Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá phát triển con người ở Việt nam để từ đó có thể đưa ra những quyết sách đúng đắn trong quá trình phát triển, tôi đã chọn đề tài “Phát triển con
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Đình Thiên
Phản biện 1: TS ĐINH QUANG TY
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong báo cáo phát triển con người của Liên Hợp
Quốc năm 1990 đã nhấn mạnh “con người là của cải của
mỗi quốc gia”[29, tr.3] Vào thời điểm đó, nó là một sự
khởi đầu mới mẻ làm thay đổi về cách nhìn nhận về sự phát triển của một quốc gia Và thực tế, theo thời gian đã chứng minh, sự đúng đắn về quan điểm phát triển: hướng tới sự phát triển con người, mục đích cuối cùng của các các quốc gia là phát triển con người
Tuy nhiên, quan điểm phát triển con người và bộ chỉ tiêu đo lường phát triển con người cũng liên tục thay đổi và dần được hoàn thiện Trước đây, người ta đánh giá
sự phát triển của một quốc gia chủ yếu thông qua GDP, GNP hay GNI bình quân đầu người, nhưng chỉ số này chưa phản ảnh đầy đủ và chính xác về phúc lợi mà người dân nhận được Nó chỉ là một trong những cơ sở, những tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển kinh tế nói chung của một quốc gia Từ thực tế đó, các chỉ tiêu khác được hình thành để đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện chính xác phúc lợi con người nhận được trong quá trình phát
Trang 4triển hay nói cụ thể đó là các chỉ tiêu đánh giá phát triển con người của một quốc gia Trong đó, chỉ chỉ số Phát triển con người với ba chỉ số hợp phần là thu nhập, giáo dục, y tế là một chỉ tiêu tương đối tổng hợp đánh giá toàn diện phát triển con người Tuy nhiên nói về phát triển con người không thể không nói đến các vấn đề về bất bình đẳng giới, bất bình đẳng về phân phối thu nhập Bởi thế, Liên hợp quốc đã xây dựng bộ chỉ số bất bình đẳng giới
và hệ số đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập Các nhà nghiên cứu vẫn không ngừng nỗ lực hoàn thiện các chỉ
số, các tiêu chí đánh giá phát triển con người của các Quốc gia
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới Lấy con người là trung tâm của sựu phát triển là tôn chỉ Là mục đích hành động của Đảng và Nhà nước ta Điều đó luôn được khẳng định và thực hiện thông qua các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Luôn đặt mục tiêu phát triển con người lên hàng đầu trong quá trình phát triển
Trang 5Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá phát triển con người ở Việt nam để từ đó có thể đưa ra những quyết sách đúng đắn trong quá trình phát triển, tôi đã
chọn đề tài “Phát triển con người ở Việt nam qua các chỉ số” làm luận văn cao học, chuyên ngành Kinh tế học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử, các nhà triết học đã bàn nhiều đến vấn đề con người Họ quan tâm đến khía cạnh xã hội cũng như mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là phát triển con người Tuy nhiên, đa số các nhà triết học và nhiều trường phái triết học, mặc dù đề cao con người, nhưng vẫn chưa đặt vấn đề lượng hóa để đo lường sự phát triển con người trong thực tiễn
Đến năm 1990, lần đầu tiên Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (United Nation Development Programme-UNDP) đưa ra quan điểm và bắt đầu tiến hành lượng hóa “phát triển con người” (Human development) một cách có hệ thống Điều này được thực hiện ngay trong Báo cáo lần đầu tiên về Phát triển Con người Người đề xuất và phát triển khái niệm này là kinh
Trang 6tế gia người Pakistan Mahbuh al Haq Trong báo cáo này,
chỉ số phát triển con người HDI (Human development Index) được coi là công cụ hữu hiệu để đo lường sự phát triển con người ở các quốc gia Kể từ đó đến nay, Báo cáo Phát triển Con người hàng năm (Human Development Report-HDR) của UNDP được xuất bản để đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của các Quốc gia trong nỗ lực phát triển con người Báo cáo cũng phân tích những cơ hội và thách thức đặt ra, nêu cách nhìn khái quát về sự tiến bộ và văn minh của nhân loại
Đây là vấn đề khá mới mẻ, đã được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau:
- Một số nhà khoa học đã nghiên cứu về phát triển con người nhưng chủ yếu với vai trò là nguồn nhân lực, coi con người là nguồn lực cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Có thể nêu một số
công trình: “Nghiên cứu con người, đối tượng và những
phương hướng chủ yếu” (2002) do Phạm Minh Hạc và
Hồ Sỹ Quý chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội; “con người và phát triển con người” (2007) Hồ Sỹ Quý, nhà
Trang 7xuất bản Giáo dục; “Phát triển bền vững con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (2015) do TS Đào Thị
Minh Hương chủ nhiệm
- Cũng có một số nhà khoa học nghiên cứu các khía cạnh khác nhau hay các chính sách tác động đến phát triển con người như chính sách giáo dục, y tế, chính sách xóa đói giảm nghèo…từ đó đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển con người trong quá trình phát
triển Có thể kể ra các công trình như: “Xây dựng con
người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” (2010) do GS.TS Dương Phú Hiệp làm
chủ nhiệm;
- Các Báo cáo phát triển con người do Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN) chủ trì thực hiện, phối hợp với UNDP từ 2001 Cho đến nay VHLKHXHVN đã công bố 4 báo cáo phát triền của con người Việt Nam đó là báo cáo năm 2001, báo cáo năm
2006 (“Phát triển con người Việt nam 1999-2004: những
thay đổi và xu hướng chủ yếu”), báo cáo năm 2011 và
báo cáo năm 2015 (“Tăng trưởng vì mọi người”)
Trang 8Nhìn chung, các nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của phát triển con người trong quá trình phát triển cũng như việc xây dựng hệ thống chính sách có tác động mạnh mẽ trong quá trình hướng tới mục tiêu phát triển vì con người Song, do yêu cầu lý luận cũng như thực tiễn về việc nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về phát triển con người cũng như những thước đo phát triển con người, từ đó phân tích thực trạng phát triển con người ở Việt Nam thời gian qua và đưa những giải pháp thúc đẩy phát triển con người trong thời gian tới Theo
hướng nghiên cứu này tôi đã chọn đề tài “Phát triển con
người ở Việt nam qua các chỉ số” làm luận văn thạc sĩ
trên cơ sở kế thừa các giá trị các công trình đi trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở bước đầu nghiên cứu những
vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển con người ở Việt nam thông qua các nhóm chỉ số: chỉ số phát triển con người, chỉ số nghèo đa chiều, chỉ số phát triển giới, chỉ số bất bình đẳng về phân phối thu nhập, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 9Nhiệm vụ: Để dạt được mục đích đó, đề tài có nhiệm
vụ giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, Đề tài làm rõ những vấn đề chung về phát
triển con người và các thước đo, chỉ số cơ bản đo lường phát triển con người
Thứ hai, phân tích phát triển con người ở Việt Nam
qua các chỉ số, từ đó đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó
Thứ ba, từ thực trạng về phát triển con người qua các
chỉ số đó, đề tài đề xuất kiến nghị về những giải pháp thúc đẩy phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn
đề phát triển con người ở Việt Nam qua các chỉ số
Việc đánh giá phân tích phát triển con người ở Việt nam này thông qua các chỉ số như: chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần; chỉ số nghèo đa chiều; chỉ số phát triển giới, chỉ số bất bình đẳng về phân
phối thu nhập
Trang 10Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung
nghiên cứu phát triển con người ở Việt Nam qua bốn thước đo cơ bản là chỉ số phát triển con người (HDI), các chỉ số đo bất bình giới (GII), Chỉ số nghèo khổ tổng hợp, chỉ số đo bất bình đẳng thu nhập trong giai đoạn 1990-
2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn dựa trên các quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng về phát triển và tiến bộ xã hội, trong đó có phát triển con người Bên cạnh đó sử dụng quan điểm, nguyên tắc và hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển con người của Liên Hiệp Quốc để phân tích đánh giá thực trạng phát triển con người và các vấn đề liên
quan
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh…để giải quyết mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn trình bày có hệ thống quan điểm về phát triển con người cũng như tổng hợp các thước đo cơ bản đo lường phát triển con người và xu hướng nghiên cứu phát triển con người trên thế giới
- Đánh giá thực trạng phát triển con người qua các chỉ số qua các thời kỳ, cũng như phân tích những thành tựu và những hạn chế còn tồn tại, so sánh với phát triển con người ở các quốc gia trong khu vực
- Từ việc phân tích thực trạng, luận văn đề xuất những giải pháp thúc đẩy phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy các vấn đề liên quan đến phát triển con người Đồng thời các nhà quản lý có thể tham khảo cho việc đề ra các chính sách
phát triển con người ở Việt nam trong giai đoạn tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
Trang 12- Chương 1: Phát triển con người và các chỉ số
phát triển con người
- Chương 2: Thực trạng phát triển con người ở
Việt Nam qua các chỉ số
- Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy phát triển
con người Ở Việt Nam giai đoạn tới
Trang 13Chương 1 PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ CÁC CHỈ SỐ PHÁT
TRIỂN CON NGƯỜI 1.1 Phát triển con người
1.1.1 Con người
Phạm trù con người đã được nghiên cứu rất nhiều trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển con người Mỗi thời điểm, mỗi vùng lãnh thổ các nhà triết học có các quan niệm khác nhau về con người về bản chất con người Kế thừa có phê phán và phát triển trên những quan niệm của những nhà triết học đi trước, triết học Mac-Lê nin có những nghiên cứu và lý luận về con người một cách đầy
đủ hoàn diện và hoàn thiện hơn Điểm xuất phát để nghiên cứu con người của triết học Mác là con người trong hoạt động thực tiễn, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó Triết học Mác đã đưa ra các quan niệm khoa học
về con người như sau:
* Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
* Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội
Trang 14* Con người là chủ thể là sản phẩm của lịch sử
1.1.2 Khái niệm phát triển con người
Trên cơ sở các quan niệm về phát triển con người đã phân tích, Luận văn quan niệm: Phát triển con người là quá trình nhằm mở rộng sự lựa chọn cho con người Trong đó những nhân tố chủ yếu của quá trình này chính là dẫn tới một cuộc sống mạnh khỏe, trường thọ, được giáo dục và hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ và đảm bảo những vấn
đề về bình đẳng giới, bình đẳng thu nhập Và bên cạnh đó những lựa chọn khác bao gồm tự do chính trị bảo đảm nhân quyền
1.1.3 Các nhân tố tác động đến phát triển con người
Có rất nhiều nhân tố tác động đến phát triển con người của một quốc gia Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy nổi lên một số nhân tố cơ bản sau:
Một là, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Hai là, Giáo dục và đào tạo
Ba là, hệ thống các chính sách của Nhà nước
Trang 151.2 Thước đo phát triển con người
Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì vậy trong luận văn này chỉ phân tích những thước đo cơ bản nhất về phát triển con người: chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần; chỉ số nghèo khổ; chỉ số đo bất bình
đẳng giới, chỉ số đo bất bình đẳng thu nhập
1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI-Human Development Index)
1.2.1.1 Cơ cấu và ý nghĩa của chỉ số phát triển con người 1.2.1.2 Cách tính chỉ số HDI
1.2.2 Chỉ số đánh giá nghèo khổ
1.2.2.1 Nghèo khổ vật chất
Từ những năm 70, trong các nghiên cứu cơ bản về nghèo, nghèo được là là sự nghèo khổ về tiêu dùng hay nghèo khổ về cật chất, với tư tưởng cốt lõi và căn bản nhất để một người bị coi là nghèo đói, đó là sự “thiểu hụt”
so với một mức sống nhất định, mà sự thiếu hụt này được xác định theo chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian Đến năm 1993, tại hội nghị chống đói nghèo đã đưa ra khái niệm về nghèo khổ vật chất một cách
hệ thống hơn, đó là tình trạng một bộ phận dân cư không
Trang 16được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người,
mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của Đất nước
(1) Mức và tỷ lệ nghèo khổ (chỉ số và tỷ lệ đếm đầu)
(2) Tỷ số khoảng cách nghèo và chỉ số khoảng cách thu nhập
1.2.2.2 Nghèo khổ đa chiều
(1) Chỉ số nghèo khổ con người (HPI-Human Poverty Index)
(2) Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI-Multidimensional Poverty Index
1.2.3 Chỉ số bất bình đẳng giới
1.2.3.1 Khái niệm bình đẳng giới
1.2.3.1 Thước đo bất bình đẳng giới
Để đánh giá bất bình đẳng giới, Báo cáo phát triển con người năm 1995, UNDP đã đưa ra hai chỉ số phản ảnh tổng hợp hai góc độ của phát triển con người có chú ý đến giới là chỉ số phát triển giới (GDI) phản ảnh trình độ phát triển giới và thước đo quyền lực giới tính (GEM) phản ánh
vị thế của giới Tuy nhiên, từ báo cáo phát triển con người
Trang 17năm 2010 của UNDP, chỉ số GDI và GEM không còn được đưa vào công vụ đánh giá bất bình đẳng giới và thay vào đó là chỉ số bất bình đăng giới (GII)
(1) Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index GDI)
(2) Thước đo quyền lực giới tính (Gender Empowerment Measure-GEM)
(3) Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender Inequality GII)
Index-1.2.4 Chỉ số đo bất bình đẳng thu nhập
Trên thế giới, hiện nay đang tồn tại sự bất bình đẳng khá phổ biến và sự phân hóa xã hội theo thu nhập ngày càng rõ nét Việc nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng ở các nước đang phát triển chính là một nội dung quan trọng, nhằm xác định một mô hình hợp lý trong quá trình phát triển Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được đo lường bới các thước đo:
(1) Đường cong Lorenz
(2) Hệ số GINI
(3) Tỷ số Kuznets
Trang 18Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT
NAM QUA CÁC CHỈ SỐ
2.1 Khái quát về con người Việt Nam
2.1.1 Điểm mạnh của con người Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, trong hoàn cảnh điều kiện mới của khu vực và thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn giữ vững những giá trị văn hóa truyền thống nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc tự lực tự cường, đoàn kết vì dân tộc
Thứ hai, con người Việt Nam luôn có truyền thống cần cù, chăm chỉ, chịu thương chịu khó và sáng tạo trong mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội
Thứ ba, nét đặc trưng trong đời sống tinh thần, của phẩm giá con người Việt Nam là lòng nhân ái, tương thân tương trợ
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền
thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
2.1.2 Một số điểm điểm yếu trong con người Việt Nam hiện nay