học dân gian Việt Nam", nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn xem tác phẩm văn học dân gian trước hết là những tác phẩm nghệ thuật và những hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm

mỹ Tuy nhiên, cách định nghĩa này ít nhiều chưa phân biệt được những đặc trưng

cơ bản của văn học dân gian Trước hết, chúng ta có thể định nghĩa theo kiểu chiết

tự khái niệm, theo đó "Văn học" chỉ bộ phận sáng tác nghệ thuật bằng chất liệu ngôn từ, còn "dân gian" nêu ra mối quan hệ giữa nghệ thuật ngôn từ với các loại hình nghệ thuật khác nhau (Âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, môi trường diễn xướng )

Trang 27

và văn học dân gian dùng chỉ những thể loại sáng tác dân gian trong đó có thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức phần "văn học" chiếm vị trí quan trọng hơn nhưng bao giờ nó cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác)

Trong quá trình vận động lịch sử, các yếu tố nhận thức tư tưởng hay tình cảm và thẩm mỹ trong văn học không thể tách rời nhau và là các yếu tố cấu thành tính thống nhất hữu cơ của một tác phẩm, một thể tài và rộng hơn là một loại hình văn học (sự phân biệt các nghệ thuật ngữ loại hình, thể tài có lúc nói gộp hai từ thành thể loại và hình thức phô diễn hay trình diễn theo ước lệ của người viết) Các yếu tố này vừa định hình vừa biến chuyển trong mối quan hệ gắn bó ấy, theo tình hình sinh hoạt thực tiễn, trình độ tư duy và nhận thức về hiện thực của nhân dân cùng những vốn ngôn ngữ và văn hóa chung mà dân tộc và thời đại đã tích lũy được, làm cho sáng tác dân gian cũng hình thành và biến chuyển theo thành những loại hình và thể tài văn học truyền thống

Sáng tác dân gian có những đặc trưng lịch sử chung với văn học viết như trên nhưng nó khác văn học viết với những đặc điểm sau:

Thứ nhất, sáng tác dân gian là một loại văn học gắn liền với những hoạt động thực tiễn và trình diễn nghệ thuật ngay trong môi trường sống tự nhiên hằng ngày của quần chúng nhân dân

Thứ hai, sáng tác dân gian được bảo tồn và lưu truyền qua trí nhớ, miệng

kể, lời hát của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều thời, nên rất linh hoạt, có nhiều biến dạng, nhiều dị bản, chỉ đến khi nào đạt tới những khuôn dạng phổ biến làm thõa mãn cuộc sống và tâm lý chung của một vùng, một thế hệ, một loại người, một tộc người Hay chỉ đến khi nào được ghi chép hoặc in thành văn bản hoặc phát huy vào trong văn học bác học thì nó mới được ổn định Nhưng sự ổn định này chỉ là tương đối mà thôi, bởi vì cuộc sống và tâm lý chung ấy vốn không phải bất

Trang 28

di dịch mà biến đổi trong lịch sử, khiến cho phương thức sáng tác và lưu truyền văn học dân gian cũng biến đổi theo

Thứ ba, sự vận động lịch sử của văn học dân gian có thể diễn đạt thành một sự đan dệt, thâm nhập lẫn nhau của mấy quá trình chuyển hóa biện chứng giữa các mặt quan hệ: quá trình địa phương hóa và phổ biến hóa thành những

dị bản đặc trưng, quá trình tổ hợp và phân hóa các yếu tố thuộc về sinh hoạt thực tiễn, bộc lộ văn học và trình diễn nghệ thuật thành những thể loại khác nhau, quá trình giao lưu, kế thừa và phát huy lẫn nhau giữa sự sáng tác cá nhân và sự sáng tác tập thể, giữa phương thức ghi chép thành văn và phương thức lưu truyền bằng miệng được phản ánh vào trong sự cấu thành sáng tác dân gian

Thứ tư, cả ba quá trình này chỉ là ba mặt gắn bó hữu cơ của một quá trình vừa ổn định thành những yếu tố truyền thống vững bền, trùng lắp, vừa biến đổi thành những yếu tố truyền thống bền vững, trùng lắp, vừa biến đổi thành những yếu tố cách tân liên tục ở trong sự phát triển của sáng tác dân gian

Những đặc điểm trên đây khiến cho văn học dân gian có một quá trình phát triển đa dạng và phức tạp mà khoa học nghiên cứu sáng tác dân gian ở nước

ta vốn phát triển muộn vì ý thức chậm về những đặc điểm đó của đối tượng, nên cho đến nay chưa thể chiếm lĩnh được nhiều tài liệu lịch sử chính xác

Ở đây, ta có thể mượn sự đúc kết của Hoàng Tiến Tựu trong "Giáo trình văn học dân gian" để có một cái nhìn bao quát về lịch sử khái niệm văn học dân gian:

Một (1), văn học dân gian là thành phần ngôn từ ở trong những sáng tác dân gian mang tính nguyên hợp Ngôn từ vừa là bộ phận của nghệ thuật diễn xướng dân gian vừa có tính độc lập tương đối

Hai (2), văn học dân gian chỉ là những sáng tác ngôn từ có giá trị nghệ thuật

và giá trị văn học

Trang 29

Ba (3), văn học dân gian chỉ là một trong những thành tố của nghệ thuật diễn xướng (hay nghệ thuật biểu diễn), một loại nghệ thuật tổng hợp bao gồm nhiều thành tố

Theo Hoàng Tiến Tựu, ý kiến (2) và (3) không xác đáng (vì hai luồng ý kiến ấy hoặc đánh đồng việc nghiên cứu văn học dân gian với khoa nghiên cứu văn học hoặc phủ nhận vai trò của ngôn từ như một chỉnh thể độc lập) mà chỉ có ý kiến (1) là hợp lý hơn cả Nói một cách ngắn gọn, văn học dân gian là một bộ phận của sáng tác dân gian, là nghệ thuật ngôn từ sinh thành và phát triển trong đời sống của nhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể Tuy nhiên, để bám sát hơn thực tế, tại bài "Đại cương về văn học dân gian" ở chương trình lớp 10 (sách giáo khoa đã được hợp nhất - Nxb Giáo dục - 2000) cũng có định nghĩa về văn học dân gian là một thuật ngữ vốn được chuyển dịch từ Trung Quốc - "Dân gian văn học" - có nghĩa là văn học ở trong, ở giữa nhân dân Văn học dân gian là những sáng tác truyền miệng do nhân dân sáng tác, được nhân dân sử dụng, tiếp nhận, lưu truyền Văn học dân gian là một bộ phận của nghệ thuật dân gian (văn nghệ dân gian gồm có: văn học dân gian, kịch hát, múa rối, nhạc múa dân gian, mỹ nghệ, điêu khắc ) và nghệ thuật dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian Trong đó văn học dân gian được coi là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ, ở đây là ngôn từ nói - văn học dân gian có những đặc điểm riêng về lịch sử phát sinh và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác lưu truyền, về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật

Bản chất xã hội của văn học dân gian là trả lời cho các câu hỏi: ai là tác giả của những sáng tác văn học dân gian và văn học dân gian nói lên điều gì? Bản thân thuật ngữ văn học dân gian đã nói lên rằng văn học dân gian do quần chúng nhân dân làm ra Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Quần chúng là người sáng tạo, công nông là người sáng tạo Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa Những câu tục ngữ,

Trang 30

những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn" (Hồ Chí Minh - trích phát biểu tại hội nghị cán bộ văn hóa 1958) V.I.Lênin lại coi sáng tác truyền miệng dân gian "là sáng tác chân chính của nhân dân lao động" Văn học dân gian thể hiện bản sắc riêng, độc đáo về nội dung, đặc sắc về nghệ thuật, đề cập đến những vấn đề thân thiết đối với quần chúng nhân dân và lý giải theo cách nhìn, cách cảm của họ Vì thế, văn học dân gian phản ánh thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh của nhân dân lao động, mang nội dung dân chủ và tính nhân văn sâu sắc

Từ đó, có thể hiểu rằng: Văn học dân gian là toàn bộ những sáng tác theo phương thức truyền miệng và tập thể của nhân dân lao động, chủ yếu là của nông dân trong cuộc sống Văn học dân gian đã phản ánh hoạt động, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân qua lịch sử dựng nước và giữ nước

Từ đó có thể đi đến cách hiểu về văn học dân gian Nam bộ: "văn học dân gian Nam Bộ là toàn bộ những sáng tác theo phương thức truyền miệng và tập thể của người dân Nam Bộ trong cuộc sống Văn học dân gian Nam Bộ phản ánh hoạt động, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và lý tưởng thẩm mỹ của người dân Nam Bộ qua các thời kỳ đấu tranh và phát triển"

1.1.3 Triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong văn học dân gian

"Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ trong văn học dân gian là những tư tưởng, quan điểm, triết lý của người dân Nam Bộ về những vấn đề xoay quanh cuộc sống của con người và được chính người dân Nam Bộ khái quát, sáng tác lưu truyền theo phương thức truyền miệng trong cộng đồng thông qua những sáng tác dân gian để phản ánh hoạt động, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và lý tưởng thẩm mỹ qua các thời kỳ lịch sử"

1.2 Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong

Trang 31

Truyện kể Ba Phi

Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ rất phong phú, đa dạng và được thể hiện trong nhiều mặt của cuộc sống: từ cách ăn, mặc, ở, tín ngưỡng, tôn giáo hay cách đối nhân, xử thế Từ chính trong cuộc sống với những đặc thù riêng người dân Nam Bộ đã rút ra được những quan điểm sống cũng như như triết lý sống phù hợp với đặc trưng con người, những triết lý đó được hình thành thông qua những suy tư, được khái quát lên trong quá trình sinh sống, nó được chắt lọc

từ những cái sẵn có trong mỗi người con người Việt sinh sống tại vùng đất Nam

Bộ Hay nói cách khác truyền thống văn hóa người Việt do tiếp biến với các điều kiện tự nhiên - xã hội đặc thù vùng đất Nam Bộ đã hình thành nên triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ Triết lý nhân sinh trong văn học dân gian của người dân Nam Bộ phản ánh tồn tại xã hội của họ trong lịch sử

Truyện Ba Phi là hệ thống những câu chuyện rất quen thuộc với người dân Nam Bộ, hầu hết các tỉnh, thành thuộc khu vực Nam Bộ người dân đều biết, họ có thể kể hoặc ít nhất là họ cũng được nghe kể chuyện Ba Phi, đó cũng chính là nguyên nhân truyện kể Ba Phi có rất nhiều dị bản ở các vùng, các tỉnh khác nhau của Nam Bộ… Chọn truyện Ba Phi để khái quát lên một phần triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ nhằm chứng minh cho sự phong phú, đa dạng được thể hiện trong nhiều mặt cuộc sống của người dân Nam Bộ Những mẩu truyện Ba Phi luôn ẩn chứa tính hào hùng của lớp người đi khẩn hoang mở đất, tính cách đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu mến thiên nhiên và con người… Qua đó, chúng tôi có thể đưa ra quan điểm của mình rằng, Truyện Ba Phi dưới góc nhìn Folkore học qua quá trình khảo sát, phân tích, đánh giá những giá trị về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của hệ thống truyện Ba Phi trong mối quan hệ mật thiết với Văn hoá dân gian Nam Bộ, để định dạng hệ thống truyện Ba Phi trong hệ thống truyện Trạng Việt Nam

Trang 32

Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, chúng tôi chỉ lấy hệ thống những mẫu truyện kể của Ba Phi được sưu tầm và lưu truyền ở vùng đất mới Cà Mau - quê hương của bác Ba Phi để làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ

1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ trong văn học dân gian qua Truyện kể Ba Phi

Nam bộ là vùng đất cuối cùng phía Nam của đất nước, nằm trong lưu vực hai con sông Đồng Nai và Cửu Long Nam bộ nằm rất gần biển Đông, là một vùng châu thổ màu mỡ với nhiều cửa sông đổ ra biển Chính điều này đã tạo nên một Nam bộ trù phú, với biết bao huyền thoại thời mở đất

Về không gian văn hóa, Nam Bộ bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn

Nam Bộ chính thức thuộc chủ quyền người Việt kể từ năm 1868, khi chúa Nguyễn Phước Chu cử thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên, lấy Sài Gòn làm huyện Tân Binh, lập dinh Phiên Trấn Nhưng trên thực tế, lưu dân người Việt đã vào đây cư ngụ rất sớm

Ngay từ thời chúa Tiên (Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) và nhất là thời chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên (1613 – 1635)) đã có nhiều người Việt vào Nam cộng

cư với thổ dân người Khmer Sự kiện quốc vương Chân Lạp, Chey Chetta II cưới công nữ Ngọc Vạn, con chúa Sãi vào năm 1618 và công nữ rất được Chey Chetta

Trang 33

II sủng ái, phong làm hoàng hậu (với tước hiệu Somdach Prea Vodey Prea Vorac Ksatey); cùng sự kiện quốc vương xứ này cho phép chúa Sãi mượn đất Prei Nokor

và Kas Krobey (tức Sài Gòn và Bến Nghé sau này) lập trạm thu thuế thương chánh vào năm 1623; đã tích cực góp phần động viên, tạo điều kiện cho lưu dân người Việt đến vùng Đồng Nai, Bến Nghé, Cửu Long khẩn hoang sinh sống

Trước khi lưu dân người Việt đến khai phá đất này, trừ miền đông là nơi cao ráo, còn lại là vùng đất trũng thấp, nhất là Đồng Tháp Mười và U Minh Ở đây nước ngập gần như quanh năm, không phù hợp với thói quen canh tác lúa rẫy của người Khmer và được người Trung Quốc gọi là Thủy Chân Lạp Vùng này, thổ dân thưa thớt, thường tập trung trên các giống, các gò cao; nhìn chung đại bộ phận

là hoang hóa hoàn toàn với rừng bụi âm u Căn cứ vào con số thống kê của người Pháp sau khi chiếm Nam Bộ, ta thấy rõ tình trạng này (Tổng số người Việt gốc Khmer là 146.718 người, so với người Việt là 1.732.316 người)

So với chiều dài lịch sử dân tộc, thì từ khi người Việt đặt chân lên vùng đất này quả thật là ngắn ngủi Tên đất, tên sông, tên núi… ở đây ra đời muộn, không

có “thâm niên” như ở miền Trung và miền Bắc Bên cạnh đó, địa danh Nam Bộ được hình thành còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như: địa lý, dân cư, điều kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội địa phương… nên địa danh ở đây còn mang đậm dấu ấn lịch sử một vùng đất mới [21, tr.13]

Có thể khái quát tiến trình lịch sử của Nam bộ khác với những vùng đất khác, nó không phát triển liên tục mà bị đứt quãng Người Việt di dân vào Nam có thể nói bắt đầu khi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn nổ ra và sau đó là cuộc di dân thực sự vào thời nhà Nguyễn đầu thế kỷ XVIII khi nhà Nguyễn nắm được chính quyền Đàng Trong và kêu gọi những người giàu có vào khai khẩn trên đất Đồng Nai, Gia Định Trong mấy trăm năm định hình và phát triển, Nam Bộ đã tạo nên cho mình những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, độc đáo

Trang 34

và một bản sắc rất riêng so với các vùng miền khác Bên cạnh đó, vùng đất Nam

Bộ với những điều kiện thuận lợi về khí hậu, tự nhiên cùng với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp đã hình thành nên nền văn minh lúa nước phát triển rực rỡ cũng như hình thành nên triết lý sống của người dân Nam Bộ

Triết lý nhân sinh của người Nam Bộ được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản nhất đó là truyền thống văn hóa người Việt và điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù vùng đất Nam Bộ Xác định yếu tố nào là quan trọng nhất ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh của người Nam Bộ thì giáo sư Trần Ngọc Thêm đã nhận định “truyền thống văn hóa người Việt bao gồm đặc trưng chính: thiên về âm tính, ưa hài hóa, tính tổng hợp” [64], từ đó cho thấy yếu tố về truyền thống văn hóa người Việt là

sự khái quát những quan điểm nhân sinh của người Việt ở tầm cao hơn, nó bao hàm những quan điểm về con người và cuộc sống của con người trong xã hội

Triết lý với vai trò là một hình thái ý thức xã hội với bản chất thực sự là phản ánh tồn tại xã hội đương thời, do đó có thể xem điều kiện tự nhiên – xã hội đặc thù vùng đất Nam Bộ là yếu tố quan trọng nhất trong hai yếu tố Điều kiện tự nhiên – xã hội Nam Bộ có những nét đặc thù cơ bản là:

Vị trí địa lý thuận lợi với ba mặt giáp biển, là trung tâm của khu vực Đông Nam Á trên tuyến đường hàng hải quốc tế sầm uất

Về địa hình, đây là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta, địa hình và thổ nhưỡng của hai tiểu vùng có khác nhau: Đông Nam Bộ có độ cao 100 m -200 m là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ; Tây Nam Bộ có độ cao trung bình chưa đầy 2 m, là vùng đất phù sa mới Đồi núi trong vùng không nhiều và tập trung ở miền Đông Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn và dãy Hàm Ninh

Về khí hậu, Nam Bộ là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu tương đối điều hòa, mưa nhiều, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa

Trang 35

lạnh Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4… nhìn chung khí hậu không quá khắc nghiệt như các vùng khác trong nước

Về chủ thể văn hóa, Nam Bộ là khu vực có nhiều dân tộc sinh sống Ngoài người Việt còn có các dân tộc: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ cấu trúc kinh tế - xã hội gắn liền với nền văn minh lúa nước Cuộc sống cộng cư hàng trăm năm qua giữa các dân tộc với nhau cũng như sự giao thoa văn hóa các tộc người bản địa và sự tiếp biến văn hóa phương Tây trong quá trình cai trị vùng đất Nam Bộ đã góp phần tạo nên sự đa dạng phong phú của nền văn hóa Nam Bộ

Theo quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng thì sự giao thoa giữa hai yếu tố truyền thống văn hóa người Việt và điều kiện tư nhiên – xã hội đặc thù vùng đất Nam Bộ đã hình thành nên triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ với những đặc trưng cơ bản đại diện cho những khía cạnh của triết lý giữa con người với tự nhiên, triết lý giữa con người với xã hội và tính chất đặc thù trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ

Phát triển trong xu thế chung của nền văn hóa Nam Bộ, điều kiện địa lý tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, truyện kể Ba Phi cũng mang đậm sắc thái Nam

Bộ nói chung Tuy nhiên tại nơi sản sinh ra nguồn truyện Ba Phi cũng thể hiện một màu sắc khác của Nam Bộ, màu sắc của vùng đất trẻ Cà Mau – miền Tây Nam Bộ - quê hương bác Ba Phi

Cà Mau - vùng đất thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, là vùng đất được tác giả Hà Châu gọi là vùng đất trẻ Tây Nam và vùng này cũng được các nhà địa lý gọi là vùng đất mới Tây Nam Bộ Gọi là vùng đất mới, vùng đất trẻ - bởi lẽ so với lịch sử hình thành lâu đời của dân tộc Việt Nam, địa danh này mới được hình thành khoảng 300 năm và mang trong mình những giá trị văn hoá của tổ tiên được kết tinh từ ngàn năm, là sản phẩm của những con người vốn được sinh ra và lớn

Trang 36

lên ở những miền đất có bề dày văn hiến của miền Bắc, miền Trung và những dân tộc láng giềng di dân và khẩn hoang vào vùng đất tận cùng của Tổ quốc Đây là

vùng đất được thiên nhiên ưu đãi “rừng vàng, biển bạc”; “đồng xanh thẳng cánh

chim bay” Thêm vào đó là sự chung lưng đấu cật của cộng đồng người Việt, Hoa, Khmer trong việc khai khẩn, gìn giữ và bảo vệ, làm cho vùng đất này ngày một

phong phú và giàu đẹp Chúng ta sẽ thấy rõ thế giới động thực vật, hình thái lao

động sản xuất, sinh hoạt vật chất và tinh thần của đồng bằng sông Cửu Long nơi đây in dấu đậm đặc trong hệ thống truyện Ba Phi như thế nào

Về tài nguyên và sản vật, đó là tài nguyên lúa, hoa màu và một số cây trái khác Đồng bằng bông Cửu Long được xem là vựa lúa của cả nước Cà Mau là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long với diện tích đất canh tác lúa chiếm 180.000 ha, sản lượng hàng năm xấp xỉ 1 triệu tấn cũng được xem là vùng trọng điểm lúa của Miền Nam Việc trồng lúa của bà con nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cà Mau nói riêng an nhàn hơn so với việc trồng lúa ở đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, do đặc thù của miền đất mới, phù sa bồi đắp quanh năm, đất nhiễm mặn, nhiễm phèn chiếm đa phần nên ngoài cây lúa chỉ có một số loại cây có thể phát triển tốt ở Cà Mau như cây dừa, cây đu đủ, cây chuối, cây khóm, cây mía, khoai lang, khoai mì…

Nuôi trồng thuỷ sản, nuôi tôm xuất khẩu là ngành chính, đem lại siêu lợi nhuận cho Cà Mau Với chiều dài bờ biển 251,7 km, với những cửa sông lớn như: Bồ Đề, Ông Trang, Ông Đốc…là những ngư trường rộng lớn có các loài thuỷ sản phong phú, có thể cho sản lượng 600.000 tấn/ năm Ở các vùng ngọt hóa của bán đảo Cà Mau với hệ thống kênh, rạch, ao, mương chằng chịt và nguồn cá vốn có của tự nhiên đa dạng về chủng loại tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi cá đồng phát triển, đến hẹn lại lên, cứ tới mùa mưa là chúng sinh sôi, nảy nở dọc theo mùa lúa, rồi đến mùa hạn lại kéo vào các đìa (ao) và người nông dân chờ đến ngày nước cạn hơn để thu hoạch có khi sản lượng thu hoạch đạt

Trang 37

10.000 tấn/năm Những sản phẩm được chế biến từ cá rất đa dạng và phong phú

có giá trị kinh tế - đây cũng được xem là một trong những mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu nhập rất lớn cho Cà Mau Do đó, việc đào mương, nuôi cá, lên liếp, trồng cây là những công việc truyền thống mà bà con nông dân nơi đây vẫn làm Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản là những ngành chính mang lại nguồn thu nhập cho bà con nông dân ở Cà Mau

Cà Mau giàu tài nguyên về rừng và biển Hệ sinh thái rừng ngập nước có

diện tích gần 100.000 ha được chia thành 2 vùng: rừng ngập lợ với đặc trưng cây tràm là chủ yếu nằm sâu trong đất liền ở vùng U Minh hạ; ngập mặn với đặc trưng cây đước, cây mắm là chủ yếu ở vùng Mũi Cà Mau và ven biển và đây đựợc xem

là hai lá phổi xanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cân bằng hệ sinh thái cho đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cà Mau nói riêng

Người Việt và các cộng đồng dân cư khác ở Cà Mau - những chủ thể của vùng văn hoá Nam Bộ [42]

Người Việt

Khi nói về nguồn gốc của người Việt ở Nam Bộ (Cửu Long - Đồng Nai)

GS Trần Văn Giàu nhận định rằng: “Gốc gác người nông dân lục tỉnh chủ yếu

gồm:

Thứ nhất là những nông dân Trung, Bắc bần cùng, lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn từ đầu thế kỉ XVII đã lần lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai - Cửu Long để kiếm sống và an thân

Thứ nhì là những người (số ít) có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo (số nhiều) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn

Trang 38

Thứ ba là những lính tráng cùng nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào miền Nam lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở ruộng lập vườn xung quanh các cứ điểm quân sự”[64;198].

Dân số người Việt hiện nay ở Cà Mau có khoảng 1.120.000 người, chiếm 96% dân số của tỉnh Cư dân Việt sống rải rác khắp nơi ở Cà Mau, từ thành thị đến nông thôn Họ làm rất nhiều nghề: công chức, buôn bán, làm ruộng, làm vuông… Ngoài những người sống ở thành phố và các thị trấn, người Việt lập làng (ấp) dọc theo các kênh rạch và các ngã ba sông để tiện cho việc đi lại, trao đổi hàng hoá và giao lưu văn hoá

Ngay từ những năm tháng mới đặt chân đến miền đất “Muỗi kêu như hát

bội, đỉa lền tựa bánh canh” rồi đến những năm đấu tranh chống kẻ thù xâm lược,

người Việt ở Cà Mau ý thức được rằng, để vượt qua khó khăn, gian khổ thì mọi người phải đồng tâm hiệp sức với nhau Chính vì vậy tư tưởng của họ rất thoáng, tấm lòng của họ cởi mở Đúng như nhà văn Sơn Nam nhận xét chung về cách sống và lối cư xử của người Nam Bộ mà Cà Mau cũng là một thành viên trong đó:

“…Lối cư xử với bạn bè:

- Niềm nở với người chưa quen hay mới quen lần đầu; không thắc mắc với quá khứ của bạn Nặng về cảm tính khi đánh giá con người

- Sẳn sàng nhường nhịn bạn, nhưng nếu bạn có ý xấu thì chỉ nhịn đôi lần

mà thôi, sau đó dứt khoát tỏ thái độ

- Ăn ở có hậu, mang ơn thì nhớ trọn đời Bạn gặp khó khăn, sa sút về kinh tế, về địa vị thì vẫn trọng

- Có lỗi với bạn bè thì xin lỗi ngay Muốn nhờ bạn việc gì nên nói thẳng, chẳng nên quanh co Giữ lời hứa, nói là làm, đáng ghét là những ngưòi nói mà

Trang 39

không làm” [47;91]

Theo tiến trình của lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ biết được thành

phần các lớp cư dân đi lập nghiệp, vài ngoài “cự tộc” hầu hết là dân nghèo

Trước vùng đất mới đầy rẫy những khó khăn, họ đã phải chung lưng đấu cật hết lòng vì nhau để sống còn Họ cộng cảm với nhau trong tâm lý dấn thân vì chẳng

ai còn đất cũ để quay về nữa Họ chung tay cùng khai sơn phá thạch, lập xóm làng kề cận nhau ở những ngã ba sông và những thôn ấp dọc theo các bờ kênh rạch, để dễ bề cưu mang nhau như cái truyền thống làng ngàn xưa Chính cái hoàn cảnh đó đã tạo nên những nét đặc thù của phong cách, tính khí người Nam

Bộ, để rồi từ những nhân cách cụ thể sẽ xuất hiện những biểu hiện văn hoá của

những truyền thống đặc trưng vùng, trong đó có truyện Ba Phi

Khi cư dân người Việt đặt chân đến khai phá vùng đất Nam Bộ, họ đã thấy có sự hiện diện của người Khmer Nhưng đây chỉ là những cộng đồng người phân tán, sống rải rác trên những giồng đất ven sông Cộng đồng ấy tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển mới của Nam Bộ, nhưng vẫn luôn bảo vệ nét

đặc thù văn hoá của mình “…người Khmer mà trong truyền thuyết khởi nguyên

là con cháu của dòng dõi chim thần Garuda có sức điều động lửa và sấm sét phối hợp cùng vị thống lĩnh các nguồn nước, mưa, sông, rạch của dòng dõi cá thần hay rắn thần Naga, đã có một lịch sử văn hoá, nhân chủng, tổ chức xã hội

và chữ viết Pali mang ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hoá Ấn Độ cũng như sức sáng tạo phong phú của bản thân dân tộc này Từ thế giới quan Phật giáo tiểu thừa và từ tư duy lưỡng nguyên, người Khmer đã tạo nên một truyền thống văn hoá cá biệt với những kiến trúc chùa nguy nga, với các mô típ Ria - hu, tượng tròn, tượng bốn mặt, chim thần, rắn thần, các dạng thức phù điêu mang cá tính

qua giữa người Việt và người Khmer đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hoá Nam Bộ

Trang 40

Người Chăm là cộng đồng người đến vùng đất Nam Bộ gần như sau hơn

so với người Khmer và người Việt Họ là những thần dân phiêu tán của vương

quốc Chăm Pa vào cuối thế kỷ XVII “Con đường phiêu bạt” của họ đến đất

Nam Bộ gần như phải đi một đường vòng từ Nam Trung Bộ sang Campuchia rồi

di chuyển về đồng bằng song Cửu Long “Con đường phiêu bạt” làm cho văn

hoá Chăm ở Nam Bộ có những nét riêng so với vốn văn hoá truyền thống của người Chăm ở Nam Trung Bộ, là kết quả của các ảnh hưởng bởi văn hoá Hồi giáo (Islam) thay vì chủ yếu là văn hoá Bà La Môn giáo trước kia Như vậy, có thể văn hoá Chăm nơi đây gián tiếp chịu ảnh hưởng bởi quá trình giao tiếp văn hoá Việt - Chăm trên bước đường của người Việt qua đất miền Trung để vào Nam Bộ, hoặc là trực tiếp giao lưu trong quá trình cộng cư của người Chăm và người Việt ngay trên mảnh đất Nam Bộ: Bằng nhiều con đường mà văn hoá Chăm đã từng bước in dấu ấn khá rõ nét trong nhiều mặt đời sống văn hoá của người Việt ở Nam Bộ

Người Hoa

Là một thành phần trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Hoa đã hoà nhập vào lối sống văn hoá người Việt từ lâu đời Cho dù họ là con cháu của Mạc Cửu hay là những người di dân từ những năm đầu của thế kỷ XX thì hầu hết họ

là những người chạy nạn do phải chịu sự phân biệt đối xử giữa con dân của triều đình nhà Minh với con dân của triều đình nhà Thanh, đồng thời họ cũng là nạn nhân của sự áp bức về kinh tế của bọn phong kiến thực dân ở Trung Hoa Họ tìm đến Cà Mau và xem Cà Mau là quê hương thứ hai của mình, sống rất chan hoà cùng với người Việt cũng như người Khmer

Hành trang văn hoá mà người Hoa mang theo sang Việt Nam nói chung

và Cà Mau nói riêng là rất đáng trân trọng Nếp sống thuận hòa, kính trên nhường dưới, tiết kiệm, cùng với phong tục thờ cúng thần thánh, tổ tiên…của họ

Ngày đăng: 06/06/2017, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w