Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học TV1 CGD Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học TV1 CGD Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học TV1 CGD Trong trường Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học quan trọng vì nó đảm nhận việc hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Điều đó giúp các em sử dụng thành thạo tiếng Việt trong hoạt động tư duy và giao tiếp. Nếu không biết đọc, viết thì con người không tiếp thu được nền văn minh nhân loại. Do đó môn tiếng Việt có một vị trí quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách của mỗi người. Trong 2 năm học gần đây việc chính thức đưa chương trình tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục vào giảng dạy tại 8 trường năm học 2014 2015 và 1313 trường có cấp tiểu học năm học 2015 – 2016 của phòng Giáo dục và Đào tạo Hải Hà cho thấy tầm quan trọng của môn tiếng Việt trong nhà trường. Việc dạy Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục nhằm phát triển cho trẻ năng lực làm việc trí óc qua thao tác tư duy cơ bản: Phân tích, ghi mô hình, vận dụng mô hình; phát triển năng lực hoạt động ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và năng lực sử dụng tiếng Việt đồng thời hình thành phát triển những phẩm chất khác như: tính chính xác, tính chủ động, độc lập, tự tin và sáng tạo. Ví bản chất của Công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một quy trình kĩ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ sư phạm, để học sinh lớp 1 chiếm lĩnh được ngữ âm ngay từ đầu, biết cách phân tích ngữ âm, đọc thông viết thạo, nắm chắc các quy tắc chính tả. Nói như Giáo sư tiến sĩ Hồ
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Trong trường Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học quan trọng vì nó đảmnhận việc hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.Điều đó giúp các em sử dụng thành thạo tiếng Việt trong hoạt động tư duy và giaotiếp Nếu không biết đọc, viết thì con người không tiếp thu được nền văn minhnhân loại Do đó môn tiếng Việt có một vị trí quan trọng trong việc hình thành pháttriển nhân cách của mỗi người
Trong 2 năm học gần đây việc chính thức đưa chương trình tiếng Việt Công nghệ giáo dục vào giảng dạy tại 8 trường năm học 2014- 2015 và 13/13trường có cấp tiểu học năm học 2015 – 2016 của phòng Giáo dục và Đào tạo Hải
1-Hà cho thấy tầm quan trọng của môn tiếng Việt trong nhà trường Việc dạy TiếngViệt 1 – Công nghệ giáo dục nhằm phát triển cho trẻ năng lực làm việc trí óc quathao tác tư duy cơ bản: Phân tích, ghi mô hình, vận dụng mô hình; phát triển nănglực hoạt động ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và năng lực sử dụng tiếng Việt đồngthời hình thành phát triển những phẩm chất khác như: tính chính xác, tính chủđộng, độc lập, tự tin và sáng tạo Ví bản chất của Công nghệ giáo dục là tổ chức vàkiểm soát quá trình dạy học bằng một quy trình kĩ thuật được xử lý bằng giải phápnghiệp vụ sư phạm, để học sinh lớp 1 chiếm lĩnh được ngữ âm ngay từ đầu, biếtcách phân tích ngữ âm, đọc thông viết thạo, nắm chắc các quy tắc chính tả
Nói như Giáo sư tiến sĩ Hồ Ngọc Đại: “Học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy”.Chương trình đã tạo ra sự chuyển biến tích cực đối với cả học sinh và giáo viên.Chương trình dạy học Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục đang được các trườngtích cực triển khai và thực hiện
Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hải Hà năm họchọc 2015 – 2016 trường Tiểu học thị trấn Hải Hà thí điểm thực hiện đề án đổi mớinâng cao chất lượng giáo dục Là cán bộ quản lí của nhà trường tôi xác định việc
Trang 2làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học đặc biết là chất lượng học sinh lớp 1
là một yếu tố vô cùng quan trọng tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượngdạy học của nhà trường trong các năm học tiếp theo
Chính vì thế, tôi nghiên cứu lựa chọn: “Một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng
cao chất lượng dạy học tiếng Việt 1 – Công nghệ Giáo dục tại trường Tiểu học thị trấn Hải Hà”.
2 Mục đích nghiên cứu.
Thông qua tìm hiểu những vấn đề về lí luận và thực tiễn công tác dạy và họcTiếng Việt 1- công nghệ Giáo dục góp phần nâng cao chất lượng dạy và học TiếngViệt 1- Công nghệ Giáo dục tại trường Tiểu học thị trấn Hải Hà
3 Thời gian, địa điểm.
Trang 3II PHẦN NỘI DUNG
1 Chương 1: Tổng quan
1.1 Cơ sở lí luận.
Với tư tưởng Công nghệ hóa quá trình Giáo dục Công nghệ Giáo dục coi giáodục là một quá trình sản xuất đặc biệt Quá trình dạy học là quá trình làm ra sảnphẩm là khái niệm khoa học Người học – học sinh – là chủ thể của quá trình, tựlàm nên sản phẩm (khái niệm) do thầy giáo tổ chức hướng dẫn thông qua mối quan
hệ phân công hiệp tác trong “dây chuyền công nghệ”: Thẩy thiết kế - Trò thi công!Bản chất của Công nghệ Giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằngmột Quy trình kĩ thuật được xử lí bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.trong dạy học, Công nghệ Giáo dục quan tâm đến Cái và Cách Thay cho mệnh đềthông thường là dạy học cái gì và dạy học như thế nào, CGD coi Cái/Cách là cốt lõicủa nghiệp vụ sư phạm hiện đại Cái vốn là của có sẵn trong xã hội đương thời.Nghiệp vụ sư phạm chỉ việc lựa chọn, nhặt ra và sắp xếp lại theo định hướng lýthuyết theo 3 nguyên tắc: Phát triển – Chuẩn mực – tối thiểu cái là sản phẩm Cách
là quá trình chuyển hóa (chuyển vào trong), được thiết kế bằng một Quy trình kĩthuật để làm ra Cái (sản phẩm) ở dạng kiến thức khoa học Cách còn được hiểu làCách dùng Cái như ở dạng kĩ năng vận dụng hoặc việc lựa chọn, sắp xếp như nóitrên Bản chất việc dạy Tiếng Việt 1 – CGD cho học sinh là dạy cho học sinh hệthống khái niệm của một môn khoa học nhằm giúp các em chiếm lĩnh được tri thứcngữ âm cơ bản và hình thành các kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết tương ứng Lầnđầu tiên học sinh biết tiếng là một khối âm thanh toàn vẹ như một “khối liền” đượctách ra từ lời nói Tiếp đó, bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếngkhác nhau hoàn toàn Sau đó các em biết phân biệt các tiếng khác nhau một phần.Đến đây, tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần,thanh Trên cơ sở đó, các em biết đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước Họcsinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị (gọi tắt làâm) Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ
Trang 4tự của bảng chữ cái Tiếng Việt Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng kíhiệu để ghi lại.
Như vậy, con đường chiếm lĩnh đối tượng của CGD đi từ âm đến chữ Môntiếng Việt lớp 1 – CGD là sự chắt lọc thành tựu từ 3 lĩnh vực khoa học (triết học,ngữ âm học, tâm lí học) CGD xác định đối tượng lĩnh hội trong môn Tiếng Việt 1– CGD là Cấu tạo ngữ âm của tiếng Việt Để chiếm lĩnh đối tượng một cách hiệuquả, CGD đã đặt đối tượng trong một môi trường thuần khiết – chân không vềnghĩa CGD xuất phát từ Âm (Âm thanh, âm vị) dể đi đến chữ (kí mã), rồi từ chữquay về âm (giải mã) CGD đã chắt lọc những vấn đề cơ bản nhất nhằm mang đếncho trẻ em không chỉ những kiến thức và kĩ năng cần thiết mà còn giúp trẻ lần đầutiên đến trường được làm việc một cách khoa học, phát triển khả năng tối ưu củamỗi cá thể, phát triển năng lực làm việc trí óc, năng lực sử dụng tiếng Việt hiện đạimột cách có văn hóa thông qua các hoạt động kích thích khả năng tư duy và kháiquát hóa Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp 1- CGD được chiếm lĩnh theo conđường từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp
1 2 Cơ sở thực tiễn.
Trường Tiểu học thị trấn Hải Hà là trường Tiểu học trung tâm trọng điểm củahuyện, được sự quan tâm của các ban ngành, của Hội cha mẹ học sinh, đó là điềukiện rất cần đối với giáo dục mà không phải trường nào cũng có Cơ sở vật chất nhàtrường ngày một khang trang, đội ngũ giáo viên được lựa chọn nên đều có tay nghềchuyên môn vững vàng, yên tâm công tác và luôn hết lòng vì học sinh Vì vậy thựchiện mục tiêu giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà đội ngũ giáoviên đề ra đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sự phát triển của ngành giáo dục.Trong những năm gần đây để nâng cao chất lượng giảng dạy, tập thể cán bộgiáo viên nhà trường đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học.Tuy nhiên để thực hiện thành công đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục” màUBND huyện Hải Hà và Phòng GD&ĐT huyện Hải Hà đã đặt ra cho cán bộ giáoviên, nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn Ban giám hiệu nhà trường xác định
Trang 5nâng cao chất lượng giáo dục là mục tiêu hàng đầu mà cán bộ giáo viên nhà trườnghướng tới Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục? trả lời cho câu hỏi
đó Ban giám hiệu nhà trường đã mạnh dạn lựa chọn thực hiện chương trình TiếngViệt 1- Công nghệ giáo dục ngay từ năm đầu tiên năm học 2014 – 2015 cùng với 7trường trong toàn huyện Năm học 2015 – 2016 này là năm thứ hai nhà trường tiếptục thực hiện dạy và học theo chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáodục
Trang 62 Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2 1 Thực trạng về dạy và học Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục tại trường tiểu học thị trấn Hải Hà.
Năm học này nhà trường mạnh dạn đưa 02 giáo viên chưa tập huấn chươngtrình Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục xuống dạy lớp 1
*/Thuận lợi:
Nhà trường nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao, thường xuyên của PhòngGiáo dục và Đào tạo huyện Hải Hà nên đã triển khai kịp thời các văn bản điềuchỉnh, hướng dẫn thực hiện chương trình cũng như việc ra đề kiểm tra định kì trongnăm học
Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, giành nhiều thời gian dự giờ, rút kinhnghiệm cho giáo viên, cùng nghiên cứu tài liệu đi đến thống nhất phương pháp dạycho từng dạng bài cụ thể Trong quá trình dạy những vướng mắc đã được chuyênmôn trường trao đổi đi đến thống nhất cách dạy và học
Nhà trường có 3/5 giáo viên được tập huấn kĩ chương trình Tiếng Việt Công nghệ giáo dục cấp tỉnh đến nay đã là năm thứ hai thực hiện Vì vậy, các giáoviên đã định hình được quy trình dạy các dạng bài
1-Giáo viên dạy tiếng Việt 1 có tay nghề chuyên môn vững vàng, tự giác tíchcực và tâm huyết với việc thực hiện chương trình dạy học Tiếng Việt 1- Công nghệgiáo dục
Trang 7Học sinh có đầy đủ sách vở và đồ dùng phục vụ học tập Trình độ dân trítương đối cao, đường xá đi lại thuận tiện học sinh tập trung quanh thị trấn nênkhông có tình trạng học sinh bỏ học Đa số phụ huynh quan tâm đến việc dạy vàhọc, giáo dục con
*/ Khó khăn:
Do ảnh hưởng của chương trình hiện hành và chương trình Tiếng Việt 1- Côngnghệ giáo dục mới được áp dụng nên một số phụ huynh lo lắng cho là chương trìnhhọc khó
Trong các cuộc họp phụ huynh, giáo viên đã tuyên truyền, triển khai tới cácphụ huynh nhưng thời gian có hạn nên không thể giới thiệu và hướng dẫn đầy đủđến phụ huynh về mô hình này Do đó việc phối hợp với phụ huynh dạy con học ởnhà còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh
Chương trình học mới, lượng kiến thức nhiều, ngay từ những bài học đầu đãđòi hỏi tính tổng hợp cao nhưng vốn kiến thức của các em còn hạn chế, khả năngghi nhớ có hạn, nhận thức của học sinh không đồng đều Mặc dù nhà trường đã xếpthêm 1 tiết Giãn thời lượng nhưng việc hoàn thành bài vẫn rất khó khăn với những
em tiếp thu bài chậm
Quy trình dạy trong các tập thiết kế khác nhau (mỗi tập lại có sự thay điềuchỉnh tuy không nhiều) dẫn đến giáo viên hay nhầm quên bước nhỏ trong từngviệc
Ví dụ: Đối với mẫu 6 dạng bài luyện tập tổng hợp ôn lại kiến thức về cấu trúcngữ âm tiếng Việt, đồng thời rèn các kĩ năng Nghe – Nói - Đọc - Viết mà mỗi tậpthiết kế khác nhau dẫn đến giáo viên dễ lẫn sang quy trình âm vần vì Việc 2 vàViệc 3 đảo
Sĩ số học sinh đông mỗi lớp từ 32 đến 34 em nên ảnh hưởng không nhỏ đến sựbao quát, quan tâm đều đến tất cả học sinh trong cả tiết học và khi dạy 1 “Việc”
2 2 Các biện pháp.
2 2 1 Biện pháp 1: Chuẩn bị cho năm học
Trang 8* Công tác tập huấn
- Ban giám hiệu chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn bồi dưỡngTiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm lớp 1 ngày từ cuốitháng 6 khi chưa có các lớp tập huấn của Phòng giáo dục và đào tạo Phân cônggiáo viên cốt cán cấp tỉnh tập huấn lại cho 4 giáo viên dạy chương trình Tiếng Việt1- Công nghệ giáo dục; trong quá trình tập huấn các giáo viên dạy năm trước bằngkinh nghiệm của mình chia sẻ, trao đổi thêm với hai giáo viên mới về quá trìnhthực hiện Việc tập huấn này chuẩn bị tâm thế cho giáo viên dạy kĩ năng sống chohọc sinh lớp 1 ngay trong tháng 7; đến tháng 8 khi Phòng giáo dục và đào tạo tổchức tập huấn chương trình này các giáo viên dạy Tiếng Việt 1- Công nghệ giáodục được tập huấn lần 2 sẽ có thời gian nghiên cứu tài liệu, trao đổi khi có vướngmắc
+ Căn cứ vào tỉ lệ nam, nữ, dân tộc: Mỗi lớp phải có số học sinh nam và họcsinh nữ tương đồng nhau trong năm h này Ban giám hiệu sắp xếp các lớp như sau:
Trang 9không thuận tiện trong việc liên lạc với phụ huynh, khó khăn cho công tác chủnhiệm lớp.
+ Căn cứ vào tên gọi của học sinh: Ở Tiểu học Thị Trấn có rất nhiều học sinhtrùng tên : qua thống kê cho thấy trong năm học 2015 – 2016 học sinh khối 1 có 6
em tên Hiếu; có 9 em tên là Anh; có 7 em tên là Nhi số học sinh này cũng đượcchia đều vào các lớp để khi giáo viên gọi tên học sinh hạn chế việc nhầm lẫn
Sau khi đã sắp xếp học sinh vào đều các lớp Ban giám hiệu tiến hành công khaicác danh sách học sinh các lớp để giáo viên lớp 1 xem, nếu không có ý kiến gì tiếnhành cho bốc thăm lớp => từ cách làm đó các đồng chí giáo viên dạy lớp 1 sẽ cảmthấy thoải mái khi nhận lớp và cuối năm không có sự so sánh hay ý kiến về chấtlượng lớp là đầu vào toàn học sinh yếu, tạo sự công bằng trong giáo viên
* Phân công giảng dạy
Thực hiện phân công giảng dạy: Phân công giáo viên dạy Tiếng Việt 1- Côngnghệ giáo dục không dạy Toán Phân công 2 giáo viên dạy toán riêng để các giáoviên lớp 1 chuyên tâm dạy tốt chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dụckhông phải chịu trách nhiệm chất lượng môn toán
2 2 2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch.
Ngay từ đầu năm học sau khi nhận được hướng dẫn nhiệm vụ năm học tôi đãtiến hành xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy và học Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáodục cụ thể với phương châm: Quyết tâm thực hiện hiệu quả vì quyền lợi của HS.Việc xây dựng kế hoạch phải đảm bảo mục tiêu:
- Nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh lớp 1
- Giúp cán bộ quản lí nắm vững quan điểm, tư tưởng, quy trình dạy học CGD
TV1 Giúp giáo viên dạy học TV1TV1 CGD có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, tự tin,dạy học nhẹ nhàng, hiệu quả, đúng phương pháp, quy trình dạy TV1- CGD; họcsinh có phương pháp học tập tích cực
Trang 10Việc xây dựng kế hoạch cần cụ thể, phân công rõ nhiệm vụ của từng cán bộgiáo viên thực hiện, sĩ số học sinh để dễ nắm bắt trong quá trình triển khai Quaviệc trao đổi với giáo viên khối 1 tôi đã chủ động lựa chọn và phân công giáo viênthực hiện các tiết dạy mẫu, chuyên đề:
1 Dạy TV 1 – CGD Luật chính tả e,ê,i
Tháng 10/2015
Hoàng NhungPhạm ThanhNguyễn Huệ
2 Rèn kĩ năng viết cho HS lớp 1 qua môn
TV1- CGD
Tháng02/2016
Trần Mai HồngNguyễn Thị Nguyệt
2 2 3 Biện pháp 3: Chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng giản dạy.
Để nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục ngườicán bộ quản lý phải xây dựng một nề nếp sinh hoạt cụ thể 2 tuần/lần Mỗi thángphó hiệu trưởng phụ trách định hướng với Tổ trưởng chuyên môn các nội dung cầntrao đổi
Ban giám hiệu cần lựa chọn tổ trưởng chuyên môn là người giỏi về chuyênmôn, có uy tín với đồng nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc và cókhả năng lãnh đạo tổ của mình Những vấn đề gì ngoài khả năng giải quyết của tổ,
tổ trưởng sẽ kiến nghị với Ban giám hiệu để tìm biện pháp giải quyết kịp thời
Áp dụng hình thức sinh hoạt chuyên môn lấy học sinh làm trung tâm thườngxuyên để thúc đẩy mối quan hệ hòa đồng, đoàn kết của giáo viên Các đồng chígiáo viên trong tổ thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn sẽ mạnh dạn trao đổi việc
Trang 11thực hiện dạy học theo thiết kế, chương trình, dạng bài, mẫu mới, cách sử dụng đồdùng dạy học, cách tổ chức các trò chơi giữa tiết sao cho hiệu quả nhất.
Chính vì thế, trong năm học vừa qua chất lượng các buổi sinh hoạt chuyênmôn đã được nâng cao rõ rệt Khi sinh hoạt chuyên môn, Ban giám hiệu phân côngPhó hiệu trưởng phụ trách chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục trực tiếp
dự các buổi sinh hoạt hoặc kiểm tra buổi sinh hoạt thông qua sổ nghị quyết, sổ ghichép sinh hoạt chuyên môn của giáo viên chủ nhiệm Đặc biệt là các buổi sinh hoạtchuyên môn không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra hồ sơ, trao đổi mẫu mới mà cácđồng chí giáo viên còn trao đổi với nhau cách dạy không nhất thiết phải bám sáttừng bước nhỏ theo thiết kế mà có thể linh hoạt điều chỉnh cách dạy như: Khi tìmtiếng mới không nhất thiết phải theo thứ tự bảng chữ cái mà có thể cho học sinh tìmtiếng bất kì để phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh
2 2 4 Biện pháp 4: Tổ chức các chuyên đề, tiết mẫu, làm đồ dùng dạy học.
Một biện pháp không kém phần quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và họcTiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục là khuyến khích tạo điều kiện cho giáo viên đi
dự các chuyên đề về chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục do Phòng giáodục tổ chức ở các trường trong huyện Qua dự các chuyên đề các đồng chí giáoviên đều rút kinh nghiệm cho bản thân về phương pháp tổ chức các hoạt động dạy
và học
Mỗi khi Phòng giáo dục tổ chức chuyên đề ở trường nào, Ban giám hiệu nhàtrường đều tạo điều kiện để các đồng chí giáo viên dạy Tiếng Việt 1- Công nghệgiáo dục tham dự đầy đủ, sau khi dự Phó hiệu trưởng phụ trách cùng với các giáoviên lớp 1 trao đổi, thảo luận thống nhất những nội dung áp dụng phù hợp với đặcthù của trường mình để đưa vào áp dụng, đồng thời rút kinh nghiệm những nộidung chưa phù hợp để tự điều chỉnh
Trang 12Bên cạnh đó, trong các đợt thi đua chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam20/11 Ban giám hiệu đã tổ chức hội thi sáng tạo đồ dùng dạy học để phụ vụ tốt hơncho bài giảng Mỗi giáo viên đều phải đầu tư, suy nghĩ để sáng tạo ra đồ dùng dạyhọc phù hợp Nhiều đồ dùng dạy học đã được giáo viên sáng tạo ra từ việc áp dụngcông nghệ thông tin Tuy chương trình Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục khôngkhuyến khích giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học nhưng quá trình 1 năm giảng dạycác đồng chí giáo viên dạy Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục đã thiết kế bộ chữmẫu sử dụng cho “Việc 3: Em tập viết” thực sự có hiệu quả và thiết thực, được sựđánh giá cao của các đồng nghiệp trường bạn khi về dự giờ, góp phần thành côngcho chuyên đề cấp Huyện đạt tại Tiểu học thị trấn: Tiếng Việt 1- Công nghệ giáodục Bài: Luật chính tả e,ê,i.
Một số hình ảnh về bộ chữ mẫu sử dụng trong “Việc 3 - viết”