1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng Phong

28 406 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng PhongSKKN Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng Phong

Trang 1

I Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Năm học 2016 - 2017 là năm học tiếp tục triển khai Chương trìnhhành động của Bộ GDĐT; thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mớichương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới chương trình,sách giáo khoa giáo dục phổ thông Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đốivới học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng nhằm nâng cao dân trí, góp phần

ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số; rút ngắn khoảng cách chất lượnggiữa học sinh dân tộc thiểu số với học sinh vùng thuận lợi theo hướng phát triểnchất lượng nhằm tăng tỷ lệ học sinh Hoàn thành và Hoàn thành tốt nội dung họctập các môn học của lớp học, giảm tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành nội dung cácmôn học và lớp học, đào tạo bồi dưỡng học sinh “mũi nhọn” trong các lớp học củacấp học, nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Học sinh dân tộc thiểu số có nhiều đặc thù riêng về hoàn cảnh sống và tư duysuy nghĩ Làm thế nào để chất lượng dạy và học được nâng cao? Làm thế nào để

đào tạo ra những con người có tri thức, có nhân cách, những người có đủ “đức, trí,

thể, mĩ”? Đó vẫn còn là một câu hỏi, khó có lời giải trọn vẹn.

Là một cán bộ quản lý chuyên môn của nhà trường, trong quá trình giảng dạy

và công tác bản thân tôi thường xuyên trăn trở, suy nghĩ tìm mọi cách để cùng tậpthể sư phạm nhà trường và lãnh đạo địa phương từng bước tháo gỡ khó khăn, khaithác các điều kiện thuận lợi và các nguồn lực để áp dụng vào thực tế nhà trường,nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên do điều kiện còn khókhăn nên trong những năm vừa qua chất lượng của học sinh dân tộc ở hai điểm

Trang 2

trường lẻ có nhiều học sinh dân tộc thiểu số còn thấp so với điểm trường chính Vìvậy kết thúc mỗi năm học, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành chương trình lớp học vẫncòn, ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi Với tầmquan trọng và cần thiết của việc nâng cao chất lượng Giáo dục học sinh dân tộcthiểu số nói chung và học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 ở trường tiểu học Lê HồngPhong nói riêng Qua nhiều năm công tác tại trường và vị trí công tác hiện tại, bảnthân tôi mong muốn tìm ra những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục phần nàonhững hạn chế về chất lượng giáo dục tiểu học hiện nay nên đã mạnh dạn chọn và

nghiên cứu đề tài " Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng Phong" Với mong

muốn được góp phần nhỏ cùng tập thể giáo dục nhà trường và nhân dân địa phươngtìm ra các biện pháp phù hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dụctoàn diện ở trường tiểu học

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của công tác chỉ đạo thực hiện nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nền tảngcủa cấp tiểu học lớp 1, 2 của trường Lê hồng Phong, xã Eana Việc nghiên cứunhằm mục đích tìm hiểu các biện pháp chỉ đạo việc dạy và học nhằm nâng cao chấtlượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số Qua đó có biện pháp chỉ đạo nhằmnâng cao chất lượng và nâng cao năng lực quản lí góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện và chất lượng đại trà của nhà trường

3 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số lớp

1, 2 của trường tiểu học Lê Hồng Phong

4 Giới hạn của đề tài

Trang 3

Nghiên cứu về quá trình học tập, rèn luyện của học sinh lớp 1, 2 trường Tiểuhọc Lê Hồng Phong, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, năm học 2015-2016 và học

kỳ I năm học 2016 – 2017;

5 Phương pháp nghiên cứu

a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

c Phương pháp thống kê toán học

II Phần nội dung

1 Cơ sở lý luận

Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015; Thực hiện công bằng trong xã hội và một số chính sách miễn, giảm học phí,cấp học bổng, cho vay đi học Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của Quốc Hội khóa IXvề đổi mới giáo dục phổ thông nói về việc nâng cao chất lượng giáo dục cũng đãkhẳng định: tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhấttrong hệ thống giáo dục quốc dân Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tưcách: vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh Do đó,trình độ tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ tronghọc tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tậpcác môn học của học sinh ( các em có học tốt môn tiếng Việt thì mới học tốt đượccác môn học khác) Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lênlớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì nhiềunguyên nhân như cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập,trình độ nhận thức trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyênnhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên

Trang 4

Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở xã Eana đã

và đang được địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bịphục vụ cho dạy và học Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khungthời gian, chương trình, sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu số, tăng thờilượng môn tiếng Việt, giảm tải chương trình sách giáo khoa; soạn thảo chươngtrình sách giáo khoa tiếng dân tộc Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khókhăn (PEDC) đã hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sách giáokhoa, sách hướng dẫn, tập huấn nâng cao năng lực và tổ chức lớp học tiếng Ê đêcho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong quá trình giảng dạy song chất lượngvẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục thấp, tỷ lệ học sinh chưa hoànthành chương trình lớp học vẫn còn

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Trường tiểu học Lê Hồng Phong có 3 điểm trường, điểm trường buôn Đraiđặc biệt khó khăn, 100% học sinh là người dân tộc thiểu số tại chỗ Địa bàn củatrường rất rộng, trình độ dân trí thấp, cuộc sống của người dân còn gặp rất nhiềukhó khăn

Năm học 2016-2017 nhà trường có 24 lớp; 50 cán bộ, giáo viên, nhân viên;

541 học sinh trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 160 em chiếm tỷ lệ 33,5% (trong

đó 01 điểm trường có 90 em là học sinh dân tộc thiểu số) Chất lượng giáo dụchàng năm còn chưa đạt như mong muốn ( đạt 98,6%) Trước đây, tỷ lệ học sinh lưuban hàng năm trên 2,0%;

Kết quả khảo sát 2 môn Toán và Tiếng Việt đầu năm học 2016- 2017 của học sinh lớp 2

cụ thể như sau:

khối

TSHSDTTS

Điểm9,10

dưới 5

Trang 5

Chất lượng khảo sát đầu năm rất thấp Qua một thời gian hè vui chơi, các emphần nào đã quên đi kiến thức của lớp 2 Trước thực trạng này, tôi nhận thấy mìnhcần phải có những việc làm cụ thể để chỉ đạo giáo viên cải thiện chất lượng vànâng cao ý thức học tập của học sinh

Các phòng chức năng như phòng họp, phòng sinh hoạt chuyên môn chưa có

Đồ dùng, thiết bị vẫn còn thiếu nhiều và sử dụng chưa hiệu quả do nhà trường rấtnhiều điểm trường Các điểm trường xa điểm chính nên việc mượn đồ dùng, thiết bịdạy học còn gặp khó khăn nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giảng dạy

Trong những năm học vừa qua, nhà trường đã cố gắng tìm nhiều giải pháp đểnâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới phương pháp dạy, hình thức học; dạyphân hóa đối tượng học sinh; tăng thời lượng một số môn học cơ bản như Toán,tiếng Việt; tăng cường phụ đạo học sinh yếu; tổ chức các hình thức học tập như họctheo nhóm, đôi bạn cùng tiến, điều chỉnh thời lượng cho các tiết học Toán và TiếngViệt nhưng chất lượng vẫn chưa được như mong muốn vì rất nhiều nguyên nhântrong đó vốn tiếng Việt của học sinh còn rất hạn chế Học sinh sau khi lên lớp lại cótình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo vì sau kỳ nghỉ hè các em về với gia đìnhviệc giao tiếp hàng ngày của các em bằng tiếng mẹ đẻ nên ít vốn tiếng Việt học ởtrường của các em rất dễ quên do không được giao tiếp trong 2 tháng hè; tỷ lệ lưuban sau mỗi năm học vẫn còn Do đó trong thời gian nghỉ hè các em đã quên khánhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết và làm toán dẫnđến tình trạng nhiều học sinh vào năm học mới học các môn học khác rất khó khăn

Tỷ lệ học sinh đến lớp Mẫu giáo trên địa bàn của trường tuyển sinh đạtkhoảng 99% trẻ trong độ tuổi Trong đó học sinh dân tộc thiểu số đạt tỷ lệ 98 %(do một số em cha mẹ đi làm ăn xa các em ở với ông bà đã già và người thân nênchưa ra lớp mẫu giáo) Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của nhà trườngkhi tiếp nhận các em chưa ra lớp Mẫu giáo vào học lớp Một Những em này hầu

Trang 6

như chưa biết và giao tiếp được bằng tiếng Việt Trong số học sinh qua Mẫu giáothì việc giao tiếp bằng tiếng Việt của các em vẫn hết sức khó khăn Tỷ lệ học sinh

có thể hỏi, trả lời và hiểu được những yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm 20- 35 %trong số những em đã qua Mẫu giáo hoặc những học sinh lưu ban Các em chỉ nghe

và hiểu được những câu lệnh đơn giản như "trật tự", "ra chơi", "vào lớp", "ravề" Việc giảng dạy mang tính áp đặt, khô khan do giáo viên “tham” và sợ nên cốtruyền đạt những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian đểtạo ra sự hứng thú cho học sinh trong học tập là một hạn chế rất lớn trong quá trìnhtiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người dân tộc thiểu

số Vì vậy chất lượng giáo dục chưa cao, tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt và xuất sắcít, có một số ít học sinh ở lại lớp 2 năm liên tục dẫn đến các em chán học, khôngtìm thấy niềm vui khi đến lớp

Bên cạnh đó, trình độ dân trí thấp nên các gia đình chưa thực sự quan tâmđến việc học tập của con em Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh gia đình khó khănnên đến mùa vụ phải nghỉ học một số buổi ở nhà để giúp đỡ gia đình như giữ em,coi nhà Khi vào thăm, khảo sát thực tế ở các gia đình thì hầu hết các gia đình làngười dân tộc thiểu số không có bàn ghế, điện thắp sáng, không có góc học tập đểcác em học ở nhà và hầu hết các gia đình không quan tâm con em mình học hành ởlớp ra sao, về nhà thế nào, không sắp xếp thời gian biểu cũng nhưng tạo điều kiệncho các em học tập

Tôi mạnh dạn đưa ra đây một số biện pháp mà bản thân đã tích lũy nhiềunăm bằng những kinh nghiệm thực tế giảng dạy và quản lý Những biện pháp này

đã được áp dụng và thực hiện có hiệu quả tại đơn vị để cùng đồng nghiệp chia sẻ.Thiết nghĩ, nếu những trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu số mà thực trạnggiống như trường tiểu học Lê Hồng Phong cũng đưa những giải pháp này và ápdụng một cách khoa học, phù hợp tại đơn vị chắc chắn chất lượng giáo dục họcsinh dân tộc thiểu số sẽ được nâng lên

Trang 7

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a Mục tiêu của giải pháp

Nghiên cứu để có được phương pháp dạy học mới, nhẹ nhàng, phù hợp vớiđối tượng học sinh dân tộc thiểu số, những giải pháp về nâng cao chất lượng độingũ, đề xuất về cơ sở vật chất và sự vào cuộc của toàn xã hội trong công tác xã hộihóa giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giảm thiểu tỷ lệ họcsinh lưu ban, bỏ học

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

b.1 Biện pháp thứ nhất: Xây dựng, phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên:

* Làm tốt công tác nâng cao nhận thức, tư tưởng cho đội ngũ

Lãnh đạo trường phối hợp với Công đoàn thường xuyên quán triệt tư tưởngcho cán bộ giáo viên phát huy tinh thần tự giác, lòng nhiệt huyết, nâng cao ý thứctrách nhiệm của mỗi cá nhân trong công tác; kịp thời phổ biến các văn bản chỉ đạocủa cấp trên về triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học Nắm bắt tâm tư, nguyệnvọng của giáo viên, nhân viên và luôn giáo dục tinh thần đoàn kết là sức mạnh tạonên thành công Với những giáo viên dạy đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu

số ngoài năng lực chuyên môn thì đội ngũ giáo viên còn phải quan tâm đến việctinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết, cống hiến, tự giác, tận tụy đối với công tácgiảng dạy Sự tâm huyết đó được thể hiện bằng việc khắc phục những khó khăn củacuộc sống đời thường, điều kiện khó khăn của Nhà trường, giành thời gian hợp lý

để phụ đạo học sinh đọc viết, tính toán còn chậm, tìm tòi, sáng tạo, học hỏi nhữngkinh nghiệm trong giảng dạy, tìm những giải pháp hay, thiết thực và hiệu quả đểnâng cao chất lượng từng tiết dạy; biết quý thời gian trên lớp để truyền thụ kiếnthức cho học sinh, giành thời gian ngoài giờ lên lớp để tổ chức các hoạt động vuichơi giúp học sinh hứng thú đến lớp; thực tế gia đình học sinh tìm hiểu về điều kiệngia đình, hướng dẫn học ở nhà, hướng dẫn đánh giá học sinh,…

Trang 8

* Phân công chuyên môn một cách hợp lý là điều kiện thuận lợi giúp cho

việc nâng cao chất lượng Vì vậy ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu đã giành rấtnhiều thời gian để thảo luận, nghiên cứu và thống nhất việc phân công chuyên môn.Bản thân đã chủ trì việc thảo luận phân công chuyên môn sau khi các bộ phận đãđưa ra thực trạng về đội ngũ giáo viên Xác định đội ngũ giáo viên được phân côngdạy lớp Một là quan trọng nhất Đội ngũ giáo viên này ngoài năng lực chuyên mônvững vàng, chữ viết đẹp thì phải khóe léo, nhiệt tình, tâm huyết và chút năng khiếu

và kinh nghiệm trong dạy lớp Một Hơn nữa lớp 1 toàn trường dạy theo chươngtrình Tiếng Việt 1 CNGD Do đó đội ngũ giảng dạy lớp 1 là những giáo viên nhiệttình có kinh nghiệm, có trình độ, có khả năng tiếp cận, tiếp thu nhanh và có khảnăng hướng dẫn học sinh học tập, đồng thời biết chia sẻ kinh nghiệm cho nhautrong tổ chức thực hiện giảng dạy đảm bảo đạt hiệu quả cao Đây là một yêu cầukhông dễ đáp ứng, bởi lẽ đối với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt cũng làngoại ngữ

Với những giáo viên dạy lớp 2 dạy theo chương trình VNEN, cũng phải sắpxếp, bố trí đội ngũ cốt cán chọn những người có trình độ, năng lực, linh hoạt sángtạo để đề xuất và chỉ đạo các thành viên trong tổ thực hiện tổ chức dạy học theo môhình trường học Mới

Việc lựa chọn cốt cán và bố trí đội ngũ phù hợp với từng khối lớp của từngchương trình là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Do vậyhơn một năm học vừa qua, việc phân công đã đem lại hiệu quả, chất lượng giáo dục

đã được nâng lên, tỷ lệ học sinh lớp 1, 2 chưa hoàn thành chương trình lớp học đãgiảm rất nhiều

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải quan tâm đến chấtlượng đội ngũ Vì vậy, việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, nâng cao năng lực của đội

Trang 9

ngũ giáo viên là điều vô cùng quan trọng, tiếp tục thực hiện cuộc vận động 'Mỗithầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo

Việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ bằng cách thường xuyên

tổ chức thao hội giảng, dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt chuyên đề để trao đổi, học hỏikinh nghiệm ở các khối lớp; thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, bố trí cáctiết dạy minh họa để tìm ra được cách thức tổ chức dạy học phù hợp nhất với thực

tế của địa phương, tìm tòi các biện pháp để khắc phục những vấn đề còn vướngmắc nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Bên cạnh đó còn trao đổi về kinh nghiệmtrong tổ chức lớp học, trang trí không gian lớp học, cách vận động phụ huynh thamgia phối hợp trong công tác giáo dục, đánh giá học sinh

Ví dụ: Rất nhiều vấn đề liên quan đến công tác giảng dạy được thực hiện qua cácchuyên đề cấp trường như :

Năm học 2015 – 2016 đã tổ chức các chuyên đề

Chuyên đề: “Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu

số lớp Hai tại điểm trường buôn Eana” do cô giáo Phạm Thị Anh thực hiện.Chuyên đề: “Giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh lớp Một bỏ học” do cô giáo

Vũ Thị Nhâm thực hiện Chuyên đề 3: “Tăng cường tiếng Việt; dạy tiếng Việt chohọc sinh dân tộc thiểu số hiệu quả” do cô giáo Nguyễn Thị Phương thực hiện

Học kỳ I năm học 2016- 2017 đã tổ chức các chuyên đề cấp trường

Chuyên đề 1: “Dạy tiếng Việt 1 CGD cho học sinh dân tộc thiểu số” ( có sự thamgia của Cha mẹ học sinh) do cô Vũ Thị Nhâm thực hiện Chuyên đề 2: “ Tăngcường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số”( có sự tham gia của cha mẹ họcsinh dân tộc thiểu số) do thầy Phan Văn Quản thực hiện,

Qua các buổi sinh hoạt chuyên đề để cán bộ, giáo viên các trường thảo luận,tìm ra giải pháp tối ưu về áp dụng ở các khối lớp của trường; giúp đội ngũ cán bộ,giáo viên tích lũy cho mình những kinh nghiệm quản lý cũng như phương pháp dạy

Trang 10

học quý giá Chỉ đạo giáo viên tích cực tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môncấp cụm trường VNEN để giao lưu trao đổi kinh nghiệm dạy học, trao đổi việcđánh giá học sinh theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT với các đơn vị trườngbạn.Ngoài việc tổ chức dự giờ thăm lớp trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, chúng tôihướng dẫn cho giáo viên tự học, tự tích lũy chuyên môn thông qua tài liệu thamkhảo, khai thác mạng Internet; tự hoàn thành bài tập các môn học và nghiệp vụ dochuyên môn triển khai hàng tuần để nâng cao kiến thức và phương pháp tổ chứcdạy học Chúng tôi tổ chức tham quan học tập các đơn vị bạn có kinh nghiệm trong

tổ chức dạy học mô hình trường học mới, dạy Tiếng Việt 1 CGD Ngoài ra, Nhàtrường còn tổ chức các buổi tuyên truyền về Mô hình trường học mới, thông tư22/2016/ TT_BGDĐT về đánh giá học sinh tiểu học, có sự tham gia của các banngành, đoàn thể, cha mẹ học sinh và đội ngũ giáo viên để cùng nhìn nhận thựctrạng công tác giáo dục của nhà trường nói chung và giáo dục học sinh dân tộcthiểu số nói riêng từ đó tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

b 2 Biện pháp thứ hai: Chỉ đạo thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số học sinh.

Việc duy trì sĩ số học sinh hàng ngày là một trong những tiêu chí để nâng

cao chất lượng Mỗi ngày học sinh học một lượng kiến thức mới nhất định Nếuvắng học ngày nào, phần kiến thức đó các em không tiếp thu được và nếu vắngnhiều các em sẽ không thể theo kịp chương trình

Thế nhưng học sinh người DTTS rất hay nghỉ học vì lý do vào ngày mùa vụ.Đặc biệt là các em lớp Một vừa vào môi trường học tập mới, ít được chơi hơn sovới môi trường học trước nên các em rất dễ nghỉ học Vì vậy ảnh hưởng rất nhiềuđến việc nâng cao chất lượng đặc biệt với học sinh lớp 1 học tiếng Việt CGD nếuhọc sinh chỉ cần nghỉ 1 buổi học thì mai có đến lớp học sinh sẽ không học được vàkhó khăn trong việc giáo viên phải dạy lại cho em đó toàn bài của ngày học sinhnghỉ thì mới học được bài mới Do vậy Nhà trường đã làm tốt công tác tuyên

Trang 11

truyền và phối hợp với gia đình và các đoàn thể ở thôn, buôn nên tỷ lệ học sinh bỏhọc đã không xảy ra Ví dụ: một năm Lãnh đạo nhà trường đã xuống dự họp buổihọp của Buôn và tham gia buổi sinh hoạt đạo tiên lành với bà con đồng bào dân tộcthiểu số ở điểm trường buôn Đrai và buôn Eana ít nhất 2 lần Từ đó BGH cùng vớicác đoàn thể, tổ chức buôn, già làng, người đúng đầu của đạo tuyên truyền công tácduy trì sĩ số học sinh đồng thời tuyên truyền Thông tư về đánh gía học sinh tiểuhọc, mô hình trường VNEN, tiếng Việt 1 CGD rất hiệu quả Đặc biệt, bản thân tôi

đã chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện kế hoạch: giáo viên ít nhất xuống thăm mỗihọc sinh 1 - 2 lần/ học kỳ; thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với cha mẹ họcsinh và các đoàn thể ở thôn buôn để thông báo kịp thời học sinh nghỉ học không có

lý do Ngoài ra giáo viên phải làm tốt công tác tặng quà cho các em học sinh hoàncảnh khó khăn để các em thích đến trường hơn Có giáo viên đã vận động ủng hộquần áo, dày dép, cặp, mũ ở các nơi khác để tặng các em; tổ chức các trò chơi dângian; những tiết học sôi động có sự tham gia của cha mẹ học sinh làm cho họcsinh hứng thú đến trường Vì vậy năm học 2015-2016 không có học sinh bỏ học vàkết thúc học kỳ I năm học 2016-2017 tỷ lệ học sinh duy trì sĩ số/ ngày từ 99 –100% Một số em nhà cách trường 2-3 km nhưng vẫn đi học đều, không còn nghỉhọc và bỏ học như trước nữa Việc học sinh đi học thường xuyên giúp cho các emtiếp thu kiến thức một cách liên tục, không bị gián đoạn Chính vì vậy chất lượng

đã được nâng lên rõ rệt

b 3 Biện pháp thứ ba: Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện thực tế

Muốn nâng cao được chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số; đặcbiệt là đối với học sinh lớp 1 và 2, trước hết, thầy cô giáo phải tìm hiểu được nếpsống, phong tục tập quán, hoàn cảnh của học sinh Chỉ đạo giáo viên dạy học theohướng phân hoá các đối tượng học sinh, bám sát đối tượng, phù hợp và phát huyđược tính tích cực của nhiều đối tượng học sinh trong cùng một lớp học, tìmphương pháp giáo dục phù hợp nhằm khơi dậy niềm đam mê, hứng thú học tập của

Trang 12

các em Không tạo áp lực bài vở, không học nhồi nhét mà kết hợp kiểm tra kiếnthức với các hoạt động ngoại khóa, hội vui học tập; đưa ra các danh hiệu thi đua đểhọc sinh phấn đấu; biểu dương, khen thưởng học sinh hàng tuần, hàng tháng, quantâm chăm lo đến từng đối tượng học sinh…

tiếng Việt 1 CGD đối với học sinh dân tộc thiểu số ở buôn Drai gặp rất nhiều khókhăn và thiếu hiệu quả nếu không thực hiện một cách khoa học và phù hợp với đốitượng học sinh Nhiều giáo viên không dám sử dụng nhiều các hoạt động tronggiảng dạy vì sợ mất nhiều thời gian Vì vậy, tiết học trở nên nặng nề, căng thẳng, íthiệu quả Với Do vậy, bản thân đã chỉ đạo cho giáo viên thực hiện các biện phápgiảng dạy nhẹ nhàng, sôi động gây hứng thú cho học sinh giúp các em dễ dàng tiếpthu kiến thức hơn Đối với học sinh dân tộc thiểu số, việc sử dụng những phươngpháp như đóng vai, thảo luận nhóm, phỏng vấn, sử dụng đồ dùng dạy học thườngxuyên… giúp các em có điều kiện làm quen với các hoạt động tập thể, tiếp xúc và

sử dụng tiếng Việt nhiều tạo hứng thú để các tiếp thu bài học tốt hơn Vì vậy,CBQL trực tiếp chỉ đạo các tổ chuyên môn đưa ra những điều chỉnh phù hợp cácbài trong chương trình của các môn học để tổ chức dạy mẫu theo hướng đổi mớiphương pháp dạy học tích cực của VNEN áp dụng cho học sinh nói chung và chútrọng những câu hỏi, bài tập dành riêng cho đối tượng là học sinh DTTS Đặc biệt,đối với học sinh DTTS, việc chữa bài phải thường xuyên và có nhận xét tư vấn kịpthời để các em rút kinh nghiệm cho việc học bài và làm bài lần sau

Ví dụ: Với học sinh lớp 2: GV tổ chức các hoạt động học vui - vui học, trò

chơi, các hoạt động lớp hoặc nhóm, cuộc thi, phong trào, v.v cho cả lớp hoặc nhómthực hiện bên ngoài giờ học để vừa giúp học sinh học tiếng Việt, vừa duy trì hứngthú của học sinh

• Hướng dẫn học sinh tìm và sử dụng “Từ của ngày/tuần”: khuyến khích HS

sử dụng một số từ lựa chọn trong ngày/tuần càng nhiều càng tốt

Trang 13

• Viết nhật ký: HS viết nhật ký học tập bằng tiếng Việt ghi lại những gì các

em đọc được, hoặc những sự vật, sự kiện quan sát được

• Tổ chức hình thức trò chơi từ vựng: ví dụ: đoán từ, tìm từ trái nghĩa, v.v

• Các cuộc thi đua theo chủ đề, ví dụ: thi đua sưu tầm từ vựng theo chủ điểmHọc vui -Vui học.Tất cả các thành viên cùng tham gia, tạo không khí hứng thútrong lớp/nhóm

Đối với lớp có đối tượng học sinh quá yếu, hổng quá nhiều kiến thức của lớp họcdưới thì giáo viên giảng dạy thảo luận cùng với tổ, nhóm chuyên môn lên kế hoạch

giảm tải chương trình, dạy những gì học sinh cần, học sinh có thể hiểu trước, sau

đó lập ra kế hoạch phụ đạo cụ thể để giúp những học sinh đó đạt đến chuẩn kiếnthức kỹ năng Việc dạy như trên sẽ được thực hiện cụ thể đối với từng đối tượng và

ở vào từng thời điểm để làm sao dần dần đưa những đối tượng học sinh đó đạtchuẩn, không lấy lý do giảm tải để hạ thấp chuẩn của học sinh Ví dụ: dạy TiếngViệt 1CGD, nhận thức đúng đắn về quan điểm của GS Hồ Ngọc Đại, chuyên đềcủa trường ( tổ chức tháng 11-2016) đã đưa ra giải pháp cụ thể thực hiện hiệu quảhơn chương trình CGD giúp cho các giáo viên dạy lớp 1 trong trường nắm vữngphương pháp dạy mẫu 6 - Luật chính tả Chuyên đề tuân thủ nghiêm ngặt quy trìnhtrong sách thiết kế chỉ tập trung đổi mới phương pháp và hình thức dạy học bằngcách:

- Phần đầu tiết dạy áp dụng mô hình trường tiểu học mới VNEN vào tổ chứcquản lý lớp học

- Phần kiểm tra bài cũ: áp dụng cách kiểm tra theo Thông tư 22/2016 theo haichiều GV kiểm tra HS, HS kiểm tra GV

- Phần bài mới: bao gồm 3 hoạt động

Hoạt động 1: Đọc SGK, củng cố luật chính tả

Hoạt động 2: Tìm tiếng mới

Trang 14

Hoạt động 3: Viết chính tả

Cuối tiết học thiết kế trò chơi để củng cố nội dung bài

Chuyên đề cũng khắc phục điểm tồn tại về quan điểm dạy tiếng Việt CGD1

“Chân không về nghĩa” mà đã linh hoạt đưa việc giải nghĩa từ vào tiết học mộtcách nhẹ nhàng, hấp dẫn học sinh tạo nên một tiết học thành công và là điểm tựa đểhọc sinh dân tộc thiểu số nhớ từ vựng tiếng Việt

Kế hoạch giảm tải chương trình phải được thảo luận và thống nhất trong tổchuyên môn và phải được hiệu trưởng phê duyệt Trong kế hoạch phải thể hiện cụthể giảm tải cái gì và dạy cái gì, lộ trình của việc hoàn thiện lại những kiến thức đãgiảm tải BGH nhà trường chỉ đạo giáo viên dạy môn Hoạt động giáo dục giúp đỡhọc sinh theo từng tiết học, chú ý đến đọc, nghe viết cho học sinh để có hiệu quả tốthơn

Ngoài ra nhà trường còn tổ chức các hoạt động ngoại khoá bổ ích, lý thú nhưcác hoạt động theo chủ đề Ví dụ cần tổ chức các sân chơi sử dụng tiếng Việt tronggiao tiếp như Câu lạc bộ “Tiếng Việt của chúng em”, “Thế giới quanh em”, Hội thigiao lưu tiếng Việt, Đố vui học tập; tổ chức thi các trò chơi truyền thống của địaphương, các hoạt động văn nghệ, thể thao, nhằm thu hút và tạo hứng thú cho họcsinh trong quá trình học tập Tăng cường các hoạt động tập thể ngoài các giờ họctrên lớp nhằm tạo môi trường giao tiếp tự nhiên cho HS

Khác với HS bình thường, HS DTTS thường không sử dụng tiếng Việt trongcác hoạt động ngoài giờ lên lớp Giờ ra chơi, nếu chơi tự do, các em sẽ chơi thànhtừng nhóm và giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ Do đó các khối trưởng phải xây dựngchương trình và phối hợp với tổng phụ trách Đội để tổ chức các hoạt động tập thểthu hút học sinh trong giờ ra chơi, GV tham gia cùng học sinh, tổ chức, hướng dẫncác em chơi các trò chơi sân trường và yêu cầu các em nói với nhau bằng tiếngViệt Trong môi trường giao tiếp tự nhiên, không bị cưỡng bức bởi nội dung bàihọc, các em sử dụng tiếng Việt sẽ dễ dàng hơn Tuy nhiên, thay đổi được thói quen

Ngày đăng: 14/05/2017, 13:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w