Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Trên cơ sở bước đầu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển con người ở Việt nam thông qua các nhóm chỉ số: chỉ số phát triển
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Thiên Mọi trích dẫn đều được ghi xuất xứ rõ ràng; các nội dung, dữ liệu trong luận văn này đều là trung thực Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 6 1.1 Phát triển con người 6 1.2 Thước đo phát triển con người 13 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM QUA CÁC CHỈ SỐ 31 2.1 Khái quát về con người Việt Nam 31 2.2 Thành tựu phát triển con người ở Việt Nam qua các chỉ số 32 2.3 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế phát triển con người Việt Nam qua các chỉ
số 41 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỚI 60 3.1 Quan điểm về phát triển con người ở Việt Nam 60 3.2 Một số giải pháp cơ bản thúc đẩy phát triển con người ở Việt Nam giai đoạn tới 61 KẾT LUẬN………67 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….68
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
UNDP: Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
HDR: Báo cáo Phát triển con người
HDRO: Văn phòng báo cáo phát triển con người
VHLKHXHVN: Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam TCTK: Tổng cục Thống Kê
Trang 5Bảng 1.1: Giá trị tối đa và tối thiểu các chỉ số thành phần HDI
(trước báo cáo phát triển con người năm 2010)
Bảng 1.2: Giá trị tối đa và tối thiểu các chỉ số thành phần HDI
(Báo cáo phát triển con người năm 2010)
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo Việt Nam giai đoạn 2001-2014
Bảng 2.2: Chỉ số HPI của Việt Nam 1997-2009
Bảng 2.3: Tiếp cận các điều kiện sống cơ bản
Bảng 2.4: Chỉ số phát triển giới của Việt Nam qua các năm
Bảng 2.5: Chỉ số HDI và GII của một số quốc gia đông Á và đông
nam á
Bảng 2.6: Chỉ tiêu thành phần của chỉ số bất bình đẳng giới một số
nước trong khu vực năm 2014
Bảng 2.7: Thứ hạng HDI của Việt Nam qua các năm
Bảng 2.8: Giá trị và thứ hạng HDI của một số quốc gia trong khu vực
Bảng 2.13: GNI bình quân đầu người ngang giá sức mua của một số
quốc gia trong khu vực năm 2014
Bảng 2.14: Đóng ghóp của các thành tố trong HDI của một số quốc
gia trong khu vực giai đoạn 2000-2014
Trang 6Bảng 2.16: Thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng chia theo nguồn
thu của nhóm ngũ phân giàu nhất và nhóm nghèo nhất
Bảng 2.17: Hệ số Gini của một số nước trong khu vực
Hình 1.1: Đường cong Lorenz
Hình 2.1: HDI của việt Nam 1990-2014
Hình 2.2 HDI của Việt Nam và một số nước
Hình 2.3: Tuổi thọ bình quân của Việt nam qua các năm
Hình 2.4: GDP(GNI)bình quân đầu người (PPP USD) của Việt Nam
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc năm 1990 đã nhấn
mạnh “con người là của cải của mỗi quốc gia”[29, tr.3] Vào thời điểm đó, nó là
một sự khởi đầu mới mẻ làm thay đổi về cách nhìn nhận về sự phát triển của một quốc gia Và thực tế, theo thời gian đã chứng minh, sự đúng đắn về quan điểm phát triển: hướng tới sự phát triển con người, mục đích cuối cùng của các các quốc gia là phát triển con người
Tuy nhiên, quan điểm phát triển con người và bộ chỉ tiêu đo lường phát triển con người cũng liên tục thay đổi và dần được hoàn thiện Trước đây, người ta đánh giá sự phát triển của một quốc gia chủ yếu thông qua GDP, GNP hay GNI bình quân đầu người, nhưng chỉ số này chưa phản ảnh đầy đủ và chính xác về phúc lợi mà người dân nhận được Nó chỉ là một trong những cơ sở, những tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển kinh tế nói chung của một quốc gia Từ thực tế đó, các chỉ tiêu khác được hình thành để đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện chính xác phúc lợi con người nhận được trong quá trình phát triển hay nói cụ thể đó là các chỉ tiêu đánh giá phát triển con người của một quốc gia Trong đó, chỉ chỉ số Phát triển con người với
ba chỉ số hợp phần là thu nhập, giáo dục, y tế là một chỉ tiêu tương đối tổng hợp đánh giá toàn diện phát triển con người Tuy nhiên nói về phát triển con người không thể không nói đến các vấn đề về bất bình đẳng giới, bất bình đẳng về phân phối thu nhập Bởi thế, Liên hợp quốc đã xây dựng bộ chỉ số bất bình đẳng giới và hệ số đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập Các nhà nghiên cứu vẫn không ngừng nỗ lực hoàn thiện các chỉ số, các tiêu chí đánh giá phát triển con người của các Quốc gia
Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới Lấy con người là trung tâm của sựu phát triển là tôn chỉ Là mục đích hành động của Đảng và Nhà nước ta Điều đó luôn được khẳng định và thực hiện thông qua các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Luôn đặt mục tiêu phát triển con người lên hàng đầu trong quá trình phát triển
Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá phát triển con người ở Việt nam
để từ đó có thể đưa ra những quyết sách đúng đắn trong quá trình phát triển, tôi đã
Trang 8chọn đề tài “Phát triển con người ở Việt nam qua các chỉ số” làm luận văn cao học,
chuyên ngành Kinh tế học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử, các nhà triết học đã bàn nhiều đến vấn đề con người Họ quan tâm đến khía cạnh xã hội cũng như mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là phát triển con người Tuy nhiên, đa số các nhà triết học và nhiều trường phái triết học, mặc dù
đề cao con người, nhưng vẫn chưa đặt vấn đề lượng hóa để đo lường sự phát triển con người trong thực tiễn
Đến năm 1990, lần đầu tiên Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (United Nation Development Programme-UNDP) đưa ra quan điểm và bắt đầu tiến hành lượng hóa “phát triển con người” (Human development) một cách có hệ thống Điều này được thực hiện ngay trong Báo cáo lần đầu tiên về Phát triển Con người
Người đề xuất và phát triển khái niệm này là kinh tế gia người Pakistan Mahbuh al Haq Trong báo cáo này, chỉ số phát triển con người HDI (Human development
Index) được coi là công cụ hữu hiệu để đo lường sự phát triển con người ở các quốc gia Kể từ đó đến nay, Báo cáo Phát triển Con người hàng năm (Human Development Report-HDR) của UNDP được xuất bản để đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của các Quốc gia trong nỗ lực phát triển con người Báo cáo cũng phân tích những cơ hội và thách thức đặt ra, nêu cách nhìn khái quát về sự tiến bộ và văn minh của nhân loại
Đây là vấn đề khá mới mẻ, đã được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau:
- Một số nhà khoa học đã nghiên cứu về phát triển con người nhưng chủ yếu với vai trò là nguồn nhân lực, coi con người là nguồn lực cơ bản của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Có thể nêu một số công trình: “Nghiên cứu con người, đối tượng và những phương hướng chủ yếu” (2002) do Phạm Minh Hạc và
Hồ Sỹ Quý chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội; “con người và phát triển con
người” (2007) Hồ Sỹ Quý, nhà xuất bản Giáo dục; “Phát triển bền vững con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (2015) do TS Đào Thị Minh Hương chủ nhiệm
Trang 9- Cũng có một số nhà khoa học nghiên cứu các khía cạnh khác nhau hay các chính sách tác động đến phát triển con người như chính sách giáo dục, y tế, chính sách xóa đói giảm nghèo…từ đó đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển con
người trong quá trình phát triển Có thể kể ra các công trình như: “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” (2010) do
GS.TS Dương Phú Hiệp làm chủ nhiệm;
- Các Báo cáo phát triển con người do Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã hội Việt Nam (VHLKHXHVN) chủ trì thực hiện, phối hợp với UNDP từ 2001 Cho đến nay VHLKHXHVN đã công bố 4 báo cáo phát triền của con người Việt Nam đó là báo
cáo năm 2001, báo cáo năm 2006 (“Phát triển con người Việt nam 1999-2004: những thay đổi và xu hướng chủ yếu”), báo cáo năm 2011 và báo cáo năm 2015 (“Tăng trưởng vì mọi người”)
Nhìn chung, các nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của phát triển con người trong quá trình phát triển cũng như việc xây dựng hệ thống chính sách có tác động mạnh mẽ trong quá trình hướng tới mục tiêu phát triển vì con người Song, do yêu cầu lý luận cũng như thực tiễn về việc nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về phát triển con người cũng như những thước đo phát triển con người, từ đó phân tích thực trạng phát triển con người ở Việt Nam thời gian qua và đưa những giải pháp thúc đẩy phát triển con người trong thời gian tới Theo hướng nghiên cứu này tôi đã chọn đề
tài “Phát triển con người ở Việt nam qua các chỉ số” làm luận văn thạc sĩ trên cơ sở
kế thừa các giá trị các công trình đi trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở bước đầu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
phát triển con người ở Việt nam thông qua các nhóm chỉ số: chỉ số phát triển con người, chỉ số nghèo đa chiều, chỉ số phát triển giới, chỉ số bất bình đẳng về phân phối thu nhập, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Nhiệm vụ: Để dạt được mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, Đề tài làm rõ những vấn đề chung về phát triển con người và các thước
đo, chỉ số cơ bản đo lường phát triển con người
Trang 10Thứ hai, phân tích phát triển con người ở Việt Nam qua các chỉ số, từ đó đánh giá
những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó
Thứ ba, từ thực trạng về phát triển con người qua các chỉ số đó, đề tài đề xuất
kiến nghị về những giải pháp thúc đẩy phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề phát triển con người ở
Việt Nam qua các chỉ số
Việc đánh giá phân tích phát triển con người ở Việt nam này thông qua các chỉ số như: chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần; chỉ số nghèo đa
chiều; chỉ số phát triển giới, chỉ số bất bình đẳng về phân phối thu nhập
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển con
người ở Việt Nam qua bốn thước đo cơ bản là chỉ số phát triển con người (HDI), các chỉ số đo bất bình giới, Chỉ số nghèo khổ tổng hợp, chỉ số đo bất bình đẳng thu nhập trong giai đoạn 1990-2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng về phát triển và tiến bộ xã hội, trong đó có phát triển con người Bên cạnh đó sử dụng quan điểm, nguyên tắc và hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển con người của Liên Hiệp Quốc để phân tích đánh
giá thực trạng phát triển con người và các vấn đề liên quan
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu,
so sánh…để giải quyết mục đích và nhiệm vụ của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn trình bày có hệ thống quan điểm về phát triển con người cũng như tổng hợp các thước đo cơ bản đo lường phát triển con người
Trang 11- Đánh giá thực trạng phát triển con người qua các chỉ số qua các thời kỳ, cũng như phân tích những thành tựu và những hạn chế còn tồn tại, so sánh với phát triển con người ở các quốc gia trong khu vực
- Từ việc phân tích thực trạng, luận văn đề xuất những giải pháp thúc đẩy phát triển con người ở Việt Nam trong giai đoạn tới
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy các vấn đề liên quan đến phát triển con người Đồng thời các nhà quản lý có thể tham khảo cho việc đề ra các chính sách phát triển con người ở Việt
nam trong giai đoạn tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Phát triển con người và các chỉ số phát triển con người
- Chương 2: Thực trạng phát triển con người ở Việt Nam qua các chỉ số
- Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy phát triển con người Ở Việt Nam giai
đoạn tới
Trang 12Chương 1 PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
1.1 Phát triển con người
1.1.1 Con người
Phạm trù con người đã được nghiên cứu rất nhiều trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển con người Mỗi thời điểm, mỗi vùng lãnh thổ các nhà triết học có các quan niệm khác nhau về con người về bản chất con người Kế thừa có phê phán và phát triển trên những quan niệm của những nhà triết học đi trước, triết học Mac-Lê nin có những nghiên cứu và lý luận về con người một cách đầy đủ hoàn diện và hoàn thiện hơn Điểm xuất phát để nghiên cứu con người của triết học Mác là con người trong hoạt động thực tiễn, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó Triết học Mác đã đưa ra các quan niệm khoa học về con người như sau:
* Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại con người Vì vậy có thể nói: Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên Tuy nhiên, điều cần khẳng định, mặt tự nhiên không phải là yếu
tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Với quan điểm duy vật biện chứng, có thể thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất
để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được “nhân hóa” để mang
Trang 13giá trị văn minh loài người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau
để tạo thành con người, con người tự nhiên-xã hội
* Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Từ những vấn đề trên, Mác đã rút ra bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội Con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: Quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người, cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ
xã hội giữa người và người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả mối quan hệ khác
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoi ơ bach: “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[7, tr 52] Mác đặc biệt nhấn mạnh
“trong tính hiện thực” khi phân tích bản chất của con người, bởi vì luận điểm xuất phát của Mác là luận điểm cho rằng xét về thực chất, quá trình hình thành và phát triển đời sống con người là hoạt động sản xuất, hoạt động thực tiễn của con người Còn các quá trình tư tưởng-tinh thần là sự thể hiện của đời sống thực tiễn mang tính khách quan của con người Để nhận thức đúng đắn về con người, về bản chất của con người, mối quan hệ: Tự nhiên-Con người-Xã hội thì phải xem xét con người với tư cách là tính con người hiện thực, con người với đời sống xã hội hiện thực của nó, với
Trang 14sống và gắn liền với phương thức sản xuất Chính vì vậy thời đại nào thì sản sinh ra con người của thời đại ấy
Khẳng định bản chất xã hội củ con người không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống của con người Ở con người mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh học ở con người cũng mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt
tự nhiên, mặt sinh học ở con người
* Con người là chủ thể là sản phẩm của lịch sử
Không có thể giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của thế giới hữu sinh Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn là chủ thể cỉa lịch sử-xã hội Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào điều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, thay đổi tự nhiên theo mục đích của mình
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử cũng chính là chủ thể sang tạo ra lịch sử của chính bản than con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với nhu cầu, mục tiêu do con người đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội và do
đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
Bản chất con người luôn luôn vận động biến đổi trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với các điều kiện tồn tại của con người Con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sang tạo Thông qua đó, bản chất của con người cũng
Trang 15vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử
sẽ quy định tương ứng với sự vận động và biến đổi của bản chất con người
1.1.2 Khái niệm phát triển con người
Những thập kỷ gần đây, phát triển kinh tế đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự tiến bộ của nhiều quốc gia trên thế giới Trước đây, các quốc gia đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu và coi tăng trưởng là chìa khóa của mọi sự phát triển Xuất phát từ quan điểm đó trong một thời gian dài khi đánh giá về sự phát triển của mỗi quốc gia hay mỗi cộng đồng người ta thường dựa vào các chỉ số kinh tế như tốc độ tăng trưởng hay các chỉ số về tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân Trên thực tế, kinh tế đóng một vai trò quan trọng là một điều không thể phủ nhận Vì tăng trưởng kinh tế là cơ sở là điều kiện cần để cải thiện và nâng cao mức sống của dân cư Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào các chỉ số kinh tế để đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng thì không thể phản ảnh được đầy đủ các mặt trong đời sống xã hội của con người trong quốc gia hay nói cách khác nó không phản ánh được các phúc lợi mà con người nhận được trong quá trình phát triển Vì tăng trưởng kinh tế chỉ bó hẹp trong quan hệ kinh tế và nhu cầu vật chất, con người còn có nhiều nhu cầu khác như chăm sóc sức khỏe, học tập hiểu biết, được tiếp cận thông tin, sống cuộc sống bình đẳng…Xuất phát từ những bất cập đó, những năm cuối thế kỷ XX, các nhà khoa học trên thế giới bắt đầu nghiên cứu để tìm ra cách tiếp cận mới có thể phản ánh đầy
đủ hơn về sự phát triển Một trong những cách tiếp cận được cộng đồng quốc tế chấp nhận và phản ánh khá bao quát và toàn diện về quá trình phát triển đó là cách tiếp cận dựa vào phát triển con người
Năm 1990, Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) xuất bản Báo cáo
Phát triển con người (Human Development Report-HDR) với nhan đề “Mục tiêu duy nhất là đặt lại con người vào trung tâm của sự phát triển”, đánh dấu một bước quan trọng
trong việc khẳng định vai trò của con người trong quá trình phát triền Trong báo cáo này
đã thể hiện rõ cách nhìn nhận thấu đáo và toàn diện hơn về sự phát triển của các quốc gia, nhấn mạnh mục đích cuối cùng của sự phát triển là phát triển con người UNDP đã đưa ra
tuyên ngôn đầy ấn tượng “của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia
Trang 16đó Và mục đích của phát triển là để tạp ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh, sang tạo”[29, tr 3]
UNDP đưa ra khái niệm về phát triển con người trong Báo cáo Phát triển con
người như sau: “Phát triển con người là quá trình nhằm mở rộng sự lựa chọn của quần chúng” [29, tr 4] Về nguyên tắc sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời
gian Tuy nhiên ở các cấp độ phát triển, có ba nhu cầu cơ bản: Có cuộc sống khỏe mạnh, sống trường thọ; được học tập và hiểu biết và có nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt Song, phát triển con người không dừng lại đó Sự lựa chọn của dân chúng được đánh gái cao bao gồm sự tự do kinh tế, xã hội chính trị để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sang tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người Như vậy phát triển con người gồm hai mặt: Một là sự hình thành các năng lực của con người và mặt khác là việc sử dụng các năng lực con người đã tích lũy được cho các hoạt động kinh tế, xã hội Như vậy, thì thu nhập không phải là tất cả của cuộc sống con người, mục đích của cuộc sống con người, mục đích của phát triển là mở rộng mọi sự lựa chọn của con người chứ không phải thu nhập
Bên cạnh đó, UNDP cũng phân tích các khía cạnh chủ yếu của phát triển con người như sau:
Thứ nhất, mục tiêu của sự phát triển là vì con người, là nâng cao mức sống vật
chất và tinh thần một cách hiệu quả toàn diện chứ khôn phải chỉ là sự gia tăng đơn thuần về của cải vật chất Ở đây, tăng trưởng kinh tế chỉ là cơ sở là điều kiện cần để nâng cao cải thiện đởi sống dân cư chứ không phải là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển Nhìn vào thực tế của các nước trên thế giới, có thể thấy tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với việc cải thiện đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân, hay nói cách khác không hoàn toàn trực tiếp đồng nhất với phát triển con người Bản thân tăng trưởng kinh tế chưa hẳn kích thích sự phát triển con người mà vấn đề có ý nghĩa quyết định là sử dụng các thành quả của tăng trưởng kinh tế đầu tư vào phát triển con người như thế nào
Thứ hai, phát triển con người phải được xem xét toàn diện, trên tất cả các mặt,
các lĩnh vực đời sống xã hội Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến việc mở rộng sự lựa chọn cho con người trong quá trình phát triển trong tất cả lĩnh vực của đời sống - kinh
Trang 17tế, giáo dục, y tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa chứ không chỉ giới giạn trong một phạm vi hẹp nào
Bên cạnh đó, cách tiếp cận toàn diện còn chú ý đến toàn thể người dân tức tất
cả các tầng lớp người không phân biệt chủng tộc, giới tính, giai cấp, tôn giáo,…nó hướng tới việc tạo ra bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, đồng thời quan tâm đến việc phân bổ nguồn lực công bằng cho toàn thể dân cư Ngoài ra, còn quan tâm đến cả những nhóm người dễ bị tổn thương như người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, cư dân miền núi…từ đó tạo điều kiện để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu và đảm bảo bình đẳng với các tầng lớp người khác trong xã hội
Theo quan điểm phát triển con người toàn diện này, phát triển con người phải đảm bảo tính bền vững Điều đó có nghĩa rằng, phát triển ở hiện tại phải đảm bảo không gây tác động tiêu cực đến các thế hệ tương lai Đó là sự quan tâm đến lợi ích của thế hệ này không bỏ qua thế hệ tương lai, đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển thế hệ sau
Thứ ba, phát triển con người ở đây nhất mạnh đến cơ hội tham gia của tất cả
mọi người vào quá trình phát triển Tất cả các thành viên trong xã hội đều có cơ hội tham gia vào các hoạt động, sự kiện và được quyết định các công việc có tác động tới công việc của họ
Như vậy, có thể thấy quan điểm về phát triển con người của UNDP là quan điểm toàn diện đã bao quát được các mặt của sự phát triển con người, quan điểm này nhấn mạnh cần phải mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn cho mỗi người Với quan điểm này, UNDP đã đưa ra một cách tiếp cận mới về phát triển nói chung và phát triển con người nói riêng một cách khá chi tiết, trong đó con người được coi là thước đo đánh giá sự tiến bộ xã hội và là mục tiêu tối thượng mà mỗi quốc gia mối cộng đồng hướng tới
Trên cơ sở các quan niệm về phát triển con người đã phân tích, Luận văn quan
niệm: Phát triển con người là quá trình nhằm mở rộng sự lựa chọn cho con người Trong đó những nhân tố chủ yếu của quá trình này chính là dẫn tới một cuộc sống mạnh khỏe, trường thọ, được giáo dục và hưởng thụ một cuộc sống đầy đủ và đảm bảo
Trang 18những vấn đề về bình đẳng giới, bình đẳng thu nhập Và bên cạnh đó những lựa chọn khác bao gồm tự do chính trị bảo đảm nhân quyền
1.1.3 Các nhân tố tác động đến phát triển con người
Có rất nhiều nhân tố tác động đến phát triển con người của một quốc gia Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy nổi lên một số nhân tố cơ bản sau:
Một là, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Trình độ phát triển kinh
tế-xã hội là nền tảng quan trọng để nâng cao trình độ phát triển con người của một quốc gia Tăng trưởng kinh tế là điều điện cần, là cơ sở để nâng cao cải thiện đời sống của cư dân, từ đó nâng cao chất lượng phát triển con người Hay nói cách khác trình độ phát triển kinh tế-xã hội là tấm gương phản chiếu chính xác, trung thực mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế-xã hội và phát triển con người Kinh tế tăng trưởng
và phát triển tạo điều kiện thuận lợi để phát triển con người, Ngân sách nhà nước nói chung và nguồn kinh tế dư thừa trong hộ gia đình nói riêng không ngừng tăng lên, con người có điều kiện đầu tư nâng cao chất lượng cuộc sống Từ đó giảm được tỷ lệ nghèo, đói ở quốc gia
Hai là, Giáo dục và đào tạo, Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của liên
hợp quốc đã khẳng định: Giáo dục là của cải nội sinh Kết quả của giáo dục là nguồn sức mạnh nội lực của chính bản than mỗi cá nhân nhưng hiệu ứng và tính lan tỏa do kết quả ấy mang lại thì có tầm vóc toàn xã hội, tạo ra phúc lợi toàn dân Trí tuệ và năng lực sáng tạo là yếu tố quyết định trong quá trình phát triển Do đó, đầu tư cho giáo dục luôn được coi là “quốc sách hàng đầu” Sự Phát triển hệ thống giáo dục ở mỗi quốc gia tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế-xã hội của chính mỗi quốc gia Nếu chất lượng nguồn nhân lực tốt sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia, khi có tăng trưởng và phát triển kinh tế thì sẽ thúc đẩy phát triển con người Bên cạnh đó, khi hệ thống giáo dục tốt, toàn diện sẽ nâng cao chỉ số giáo dục từ đó nâng cao chỉ số phát triển con người quốc gia đó Khi có tri thức con người sẽ có nhận thức đúng đắn các vấn đề về giới từ đó có thể giảm thiểu bất bình đẳng về giới
Ba là, hệ thống các chính sách của Nhà nước, ngoài các yếu tố nêu trên, để
nâng cao trình độ phát triển con người, hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước
Trang 19như: chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, chính sách liên quan tới phát triển giới, chính sách về phân phối thu nhập…đều có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển con người ở mỗi quốc gia Nếu chính sách chăm sóc sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao thể trạng và chất lượng sống của người dân từ đó nâng cao tuổi thọ bình quân Các chính sách phát triển giới được thực thi thì quyền của phụ nữ sẽ được đảm bảo, khoảng cách giới trong các lĩnh vực chủ yếu như chính trị, kinh tế, lao động và việc làm, giáo dục, văn hóa và gia đình sẽ được thu hẹp Bên cạnh đó để đạt được những thành tựu tốt trong lĩnh vực bảo đảm công bằng trong phân phối thu nhập cũng cần có những chính sách hướng tới việc phân phối lại thu nhập và của cải và những chính sách mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực cho mọi người trong xã hội
1.2 Thước đo phát triển con người
Ban đầu, UNDP đã đưa ra các thước đo để do lường phát triển con người gồm các chỉ số phản ánh các mặt cơ bản của phát triển con người - gồm chỉ số thu nhập, chỉ
số giáo dục và chỉ số y tế Theo thời gian UNDP đã đưa thêm các chỉ số khác phản ánh các khía cạnh khác của phát triển con người như khía cạnh nghèo khổ, khía cạnh bất bình đẳng giới và bất bình đẳng về thu nhập trong quá trình phát triển Và các chỉ số được đưa ra là chỉ số nghèo khổ con người (HPI); nghèo khổ tổng hợp (MPI), chỉ số phát triển giới (GDI), chỉ số bất bình đẳng giới (GII), j Những chỉ số này bổ sung một cách hoàn thiện hơn trong việc đo lường phát triển con người của một quốc gia
Bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản này, Liên hợp quốc có đề cập một số chỉ số đánh giá các mặt khác như việc làm, môi trường, quyền con người, an ninh con người…Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của đề tài, vì vậy trong luận văn này chỉ phân tích những thước đo cơ bản nhất về phát triển con người: chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần; chỉ số nghèo khổ; chỉ số đo bất bình đẳng giới, chỉ
số đo bất bình đẳng thu nhập
1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI-Human Development Index)
1.2.1.1 Cơ cấu và ý nghĩa của chỉ số phát triển con người
HDI là chỉ tiêu tổng hợp đo thành tựu trung bình của một quốc gia HDI xác định liệu con người có được một cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh, được giáo dục và
Trang 20IN E
I HDI
trang bị kiến thức và được hưởng một mức sống tốt hay không HDI xem xét điều kiện trung bình của tất cả mọi người trong một quốc gia
Trên thực tế, HDI chứa đựng ba yếu tố phản ánh tương ứng ba khía cạnh thuộc
về năng lực phát triển của con người, đó là: năng lực tài chính (thu nhập); năng lực trí lực (giáo dục) và năng lực thể lực (y tế và chăm sóc sức khỏe) Ba yếu tố cấu thành HDI đã được thống nhất sử dụng từ năm 1990, bao gồm: y tế, chăm sóc sức khỏe (tính bằng tuổi thọ bình quân); giáo dục (tính theo hai tiêu chí là tỷ lệ người lớn đi học và số năm đi học trung bình); GNI/người theo PPP được đưa vào HDI phản ánh thu nhập
1.2.1.2 Cách tính chỉ số HDI
Vì đơn vị đo của mỗi chỉ tiêu không giống nhau, nên điều quan trọng cần tìm ra một đơn vị đo lường chung cho các mục tiêu kinh tế-xã hội HDI thiết lập một giới hạn cận trên cận dưới cho từng khía cạnh Phương pháp chỉ số là cách thức để quy đổi các đơn vị đo lường của các tiêu chí bộ phần thành chung
Trước báo cáo phát triển con người năm 2010, UNDP đã sử dụng phương pháp trung bình cộng, theo đó HDI là trung bình cộng của ba chỉ số thành phần Tuy nhiên, trong báo cáo phát triển năm 2010 đến nay, đi đôi với sự thay đổi một số yếu tố thành phần trong HDI, phương pháp tính cũng có sự thay đổi phù hợp bảo đảm tính chính xác hơn của chỉ số này Và cách tính HDI như sau :
Trước báo cáo năm 2010 :
HDI được tính theo công thức sau:
Trong đó :
* IA là chỉ số đo tuổi thọ,
* IE là chỉ số đo tri thức giáo dục Được đo bằng chỉ số tổng hợp giữa tỉ lệ biết chữ
của người lớn I E1 (2/3 trọng số) và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục I E2 (1/3 trọng số),
* IIN là chỉ số đo mức sống
Chỉ số tuổi thọ, giáo dục tính theo công thức sau:
Trang 21
Còn chỉ số thu nhập tính theo công thức:
Chỉ số I thu nhập đưa vào HDI với vai trò là biến đại diện cho mức sống thoả đáng
Cách tiếp cận này được chi phối bởi thực tế là việc đạt đượ một mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản thu nhập vô hạn và cũng không đòi hỏi mức thu nhập cao Để phản ánh điều này, thu nhập thường được điều chỉnh trong
tính toán HDI Phương pháp được sử dụng hiện nay là hàm logarit của thu nhập
I IN =
Bảng 1.1: Giá trị tối đa và tối thiểu các chỉ số thành phần HDI
(trước báo cáo phát triển con người năm 2010)
Chỉ tiêu Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu
Thu nhập bình quân đầu người
ngang giá sức mua ( PPP USD)
(GDP bình quân đầu người)
Nguồn : Báo cáo con người năm 1990, UNDP
Sau báo cáo năm 2010 : HDI được tính như sau :
Bước 1: thiết lập chỉ số thành phần, bao gồm : chỉ số thu nhập (Iw) chỉ số tuổi thọ (IA), và chỉ số giáo dục (IE) và được tính như sau :
Trang 22Bảng 1.2 : Giá trị tối đa và tối thiểu các chỉ số thành phần HDI
(Báo cáo phát triển con người năm 2010)
2010)
20
( Newzealand-2010)
0
Thu nhập bình quân đầu người
(GNI bình quân đầu
người)(PPP-USD)
108211 (United Arab Emirates-1980)
163 2008)
Nguồn: Báo cáo con người năm 2010, UNDP
Khi tính chỉ số giáo dục, công thức (1) được áp dụng tính cho cả 2 thành phần phụ (số năm đến trường thực tế và số năm đến trường kỳ vọng), cuối cùng công thức (1) lại được áp dụng lại để tính chỉ số giáo dục cụ thể :
Trong đó :
Chỉ số năm thực tế tới trường (I E1)=
Chỉ số năm kỳ vọng tới trường (I E2)=
Khi tính chỉ số thu nhập, bởi mỗi chỉ số là 1 số mang tính chất đại diện cho khả năng xảy ra của chỉ tiêu này, vì thế mà khi tính ta sử dụng logarit cơ số tự nhiên (thay
vì logarit cơ số 10 như trước báo cáo 2010) đối với các chỉ số thực tế, GTLN và GTNN
Trang 23Trên cơ sở đó các Quốc Gia có thể xác định các trọng điểm cần ưu tiên để thực hiện sự can thiệp các chính sách cụ thể nhằm cải thiện sự tiến bộ xã hội, nâng cao trình độ phát triển con người HDI nằm trong khoảng 0 đến 1 HDI càng gần gía trị 1 chứng tỏ trình
độ phát triển con người càng cao Những nước có HDI cao là những nước có HDI lớn hơn 0,8; những nước có HDI trung bình là những nước có HDI từ 0,5 đến 0,8; Những nước có HDI thấp là những nước có HDI thấp hơn 0,5 (theo báo cáo phát triển con người năm 2008 của LHQ) Từ báo cáo phát triển 2010, việc phân loại các quốc gia được thực hiện dựa trên vị trí trong bảng phân bổ HDI Một quốc gia sẽ thuộc nhóm rất cao nếu chỉ số HDI của nước đó thuộc số ¼ cao nhất, thuộc nhóm cao nếu HDI nằm trong khoảng 51-75, thuộc nhóm trung bình nếu HDI ở trong khoảng 26-50, và thuộc thấp nếu HDI thuộc số ¼ thấp nhất
Từ năm 2010, bên cạnh HDI, Văn phòng báo cáo phát triển con người (HDRO) còn tính thêm chỉ số phát triển con người có điều chỉnh sự bất bình đẳng (IHDI) Nếu như HDI phán ánh phát triển con người chưa tính đến vấn đề bất bình đẳng tức là coi sự phát triển con người của các quốc gia là như nhau giữa mọi người dân, thì IHDI đã tính đến những bất bình đẳng giữa những người được hưởng thụ trong các thành phần của HDI bằng cách ”khấu trừ” mỗi trị số trong từng thành phần tương ứng với mức độ bất bình đẳng của nó Xét theo cách tính này, IHDI là đánh giá mức độ phát triển con người thực tế(đã tính đến sự bất bình đẳng) Như vậy IHDI HDI, khi IHDI=HDI thì
có sự bình đẳng tuyệt đối giữa các người dân, IHDI càng xa HDI thì bất bình đẳng giữa người dân càng cao
1.2.2 Chỉ số đánh giá nghèo khổ
1.2.2.1 Nghèo khổ vật chất
Từ những năm 70, trong các nghiên cứu cơ bản về nghèo, nghèo được là là sự nghèo khổ về tiêu dùng hay nghèo khổ về cật chất, với tư tưởng cốt lõi và căn bản nhất để một người bị coi là nghèo đói, đó là sự “thiểu hụt” so với một mức sống nhất định, mà sự thiếu hụt này được xác định theo chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian Đến năm 1993, tại hội nghị chống đói nghèo đã đưa ra khái
niệm về nghèo khổ vật chất một cách hệ thống hơn, đó là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu
Trang 24này được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của Đất nước
Để đo lường nghèo khổ vật chất, điều quan trọng là phải xác định được chuẩn nghèo (ngưỡng nghèo) Những người có mức chi tiêu vật chất dưới ngưỡng này được coi là những người nghèo Chuẩn nghèo là một thước đo tương đối, nó được thay đổi theo các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và tập quán chi tiêu vùng dân cư, vì thế chuẩn nghèo quốc gia sẽ thay đổi theo thời gian, theo vùng (thành thị, nông thôn, miền núi) và có xu hướng tăng theo sự phát triển kinh tế-xã hội
Chuẩn nghèo quốc tế, được sử dụng để xác định tình trạng nghèo đói ở phạm bị quốc tế, chuẩn nghèo quốc gia là cơ sở xác định tình trạng nghèo của cả nước Chuần nghèo của quốc gia cũng được coi như là “mức sàn” để xác định chuẩn nghèo cho các địa phương khác nhau căn cư vào mức sống, nhu cầu chia tiêu, sức mua của đồng tiền Và chuẩn nghèo này không cố định bởi sự thay đổi theo thời gian của những yếu
tố cấu thành nên nó Ví dụ chúng ta vẫn thường gọi chuẩn nghèo quốc tế “1 USD/ngày” nhưng chỉ tiêu này cũng thay đổi nhiều lần từ khi Ngân hàng thế giới (World Bank-WB) công bố lần đầu năm 1985, đến năm 1993 tăng lên 1,08 USD, và 1,25 USD từ năm 2000 đến nay Ở Việt Nam, chuẩn nghèo quốc gia được thay đổi theo giai đoạn khoảng 5 năm, giai đoạn 2001-2005, chuẩn nghèo áp dụng cho khu vực nông thông là 100.000 VNĐ/người/tháng, và khu vực thành thị là 150.000 VNĐ/người/tháng; giai đoạn 2006-2010 các số tương ứng là 200.000 VNĐ và 260.000 VNĐ; giai đoạn 2011-2015 là 400.000 VNĐ và 500.000 VNĐ; giai đoạn 2015-2020 là 700.000 VNĐ và 900.000 VNĐ [2, trg.10]
Trên cơ sở chuẩn nghèo, chúng ta có thể đo lường tình trạng nghèo khổ vật chất theo các tiêu chí sau:
(1) Mức và tỷ lệ nghèo khổ (chỉ số và tỷ lệ đếm đầu): Đây là tiêu chí phản ánh
rõ nhất, tổng quát nhất tình trạng nghèo khổ và cũng là phương pháp đo lường đơn giản nhất Mức nghèo khổ (chỉ số đếm đầu- HC) được xác định trên cơ sở đếm đầu những người sống dưới chuẩn nghèo, tức những các nhân hoặc hộ gia đình (i) có mức thu nhập ( ) dưới mức chi tiêu tối thiểu (C), còn tỷ lệ đếm đầu (HCR) sẽ là:
Trang 25
bổ sung thêm công cụ đo lường đầy đủ hơn
(2) Tỷ số khoảng cách nghèo và chỉ số khoảng cách thu nhập: có tác dụng xem
xét mức độ trầm trọng của nghèo khổ
* Tỷ số khoảng cách nghèo được định nghĩa là tỷ lệ giữa thu nhập trung bình
cần thiết để tất cả người nghèo đạt chuẩn nghèo chia cho thu nhập trung bình toàn xã hội Tỷ số khoảng cách nghèo (PRG) được tính theo công thức: PRG=
Trong đó m là thu nhập trunh bình của toàn xã hội và i chỉ tính đối với những người có thu nhập <C
PGR có hai ý nghĩa: (i) đo lường mức độ trầm trọng của tìnht rạng nghèo khổ vật chất so với thu nhập toàn xã hội Nếu PGR càng lớm thì mức độ trầm trọng của nghèo khổ vật chất càng cao (ii) cho phép đo lường được nguồn lực cần thiết để xóa
bỏ nghèo đói Tử số của công thức trên chính là khoảng chênh lệch giữa chi tiêu cần
có và thu nhập hiện có đối với những người nghèo và đó chính là lượng tài chính cần
có để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
1.2.2.2 Nghèo khổ đa chiều
Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, UNDP đã đưa ra khái niệm
nghèo khổ dựa trên cơ sở quan điểm về phát triển con người, gọi là nghèo khổ tổng hợp hay là nghèo khổ con người Khác với quan niệm nghèo khổ vất chất, nghèo khổ
tổng hợp đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống
cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được” Theo đó, nghèo khó được tính trong điều kiện khó khăn trong phát triển con người, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi, thiếu giáo dục
cơ bản và thiếu sự tiếp cận các nguồn lực của xã hội
Trang 26(1) Chỉ số nghèo khổ con người (HPI-Human Poverty Index): Đây là chỉ số lần
đầu được đưa ra trong báo cáo con người năm 1997 nhằm tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượng sống của con người vào trong một chỉ số để có đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của một cộng đồng
HPI tập trung phản ảnh sự bần cùng của ba khía cạnh thiếu yếu của con người
đã được đề cập đến HDI, đó là: tuổi thọ bình quâ, giáo dục và mức sống Yếu tố đầu tiên liên qua đến khả năng sống: khả năng bị tử vong ở độ tuổi tương đối trẻ do sự thiếu thốn, thể hiện trong HPI là phần số người có khả năng sẽ chết trước tuổi 40 Khía cạnh thứ hai liên quan đến trình độ tri thức: bị tacchs khỏi thế giới giao tiếp, đọc viết,
đo bằng tỷ lệ phần trăm người lớn bị mù chữ Khía cạnh thứ ba liên quan đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt là sự phân chia kinh tế nói chung, điều này phản ánh trong HPI bằng cách tổng hợp ba yếu tố: tỷ lệ phần trăm trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng,
cụ thể HPI được tính bởi các bước sau:
Bước 1: Thu thập các thông tin: (i) tỷ lệ dân số không kỳ vọng sống quá tuổi 40
( ); (ii) Tỷ lệ người lớn không biết chữ ( ); (iii) tỷ lệ suy dinh dưỡng ( ), tỷ lệ không tiếp cận y tế ( ), tỷ lệ hộ không được sử dụng nước sạch ( ) và được tính
Bước 2: HPI (áp dụng cho các nước đang phát triển), theo công thức:
(2) Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI-Multidimensional Poverty Index): Chỉ số
này được đưa vào báo cáo phát triển năm 2010 Về cơ bản ý nghĩa và tiêu chí của chỉ
số nghèo khổ tổng hợp mới vẫn không thay đổi, tức nó phản ánh mức độ thiếu hụt của mỗi cá nhân theo 3 phương diện: sức khỏe, giáo dục và chất lượng cuộc sống Tuy vậy chỉ số mới này hoàn thiện hơn về mặt nội dung và cách tính toán Các yếu tố cấu thành mỗi tiêu chí có hướng hoàn thiện hơn bằng cách đưa vào nhiều nội dung hơn cụ thể 10 thành phần tương ứng với 3 phương diện Phương diện sức khỏe gồm hai thành phần: tình trạng suy dinh dưỡng và chết yểu; phương diện giáo dục gồm hai thành phần: tình trạng không học hết lớp 5 và trẻ em không được đến trường; phương diện
Trang 27chất lượng cuộc sống, bao gồm sáu thành phần: tình trạng không được sử dụng điện, nước sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu bẩn và không có phương tiện đi lại tối thiểu Các kết quả thành phần nhận được thông qua điều tra mẫu các hộ gia đình, từng thành viên trong hộ gia đình trong mẫu đều được điều tra Phương pháp tính cụ thể được nêu trong báo cáo phát triển con người như sau:
Mỗi cá nhân trong từng hộ được xếp vào loại nghèo hoặc không nghèo phụ thuộc vào số lượng thiếu hụt trong gia đình mình Những số liệu sau đó sẽ được tập hợp vào thước đo sự nghèo đói của quốc gia mình Cụ thể: căn cứ vào kết quả điều tra, mỗi người sẽ nhận được một kết quà căn cứ vào sự thiếu thốn của gia đình về từng loại trong 1o chỉ số thành phần nêu trên (ký hiệu là d=10) Điểm cao nhất là 10 tính cho ba phương diện, mỗi phương diện nhận tối đa là Mỗi phương diện sức khỏe và giáo dục có 2 thành phần vì vậy mỗi thành phần có giá trị là 5/3 (1,67) Phương diện chất lượng cuộc sống có 6 thành phần mỗi thành phần có giá trị 5/9 (hoặc 0,56)
Các ngưỡng sức khỏe đó là trong hộ gia đình có ít nhất một trẻ suy dinh dưỡng
và có một hoặc nhiều trẻ bị chết Các ngưỡng giáo dục là trong hộ không có thành viên nào hoàn thành 5 năm học và có ít nhất 1 trẻ trong độ tuổi đi học (8 tuổi) mà không được đi học Ngưỡng tiêu chuẩn sống liên quan tới điều kiện thiếu điện, nước sinh hoạt cũng như điều kiện vệ sinh đầy đủ, phải sử dụng nhiên liệu nấu bếp bẩn ( phân bón, gỗ hoặc than củi), sàn nhà bẩn, và không có xe con, xe tải cũng nhưu phương yienej xe máy tương tự và sở hữu nhiều nhất một trong các tài sản sau: xe đạp, xe máy, đài rađio, tủ lạnh, điện thoại, hoặc TV
Để xác định những người thuộc diện nghèo một cách toàn diện, người ta tính tổng số điểm về mức độ thiếu hụt cho mỗi hộ gia đình ( điểm nhận được của mối gia đình ký hiệu là c) Nếu c bằng hoặc lớn hơn 3 thì hộ gia đình đó được tính nghèo tổng hợp Nếu 2<c<3 thì hộ gia đình đó được xếp vào diện dễ tổn thương hoặc có nguy cơ trở nên nghèo toàn diện
Giá trị của MPI được tính theo kết quả tính toán hai giá trị cá biệt là: tỷ lệ nghèo toàn diện và mức độ nghèo toàn diện
(i) Tỷ lệ nghèo toàn diện
Trang 28Trong đó q là số người thuộc diện nghèo toàn diện và n là tổng dân số
1.2.3 Chỉ số bất bình đẳng giới
1.2.3.1 Khái niệm bình đẳng giới
Bình đẳng giới được hiểu là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc…)
mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng
để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó
Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng quyền của họ Như vậy nội hàm của bình đẳng giới ba gồm ba khía cạnh có liên quan đến ba loại quyền: một là quyền bình đẳng về cơ hội tiếp cận các hoạt động kinh tế xã hôi, tức
là nam nữ bình đẳng trong việc được trang bị các năng lực con người (trí lực, thể lực, tài chính); hai là nam nữ được bình đẳng trong cơ hội sử dụng, tức là không có sự phân
Trang 29biệt nam hay nữ trong việc sử dụng họ vài trong các hoạt động kinh tế-xã hội; ba là, bình đẳng trong hưởng thụ các kết quả hay lợi ích xã hội, tức là không có sự phân biệt nam hay nữ trong quá trình phân chia các kết quả lao động
1.2.3.1 Thước đo bất bình đẳng giới
Để đánh giá bất bình đẳng giới, Báo cáo phát triển con người năm 1995, UNDP
đã đưa ra hai chỉ số phản ảnh tổng hợp hai góc độ của phát triển con người có chú ý đến giới là chỉ số phát triển giới (GDI) phản ảnh trình độ phát triển giới và thước đo quyền lực giới tính (GEM) phản ánh vị thế của giới Tuy nhiên, từ báo cáo phát triển con người năm 2010 của UNDP, chỉ số GDI và GEM không còn được đưa vào công
vụ đánh giá bất bình đẳng giới và thay vào đó là chỉ số bất bình đăng giới (GII)
(1) Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index GDI)
Nếu HDI đo thành tựu trung bình thì GDI phản ánh tổng hợp năng lực phát triển của con người (trí lực, thể lực và năng lực tài chính) đạt được mức độ như thế nào nếu chú ý đến yếu tố giới, giúp chúng ta trả lời được câu hỏi: có sự khác biệt không về năng lực phát triển giữa nam và nữ?
Như vậy cũng giống như HDI, GDI phản ảnh các thành tựu đạt được trên ba lĩnh vực như HDI đó là: một cuộc sống lâu dài khỏe mạnh đưuọc đo bằng tuổi thọ bình quân; trình độ tri thức được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp ( theo cách tính HDI năm 2010 thì hai gái trị này là số năm đi học trung bình và số năm đi học kỳ vọng); mức sống hợp lý đo bằng thu nhập bình quân đầu người theo ngang giá sức mua PPP Tuy vậy khác với HDI, GDI phản ảnh chênh lệch giữa nam và nữ
Để tính được GDI chúng ta cũng cần các thông tin cơ sở để tính toán như HDI, trong đó mỗi chỉ tiêu cần có các số liệu chi tiết cho nam riêng nữ riêng và cần có tỷ lệ nam và nữ trong tổng dân số, và GDI được tính theo ba bước sau:
Bước một, tính toán riêng các chỉ số (chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục, chỉ số thu
nhập) cho nữ và nam theo công thức chung phần HDI
Bước hai, xác định các chỉ số phân bổ công bằng thành phần trên cơ sở các chỉ
số thành phần tính riêng chon am và nữ ở bước một để phản ảnh sự chênh lệch giữa nam và nữ Các chỉ số phân bổ công bằng tính theo công thức chung sau đây
Trang 30Chỉ số phân bổ công bằng={[tỷ lệ dân số nữ x ] + [tỷ lệ dân số nam x
] Bước ba, GDI được tính bằng cách tổng hợp các chỉ số phân bổ công bằng
thành một giá trị bình quân không có quyền số (tính bình quân số học của 3 chỉ số phân bổ công bằng)
Theo phương pháp tính trên, GDI giảm khi các thành tựu đạt được về phát triển con người của cả nam và nữ bị giảm hay sự phát triển không đồng đều giữa nam và nữ tăng lê, sự phát triển không đồng đều về các năng lực cơ bản của nam và nữ càng cao, GDI của nước đó sẽ thấp hơn HDI GDI chỉ đơn giản là HDI được điều chỉnh thấp xuống theo mức độ phát triển đều về giới tính Như vậy mức độ phát triển không đồng đều về giới tính được được xem xét bằng sự chênh lệch về HDI và GDI Trong mỗi nước, nếu giá trị GDI càng gần với HDI sự khác biệt theo giới tính càng ít, trường hợp hai chỉ số cao tương đương nhau chứng tỏ ở nước này không chỉ có trình độ phát triển con người cao mà còn phản ánh sự phát triển khá đều giữa nam và nữ
(2) Thước đo quyền lực giới tính (Gender Empowerment Measure-GEM)
Năm 1995, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra chỉ tiêu quyền lực giới tính (GEM) để đo lường kết quả những năng lực đã được trang bị của nam và nữ để khai thác cơ hội của cuộc sống GEM đánh giá những tiến bộ trong việc nâng cao vị thế của nữ giới về kinh
tế, chính trị, khoa học kỹ thuật GEM bao gồm ba yếu tố, đó là: (i) Mức độ tham gia hoạt động chính trị và ra quyết định, được cụ thể bằng tỷ lệ tham gia trong quốc hội của nam và nữ; (ii) Tham gia hoạt động kinh tế, khoa học công nghệ và ra quyết định, được thể hiện bằng hai tiêu chí là tỷ lệ nam hoặc nữ tham gia các vị trí quản lý, điều hành và tỷ lệ nam hay nữ trong quản lý khoa học; (iii) Quyền sử dụng các nguồn lực kinh tế thông qua tiêu chí tỷ lệ thu nhập kỳ vọng của nam hay nữ chiếm trong tổng dân
cư GEM được tính theo các bước sau đây:
Bước một, điều tra thống kê số liệu tách biệt giữa nam và nữ về bốn tiêu chí: tỷ
lệ tham gia quốc hộ của nam và nữ; tỷ lệ tham gia các vị trí quản lý và điều hành của nam và nữ; tỷ lệ tham gia vị trí quản lý và điều hành lĩnh vực khoa học kỹ thuật và tỷ
lệ thu nhập của nam và nữ
Trang 31Bước hai, tính toán phần trăm phân bổ công bằng theo từng tiêu chí, theo công thức: Phần trăm tỷ lệ phân bổ công bằng (EDEP) = {[tỷ lệ dân số nữ x
Bước ba, GEM được tính bằng cách tổng hợp các phần trăm phân bổ công bằng
thành một giá trị bình quân không có quyền số (tính bình quân số học của ba phần trăm phân bổ công bằng)
GEM xác định theo phương pháp nói trên, là thước đo quyền lực của giới Nếu GEM càng lớn chứng tỏ xã hội đã có sự quan tâm cao độ đến sử dụng năng lực của cả nam và nữ để khai thác các cơ hội của cuộc sống Thông thường khi đánh giá phát triển con người có liên quan đến khía cạnh giới tính, chúng ta phải quan tâm đồng thời đến cả hai chỉ tiêu GDI và GEM Trên thực tế có nước GDI khá cao, thể hiện sự quan tâm của xã hội đến việc nâng cao năng lực của nam và nữ, nhưng chỉ số GEM lại không cao, điều đó có nghĩa mặc dù năng lực của phụ nữ được trang bị khá tốt, nhưng
xã hội lại không quan tâm đến khía cạnh sử dụng họ theo năng lực, đây cũng phản ánh một hạn chế trong phát triển con người
(3) Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender Inequality Index-GII)
Đây là chỉ số mới được đưa vào trong báo cáo phát triển con người của Liên hiệp quốc năm 2010 Chỉ số này phản ảnh bất lợi của phụ nữ trên ba khía cạnh: sức khỏe sinh sản, quyền lực và thị trường lao động GII phản ánh khá tổng hợp bất sự bình đẳng giới, là cơ sở xác định điều chỉnh các yếu tố liên quan đến thiếu hụt của nữ giới về khía cạnh phát triển con người ở các quốc gia
Theo ý nghĩa trên, GII gồm có 3 yếu tố, đó là: (i) yếu tố phản ánh sức khỏe sinh sản, bao gồm tỷ lệ chết mẹ (MMS) được tính là số bà mẹ tử vong trong số 100.000 trẻ
em sinh ra còn sống và tỷ lệ vị thành niên mang thai (AFR) được tính bằng số phụ nữ mang thai ở lứa tuổi từ đến 19 trên 1.000 phụ nữ cùng độ tuổi (ii) yếu tố quyền lực, bao gồm tỷ lệ đại biểu quốc hội và tỷ lệ đến trường bậc trung học; (iii) yếu tố thị trường lao động được tính theo tỷ lệ tham gia thị trường lao động GII được tính theo các bước sau:
Bước 1: Thu nhập và tính toán các giá trị trong mỗi nhóm giới tính:
- Với nữ giới, công thức là
Trang 32Trong đó: MMR là tỷ lệ mẹ tử vong
AFR là tỷ lệ vị thành niên mang thai
là tỷ lệ nữ giới trong quốc hội
tỷ lệ nữ giới đi học bậc trung học
là tỷ lệ nữ giới tham gia thị trường lao động
- Với nam giới:
=Trong đó;
là tỷ lệ nam giới trong quốc hội
là tỷ lệ nam giới đi học bậc trung học
là tỷ lệ nam giới tham gia thị trường lao động
Bước 2: Xác định chỉ số phân bổ công bằng
Các giá trị nhận được nữ giới và nam giới được điều chỉnh một cách hợp lý là
cơ sở thiết lập ra một chỉ số công bằng giới:
HARM(
Bước 3: Tính toán giá trị trung bình cả nam và nữ từ các giá trị trung bình của
từng yếu tố riêng biệt
Trong đó: HRR là tỷ lệ sức khỏe sinh sản
EPR là tỷ lệ quyền lực LFPR là tỷ lệ tham gia thị trường lao động
Bước 4: tính giá trị GII
Trang 33Như vậy, chỉ số GII mới được đưa vào trong báo cáo phát triển con người năm
2010, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh tổng hợp hơn hai chỉ số trước khi đánh giá bất bình đẳng giới trên phương diện về phát triển con người Dựa vào giá trị và thứ hạng của HDI và GII, có thể đánh giá được việc quốc gia quan tâm đến vấn đề giới như thế nào từ đó có các chính sách thiết thực hơn nhằm cải thiện tình trạng giới
1.2.4 Chỉ số đo bất bình đẳng thu nhập
Bình đẳng thu nhập chính là việc đối xử (phân phối) ngang nhau đối với các chủ thể có các có các cơ hội phát triển nhưu nhau (công bằng ngang) Phấn đấu cho sự bình đẳng kinh tế một cách lâu dài và vững chắc, điều quan trọng là phấn đấu cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển cho mọi chủ thể Trong trường hợp, khi còn tồn tại các
cơ sở tự nhiên, xã hội, gia đình và cá nhân của sự bình đẳng trong cơ hội phát triển, thì Chính phủ bằng chính sách của mình có vai trò quyết định trong giảm bớt sự bất công bằng thu nhập Điều đó có nghĩa là, Chính phủ cần có chính sách “đối xử” (phân phối) khác nhau đối với những chủ thể khác nhau về cơ hội phát triển (công bằng dọc)
Trên thế giới, hiện nay đang tồn tại sự bất bình đẳng khá phổ biến và sự phân hóa xã hội theo thu nhập ngày càng rõ nét Việc nghiên cứu tình trạng bất bình đẳng ở các nước đang phát triển chính là một nội dung quan trọng, nhằm xác định một mô hình hợp lý trong quá trình phát triển Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được đo lường bới các thước đo:
(1) Đường cong Lorenz
Conrad Lorenz – nhà thống kê người Mỹ năm 1905 đã xây dựng biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số và tỉ lệ thu nhập tương ứng của họ Đường cong Lorenz được biểu thị trong một đồ thị trong đó, trục tung là tỷ lệ phần trăm cộng dồn, trục hoành là tỷ lệ phần trăm dân số cộng dồn Đường phản ánh phân phối bình đẳng tuyệt đối (ứng bao nhiêu % dân số thì bấy nhiêu % thu nhập), còn lại là đường phân phối lý thuyết Đường cong Lorenz xuất phát từ điểm (0,0) kết thúc điểm (1,1) nằm dưới đường phân phối lý thuyết Các bước xây dựng đường cong Lorenz như sau:
Trang 34Bước 1: Tiến hành điều tra số liệu về thu nhập của từng thành viên trong xã hội;
sắp xếp mức thu nhập dân cư theo thứ tự tăng dần
Bước 2: Phân nhóm các dân cư thành các nhóm có số dân bằng nhau theo mức
điều tra được gọi là một phân vị Thông thường chúng ta chia thành năm nhóm mỗi nhóm gồm 20% dân số: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo Xác định % thu nhập thực tế tương ứng với từng nhóm dân cư
Bước 3: Xác định các điểm liên kết tỷ lệ % dân số cộng dồn và tỷ lệ % thu nhập
cộng dồn, trên đồ thị đã vẽ đường Nối điểm (0,0) vơi các điểm kết hợp và điểm (1,1) ta được đường cong Lorenz
Đường cong Lorenz cho thấy mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỉ lệ phần trăm của dân số có thu nhập và tỉ lệ phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong một khoảng thời gian nhất định chẳng hạn là một năm Để dánh giá mức công bằng dựa vào khoảng chênh lệch (độ mở) của đường phân phối thực tế và đường phân phối
lý thuyết Đường cong càng xa đường phân giác, bất bình đẳng càng tăng lên, có nghĩa
là phần trăm thu nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi Công cụ này cho chúng ta đánh giá sự biến động trong phân phối thu nhập theo mục tiêu công bằng của từng nước, từng địa phương, từng giai đoạn
Trang 35Hình 1.1: Đường cong Lorenz
(2) Hệ số GINI
Trong một thời gian dài các nhà thống kê đã quan tâm đến việc tìm ra một số đo
có thể biểu diễn cụ thể hơn mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Nhà thống
kê người Ý đã phát minh ra hệ số này vào năm 1912 và được lấy tên ông là hệ số GINI, được tính toán trên cơ sở đường cong Lorezn
Theo ký hiệu ở hình 1.1, ta có công thức sau:
Về lý thuyết chỉ số GINI nhận giá trị từ 0 đến 1(GINI nhận giá trị 1 khi tuyệt đối bất công bằng; GINI nhận giá trị 0 khi đường phân phối thực tế trùng đường phân phối
Trang 36lý thuyết: hoàn toàn bình đẳng) Song thực tế không xảy ra hai trường hợp đặc biệt đó
Hệ số GINI càng lớn mức độ bất bình đẳng càng cao Dựa vào những số liệu thu thập được, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng giá trị thực tế của GINI dao động trong một phạm vi hẹp hơn từ 0,2 đến 0,6 Với những nước có thu nhập thấp, hệ số GINI biến động từ 0,3 đến 0,5; thu nhập cao cao từ 0,2 đến 0,4
Như vậy, hệ số GINI đã khắc phục được những hạn chế của đường cong Lorenz
là nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Tuy vậy, cũng
có hạn chế nảy sinh, đó là trường hợp sau khi tính toán, hệ số GINI của hai quốc gia bằng nhau, tức diện tích của hình A đối với cả hai đường Lorenz bằng nhau, nhưng độ phân bổ các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau không giống nhau, điều này xảy
ra khi 2 đường cong cắt nhau Trong trường hợp này, hệ số GINI không giúp ích cho việc so sánh mức độ bất bình đẳng Một bất cập nữa là hệ số GINI là nó chỉ đo độ phân bổ thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, tức nhìn vào hệ số GINI chúng ta biết có phân bổ đồng đều giữa các nhóm dân cư trong xã hội, chứ không biết mức độ trầm trọng về sự bất bình đẳng phân phối thu nhập Nên có một số công cụ khác bổ sung đánh giá mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
(3) Tỷ số Kuznets
Nhà kinh tế học người Mỹ gốc Nga Kuznets đã đề xuất chỉ số để đánh giá mức
độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập gọi là tỷ số Kuznets Tỷ số Kuznets là tỷ trọng giữa tỷ lệ thu nhập của x% dân số có mức thu nhập cao nhất và thu nhập của y% dân số có mức thu nhập nghèo nhất (x có thể khác y, và nhận các giá trị 5%, 10%, 20% ) Những tỷ số này thực chất là các điểm trên đường cong Lorenz và nó có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ phân hóa xã hội gữa hai cực giàu nhất và nghèo nhất Khi điều chỉnh số liệu dân số ở hai cực bằng nhau tức %x=%y (x, y có thể bằng 5%, 10% 20% v.v…) và được gọi là hệ số dãn cách thu nhập Hệ số này phản ánh cụ thể hơn mức độ phân hóa ở hai đầu cực (đỉnh và đáy) của xã hội, cùng một quy mô dân số Đây là một thước đo quan trong trọng việc phản ánh mức độ trầm trọng về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM QUA CÁC CHỈ SỐ
2.1 Khái quát về con người Việt Nam
2.1.1 Điểm mạnh của con người Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, trong hoàn cảnh điều kiện mới của khu vực và thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn giữ vững những giá trị văn hóa truyền thống nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc tự lực tự cường, đoàn kết vì dân tộc Biểu hiện của điểm mạnh này là thái độ tích cực, luôn hướng đến những mục tiêu chung trước vận mệnh của Tổ Quốc, trước những thay đổi kinh tế xã hội hiện nay
Thứ hai, con người Việt Nam luôn có truyền thống cần cù, chăm chỉ, chịu thương chịu khó và sáng tạo trong mọi hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội Đức tính này là một giá trị đặc trưng giúp đất nước chúng ta có thể thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thứ ba, nét đặc trưng trong đời sống tinh thần, của phẩm giá con người Việt Nam là lòng nhân ái, tương thân tương trợ Những giá trị mang tính nền tảng cốt lõi ấy
là cơ sở để phát triển tính nhân văn và xây dựng văn hóa Việt Nam hiện đại, tiên tiến mang bản sắc dân tộc Có thể khẳng định đây là một thuận lợi trong quá trình phát triển của đất nước
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo Điều này đã được chứng minh qua qua lịch sử nghìn năm của dân tộc Đến ngày nay trong các cuộc thi quốc tế Việt Nam luôn đạt được những thứ hạng cao Trình độ dân trí được cải thiện rất nhiều theo thời gian Điều này giúp chúng ta có nguồn lực tốt
để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1.2 Một số điểm yếu trong con người Việt Nam hiện nay
Do một thời gian dài chịu ách đô hộ của Trung Quốc, đất nước chúng ta chịu ảnh hưởng nặng nề tính phong kiến của Trung Quốc Như vấn đề về trọng nam khinh nữ trong gia đình và xã hội, điều này làm cho sự phát triển về giới chưa được toàn diện
Trang 38Thói quen tập quán sản xuất nhỏ, manh mún…mang tính chất tự cung tự cấp được tiến hành theo kinh nghiệm là chủ yếu, kỹ thuật thủ công thô sơ lạc hậu, có tính chất phân tán, khép kín Từ đó tạo ra tầm nhìn thiển cẩn, thói tự do tùy tiện, vô tổ chức, vô kỷ luật, cục bộ địa phương…chính tâm lý tiểu nông này từ bao đời nay vẫn đang là một cản trở không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Ý thức thực thi pháp luật của người Việt Nam còn kém Một mặt do hiểu biết về pháp luật còn thiếu, mặt khá là tính cách chống chế, biết sai vẫn còn làm, còn lách luật
Con người Việt Nam cần cù lao động tuy nhiên tư tưởng dễ thỏa mãn đã hạn chế khả năng phát huy năng lực của người Việt Nam Người Việt Nam thông minh sáng tạo tuy nhiên chỉ giỏi đối phó tình cảnh thiếu tầm nhìn dài hạn và không chủ động Trong công việc thì khéo léo tuy nhiên không chịu làm tới cùng chỉ làm cho xong không cố gắng để đạt được kết quả cuối cùng
Bên cạnh đó, con người Việt Nam đa số không có ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên Sự phát triển kinh tế xã hội đã đưa Đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu so với thời kỳ trước đây Tuy nhiên người Việt Nam vẫn thể hiện ý thức kém trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
2.2 Thành tựu phát triển con người ở Việt Nam qua các chỉ số
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với những chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, chính sách xóa đói giảm nghèo… cũng như quá trình chỉ đạo thực hiện, trong những năm vừa, phát triển con người đạt được những thành tựu sau:
2.2.1 Nghèo đói ở Việt Nam có xu hướng giảm
Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là nước có tốc độ giảm nghèo trong nhóm nhanh nhất thế giới và là một trong những nước đi đầu trong thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, giảm 50% số người nghèo vào năm 2015 Ngân hàng thế giới đã đánh giá: “những thành tự giảm nghèo của Việt Nam là một trong những thành công nhất trong phát triển kinh tế”[2, tr 5]