1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở việt nam hiện nay

175 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực chất của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các thành phần kinh tế nói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng thông qua hệ thống các chí

Trang 1

BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo

quy định

Tác giả

Bùi Thị Phương Thùy

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về thực hiện

công bằng xã hội với việc phát triển con người 5 1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện công

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát huy vai trò của

thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người 23 1.4 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan và định hướng nghiên

Chương 2: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

2.1 Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội 29

2.3 Vai trò của thực hiện công bằng xã hội đối với phát triển con người 61

Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

3.1 Những thành tựu của thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con

3.2 Những hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội đối với việc phát triển

Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ

CỦA THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON

4.1 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

để thực hiện tốt công bằng xã hội, phát triển con người 116 4.2 Hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội

trong việc thực hiện công bằng xã hội đối với phát triển con người 120 4.3 Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị trong việc thực hiện công bằng xã

4.4 Nâng cao nhận thức của người dân trong việc thực hiện công bằng xã hội

Trang 5

BHYT : Bảo hiểm y tế CBXH : Công bằng xã hội CNXH : Chủ nghĩa xã hội PTCN : Phát triển con người TLSX : Tư liệu sản xuất UNDP : Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử loài người là lịch sử các nền văn minh, văn hoá gắn liền với lịch

sử hình thành và phát triển con người (PTCN) Khái niệm PTCN đã được sử dụng từ lâu trong các ngôn ngữ khác nhau như một thuật ngữ thông dụng Hơn

150 năm trước, khi khẳng định tiến trình lịch sử của loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, C.Mác đã nói tới sự phát triển toàn diện con người là thước đo chung cho sự phát triển kinh tế xã hội Phấn đấu vì sự nghiệp PTCN đã trở thành mục tiêu chung của các Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)

Vấn đề ở chỗ, mặc dù coi con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế

- xã hội và PTCN thường được nhiều quốc gia ưu tiên hàng đầu khi hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhưng trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng làm được điều này Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội to lớn cho các nước đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các quá trình xã hội Trên thế giới, người ta cũng đã đề cập nhiều đến sự phát triển không đồng đều giữa kinh tế và xã hội, giữa các vùng, khu vực, sự gia tăng của nạn nghèo khổ trong nhiều dân tộc, quốc gia, sự xa cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân v.v Một điều có thể khẳng định là, sự chênh lệch lớn giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền

đã làm mất cơ hội phát triển của nhiều nhóm người, nhiều cộng đồng và chính điều này là nguyên nhân sâu xa của những vấn đề xã hội và sẽ làm tăng thêm gánh nặng của quốc gia, cộng đồng trong tương lai Do đó, PTCN bền vững luôn

đi liền với công bằng xã hội (CBXH)

Ở Việt Nam, xuyên suốt lịch sử, con người luôn hiện ra như một giá trị nhân văn cao cả nhất PTCN toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt trong mọi chính sách của Đảng và Nhà nước ta Để có thể PTCN toàn diện, mọi chủ trương, chính sách của

Trang 7

Đảng và Nhà nước ta đều hướng tới chăm lo đến tất cả các mặt liên quan đến đời sống con người: Từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần; từ vấn đề kinh tế đến vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội, trên cơ sở công bằng, bình đẳng:

Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội [35, tr.13]

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta không những đề

ra nội dung, phương thức thực hiện CBXH hội trên các mặt của đời sống xã hội,

mà còn chỉ ra những điều kiện để thực hiện CBXH: “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ" [42, tr.101]

Quá trình thực hiện CBXH ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả khả quan góp phần quan trọng vào CBXH Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Tuy nhiên, sự chênh lệch về PTCN giữa các địa phương, dân tộc, tầng lớp xã hội, vấn đề đói nghèo, việc làm, v.v đang là một thách thức cho PTCN bền vững ở nước ta hiện nay Để đạt được sự PTCN bền vững cần phải có sự phân bổ công bằng các giá trị do tăng trưởng mang lại, tạo cơ hội cho nhóm người thiệt thòi vươn lên Muốn vậy, Nhà nước phải có những chính sách xã hội phù hợp, phải tạo dựng được bộ máy và các nguyên tắc làm việc minh bạch, làm công cụ để quản lý, tổ chức việc thực hiện CBXH Cùng với đó, sự tham gia của người dân vào việc ban hành các quyết định và giám sát việc thực thi các quyết định

đó là một đảm bảo cho chính sách PTCN được thực thi vì lợi ích người dân, hướng vào nhu cầu của người dân

Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên đây, đồng thời, xét trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề thực hiện CBXH với việc PTCN dưới góc độ triết

Trang 8

học Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN, luận án phân tích thực trạng và đề xuất một

số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt CBXH nhằm PTCN ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXH, thực hiện CBXH, PTCN

và vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN

- Phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu

và hạn chế trong việc thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam từ đổi mới đến nay

- Đề xuất các giải pháp giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN ở Việt Nam dưới góc độ triết học

Trang 9

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng tổng hợp các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử - lôgic, so sánh, phân tích - tổng hợp v.v để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án đã tiếp cận khái niệm CBXH, thực hiện CBXH dưới góc độ PTCN, chỉ ra và làm rõ những nội dung của thực hiện CBXH với việc PTCN

- Luận án đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu

và hạn chế trong việc thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH vì mục tiêu PTCN ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa của luận án

Luận án có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu lý luận về CBXH, thực hiện CBXH và PTCN ở Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học và các ngành khoa học

xã hội nhân văn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp người làm công tác quản lý xã hội xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo thực hiện CBXH, PTCN

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công

bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 13 tiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội

* Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới, vấn đề CBXH được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài luận án chủ yếu tập trung luận giải cơ sở lý thuyết của CBXH Mặc dù, xuất phát từ những quan điểm, lập trường triết học khác nhau, song tất cả đều cho rằng, công bằng là một trong những phẩm hạnh của con người và CBXH là một trong những cái đích mà con người phải phấn đấu vươn tới bên cạnh những cái đích khác như tự do, dân chủ Ngày nay, trên thế giới, người ta coi CBXH là một trong những đối tượng nghiên cứu của triết học chính trị, triết học xã hội liên quan đến các vấn đề quản lý và phát triển

xã hội Tác giả luận án chỉ điểm qua một số công trình cơ bản nhất có liên quan đến

đề tài luận án

Trước hết, phải kể đến tác phẩm mang tính nền tảng về vấn đề này trong lịch

sử triết học đó là Bàn về khế ước xã hội [129] của J.J Rousseau Tư tưởng xuyên suốt

trong tác phẩm là tự do, bình đẳng và sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người Theo J.J Rousseau, nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng trong xã hội do chế độ

tư hữu và những lầm lạc của con người Ông phê phán mạnh mẽ những người cam chịu, không dám đấu tranh, từ bỏ tự do của mình, bởi “Từ bỏ tự do của mình là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người” [126, tr.59] J.J Rousseau đưa ra biện pháp để thiết lập tự do, bình đẳng giữa người với người đó

là nhà nước phải được tổ chức cai trị bằng một khế ước xã hội, trong đó, mọi thành viên kết hợp với nhau thành một lực lượng chung, được điều khiển bằng một động cơ chung, một ý chí chung Tư tưởng tiến bộ của J.J Rousseau đã góp phần đánh thức tinh thần đấu tranh vì tự do, bình đẳng của con người trong cách mạng tư sản Pháp

1789, đồng thời chứa đựng những luận điểm mà nhiều tác giả sau này bàn về CBXH

đã tham khảo

Trang 11

Tư tưởng về CBXH của J.J Rousseau đã được nhà triết học Mỹ J.Rawls

tiếp nối và phát triển trong tác phẩm A theory of Justice [165] J.Rawls đã đưa ra

một quan niệm mới về CBXH: công lý như là công bằng và coi đây là khái niệm trung tâm trong cuốn sách Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng tham dự vào hợp tác xã hội để làm sao cho mỗi cá nhân giành được lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ Vì thế, nếu thể chế của một xã hội là căn cứ để xác định được một nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp với lợi ích của mỗi cá nhân thì thể chế xã hội ấy là công bằng Ông cho rằng, công bằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải khác nhau

về xuất phát điểm của mỗi cá nhân mà chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác

xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng do những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội nhưng có sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung thì đó vẫn là công bằng Quan niệm của J.Rawls về CBXH đã thể hiện những cố gắng của ông trong việc đưa ra một cách nhìn mới về CBXH

Cũng với mục đích tìm ra các nguyên tắc để thực hiện CBXH, David

Miller với cuốn sách Principles of social justice [161], cho rằng, CBXH là một

phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của nó phải gắn liền với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội khác nhau Tác giả đã đưa ra ba thành phần chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và đảm bảo, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người Cuốn sách làm rõ những cơ sở, điều kiện cũng như những khó khăn, thách thức nhằm thực hiện những nguyên tắc của CBXH trong thời đại ngày nay

Nếu J.Rawls tìm kiếm sự công bằng hoàn hảo thông qua việc xây dựng

các định chế hoàn hảo thì A.Sen với cuốn sách The idea of justice [160] tiếp

cận công bằng dựa trên bản thân cuộc sống, trên hiện thực hóa xã hội và tìm cách giảm bớt những bất công A.Sen cho rằng, phải kiểm nghiệm lâu dài những tình trạng xã hội phát sinh trong thực tế để có thể so sánh những gì đã xảy ra rồi tìm những tiêu chuẩn công bằng, thay vì đề ra một lý thuyết chung Theo A.Sen, điều quan trọng trong việc đạt đến công bằng là làm thế nào để xóa bỏ mọi chướng ngại cho cá nhân trong việc thực hiện tự do để mưu cầu hạnh phúc Nỗ lực tối đa của cá nhân trong thể hiện tự do là chủ yếu, nhưng môi trường xã hội phù hợp cũng góp phần cho sự thành đạt Cuốn sách của A.Sen giúp chúng ta hiểu đúng các vấn đề về công bằng, dân chủ trong mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới

Trang 12

Cũng liên quan đến đề tài luận án phải kể đến cuốn sách Social work and

social policy: advancing the principles of economic and social justice [162] của

các tác giả Ira C.Colby, Catherine, Karen M.Sowers Các giả đã coi công tác xã hội và chính sách phúc lợi xã hội toàn cầu như một nội dung chủ yếu để thực thi CBXH hiện nay, còn nhà nước như một công cụ quản lý và điều tiết chủ yếu nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng Hiện nay, xã hội châu Á đang đứng trước những thách thức cơ bản trong việc thực thi CBXH: sự cọ sát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong việc tìm kiếm những giải pháp thực thi CBXH trong nền kinh tế thị trường, tính thiếu đồng bộ trong thể chế chính trị, pháp lý và hệ thống chính sách xã hội Cuốn sách cũng đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện CBXH

Trên cơ sở khái quát lại các các tư tưởng về CBXH trong lịch sử, Báo cáo

phát triển thế giới 2006: Công bằng và phát triển [117] của Ngân hàng Thế giới

tập trung vào một số vấn đề như: Bất bình đẳng trong từng nước và giữa các nước; ý nghĩa quan trọng của công bằng; mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị như là không gian cho bình đẳng Công bằng được hiểu là công bằng trong các

cơ hội Báo cáo nhấn mạnh, cơ hội đồng đều tức là sự thành đạt của một người phải do các nỗ lực, chọn lựa và tài năng của người ấy, chứ không do những hoàn cảnh có sẵn trước đó như chủng tộc, giới tính, nhóm xã hội, gốc gác gia đình và sinh quán của họ

Bên cạnh đó còn có các tác phẩm tiêu biểu khác liên quan đến vấn đề

CBXH như: Justice and the politics of difference [163] của Iric Masion Young;

A Metastructural Reinterpretation of the Rawlsian Theory: From Rawls to Machiavelli [164] của Jacques Bidet; bài “Distributive Justice” [166], v.v

Trong khuôn khổ đề tài luận án, những nghiên cứu nêu ra ở đây không thể bao quát hết các công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới Vấn CBXH

và thực hiện CBXH được các tác giả nghiên cứu và luận giải chủ yếu dưới góc

độ kinh tế, chính trị, liên quan đến nhiều vấn đề: tự do, bình đẳng, dân chủ, đoàn kết v.v Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu tập trung luận giải cơ sở xã hội, cơ

sở nhận thức của con người về CBXH; những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện CBXH trong thời đại ngày nay Đồng thời, cũng tùy thuộc vào bối cảnh xã hội của mỗi quốc gia mà các nghiên cứu này gợi ý những phương án thực thi CBXH cụ thể Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu phục vụ tác giả luận án trong công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp thực hiện CBXH

Trang 13

* Các công trình nghiên cứu trong nước

Về khái niệm công bằng xã hội

Xung quanh khái niệm CBXH, có các công trình tiêu biểu: Hiện đại hóa

xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60]; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội [49]; Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [147]; Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [71]; Triết học kinh tế trong “Lí thuyết về công lý” của nhà triết học Mỹ John Rawls [121] v.v; , các bài báo, tạp chí: “Tư tưởng của C.Mác

về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội” [135]; “Về vấn đề bình đẳng

và công bằng xã hội” [154]; “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người” [69], “Về khái niệm “công bằng xã hội” [112], v.v Các công trình đã cho chúng ta thấy được những quan niệm khác nhau về CBXH trong lịch sử triết học Đông và phương Tây cũng như các quan niệm hiện đại về CBXH, đặc trưng, bản chất và nội dung của CBXH

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, CBXH là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội không phải về mọi phương diện mà chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau [112, tr.8]

Công bằng xã hội ngoài nội dung phân phối theo lao động như đã đề cập ở

trên, trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều

kiện nước ta hiện nay [147], các tác giả bổ sung thêm nội dung phân phối thông qua

phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và phải phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc

Theo đó, CBXH

Là một khái niệm khoa học có tính chất tổng hòa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa dùng để chỉ sự ngang bằng giữa người và người theo nguyên tắc phân phối lợi ích phù hợp giữa cống hiến và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi, thưởng và phạt… đồng thời còn thông qua phúc lợi xã hội và an sinh xã hội (cả về vật chất và tinh thần), CBXH “vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính đạo

lý, phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc; là động lực của sự tiến bộ

Trang 14

để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong lâu dài

Đa phần các nhà khoa học đều khẳng định, CBXH là phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, có thể được xem xét ở nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức v.v trong đó kinh tế là phương diện cơ bản nhất Các tác giả cũng phân biệt rất rõ hai khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội

Về khái niệm thực hiện công bằng xã hội

Có nhiều công trình nghiên cứu về thực hiện CBXH, tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung phân tích những kết quả và thực trạng việc thực hiện CBXH, còn vấn đề lý luận thực hiện CBXH gần như chưa có công trình nào đề cập đến

Trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong

điều kiện nước ta hiện nay [147], các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc phương

pháp luận cơ bản trong việc nhận thức và thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay: Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nguyên tắc toàn diện Tiền đề để thực hiện CBXH là sự tiếp cận bình đẳng của mọi người với các điều kiện và nguồn lợi phát triển, và phụ thuộc vào trách nhiệm xã hội của quản lý Nhà nước trong việc điều hòa lợi ích xã hội theo hướng công bằng Các tác giả cũng chỉ ra hai nội dung cơ bản của việc thực hiện CBXH: Phân phối công bằng và bình đẳng

về cơ hội

Nghiên cứu thực hiện CBXH trong nền kinh tế thị trường, các tác giả của

cuốn sách Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60] đã chỉ ra rằng,

trong giới hạn của kinh tế thị trường đã bao hàm việc thực hiện CBXH, tuy nhiên, nó không thể thực hiện triệt để, rộng khắp và toàn diện Thực hiện CBXH theo tác giả phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phân phối, ngoài việc phân phối theo cống hiến cần phân phối công bằng các nguồn lực phát triển cho các vùng, miền, ngành, nghề; thực hiện công bằng trong việc phân phối các thành quả của sự phát triển xã hội trên các phương diện như giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở, v.v nhằm đảm bảo cho mọi người có được cơ hội và điều kiện sống, lao động bình đẳng Các tác giả cho rằng, việc thực hiện CBXH phải được tiến hành ngay trong mỗi bước phát triển, song song với tăng trưởng kinh tế Ở đây, Nhà nước đóng vai trò điều tiết thu nhập, đảm bảo thực hiện CBXH

Đi sâu vào khía cạnh kinh tế, trong cuốn sách Thực hiện công bằng xã hội

đối với các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay [78], các tác giả đã phân

Trang 15

tích, làm rõ nội dung của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế bao gồm hai nội dung chủ yếu: Bình đẳng giữa các thành phần kinh tế về cơ hội phát triển và bình đẳng trong phân chia lợi ích giữa các thành phần kinh tế Thực chất của thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các thành phần kinh tế nói chung và các chủ thể kinh tế nói riêng thông qua

hệ thống các chính sách và các cơ chế, hiện thực hóa các chính sách kinh tế - xã hội với các nội dung chính là đảm bảo sự bình đẳng về quyền tiếp cận các nguồn lực, quyền tham gia vào hoạt động kinh tế và quyền được chia sẻ (được phân phối công bằng) các thành quả của phát triển giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo động lực cho phát triển, góp phần ổn định xã hội Ở đây, Nhà nước và thể chế với tư cách là những nhân tố đảm bảo cho thực hiện CBXH đối với các thành phần kinh tế

Bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH có thể kể

đến các công trình: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á

và Việt Nam [88]; Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp [115]; các bài viết: “Tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội trong trong xu thế hội nhập hiện nay” [89]; “Thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [110], “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa” [111], Các tác giả đã đã nêu bật mối quan hệ khăng

khít, hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH, coi đó là những mục tiêu không thể tách rời của sự phát triển bền vững xã hội ngày nay

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về công CBXH và thực hiện CBXH phong phú, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm coi CBXH là một giá trị định hướng con người sinh sống và phát triển, thực hiện CBXH là mục tiêu của các nhà nước dân chủ và tiến bộ Thực hiện CBXH được thể hiện tập trung ở hai nội dung chính là đảm bảo công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội Nhìn chung, ở nước ta hiện nay, các công trình chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ thực hiện CBXH trong phân phối Những công trình trên sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp thu, bổ sung và phát trển trong nghiên cứu của mình

Trang 16

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về phát triển con người và thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người

Quan điểm PTCN từ lâu đã được biết đến như là một quan điểm triết học

cơ bản, đặc biệt là trong triết học Mác và tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh Đây cũng là nội dung xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam Xung quanh vấn đề PTCN ở nước ta hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, sau đây là một số các công trình tiêu biểu

Cuốn sách Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác

và Ph.Ăngghen [125] đã tập trung nghiên cứu để tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý

luận đối với PTCN ở Việt Nam Phần thứ nhất của cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống những luận điểm về con người và PTCN của C.Mác và

Ph.Ăngghen: Con người là gì, bản chất con người, vấn đề giải phóng con người,

đặc biệt những tư tưởng về con người tự nhiên, con người cá nhân, con người cá thể, những tư tưởng ở thời “Mác trẻ” - giai đoạn mà lâu nay ta ít khai thác Tương ứng với các luận điểm đó là các trích dẫn tư tưởng của các ông đã đưa độc giả đi từ bao quát đến cụ thể để có thể nắm bắt vấn đề tốt hơn cũng như hiểu sâu hơn tư tưởng của các nhà kinh điển về vấn đề này Phần thứ hai gồm bài viết của các tác giả khai thác di sản kinh điển theo cách nhìn từ thời đại ngày nay, ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với nhận thức và PTCN Cuốn sách

là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận phục vụ nghiên cứu vấn đề PTCN

Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng về PTCN của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh về PTCN là hệ thống những quan điểm sâu sắc, đã trở thành cơ sở lý luận đối với việc nghiên cứu con

người ở Việt Nam trong những năm qua Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về

phát triển con người Việt Nam toàn diện [20], đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận,

những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về PTCN toàn diện PTCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết phải tập trung phát triển tất cả các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể đó: Thể lực, trí tuệ, năng lực thẩm mỹ, đạo đức Tác giả cũng trình bày quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa trong quá trình hình thành và PTCN, con đường hình thành

và PTCN toàn diện Theo tác giả, ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đang được đẩy mạnh, những biến chuyển trên thế giới ngày càng nhanh chóng và phức tạp, những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng

Trang 17

nhiều, đòi hỏi con người phải sáng suốt, linh hoạt, có bản lĩnh để vượt qua thì việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về PTCN toàn diện trở thành nhiệm vụ cấp bách trong công tác chính trị, tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Ở Việt Nam, quan điểm PTCN được nghiên cứu một cách có hệ thống trong các công trình của tác giả Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm của ba chương trình quốc gia

“Con người - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội” (1991 - 1995); “Phát triển văn hóa, xây dựng con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996 - 200); “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005) Tác giả cũng đã xuất bản nhiều cuốn

sách liên quan đến PTCN, trong đó phải kể đến ba cuốn sách: Phát triển giáo dục,

phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [55], Nghiên cứu con người

và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa [56], Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [57] Theo tác giả, phát triển

toàn diện con người là “khắc phục tình trạng tha hóa, phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối trí lực và thể lực, đức và tài, phát triển cá tính và sự phong phú của con người, phát triển một cách tự do, đầy đủ và làm chủ, thích ứng với sự di động chức năng xã hội của con người” [57, tr.33] Tác giả khẳng định vai trò của CBXH đối với việc PTCN CBXH tạo ra động lực mạnh mẽ cho hoạt động của con người Giải quyết vấn đề phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo chính là thực hiện CBXH vì mục tiêu PTCN

Cùng chủ đề này chúng ta còn phải kể đến các công trình nghiên cứu Về

vấn đề xây dựng con người mới [24]; Tư tưởng triết học về con người [137]; Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện [31]; các bài viết của tác giả Đặng Hữu Toàn: “Phát triển vì con người trong

quan niệm của Mác và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay” [140]; “Phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là mục tiêu, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [141]; “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc” [142]; “Phát triển con người - thước đo nhân văn của tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới

ở Việt Nam” [143] đã cung cấp cho tác giả luận án cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu con người và PTCN

Trang 18

Ngoài những công trình nghiên cứu PTCN theo quan điểm mácxít trong những năm gần đây xuất hiện cách tiếp cận mới theo phương pháp lượng hóa

PTCN, trong đó phải kể đến: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi

mới và sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam [153]; Báo cáo phát triển con người Việt Nam 1999 - 2004: Những thay đổi và xu hướng chủ yếu [155]; Phát triển con người Việt Nam năm 2011 [149]; Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm - Tăng trưởng vì mọi người [150] Báo cáo Phát triển con người Việt Nam năm 2011 đã xem xét những thách thức mà nhiều

người Việt Nam đang phải đối mặt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Báo cáo cho thấy, gia tăng bất bình đẳng về kinh tế đi kèm với sự chênh lệch dai dẳng trong các chỉ tiêu về giáo dục và y tế cơ bản như thế nào Báo cáo kết luận, nếu Việt Nam muốn tiếp tục đạt được mức PTCN cao hơn thì việc đảm bảo tiếp cận toàn dân và công bằng đối với dịch vụ y tế và giáo dục là vô cùng cần thiết

Còn Báo cáo Phát triển con người Việt Nam năm 2015 đã nhấn mạnh tầm quan

trọng của an sinh xã hội trong việc thúc đẩy tính công bằng, hiệu quả và sức chống chịu, đồng thời đưa ra đánh giá cơ bản về hệ thống này của Việt Nam Hướng đến tương lai, Báo cáo tập trung khuyến nghị các chính sách thiết thực để

mở rộng việc làm có năng suất, cải thiện hiệu quả và nâng cao tính công bằng của hệ thống giáo dục và y tế cũng như gia tăng diện bao phủ của hệ thống an sinh

xã hội Các phân tích trong Báo cáo cung cấp một cơ hội để cân nhắc xem làm thế nào xây dựng được một mô hình phát triển công bằng và toàn diện, có thể mở rộng

các lựa chọn và tạo ra cơ hội cho mọi người

Bên cạnh báo cáo phát triển con người cấp quốc gia, nhiều tỉnh thành ở nước ta trong thời gian vừa qua cũng đã triển khai thực hiện nghiên cứu và tính

toán chỉ số PTCN cấp địa phương, một số đã được xuất bản thành sách: Con

người và phát triển con người ở Hòa Bình - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

[158]; Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta [119] Cũng có một số công

trình đi vào nghiên cứu các khía cạnh xã hội khác nhau về PTCN (chính trị, y tế, giáo dục, văn hóa, chính sách xóa đói, giảm nghèo), từ đó đề ra những giải pháp

cụ thể nhằm phục vụ các yêu cầu về phát triển con người: Dân chủ và phát triển

con người [118]; Dân chủ tham gia với phát triển con người [139]; Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam [11]; Thực trạng phát triển con người Việt Nam về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ [83]; Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu [13], Chỉ số phát triển

Trang 19

giáo dục trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu [15] v.v Các

công trình đã cho thấy vai trò của kinh tế, chính trị, xã hội đối với PTCN, chỉ ra những vấn đề cần quan tâm trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa cho người nghèo ở Việt Nam Mở rộng cơ hội tiếp cận ở đây cũng chính

là góp phần thực hiện CBXH, PTCN

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề PTCN rất phong phú, đa dạng, tiếp cận dưới nhiều góc độ PTCN bị quy định bởi nhiều yếu tố trong đó có CBXH Các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra được vai trò của việc thực hiện CBXH đối với việc PTCN

Đi sâu hơn vào vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN gần như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Theo chúng tôi được biết duy nhất có bài viết của tác giả Phạm Thành Nghị “Công bằng xã hội và phát triển con người bền vững” [49] đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa CBXH và PTCN Vai trò của CBXH đối với PTCN được thể hiện qua các nội dung: thứ nhất, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho phát triển năng lực thông qua các chính sách xã hội và chính sách kinh tế và các chương trình hướng tới sự hoàn thiện con người; thứ hai, sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực do tăng trưởng mang lại, tạo điều kiện để PTCN bền vững, liên quan đến xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế và chính sách xã hội; thứ ba, thông qua tăng cường sự bình đẳng về cơ hội tham gia; thứ tư: sự bình đẳng giữa các thế hệ Tác giả khẳng định, bình đẳng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội là các yếu tố cơ bản nhất tạo điều kiện cho PTCN bền vững Đây là những gợi mở quan trọng để tác giả luận án có thể tiếp thu

Nhìn chung, vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN chủ yếu được đề cập gián tiếp thông qua vai trò của thực hiện CBXH với tiến bộ xã hội, với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự phát triển triển, do đó, phát triển kinh tế - xã hội cũng chính là để PTCN

Bàn về vai trò của thực hiện CBXH với tiến bộ xã hội, tác giả Nguyễn Minh Hoàn [71] cho rằng, vai trò của CBXH thể hiện ở 2 nội dung chính: là động lực của sự phát triển xã hội và là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội Theo tác giả, động lực thúc đẩy con người hoạt động là lợi ích của chủ thể hoạt động CBXH cũng là một nguyên tắc phân chia lợi ích, làm cho các thành viên tham gia vào quan hệ lợi ích không thấy bị thiệt thòi, hơn nữa còn kích thích họ

Trang 20

hoạt động một cách tích cực hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Với tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội, qua các hình thái kinh

tế - xã hội đã có trong lịch sử, có thể thấy rõ mức bất công trong phân phối sản phẩm của lao động đã giảm dần và mức công bằng tăng dần

Tác giả Võ Thị Hoa và Nguyền Hồng Sơn [66] thông qua việc phân tích vai trò của thực hiện CBXH với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã chỉ ra vai trò của việc thực hiện CBXH với việc PTCN Thực hiện CBXH trong kinh tế hướng tới đảm bảo lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân, tạo một không gian kinh tế lành mạnh, bình đẳng mà ở đó các chủ thể kinh tế được phát huy năng lực của mình, làm giàu cho cá nhân và xã hội Dưới góc độ chính trị, thực hiện CBXH tạo điều kiện cho người lao động thực sự là chủ và làm chủ Dưới góc độ văn hóa, xã hội, thực hiện CBXH đảm bảo cho các thành viên trong xã hội có quyền bình đẳng trong sáng tạo

và hưởng thụ những giá trị văn hóa - tinh thần, khắc phục tình trạng phân hóa giàu nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đảm bảo cho mọi tầng lớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, y tế Thực hiện CBXH đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội không ngừng nâng cao mức sống và khẳng định mình, tạo sự đồng thận, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hà [53], CBXH là một nội dung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội Trong một xã hội có tình trạng bất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình, hơn nữa, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi bất

ổn xã hội CBXH luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam coi vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của sự phát triển xã hội Để có được CBXH trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp

mà Đảng ta đã đề ra Để phát huy vai trò động lực của CBXH, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện CBXH hiện đang còn tồn tại

Tiếp cận dưới góc độ vai trò của thực hiện CBXH đối với các thành phần

kinh tế, các tác giả cuốn sách Thực hiện công bằng đối với các thành phần kinh

tế ở Việt Nam hiện nay [78] cho rằng, công bằng trong phân phối các nguồn lực

xã hội sẽ thúc đẩy phát triển và làm lành mạnh hóa môi trường sản xuất kinh doanh Phân phối công bằng tạo ra môi trường tương tác hài hòa giữa các chủ thể, tạo cho các chủ thể cơ hội phát triển ngang nhau và hưởng thụ sòng phẳng

Trang 21

theo năng lực trên thị trường Điều này giúp hạn chế sự lạm dụng đặc quyền, đặc lợi, lạm dụng nguồn lực phát triển cho xã hội Trên bình diện vĩ mô, CBXH đối với các thành phần kinh tế là động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững CBXH đối với các thành phần kinh tế góp phần vào sự ổn định xã hội ở chỗ: cốt lõi của

nó là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội, từ đó tạo điều kiện giải quyết các mâu thuẫn xã hội một cách hợp lý, thỏa đáng thông qua phân phối lợi ích một cách công bằng

Tiếp cận dưới góc độ phân phối, các tác giả của cuốn sách “Phân phối bình đẳng các nguồn lực kinh tế: Tiếp cận lý luận và thực tiễn ở một số quốc gia” [132] cho rằng, việc phân phối bình đẳng các nguồn lực xã hội sẽ khuyến khích sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế, làm lành mạnh hóa môi trường sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xã hội phát triển Phân phối bình đẳng còn bao hàm việc tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho mọi chủ thể xã hội, đặc biệt là nhóm người dễ bị tổ thương Theo các tác giả, sự phân phối không bình đẳng các nguồn lực phát triển chính là khởi nguồn cho những căng thẳng, xung đột và bất ổn trong xã hội, biểu hiện rõ nhất qua “nhóm lợi ích”

Cũng theo hướng tiếp cận này, tác giả Bùi Đại Dũng cho rằng, việc phân phối thu nhập quá bất công khiến nhóm cực giàu thì giàu mãi lên và nhóm nghèo khổ càng bị bần cùng hóa Bất công xã hội gây ra nhiều biến động xã hội ghê gớm

mà hậu quả là những tổn thất khủng khiếp cho phát triển bền vững [27, tr.52] Do

đó, để phát triển bền vững về mặt xã hội cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế với thực hiện tiến bộ và CBXH, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề PTCN và thực hiện CBXH với việc PTCN Có thể thấy, PTCN không chỉ đơn thuần là sự phát triển

tự thân mà còn chịu tác động của nhiều nhân tố, đặc biệt là các nhân tố: kinh tế,

y tế, giáo dục, văn hóa Vì vậy, khi xem xét, đánh giá sự PTCN cần phải xem xét tất cả các nhân tố tác động trong mối quan hệ tương tác với nhau Dưới các góc

độ khác nhau, các công trình đều khẳng định sự cần thiết của việc PTCN cũng như xây dựng các chính sách PTCN đúng đắn Thực hiện công bằng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội góp phần PTCN Những công trình khoa học của các tác giả có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận lẫn thực tiễn để tác giả luận án tiếp cận

và phát triển

Trang 22

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

Trực tiếp bàn đến thực trạng thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay theo chúng tôi được biết thì chưa có công trình nghiên cứu nào Phần lớn các công trình nghiên cứu mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng thực hiện CBXH ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Thông qua các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ít nhiều có thể thấy được thực trạng thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay

Với báo cáo “Công bằng xã hội ở Việt Nam: nhận diện và giải pháp” [49],

tác giả Đỗ Huy đã khái quát bốn thời kỳ thực hiện CBXH ở nước ta 1) Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận người dân mất nước Đây là thời kỳ mất công bằng toàn diện 2) Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đây là thời kỳ hình thành những chuẩn mực công bằng mới cho xã hội, người ta chỉ nghĩa đến cống hiến mà ít nghĩ đến hưởng thụ; nghĩ đến lao động cho tổ quốc mà không nghĩ đến thu vén cá nhân 3) Thời kỳ thực hiện cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp Thời kỳ này đã tạo ra được nhiều giá trị công bằng về y tế, giáo dục nhưng nó đã làm cho xã hội Việt Nam phát triển chậm chạp và tạo ra sự mất công bằng ở lĩnh vực phân phối 4) Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay Đây là thời kỳ thực hiện CBXH theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Tác giả nhấn mạnh, những di hại của chiến tranh gây nên khá nhiều bệnh tật cần được khắc phục Vì thế, muốn có CBXH, không thể phân phối theo cơ chế thị trường thông thường, mà Việt Nam đã thực hiện phân phối theo lao động trên cơ sở kinh tế thị trường định hướng XHCN

Cơ chế thị trường định hướng XHCN tạo nên những chuẩn mực mới để thực hiện CBXH Các chuẩn mực này xuất phát từ đạo lý uống nước nhớ nguồn truyền thống Để thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, chúng ta thực hiện cơ chế phân phối theo lao động là chủ yếu, đồng thời Nhà nước Việt Nam đã đề ra rất nhiều chính sách nhằm giúp đỡ những người tàn tật, già yếu, cô đơn, các gia đình thương binh liệt sĩ, những dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, những gia đình có công với cách mạng, các chính sách xóa đói, giảm nghèo Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập của việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay: nhiều nghề lao động giản đơn lại có thu nhập lớn hơn nhiều lần lao động phức

Trang 23

tạp, nhiều người ở vùng sâu, vùng xa chưa được hưởng phúc lợi xã hội như ở các thành phố; sự cách biệt về mức sống, chế độ giáo dục, chăm sóc y tế ở nông thôn

so với thành thị, chế độ lương của nhà nước còn bất hợp lý so với thu nhập ngoài nhà nước, tệ tham nhũng hối lộ v.v Tất cả những vấn đề trên đã phá hoại sự ổn định của xã hội Báo cáo giúp tác giả luận án hình dung được quá trình thực hiện CBXH ở nước ta từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay; đồng thời thấy rõ, thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề cần giải quyết

Tác giả Lê Hữu Tầng đã phân tích một số vấn đề về thực hiện CBXH ở

Việt Nam hiện nay trong báo cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung

quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” [49] Trước hết là vấn đề phân phối Đối với nước ta, do đặc thù trải qua chiến tranh, nhiều người

hy sinh xương máu, tính mạng cho nền độc lập của nước nhà, do đó, tác giả đề xuất, để thực hiện đầy đủ hơn CBXH cần mở rộng nguyên tắc phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn vào sản xuất kinh doanh hiện nay thành nguyên tắc phân phối theo cống hiến (cả về lao động, nguồn vốn cùng mọi cống hiến khác) cho xã hội nói chung chứ không phải chỉ cho sản xuất, mặc dù cống hiến cho sản xuất vẫn là chủ yếu, đồng thời phân phối thông qua phúc lợi xã hội Nguyên tắc phân phối công bằng này đã có tác dụng cuốn hút mọi người hăng hái góp công, góp của vào sự phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của sản xuất kinh doanh nói riêng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Từ đó, tác giả khẳng định, CBXH chính là động lực cho tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc phân phối theo cống hiến lại dẫn đến hậu quả là sự phân cực ngày càng tăng giữa giàu và nghèo trên phạm vi cả nước Theo tác giả, sự phân hóa giàu nghèo ở đây không phải là biểu hiện của sự vi phạm CBXH mà chính là biểu hiện của việc CBXH đang được lập lại: Ai làm tốt, làm giỏi, làm nhiều, đóng góp nhiều vốn liếng thì được hưởng nhiều; còn

ai làm dở, làm kém, làm ít, đóng góp vốn liếng ít thì được hưởng ít Song, điều

đó không có nghĩa chúng ta chấp nhận và để cho tình trạng bất bình đẳng xã hội gia tăng mà phải tìm cách hạn chế bớt bất bình đẳng để tiến tới dần xóa bỏ nó

Cùng đề cập tới vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối, tác giả Nguyễn

Duy Quý trong báo cáo “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [49] khẳng định, CBXH trong phân phối ở nước

ta hiện nay cơ bản theo nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào

Trang 24

sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội Cùng quan điểm với tác giả Lê Hữu Tầng, không nhất thiết phải giàu có mới thực hiện CBXH, hơn thế nữa càng chưa giàu có, càng nghèo khó lại càng phải thực hiện CBXH, nếu muốn tạo ra bầu không khí hoà thuận, tin yêu lẫn nhau, nếu muốn giữ gìn cho xã hội ổn định CBXH chính là động lực mạnh mẽ của tăng trưởng kinh tế Nhờ giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới chính sách xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về PTCN: liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xóa đói, giảm nghèo; đã tăng cường khả năng tiếp cận với giáo dục tiểu học, nước sạch và vệ sinh môi trường; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi v.v Kết quả là đã cải thiện đáng

kể cuộc sống của người dân Người dân Việt Nam giờ đây có tuổi thọ dài hơn, sức khỏe tốt hơn

Cũng theo hướng tiếp cận trên, báo cáo “Công bằng xã hội trong điều

kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [49] của tác giả Phạm Xuân Nam đã phân tích việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và CBXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20 năm đổi mới đã góp phần nâng cao chỉ số PTCN: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống của đại đa số nhân dân được cải thiện rõ rệt; cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tác giả đã nêu ra một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện CBXH ở Việt Nam: Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển với mức thu nhập thấp; khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi đang doãng ra; việc xóa đói giảm nghèo trong những năm gần đây có xu hướng chậm lại, số hộ tái nghèo do thiên tai dịch bệnh có xu hướng tăng; tỷ lệ lao động thất nghiệp thành thị và thiếu việc

ở nông thôn còn cao; hiện tượng làm giàu bất chính do tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo, đầu cơ vẫn chưa được ngăn chặn Theo tác giả, vấn đề đặt ra là cần phải làm gì và làm như thế nào để phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những yếu kém còn lại, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Còn trong cuốn Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội ở Việt

Nam hiện nay [60], những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta

hiện nay được các tác giả phân tích khá chi tiết Các tác giả khẳng định, việc

Trang 25

thực hiện CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đạt được nhiều kết quả đáng

kể, tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển, được hưởng thụ giáo dục, y tế và sự phát triển xã hội như nhau Song, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc thực hiện CBXH ở nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định

Trong kinh tế, sự bất công bằng trong việc phân phối các điều kiện, cơ hội sản xuất kinh doanh vẫn còn tồn tại Việc phân phối nguồn vốn đầu tư giữa các vùng, miền vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến khoảng cách về điều kiện kinh tế

- xã hội, mức sống và trình độ phát triển của dân cư giữa các vùng, miền đất nước, đặc biệt là khu vực miền núi còn chậm được thu hẹp Việc ưu tiên, ưu đãi các điều kiện phát triển sản xuất như đầu tư, quyền sử dụng đất đai, chính sách tín dụng, thuế, còn thiên về thành phần, chưa căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp chưa thực sự được hoạt động trong một sân chơi hoàn toàn công bằng, bình đẳng Ở nông thôn, sự hiện diện của một bộ phận nông dân không có ruộng đất, phải đi làm thuê và trở thành lớp người nghèo trong xã hội cũng là một vấn đề liên quan đến CBXH

Trong lĩnh vực xã hội, sự bất công và bất bình đẳng xã hội thể hiện ở

sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm; sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng tăng lên Vấn đề nghèo đói làm gia tăng chênh lệch về mức sống, khả năng và điều kiện tiếp cận các

cơ hội phát triển

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế vẫn còn các hiện tượng bất CBXH: tình trạng thương mại hóa giáo dục và y tế; vấn đề viện phí, học phí là những rào cản để người nghèo có cơ hội tiếp cận bình đẳng với giáo dục, y tế

Những vấn đề mà các tác giả nêu ra bước đầu mới dừng lại ở việc đưa ra

ý kiến, chưa có sự phân tích đi sâu, song là những gợi ý để tác giả luận án tiếp tục đi sâu, làm rõ

Chương 3 của cuốn sách Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [71], tác giả

Nguyễn Minh Hoàn đã góp phần làm rõ một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay Trước tiên, việc thực hiện CBXH ở nước ta trong thời

kỳ đổi mới đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, song lại làm gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng Đây là hệ quả tất yếu của việc thực hiện nguyên tắc phân phối đảm bảo CBXH trong thời kỳ quá độ của nước ta

đi lên CNXH Đó là điều chúng ta không mong muốn vì nó hoàn toàn không phù hợp với mục tiêu xây dựng CNXH Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân

Trang 26

dân, việc phát triển ồ ạt y tế tư nhân không theo quy hoạch về cơ cấu vùng miền sẽ dẫn đến làm tăng tình trạng bất bình đẳng trong chăm sóc y tế với những đối tượng

là vùng sâu, vùng xa và người nghèo Việc phân bổ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế, lĩnh vực bảo hiểm y tế, chính sách viện phí cũng phải tiến hành sao cho đảm bảo công bằng Trong lĩnh vực giáo dục, việc phát triển các trường ngoài công lập sẽ có nguy cơ làm tăng bất bình đẳng trong giáo dục, vấn đề thu học phí như thế nào để đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội học tập Thu nhập, y tế, giáo dục

là những vấn đề liên quan trực tiếp đến PTCN Giải quyết những vấn đề đặt ra nhằm bảo CBXH trong những lĩnh vực này cũng chính là giải quyết những vấn đề liên quan đến PTCN

Các tác giả Nguyễn Tấn Hùng, Lê Hữu Ái [49], lại đi vào một số mâu thuẫn nảy sinh cần giải quyết để thực hiện CBXH trong điều kiện kinh tế thị trường Theo các tác giả, mâu thuẫn bao trùm nhất trong lĩnh vực CBXH ở nước

ta hiện nay là mâu thuẫn giữa cá nhân với xã hội Bởi nếu lợi ích cá nhân bị vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn để phát triển; còn nếu cá nhân có lợi nhưng lợi ích xã hội bị vi phạm thì sẽ dẫn đến những bất công xã hội Tiếp đến

là mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách kinh tế là giải quyết những vấn đề kinh tế, do vậy, không thể bao quát

và giải quyết được tất cả những khía cạnh phức tạp của lĩnh vực xã hội rộng lớn

Vì thế, cần phải có những chính sách xã hội nhất định để bổ sung cho chính sách kinh tế Ngược lại, việc thực hiện các chính sách xã hội cũng có thể mâu thuẫn với chính kinh tế Bởi vì, việc thực hiện các chính sách này vượt quá khả năng cho phép của nền kinh tế, hoặc vi phạm những nguyên tắc công bằng trong kinh

tế sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Một mâu thuẫn nữa là mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động Thực tế cho thấy, những nhà đầu tư nếu không có sự can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước thì họ có khuynh hướng giảm thiểu thu nhập và những điều kiện thiết yếu của người lao động đến mức thấp nhất để lợi nhuận của họ đạt đến mức tối đa Do đó, hàng nghìn cuộc đình công tự phát nổ ra bên ngoài sự mong muốn của Nhà nước là điều dễ hiểu Cuối cùng là mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo biểu hiện như: nhiều cơ

sở đào tạo muốn tăng thu nhập của mình thường có khuynh hướng giảm chi phí cho đào tạo, giảm yêu cầu về chất lượng đào tạo để có thể thu hút được số đông người học vẫn có tâm lý cần bằng cấp chứ không phải cần kiến thức; bệnh thành tích trong giáo dục; chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn nâng cao chất

Trang 27

lượng đào tạo nhưng không muốn tăng ngân sách; đối xử thiếu công bằng với đội ngũ giáo viên, giảng viên… Những mâu thuẫn nếu không được giải quyết tốt sẽ dẫn đến bất công, tiêu cực xã hội Để thực hiện CBXH, chúng ta cần phải mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận và tìm phương án, biện pháp hữu hiệu nhất

để giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh

Bên cạnh những công trình nghiên cứu thực trạng thực hiện CBXH mang tính bao quát có những công trình đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể

Trong lĩnh vực phân phối có các cuốn sách: Vai trò của nhà nước trong

phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay [138]; Kỷ yếu hội thảo Vấn đề phân phối

và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [19]; Công bằng trong phân phối - cơ sở để phát triển bền vững [27] tác giả Nguyễn Ngọc Hà với các bài viết: “Nguyên

tắc phân phối vì mục tiêu công bằng xã hội ở nước ta hiện nay” [52], “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội XI về nguyên tắc phân phối vì mục tiêu công bằng xã hội” [54] Theo đó, hiện nay đất nước ta đang trong thời quá độ lên CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhiều hình thức phân phối phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hà, nếu thực hiện nguyên tắc phân phối như trên thì giá trị của tổng sản phẩm xã hội sẽ được chia thành ba phần: phần thứ nhất được dành để tái sản xuất và để giải quyết các vấn đề xã hội chung; phần thứ hai sẽ được phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao động của họ cho xã hội; phần thứ ba sẽ được phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến vốn Tỷ lệ giữa ba phần này được xác định căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương và từng giai đoạn, trong đó, phần thứ nhất là rất quan trọng

Dưới góc độ Vai trò của nhà nước trong phân phối thu nhập ở nước ta

hiện nay [138] các tác giả phân tích thực trạng vai trò của nhà nước đối với lĩnh

vực phân phối thu nhập như: chính sách tiền lương, chính sách thuế, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách cứu trợ xã hội Sự điều tiết của Nhà nước về phân phối thu nhập đã góp phần thực hiện CBXH Nhờ đó, kinh tế - xã hội đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, thu nhập của người dân tăng lên, sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa,

Trang 28

thể dục thể thao có nhiều đổi mới và tiến bộ Các tác giả cũng chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với sự điều tiết của Nhà nước về phân phối thu nhập: sự phân hóa giàu nghèo; tiền lương tối thiểu thấp, còn mang tính bình quân; hệ thống thuế chưa bao quát hết được các nguồn thu, tính công bằng của hệ thống thuế chưa cao; việc phân phối phúc lợi xã hội tầng lớp trung lưu được hưởng nhiều hơn nhóm người

có thu nhập thấp Trên cơ sở những phân tích của các tác giả dưới góc độ phân phối chúng tôi nhận thấy, thực hiện CBXH trong phân phối là một trong những điều kiện để PTCN

Thông qua những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có thể thấy, thực hiện CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, trình độ dân trí, sức khỏe của người dân cũng được cải thiện đáng kể Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại không ít hiện tượng bất công, bất bình đẳng cản trở sự PTCN Tuy nhiên, các công trình mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá chung chung hoặc đi vào một khía cạnh của thực trạng thực hiện CBXH tác động đến sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội Chưa có công trình nào đi sâu phân tích thực trạng thực hiện CBXH tác động đến việc PTCN Việt Nam hiện nay

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

Để phát huy vai trò của thực hiện CBXH nhằm PTCN ở Việt Nam hiện nay cần đưa ra một hệ thống các giải pháp đồng bộ Ở mức độ nhất định, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã đưa ra những giải pháp

cơ bản

Trên cơ sở nhận thức một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá

trình thực hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay, các tác giả của cuốn sách Những

vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay

[147] đã đưa ra một số kiến nghị:

Về việc thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng, các tác giả kiến nghị,

để phân phối chủ yếu theo kết quả lao động cần xác định được giá trị của từng loại lao động, tránh tình trạng lao động trí óc và lao động chất xám chưa được đánh giá đúng mức, lao động giản đơn hay lao động cơ bắp lại được hưởng phân phối cao hơn Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho chất

Trang 29

lượng lao động của chúng ta hiện nay rất thấp Đồng thời, cần phải quán triệt một cách đầy đủ, nghiêm túc nguyên tắc phân phối công bằng này ở tất cả mọi loại hình sở hữu của tư nhân cũng như của Nhà nước góp phần tạo sự đồng thuận và ổn định xã hội

Theo các tác giả, tiền đề quan trọng để thực hiện CBXH là làm sao cho mọi người đều có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực và điều kiện phát triển, tức bình đẳng về cơ hội Vì vậy, cần phải có một chiến lược đầu tư mạnh

mẽ về cơ sở hạ tầng, tài chính, thông tin, về giáo dục - đào tạo, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhất là đối với những người nghèo, vùng nghèo Trên cơ sở bình đẳng về cơ hội con người sẽ được phát triển toàn diện

Các tác giả cho rằng, tệ tham nhũng, nạn làm giàu phi pháp tạo ra những bất công xã hội lớn nhất, do đó, cần phải có một cuộc đấu tranh quyết liệt từ Trung ương đến các địa phương, đến từng cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tiến đến khắc phục về cơ bản những quốc nạn này

Điều quan trọng là phải làm sao nâng cao nhận thức của người dân về CBXH, từ đó họ tự giác phấn đấu để đạt được công bằng xã hội bằng chính sức lực và tài năng của mình chứ không trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp từ bên ngoài Tuy nhiên, để thực hiện được CBXH, trách nhiệm lớn thuộc về sự quản

lý của Nhà nước Sự quản lý, điều tiết một cách đồng bộ, nhất quán và có trách nhiệm của Nhà nước sẽ giữ vai trò quyết định trong việc điều hòa các lợi ích xã hội theo hướng công bằng, từ đó tạo nên một xã hội đồng thuận và phát triển

Theo tác giả Đỗ Huy [49], để thực hiện mục tiêu CBXH toàn diện trong

thời kỳ quá độ lên CNXH, vấn đề không chỉ là phân phối theo lao động, gắn cống hiến với hưởng thụ, mà phải là phát triển xã hội toàn diện Các giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa phải có sự dính kết như các mắt xích trong hệ thống xã hội lấy con người làm trung tâm Theo tác giả, cần phải thực hiện các giải pháp chủ yếu sau: 1.Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân; 2 Hiện đại hóa lực lượng sản xuất; 3 Từng bước tập thể hóa, quốc doanh hóa trong quá trình thiết lập quan hệ sản xuất mới; 4 Xây dựng hệ tư tưởng chính thống trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; 5 Thực hiện đại đoàn kết: dân tộc, quốc tế, con người; 6 Tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc;

7 Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh Đây là những giải pháp mang tính định hướng, lâu dài để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đảm bảo thực hiện CBXH trong điều kiện kinh tế

Trang 30

thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, theo chúng tôi cần phải đi vào những giải pháp cụ thể hơn

Tác giả Phạm Xuân Nam [49], đã kiến nghị một số hướng giải pháp để thực hiện CBXH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tới 1) Tiếp tục thực hiện nghiêm túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực vào quá trình sản xuất, kinh doanh Trong đó, phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được xem là chủ yếu và đặt

ở vị trí hàng đầu của CBXH 2) Trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển, cần

có quy hoạch và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau Dành mức đầu tư cao cho các vùng kinh tế động lực, chú ý đầu tư các vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến

cũ nhằm giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng 3) Trong

số những chính sách có liên quan đến phân phối lại tổng thu nhập quốc dân không nên chỉ đặt vấn đề phân phối thông qua phúc lợi xã hội Về vấn đề này, Văn kiện Đảng lần thứ XI bổ sung thêm hình thức phân phối thông qua an sinh

xã hội 4) Đấu tranh quyết liệt kết hợp nhiều biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả những hiện tượng làm giàu phi pháp vì đây chính là nhân tố vừa làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế chung, vừa tạo ra bất công xã hội lớn nhất Những giải pháp tác giả đưa ra rất thiết thực cung cấp cơ sở để tác giả luận án đưa ra giải pháp phù hợp nhằm thực hiện CBXH, vì mục tiêu PTCN Việt Nam toàn diện

Những giải pháp đưa ra trong cuốn Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công

bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [60], dưới góc độ để đẩy nhanh tiến trình hiện

đại hóa xã hội tiến đến mục tiêu CBXH, các tác giả đưa ra ba giải pháp cơ bản

và cấp bách: Thứ nhất, đẩy nhanh nhịp độ phát triển toàn diện kinh tế thị trường định hướng XHCN; Thứ hai, xây dựng và thực thi đầy đủ, hợp lý các chính sách

xã hội; Thứ ba, nâng cao hơn nữa vai trò của nhà nước HXCN trong tiến trình hiện đại hóa vì mục tiêu CBXH

Những giải pháp mà các tác giả đưa ra rất phong phú mà tác giả luận án

có thể tiếp thu Có thể khái quát lại thành những nhóm giải pháp chủ yếu: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng và thực thi đầy đủ các chính sách xã hội, nâng cao vai trò của nhà nước trong việc thực hiện CBXH, tích cực phòng chống tham nhũng Các tác giả tùy theo góc độ nghiên

Trang 31

cứu của mình tập trung nhấn mạnh vào một vài nhóm giải pháp hoặc mới chỉ nêu tên các nhóm giải pháp Điều này đòi hỏi tác giả luận án cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm rõ

Do tính chất khái lược chúng tôi không có điều kiện đi phân tích cụ thể

về tất cả các công trình nghiên cứu có liên quan Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy còn nhiều công trình cũng cần được xem là những tài liệu bổ ích

cho nghiên cứu vấn đề này Bên cạnh những công trình được chúng tôi xem là

cơ bản và có tầm quan trọng nói trên, có thể kể đến những công trình khác mà

chúng tôi thấy cần tham khảo như: Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và

vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam [123]; “Quan điểm của chủ nghĩa Mác

về công bằng xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người” [69];

“Thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây” [75]; “Chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở

Trên phương diện lý luận, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng trong nghiên cứu vấn đề thực hiện CBXH với việc PTCN, từ các quan điểm trong lịch sử triết học đến quan điểm hiện đại, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta

Trên phương diện thực tiễn, những khảo sát thực tiễn và các kết quả nghiên cứu thực chứng về vấn đề thực hiện CBXH, PTCN đã đưa ra cho chúng

Trang 32

ta thấy được một bức tranh toàn cảnh về thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp cho tác giả luận án những tư liệu quý báu, vừa có tính khái quát cao lại vừa hết sức đa dạng, nhưng cũng rất cụ thể và chi tiết để tiếp tục đi sâu nghiên cứu

Có thể thấy, những đánh giá, nhận xét và những kết luận được các nhà nghiên cứu đưa ra hết sức đúng đắn, xác thực Các nhà khoa học đều khẳng định, con người vừa mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất

là trong giai đoạn hiện nay, trong khi các nguồn lực khác khi được khai thác thì ngày càng khan hiếm, cạn kiện thì con người, đặc biệt là trí tuệ con người, khi được khai thác nó lại càng trở nên vô tận Thực hiện CBXH là điều kiện, động lực cho sự phát triển đất nước, góp phần tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, hiện đại hóa xã hội Đây là phần quan trọng trong những giá trị mà tác giả luận án tiếp thu được từ các công trình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu đã đề xuất phương hướng, kiến nghị, giải pháp quan trọng, cần phải làm để thực hiện CBXH, PTCN Nhiều kiến nghị có giá trị khoa học và thiết thực là những hướng gợi mở quan trọng để luận án đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay

Các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề thực hiện CBXH với việc PTCN có thể nói là đa dạng Những kết quả to lớn về mặt khoa học mà các công trình nghiên cứu trên đã đạt được là những tài liệu tham khảo bổ ích cho những nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi Tuy nhiên, có một số vấn đề đặt ra xung quanh các công trình nghiên cứu có liên quan

Trong các công trình nghiên cứu về PTCN, vai trò của dân chủ, của giáo dục, của kinh tế, của y tế, của văn hóa đối với PTCN được bàn đến khá nhiều, trong khi đó, vai trò của thực hiện CBXH đối với PTCN được các tác giả đề cập đến rất ít, có thể nói là không đáng kể, thường đi cùng cụm từ: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Còn trong các công trình nghiên cứu về CBXH và thực hiện CBXH, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, tiến bộ xã hội, một số công trình đề cập đến thực hiện CBXH trong công tác chăm sóc sức khỏe, trong giáo dục Tất nhiên, thực hiện CBXH vì mục tiêu phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội suy cho đến cùng cũng vì mục tiêu PTCN Con người là trung tâm của phát triển Mọi sự phát triển đều phải vì con người, cho con người và của con người Tuy nhiên, thực hiện công

Trang 33

bằng trong kinh tế hay giáo dục, y tế mới chỉ phản ánh được một hay một vài khía cạnh của PTCN Mặt khác, đây mới chỉ là những nghiên cứu rời rạc PTCN liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị Để mọi người dân đều được hưởng các thành quả từ sự phát triển kinh

tế, văn hóa, giáo dục, y tế cũng như được sống trong một xã hội ổn định thì thực hiện CBXH là điều kiện đầu tiên Cho đến nay, theo chúng tôi được biết thì chưa

có công trình nghiên cứu nào thuộc chuyên ngành triết học nghiên cứu dưới góc

độ vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN Đây là hướng nghiên cứu mới đòi hỏi phải có sự đi sâu, tìm tòi, phân tích

Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước đó, duới góc

độ triết học, luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về CBXH, thực hiện

CBXH, PTCN Trong đó, luận án xác định khái niệm, những nội dung cơ bản của CBXH, thực hiện CBXH, PTCN Điểm mới và là một trong những nội dung trọng tâm của luận án là làm rõ vai trò của thực hiện CBXH đối với PTCN Từ

đó làm cơ sở để nghiên cứu, đánh giá về thực trạng và đề xuất những giải pháp

có bản nhằm phát huy vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, làm rõ thực trạng vai trò của thực hiện CBXH đối với PTCN ở

Việt Nam hiện nay Tìm ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của thực

hiện CBXH đối với PTCN ở Việt Nam trong thời gian tới

Chúng tôi cũng xác định đây là vấn đề mới và khó, nên những kết quả nghiên cứu trong luận án chỉ là bước đầu, vấn đề này vẫn cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong các công trình tiếp theo

Trang 34

Chương 2 THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

2.1 CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Trong lịch sử tư tưởng triết học ở cả phương Đông và phương Tây có rất nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau về vấn đề CBXH, đi cùng với nó là vấn

đề thực hiện CBXH Việc đặt ra và giải quyết vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử mà còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức và khả năng thực hiện của con người từng thời kỳ Nếu trong xã hội phương Đông tư tưởng CBXH thường gắn liền với tôn giáo, đạo đức, chính trị - xã hội, thì trong

xã hội phương Tây CBXH thường gắn liền với khái niệm về tự do và bình đẳng, với vấn đề sở hữu, phân phối Mặc dù các quan niệm về CBXH còn tản mác, chưa có sự thống nhất, nhưng có thể thấy, nội dung của CBXH rất rộng, liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: Tôn giáo, đạo đức, kinh

tế, chính trị, xã hội… Cho dù có khác nhau thế nào chăng nữa thì các quan niệm

về CBXH có điểm chung là đều bị chi phối bởi lợi ích giai cấp Theo đó, thực hiện CBXH chỉ là công bằng cho thiểu số những người nắm trong tay toàn bộ tư liệu sản xuất (TLSX) của xã hội, còn lại phần đông quần chúng nhân dân lao động vẫn đang hàng ngày phải chịu những bất công xã hội Trong một xã hội mất công bằng như vậy không thể nói đến sự giải phóng cũng như PTCN Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, CBXH luôn là khát vọng cháy bỏng của quần chúng nhân dân lao động Tuy nhiên, trước khi triết học Mác ra đời, các nhà tư tưởng trong lịch sử vẫn chưa đưa ra được quan điểm đúng đắn về CBXH cũng như cách thức, con đường để đạt tới CBXH đích thực Chỉ đến triết học Mác, vấn đề CBXH mới được nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện Đặc biệt, nó đã trở thành hiện thực trong sự nghiệp xây dựng CNXH nói chung và ở Việt Nam nói riêng

2.1.1 Quan điểm của triết học Mác về công bằng xã hội

Trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của

các nhà tư tưởng đi trước, triết học Mác đã có những đóng góp quý giá khi xây

dựng một quan niệm mới về CBXH

Xem xét từng thời kỳ khác nhau trong lịch sử của xã hội loài người, triết học Mác coi CBXH là một phạm trù có lịch sử và có tính giai cấp Mỗi một quốc

Trang 35

gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp dân cư khác nhau có những quan niệm khác nhau

về CBXH Do đó, khái niệm CBXH cũng thay đổi theo các hình thái kinh tế - xã hội, thậm chí theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau trong một hình thái kinh tế -

xã hội nhất định Về điều này, Ph.Ănghen đã chỉ rõ:

Công lý của người Hy Lạp và người La Mã cho rằng chế độ nô lệ là công bằng: Công lý của những nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng Đối với những địa chủ - quý tộc Phổ thì ngay cả cái sắc lệnh đáng ghét về việc tổ chức các khu cũng là một sự vi phạm công lý vĩnh cửu Do đó, khái niệm

về công lý vĩnh cửu biến đổi, chẳng những cùng với thời gian và không gian, mà cùng với bản thân con người nữa [93, tr.379]

Thực chất của CBXH là giải quyết mối quan hệ về lợi ích của con người trong xã hội Khi vấn đề lợi ích được giải quyết sẽ tạo cơ sở, động lực cho sự phát triển của con người Để có quan niệm đúng đắn về CBXH cần phải gắn nó với lợi ích giai cấp, nhóm xã hội và những điều kiện vật chất đã sinh ra nó Lợi ích của con người được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội… trong đó, lợi ích về kinh tế là cơ bản nhất Do đó, giải quyết vấn đề CBXH trước hết phải giải quyết vấn đề CBXH trên lĩnh vực kinh tế với tiêu chí chung của nó nằm trong quan hệ phân phối sản phẩm

Triết học Mác đã chỉ ra, ai nắm quyền sở hữu TLSX chủ yếu của xã hội thì là người quyết định việc phân phối sản phẩm, đồng thời là giai cấp thống trị

xã hội Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mọi quan hệ trao đổi được được nhà

tư bản coi là công bằng khi chúng được thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Về

lý thuyết, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động giữa nhà tư bản và giai cấp công nhân là công bằng, nhưng, như Ph.Ăngghen đã vạch rõ: “sự thật không phải như vậy Nếu nhà tư bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều kiện để chờ đợi và sống bằng tư bản của y Người công nhân không thể làm như vậy được”… “Người công nhân ngay từ đầu đã ở vào những điều kiện bất lợi trong cuộc đấu tranh Cái đói đặt anh ta vào hoàn cảnh hết sức bất lợi Thế

mà, theo khoa kinh tế chính trị của giai cấp các nhà tư bản, đó là đỉnh cao của sự công bằng” [94, tr.367]

Rõ ràng, người công nhân luôn bị đưa vào tình thế không được tự do lựa chọn trong quan hệ trao đổi được coi là tự nguyện và buộc phải bán sức lao động của mình dưới giá trị Còn cái gọi là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá thực chất

Trang 36

chỉ là không ngang giá, không công bằng Bởi, không giống như những loại hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, khi đưa vào sản xuất nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân C.Mác gọi phần dư ra

đó là giá trị thặng dư, “còn nhà tư bản thì chẳng phải tốn gì cả, và tuy vậy giá trị thặng dư ấy lại là vật sở hữu hợp pháp của nhà tư bản” [97, tr.826] Đó chính là bản chất bất công của chế độ phân phối tư bản chủ nghĩa Triết học Mác đã lên

án sự bất công trong phương thức phân phối tư bản chủ nghĩa

Quan hệ không công bằng trong phân phối còn thể hiện ở chỗ, phương thức phân phối trong chủ nghĩa tư bản không dựa vào sức lao động mà lại dựa vào tài sản và vốn Điều này đã dẫn tới: “Người nào không có sở hữu nào khác ngoài sức lao động của mình ra thì trong mọi trạng thái xã hội và văn hóa, đều nhất định sẽ phải làm nô lệ cho những kẻ khác nắm trong tay những điều kiện vật chất của lao động Người đó chỉ có thể lao động, do đó chỉ có thể sinh sống, khi được những kẻ này cho phép” [94, tr.27]

Phương thức phân phối này đã đưa tới “một sự đối lập ngày càng gay gắt hơn giữa những nhà tư bản ngày càng ít đi, nhưng ngày lại càng giàu thêm, với những công nhân làm thuê không có của ngày càng đông đảo hơn và nói chung sống trong một tình cảnh ngày càng tồi tệ hơn” [95, tr.212] Từ đó, triết học Mác

đã chỉ ra, sự tăng trưởng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với quá trình tăng cường bóc lột giai cấp công nhân và do đó, không thể dẫn tới CBXH, cũng không thể tạo điều kiện để con người phát triển theo đúng nghĩa của nó Muốn

có CBXH thì phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo đúng với giá trị của sức lao động

Nhà nước tư bản tuyên bố công dân có quyền bình đẳng trước pháp luật, nhưng trên thực tế, giai cấp tư sản chi phối sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội thì cũng chi phối phối pháp luật và các quan hệ xã hội chủ yếu khác Để xây dựng một xã hội công bằng thực sự, phải làm cho mọi người bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức phải làm cho mọi người phải ngang bằng về địa vị trong quan hệ đối với TLSX Đó chính là xuất phát điểm bình đẳng làm cơ sở để thực hiện được công bằng thực sự trong xã hội

Trong CNXH, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, chưa đủ sức thỏa mãn mọi nhu cầu của con người, nên tất cả mọi người đều phải lao động và được hưởng theo mức độ lao động mà họ đã đóng góp cho xã hội thì CBXH trong CNXH là làm theo năng

Trang 37

lực, hưởng theo lao động Triết học Mác cũng đã chỉ rõ rằng, trong điều kiện của CNXH, sự phân phối công bằng đó chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng “bất bình đẳng” nhất định giữa các thành viên trong xã hội, tức vẫn chưa có CBXH hoàn toàn Bởi cái ngự trị trong nguyên tắc phân phối theo lao động này vẫn là nguyên tắc trao đổi ngang giá trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Quyền của người sản xuất là tỷ

lệ với lao động mà người ấy cung cấp; sự ngang nhau là ở chỗ người ta đo bằng thước đo như nhau, tức là bằng lao động Nhưng những người lao động không phải ai cũng như ai, còn tồn tại rất nhiều sự khác biệt về sức khỏe, về năng khiếu

cá nhân, về năng lực lao động, về hoàn cảnh gia đình Do vậy, trên thực tế, với một công việc ngang nhau và với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội vẫn có tình trạng người này lĩnh nhiều hơn người kia, người này giàu hơn người kia, v.v Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải là không bình đẳng, chứ không phải là bình đẳng Đó vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động Chính vì thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động nên ngay cả trong CNXH, khi CBXH được thực hiện thì chúng ta vẫn chưa thể thực hiện được bình đẳng xã hội

Theo triết học Mác, CBXH thật sự sẽ đạt được khi xã hội bước vào giai đoạn cao - giai đoạn cộng sản chủ nghĩa Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã đạt đến mức độ rất cao, tất cả các nguồn của cải xã hội đều tuôn ra dồi dào, lúc đó việc phân phối không còn phụ thuộc vào lao động, thay vào đó sẽ là nguyên tắc phân phối: “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” Lúc này, CBXH đồng nhất với bình đẳng xã hội, còn bình đẳng ở đây đạt tới trình độ bình đẳng hoàn toàn, con người được hoàn toàn giải phóng, được hoàn toàn tự do phát triển toàn diện những năng lực bản chất của mình

Như vậy, so với các quan điểm trong lịch sử, triết học Mác đã xây dựng quan niệm về CBXH trên lập trường bảo vệ lợi ích của những người lao động với nội dung chủ yếu là nguyên tắc phân phối theo lao động Cơ sở để thực hiện CBXH nói chung bao giờ cũng phải dựa trên một xuất phát điểm bình đẳng giữa người với người và dựa trên sự tự nguyện tham gia vào mối quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong triết học Mác, CBXH không chỉ là vấn đề thuần túy kinh tế Thiết lập CBXH ở mức phổ quát nhất, có nghĩa là giải phóng con người ra khỏi mọi bất công và bất bình đẳng xã hội CBXH theo xu hướng vận động của nó luôn

Trang 38

hướng tới giải quyết tốt hơn những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo tốt hơn những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người Quan điểm của triết học Mác về CBXH cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận để tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vấn đề này trong điều kiện nước ta hiện nay

2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội

* Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Xây dựng một xã hội công bằng, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển toàn diện luôn là mong muốn, khát vọng và

lý tưởng cao cả mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp và thực hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Người đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về CBXH vào hoàn cảnh của nước ta Tư tưởng về CBXH được Hồ Chí Minh thể hiện linh hoạt, sáng tạo trong từng hoàn cảnh cụ thể của quá trình xây dựng đất nước

Khi nói đến CBXH, Hồ Chí Minh thường gắn nó với quan niệm về bình đẳng xã hội, mà ở đây là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi CBXH, theo Hồ Chí Minh, là một trong những mục tiêu của sự nghiệp xây dựng CNXH, đồng thời, là một trong những đặc trưng mang tính bản chất của CNXH Người đã chỉ

rõ, chỉ dưới chế độ XHCN “Nhân dân có nghĩa vụ đồng thời có quyền lợi” [103, tr.219], mới thực sự được hưởng quyền “bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi”

[106, tr.310], được đảm bảo ngang bằng về địa vị làm chủ nước nhà, làm chủ TLSX để mỗi người có thể phát huy được mọi khả năng của mình vươn tới mục tiêu ấm no, hạnh phúc

Theo Hồ Chí Minh, CBXH không chỉ biểu hiện như là mục tiêu của CNXH mà còn là một động lực thúc đẩy đất nước phát triển, là một yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng CNXH Do dó, không nhất thiết xã hội giàu có, không cần phải đợi đến có CNXH mới thực hiện CBXH mà ngay từ bây giờ, trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn lại càng cần phải thực hiện CBXH Tuy nhiên, Hồ Chí Minh chỉ ra, thực hiện CBXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn về kinh tế không có nghĩa là cào bằng sự nghèo khổ Theo Người, con người có trí tuệ, năng lực, thể chất khác nhau nên có cống hiến khác nhau, không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau Chủ

Trang 39

nghĩa bình quân hoàn toàn khác với tinh thần đồng cam cộng khổ để vượt qua những khó khăn: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? là ai cũng như ai, bằng hết” “Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [104, tr.386]

Quan niệm của Hồ Chí Minh về CBXH rất phong phú, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thực hiện công bằng trong kinh tế là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động với quá trình sản xuất Kế thừa nguyên tắc phân phối theo lao động của chủ nghĩa Mác - Lênin và xem đó là nguyên tắc phân phối công bằng trong CNXH, trong điều kiện quá độ đi lên CNXH ở nước

ta, lực lượng sản xuất phát triển chưa cao, tính chất và trình độ lao động có sự khác biệt, Người khẳng định, tất cả mọi người đều phải lao động, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Người bổ sung thêm, trừ những người già cả, đau yếu, và trẻ em Luận điểm này vừa thể hiện sự nhất quán với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về CBXH trong điều kiện CNXH, vừa thể hiện chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc của Hồ Chí Minh

Thực hiện công bằng trong chính trị là đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trong bầu cử và ứng cử của nhân dân vào các cơ quan nhà nước: “ hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền

đi bầu cử Không chia gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” [101, tr.133] Thực hiện công bằng trong chính trị còn là phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc đảm bảo những điều kiện để nhân dân tham gia quản lý, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, bày tỏ ý kiến của mình khi Nhà nước trưng cầu dân ý

Thực hiện công bằng trên lĩnh vực văn hóa - xã hội là tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trong xã hội đều được tiếp cận bình đẳng cơ hội được hưởng thụ thành quả xã hội mang lại như giáo dục, văn hóa, y tế… để có cơ hội bình đẳng, thành đạt trong cuộc sống

Để thực hiện CBXH hội, theo Người, phải xử lý thật tốt mối quan hệ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội, phải tính đến điều kiện đặc thù của nước ta là nền kinh tế kém phát triển, phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài nên ngoài những vấn đề chung phải có trọng tâm, chú ý đến các đối tượng chính sách, các vùng dân tộc miền núi, vùng căn cứ cách mạng,

Trang 40

coi trọng xóa đói giảm nghèo… Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến lợi ích cá nhân Người phân biệt rất rõ lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân Chúng

ta phải tôn trọng lợi ích cá nhân nhằm động viên mỗi người không ngừng phấn đấu, cống hiến nhiều nhất cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới; đồng thời, đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân nhằm ngăn chặn tác hại đối với lợi ích chung của toàn xã hội Hồ Chí Minh khẳng định, thực hiện CBXH là trách nhiệm chung của nhà nước, của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân hoàn thành nghĩa vụ, quyền lợi của mình đối với nhà nước và xã hội

Có thể thấy, quan niệm của Hồ Chí Minh về CBXH hội là toàn diện, sâu sắc, được thể hiện một cách độc đáo và sáng tạo Quan niệm của Hồ Chí Minh

về CBXH luôn gắn liền với vấn đề con người Mọi suy nghĩ và hành động của Người đều toát lên tư tưởng chủ đạo coi con người là trung tâm của sự phát triển, mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đều phải vì con người, cho con người Thực hiện CBXH chính là giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong xã hội; là việc tạo ra điều kiện cho mỗi người có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội và hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, là đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng Tư tưởng của Người về vấn đề này là một trong những đóng góp quan trọng cho sự phát triển

lý luận của CNXH nói chung, lý luận về CBXH nói riêng

* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội

Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH, cùng với sự phát triển của đất nước, quan niệm về CBXH của Đảng ta không ngừng được bổ sung, hoàn thiện Quan điểm của Đảng ta về CBXH hội có thể khái quát ở những điểm cơ bản sau:

Một là, Đảng ta xác định CBXH là một trong những đặc trưng cơ bản của

CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, là cơ sở cho sự PTCN Xã hội mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân Thực hiện CBXH chính là đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, tạo điều kiện cho mọi người dân “đều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện” [46, tr.30-31] Do đó, cần phải thực hiện CBXH “ngay

Ngày đăng: 03/05/2017, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc và Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh, Nguyễn Duy Bắc và Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
2. Ngân Anh (2015), “Dân trí Việt Nam cao hay thấp”, tại trang http://vietnamnet.vn, [truy cập ngày 09/06/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân trí Việt Nam cao hay thấp”, tại trang "http://vietnamnet.vn
Tác giả: Ngân Anh
Năm: 2015
3. Phạm Ngọc Anh (1995), “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, "Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Năm: 1995
4. Vũ Đình Bách (chủ biên), (2008), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
5. Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận Trung ương (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006)
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Báo điện tử Chính phủ (2015), “Báo cáo Tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016- 202”, tại trang http://baochinhphu.vn, [truy cập ngày 19/01/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-202”, tại trang "http://baochinhphu.vn
Tác giả: Báo điện tử Chính phủ
Năm: 2015
7. Báo điện tử Chính phủ (2014), "Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI", tại trang http://baochinhphu.vn, [truy cập ngày 12/06/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI
Tác giả: Báo điện tử Chính phủ
Năm: 2014
8. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2003), “Một số cách tiếp cận phạm trù "nhân tố con người" trong lý thuyết phát triển và phương án đo đạc”, Tạp chí Thông tin Khoa học và xã hội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách tiếp cận phạm trù "nhân tố con người" trong lý thuyết phát triển và phương án đo đạc
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Năm: 2003
9. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2003), “Nghiên cứu phát triển con người (HD), chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta và những vấn đề đặt ra cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ (MDG)”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển con người (HD), chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta và những vấn đề đặt ra cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của Thiên niên kỷ (MDG)”, "Tạp chí Nghiên cứu con người
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Năm: 2003
10. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2003), “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc nghiên cứu con người và phát triển con người ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Thông tin Khoa học và xã hội, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc nghiên cứu con người và phát triển con người ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Thông tin Khoa học và xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Năm: 2003
11. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2004), “Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam trong tiến trình 15 năm (1990 - 2004) của thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Thông tin Khoa học và xã hội, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam trong tiến trình 15 năm (1990 - 2004) của thời kỳ đổi mới”, "Tạp chí Thông tin Khoa học và xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Năm: 2004
12. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Cương và Trương Thị Thuý Hằng (2005), “Chỉ số phát triển con người Việt Nam 2005 thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển con người Việt Nam 2005 thực trạng và kiến nghị”, "Tạp chí Nghiên cứu con người
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Cương và Trương Thị Thuý Hằng
Năm: 2005
13. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2005), Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
14. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng (2005), Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
15. Đặng Quốc Bảo, Đặng Thị Thanh Huyền (2005), Chỉ số phát triển giáo dục trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển giáo dục trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đặng Thị Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
16. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hoá đối với việc phát huy nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hoá đối với việc phát huy nguồn lực con người”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
17. Hoàng Chí Bảo (1998), “Đổi mới ở Việt Nam, một số vấn đề triết học về con người và xã hội”, Tạp chí Triết học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam, một số vấn đề triết học về con người và xã hội”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1998
18. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2004
20. Nguyễn Hữu Công (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Tác giả: Nguyễn Hữu Công
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w