1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Một số vấn đề triết học văn hóa

41 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 456,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Việt Nam, nơi đang tạo dựng những tiền đề của chủ nghĩa xã hội thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, trong đó có những vấn đề triết học văn hóa lại càng có ý nghĩa cấp thiết,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG HÀ CHI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VĂN HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Xác nhận của Chủ tịch hội đồng Người hướng dẫn khoa học:

GS TS Hồ Sĩ Quý PGS TS Nguyễn Anh Tuấn

Hà Nội, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác

Tác giả

Đặng Hà Chi

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ VÀ TRIẾT HỌC VĂN HOÁ 6

1.1 Những nghiên cứu về văn hóa trong triết học trước Mác 6

1.2 Những nghiên cứu tư tưởng của Mác về văn hóa 15

1.3 Các nghiên cứu chính sau Mác về văn hóa 18

1.4 Về khái niệm triết học văn hóa và những vấn đề của luận án 30

Chương 2 VẤN ĐỀ VĂN HOÁ TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC 37

2.1 Các quan điểm triết học Tây Âu Phục hưng - Cận đại về văn hóa 37

2.1.1 Từ chủ nghĩa nhân văn Phục hưng đến chủ nghĩa duy lý cổ điển: cá nhân tự do và lý tính 37

2.1.2 Chủ nghĩa lịch sử Tây Âu Cận đại về sự phát triển của văn hóa và con người 42

2.2 Quan điểm của triết học Khai sáng Pháp - Đức Cận đại về văn hóa 45

2.2.1 Chủ nghĩa tự nhiên về văn hóa trong triết học Khai sáng Pháp 45

2.2.2 Sự tiếp nối chủ nghĩa tự nhiên về văn hóa trong triết học Khai sáng Đức 51

2.3 Các quan điểm về văn hóa trong triết học Đức thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX 56

2.3.1 Quan điểm của Kant về văn hóa 56

2.3.2 Quan điểm của các nhà lãng mạn Đức thế kỷ XVIII về văn hoá 66

2.3.3 Quan điểm của Hegel về văn hoá 71

Kết luận chương 2 75

Chương 3 NHẬN THỨC VĂN HOÁ TRONG TRIẾT HỌC MÁC 77

3.1 Các nguyên tắc duy vật biện chứng trong nhận thức văn hóa 77

3.1.1 Sự phê phán của Mác và Ăngghen quan niệm duy tâm về văn hoá 77

3.1.2 Nguyên tắc khách quan 79

3.1.3 Nguyên tắc trừu tượng hoá 83

3.2 Lao động xã hội phổ biến - thực thể của văn hóa 89

3.2.1 Lao động xã hội phổ biến - nguồn gốc của văn hoá 89

Trang 5

3.2.2 Đặc điểm của lao động xã hội phổ biến 92

3.3 Nguyên tắc lịch sử trong nhận thức văn hóa 96

3.3.1 Sự đa dạng và thống nhất lịch sử của văn hóa 96

3.3.2 Mối tương quan cái đặc thù và cái phổ biến trong sự phát triển văn hóa 102

Kết luận chương 3 107

Chương 4 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VĂN HOÁ 109

4.1 Tính có mục đích và bản chất văn hóa của hoạt động người 109

4.1.1 Sự hoạt động tự giác có mục đích của con người 109

4.1.2 Đối tượng hoá như một biểu hiện bản chất văn hóa của hoạt động người 113

4.2 Văn hóa và tự nhiên 117

4.2.1 Văn hóa trong sự tương tác con người - tự nhiên 117

4.2.2 Một số đặc điểm của văn hóa biểu hiện qua mối quan hệ con người - tự nhiên 120

4.2.3 Tính chủ động của con người trong mối quan hệ văn hóa - tự nhiên 123

4.3 Tính lịch sử - cụ thể của văn hóa và ý nghĩa văn hóa của lịch sử 126

4.3.1 Tính lịch sử - cụ thể của văn hóa 126

4.3.2 Ý nghĩa văn hóa của lịch sử 128

4.4 Văn hóa và sự phát triển con người trong các hình thức lịch sử-cụ thể 131

4.4.1 Sự trao truyền giá trị văn hóa giữa các thế hệ người 131

4.4.2 Văn hoá và sự phát triển con người trong lịch sử 134

4.4.3 Văn hóa, lao động và phát triển con người ở Việt Nam 139

Kết luận chương 4 145

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm gần đây các vấn đề triết học của văn hóa lại gây ra sự quan tâm to lớn và lôi cuốn sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhiều như vậy Điều đó là do bản thân cuộc sống, những điểm đặc thù và những xu hướng chủ đạo của thời đại lịch sử hiện nay, thực tiễn đổi mới xây dựng đất nước ta theo hướng hiện đại, nhằm đạt tới xã hội “dân chủ, công bằng

và văn minh”, quy định Đối với Việt Nam, nơi đang tạo dựng những tiền đề của chủ nghĩa xã hội thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, trong đó có những vấn

đề triết học văn hóa lại càng có ý nghĩa cấp thiết, bởi đó là sự suy ngẫm không thể lảng tránh về những việc cần làm để vừa giữ gìn và phát huy bản sắc vừa hiện đại hóa văn hóa dân tộc Việc đạt tới một trình độ văn hóa nhất định là tiền đề quan trọng để đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, như Lênin đã đặc biệt nhắc nhở và nhấn mạnh, bởi vì đây là sự quá độ bao gồm cả bước ngoặt đột phá trong lĩnh vực văn hóa Những triển vọng phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay không thể tách rời quan niệm đúng về sự tiến bộ của văn hóa, bản chất, nguồn gốc, động lực và các yêu cầu của nó Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về bản chất của văn hóa, về mối tương quan của văn hóa với xã hội, văn hóa

và con người, văn hóa và tự nhiên, văn hóa và hoạt động Đó đều là những vấn đề thuộc thẩm quyền của phân tích triết học về hiện tượng văn hóa Sự phân tích triết học về văn hóa có ý nghĩa cả lý luận lẫn thực tiễn Nó còn có giá trị tự thân, bởi lẽ ngoài sự phản tư triết học thì văn hóa chỉ có thể được nhận biết dưới dạng các biểu hiện riêng biệt của nó, chứ không phải như một chỉnh thể lịch sử - xã hội Sự phân tích triết học còn có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho các lĩnh vực khoa học nhân văn khác nghiên cứu các hiện tượng và động thái văn hóa cụ thể

Triết học văn hóa là một ngành khoa học mới mẻ ở Việt Nam và sự xuất hiện của nó trong hệ thống các khoa học nghiên cứu về văn hóa hiện nay đã gây ra nhiều

ý kiến trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng nó không thực sự cần thiết, hoặc không thể chứng tỏ được sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu với một ngành khoa học cũng nghiên cứu về văn hóa đã đạt được các thành tựu bước đầu là văn hóa học Thậm chí, có người còn phủ nhận sự tồn tại của bộ môn khoa học này Vì thế với tư cách là một người nghiên cứu về triết học và triết học văn hóa, chúng tôi muốn

Trang 7

thông qua luận án này để xác định tính độc lập và tư cách tồn tại của triết học văn hóa trong hệ thống các khoa học về văn hóa Muốn vậy thì phải chứng minh được

sự tồn tại lâu dài của hiện tượng văn hóa gắn với lịch sử ngàn đời của nhân loại đã luôn là đối tượng suy ngẫm của tiền nhân qua các thời đại Đến C Mác các vấn đề

về nguồn gốc, bản chất, chủ thể sáng tạo của văn hóa đã đòi hỏi phải có sự giải quyết thực sự khoa học Thông qua cách giải quyết của Mác các vấn đề đó, ngày nay chúng ta phải làm rõ hơn các cơ sở lý luận, phương pháp luận và nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu đặc thù của triết học văn hóa

Tiếp đến, cần phải thấy rằng, để chính sách thực tiễn trong lĩnh vực văn hóa được nhất quán thì nó cần phải dựa trên một cơ sở triết học xác định Vì thế, trong điều kiện mới hiện nay nghiên cứu triết học văn hóa phải dựa trên và gắn kết hữu cơ với việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới nền kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập hòa cùng xu thế toàn cầu hóa chung của nhân loại trong thế kỷ XXI

Những vấn đề văn hóa, xây dựng văn hóa là những vấn đề được Đảng cộng sản Việt Nam quan tâm chú ý ngay từ những ngày đầu thành lập Sự hưởng ứng tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân với các thành tựu văn hóa và việc tạo lập các điều kiện cho hoạt động sáng tạo văn hóa, cho sự nở rộ bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, sự phát huy và xử lý lại có phê phán những thành tựu của quá khứ và đấu tranh với các tư tưởng và xu hướng phản nhân văn, trái ngược với thuần phong

mỹ tục của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa - tất cả chúng và những vấn đề khác nữa đều xuất hiện và được giải quyết ở khắp các thời kỳ phát triển rất khó khăn của đất nước ta suốt hơn 70 năm qua Trong việc nhận diện và giải quyết chúng, ngay từ đầu chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa đã dựa trên học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Thực tiễn đã hoàn toàn xác nhận tính đúng đắn trong đường lối do những lãnh tụ tiền bối của Đảng cộng sản Việt Nam

(ví dụ: Trường Chinh với Đề cương văn hoá Việt Nam 1943) khởi thảo, mà theo đó

việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nông dân ở Việt Nam phải trở thành cơ sở và phương tiện đạt tới sự phát triển kinh tế và văn hóa tiên tiến Hồ Chí Minh cũng đã có đóng góp to lớn vào việc phát triển lý luận mácxit về văn hóa

Trang 8

Hiện nay, việc Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới phát triển văn hóa xuất phát ngay từ tính tất yếu thực tiễn phải giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện đang rất gay gắt ở nước ta Đảng ta đã xác định, văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là nền tảng tinh thần nâng đỡ mọi mặt đời sống xã hội Mặt khác, trước quá trình hội nhập và phát triển hiện nay của thế giới, toàn cầu hóa trở thành một xu thế phát triển tất yếu, sự phát triển đất nước còn cần phải đối mặt với quá trình hội nhập văn hóa, việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng là một trong những yêu cầu quan trọng không thể tách rời trong quá trình

đó Mối liên hệ nội tại giữa phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội đã được Lênin nhấn mạnh trong những năm đầu chính quyền Xô Viết: “Cần phải xây dựng nền kinh tế Xô Viết; nhưng muốn thế mà chỉ biết đọc biết viết thôi thì không đủ Chúng

ta còn phải nâng trình độ văn hóa lên thật nhiều” [74, 213]

Chỉ những người có văn hóa mới có thể tạo lập các hình thức đời sống xã hội mới Thế mà các mặt khách quan và chủ quan của sự cải biến xã hội lại luôn quy định lẫn nhau, bởi lẽ khi làm biến đổi thế giới xung quanh, con người cũng định hình bản thân mình như nhân cách có khả năng hoạt động cải biến trên cơ sở nắm bắt tốt các tri thức, kỹ năng, thao tác lao động Sự cần thiết nâng cao văn hóa của nhân dân là còn để tăng cao hơn nữa năng suất lao động xã hội, để hoàn thiện các quan hệ xã hội, và để phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và để hoạt động quản

lý được tốt hơn… Điều này lại càng cấp thiết trong bối cảnh chúng ta đang triển khai sâu rộng cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ theo chiều rộng sang theo bề sâu, phát triển nguồn nhân lực, cải cách thể chế và tái cơ cấu các ngành sản xuất Tất cả đều đòi hỏi phải nâng cao nhiều hơn nữa hiệu quả và chất lượng công việc, củng cố tổ chức và kỷ luật Văn hóa lao động và tư duy sáng tạo trở thành tối cần thiết đối với mỗi người lao động trong hoàn cảnh đó Mặt khác, việc nâng cao văn hóa của quần chúng do các nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước đặt ra, cũng đồng nghĩa với sự hiện thực hóa các lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa về phát triển nhân cách con người ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn, như Mác đã dự định

Như vậy là cần phải vạch rõ và luận chứng cho mối liên hệ nội tại của các quá trình đó Và sự luận chứng đó cần phải dựa trên một cơ sở lý luận triết học xác định

Trang 9

Cơ sở đó, theo chúng tôi, chỉ có thể là cách hiểu duy vật về lịch sử, vì thế một vấn đề cũng rất cấp thiết liên quan đến triết học văn hoá là phải hiểu lại cho đúng thực chất của cách hiểu này Ngoài ra, cũng rất cần một lý luận triết học văn hoá đúng đắn để

có thể quy tụ, dẫn dắt các ngành khoa học khác về văn hoá có những tìm tòi đúng hướng để cùng nhau thúc đẩy văn hoá nước nhà có thêm những khởi sắc Với những

lý do đó NCS chọn Một số vấn đề triết học văn hoá làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Thông qua việc khảo sát các quan điểm triết học văn hoá trong

lịch sử triết học Tây Âu trước Mác và của Mác, Ăngghen, luận án làm sáng tỏ những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu văn hóa, nội dung cơ bản của triết học văn hoá theo tinh thần mácxít

- Nhiệm vụ: + Trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của triết học

văn hoá từ thời cận đại đến trước Mác

+ Luận chứng cho cách tiếp cận duy vật lịch sử (phương pháp nghiên cứu) của Mác trong nghiên cứu văn hoá: những nguyên tắc biện chứng duy vật chủ đạo trong việc vạch ra bản chất của văn hoá

+ Dựa trên quan điểm triết học của Mác, luận án trình bày và phân tích một

số nội dung chủ yếu của triết học văn hoá như: sự hình thành, phát triển, bản chất của văn hoá trong hoạt động cải biến đối tượng của con người, một số biểu hiện cụ thể của mối quan hệ văn hoá - tự nhiên - phát triển con người ở các thời đại lịch sử

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: một số vấn đề chủ yếu của triết học văn hoá

- Phạm vi: các quan điểm điển hình về văn hoá từ thời Phục hưng đến nay

Nói rộng ra, phần lịch sử hình thành triết học văn hóa là một nội dung của luận án này nhằm định hướng cho việc vận dụng nhất quán nguyên tắc thống nhất lịch sử - lôgíc để không rơi vào tình trạng thấy triết học văn hóa như một môn khoa học đã cho sẵn, mà phải là “kết quả cùng với quá trình sinh thành ra nó” Điều này đặc biệt quan trọng đối với một ngành khoa học còn mới mẻ và đang chịu nhiều nghi ngờ về tính hợp pháp tồn tại của mình như triết học văn hóa

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: luận án được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật lịch sử

mácxít về bản chất hoạt động xã hội của con người, quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý

Trang 10

thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và những thành tựu nghiên cứu triết học văn hóa mới được công bố gần đây

- Phương pháp: luận án dựa vào nguyên lý duy vật biện chứng về mối liên hệ

phổ biến và phát triển, sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, thống nhất lịch sử - lôgic, đi từ trừu tượng đến cụ thể, hệ thống - cấu trúc, văn bản học

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án khảo cứu, phân tích và trình bày có hệ thống, qua đó làm rõ những nội dung triết học văn hóa ở khía cạnh lịch sử hình thành của khoa học này: giới thiệu được một số quan niệm về bản chất của văn hóa, những vấn đề văn hóa được quan tâm từ bình diện triết học qua một số giai đoạn lịch sử ở tây Âu trước Mác

- Thông quan việc nêu và phân tích một số nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức của Mác về văn hóa, luận án đã định hình được các vấn đề mà triết học văn hóa đã và đang phải giải quyết như đối tượng, phương pháp nghiên cứu, từ đó luận chứng được tính độc lập của phân ngành triết học này so với các khoa học khác cũng nghiên cứu về văn hóa

- Bằng việc vận dụng những nguyên tắc đó để phân tích về mặt lí luận một số vấn đề triết học văn hóa: bản chất văn hóa của hoạt động người; văn hóa và tự nhiên; văn hóa và sự phát triển con người trong lịch sử xã hội, luận án chứng minh những giá trị của triết học Mác trong nghiên cứu văn hóa và định hướng cho các ngành khoa học khác nghiên cứu về văn hóa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Có thể coi luận án là một nghiên cứu chuyên khảo tương đối hoàn chỉnh về những vấn đề triết học cơ bản của lý luận văn hoá Luận án đã khảo sát đối tượng,

cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học văn hóa, bản chất và sự vận động của văn hoá, mối liên hệ của nó với tự nhiên, xã hội, với hoạt động con người

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy

và học tập triết học Mác - Lênin và lý luận về văn hoá

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 14 tiết

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VỀ VĂN HOÁ VÀ TRIẾT HỌC VĂN HOÁ

Chương này theo quan niệm của chúng tôi và cũng là yêu cầu mà các nghiên cứu hàn lâm phải thỏa mãn được là không chỉ đơn giản liệt kê các tài liệu, hay tác giả nào đã viết liên quan đến đề tài Đối với chúng tôi chương này thực sự sẽ là tổng quan các nghiên cứu, các quan điểm, chứ không đơn thuần là mô tả xem tài liệu hay tác giả này khác nói gì về vấn đề luận án quan tâm, mà quan trọng hơn là do dung lượng luận án có hạn nên chương Tổng quan này thực chất đã phải gánh đỡ nhiều nội dung mà lẽ ra sẽ được trình bày ở chương 2, 3 Do vậy, phần các nghiên cứu tư tưởng triết học văn hóa trước và sau Mác đều khá sâu, gần như trình bày lịch sử vấn

đề chứ không chỉ là điểm tài liệu Nhờ đó có thể làm rõ được bức tranh chung về nghiên cứu văn hóa, của những tác giả nào, độ nông sâu, phong phú của chúng đến đâu Còn tên tài liệu, nơi và thời gian xuất bản thì NCS sẽ trình bày đúng quy định không mấy khi viết tên công trình ở trong Tổng quan mà dùng số trong ngoặc vuông [số thứ nhất chỉ số thứ tự, số thứ hai chỉ số trang của tài liệu] để gửi về Danh mục tài liệu ở cuối luận án Do độ dài luận án bị giới hạn chặt chẽ nên việc trình bày như vậy cũng giúp tiết giảm được một số trang

1.1 Những nghiên cứu về văn hóa trong triết học trước Mác

Trong triết học và khoa học, các phạm trù (khái niệm) thường hình thành muộn hơn rất nhiều so với thời gian xuất hiện của các đối tượng mà chúng phản ánh Cũng vậy, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng, với văn hóa - hiện tượng phổ biến đã có lịch sử hàng vạn năm, nhưng phải mãi đến thế kỷ XVIII khi thời đại Khai sáng thay thế thời đại Phục hưng, thì thuật ngữ “văn hóa” mới được sử dụng ở châu

Âu [xem: 103; 38] Như A A Migolatev - một giáo sư Nga nghiên cứu văn hóa nhận xét, “Không phải ngẫu nhiên mà chính là vào thời điểm này văn hóa mới tự khẳng định vị trí hợp pháp của mình” [91] Sau thời Trung cổ kéo dài cả ngàn năm, khi con người - chủ thể và khách thể của văn hóa - đã bắt đầu thoát khỏi sự thống trị của kinh viện tôn giáo và những hình thái thế giới quan thánh thần, họ mới có những điều kiện lịch sử để tách ra khỏi cái thế giới vây quanh và xem xét sự tồn tại của mình trong mối liên hệ với văn hóa Từ đây văn hóa được quan niệm không phải là sự tồn tại của

Trang 12

tự nhiên hay là sản vật do Chúa trời sinh ra, mà là sản phẩm từ quá trình lịch sử con người xây dựng môi trường sống của mình và chính bản thân mình

Vì thế có thể chỉ ra nhiều giai đoạn lịch sử trong sự tiến hoá của các quan niệm triết học xã hội về văn hóa như tác giả nêu trên và V.M Rôdin [114] đã chỉ ra Giai đoạn thứ nhất gắn với hệ thần thoại, các tín ngưỡng bí truyền sơ kỳ và đa thần giáo, rồi gắn với sự xuất hiện các tôn giáo lớn (Do thái giáo, Phật giáo, Ky tô giáo, Hồi giáo), kế đến là gắn với thời Cổ đại và Trung cổ Lúc đó thuật ngữ “văn hóa” còn chưa được dùng, nhưng thời này ở phương Đông (Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung

và Cận Đông) cũng như ở phương Tây (Hy Lạp, La Mã cổ đại) con người đã đạt được những thành tựu văn hóa rực rỡ và chúng đã được phản ánh cả trong triết học Các nhà tư tưởng lớn của thời cổ đại như Khổng tử (551 - 479 TCN), Đemocrite (460

- 371 TCN), Socrate (469 - 399 TCN), Platon (427 - 347 TCN), Aristote (384 - 322 TCN), Epicure (341 - 270 TCN)… bằng các tư tưởng của mình đã làm giàu thêm cho cách hiểu về văn hóa

Nhiều tài liệu lịch sử triết học mà chúng tôi tiếp cận được đều cho rằng, các nhà ngụy biện (Protagor, Georgy, Gippi…) vốn đứng trên lập trường tương đối chủ nghĩa về phương pháp luận ở Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên chỉ ra được tính chất đối lập giữa khởi điểm tự nhiên và cái đích thực mang tính người, cái đạo đức (như quan niệm thời đó về thế giới văn hóa của con người) Nét nổi bật của thế giới

tự nhiên là luôn biến đổi, không bền vững, vì vậy, theo các nhà ngụy biện, nhận thức của con người về nó cũng mang tính tương đối Nhận thức đó không đủ độ tin cậy, thiếu khách quan Do vậy, kết luận là, tồn tại của con người không hoàn thiện và thiếu bền vững, nó cần phải quay trở lại với tự nhiên, hoà nhập vào tự nhiên Từ đó, nhận thức luận của các nhà nguỵ biện đã quy định lập trường phê phán của họ đối với môi trường văn hóa sống do con người tạo ra cho chính mình [xem: 51, 133-134]

Những người theo phái khắc kỷ (Antisfen, Diogen Sinovsky, Cratet…) còn phủ nhận văn hóa một cách cực đoan hơn nữa Họ cự tuyệt những nguyên tắc và quy phạm đạo đức đã được xã hội Hy Lạp thừa nhận chủ yếu bằng cách hành xử, bằng lối sống

“thiếu văn hoá”, ngang tàng của mình Họ tuyên bố con người có quyền tự do tinh thần tuyệt đối, không cần đạo đức, có thể chà đạp các quy ước xã hội và các luật lệ của nhà nước để chọn cách sống bị xem là nhục nhã muôn đời: “không cộng đồng, không nhà cửa, không quê cha đất tổ” [Trích theo: 91, 3] Trên thực tế, họ sống bên ngoài xã hội,

Trang 13

bất chấp văn hóa, và như những “công dân thế giới” họ thực sự không phụ thuộc và không nhận ra sự chống đối xã hội trong lối sống của mình

Kiểu sống có tính chất phản kháng của các tín đồ chủ nghĩa khắc khổ trong

xã hội chiếm nô rất bất công với họ, mặc dù là rất phản văn hóa, song sau này vẫn được duy trì ít nhiều ở nơi này nơi khác trên trái đất Ví dụ, một số quan điểm khắc

kỷ chủ nghĩa Hy Lạp (thế kỷ III - I TCN) hay chủ nghĩa khổ hạnh Ky tô giáo vốn chối bỏ nền văn hóa thế tục tồn tại xung quanh nó Ở phương Đông hiện tượng tương tự như lối sống tu ép xác nêu trên cũng có ở những người luyện môn Iôga, hay thời hiện đại ở phong trào Hippy của một số thanh niên buông thả thất vọng về các giá trị của xã hội công nghiệp Những người theo chủ nghĩa khổ hạnh từ cổ xưa cho đến ngày nay đều muốn đẩy thái độ chống đối văn hóa hoàn toàn của mình đến chỗ cực đoan nhất (nghèo khổ, hành khất, ngây dại, dâm loạn, mất hết liêm sỉ…), và bằng cách đó nhấn mạnh mâu thuẫn hiện tồn không thể giải quyết được giữa con người và xã hội nơi họ sống

Đến thời Trung cổ, đa phần các quan niệm về văn hóa đều mang tính tôn giáo - thần bí Tuy nhiên, ngay cả ở Thomas Aquinas (1225 - 1274) - nhà triết học

và thần học tiêu biểu, người đã hệ thống hoá tri thức kinh viện Ky tô giáo chính thống, thì cũng cho rằng con người vốn được Thiên chúa ban cho các đặc điểm của một giá mang văn hóa [xem: 50, 130-131] Đối với tri thức tôn giáo cổ điển thì cá nhân là “sinh vật cao quý nhất trong toàn thể giới tự nhiên có trí khôn” [4, I, q.20, a.1] Đồng thời với việc bảo vệ quyền năng tối cao của Giáo hoàng La Mã, cũng như Aristote, Aquinas đã xuất phát từ nhận định rằng con người là một sinh vật xã

hội, do vậy là một vật mang văn hóa Như JA Gurevich trong tác phẩm Các phạm

trù văn hóa trung cổ [xem: 24, 57] nhận xét, triết học về văn hóa thời trung cổ đã

tồn tại dưới hình thức một thứ “thần học văn hóa” Nhưng như thế cũng không có nghĩa là, “thời đại Trung cổ không sử dụng lý trí con người, không phải nó cắt đứt quan hệ với nguồn tư tưởng cổ đại Hy-La Trái lại, thời đại Trung cổ vẫn nghiên cứu và giảng dạy Aristote, nhưng chỉ khai thác khía cạnh “luận lý” (tức lôgic học - NCS) trong hệ thống tư tưởng của triết gia đó” [138, 47-48]

Thời đại Phục hưng ở châu Âu (thế kỷ XIV-XVI), như nhà nghiên cứu V.M Mezhuev nhận xét, là thời kỳ đặc biệt đánh dấu sự quá độ từ văn hóa Trung cổ sang văn hóa Cận đại [Xem: 90, 14-20] Trong lĩnh vực triết học và thi ca giai đoạn này

Trang 14

Đante đã có những tác phẩm triết học và chính trị mang nội dung toàn nhân loại và mang đậm ý nghĩa nhân đạo Niềm tin vào những khả năng vô hạn của lý tính con người được thể hiện trong các tác phẩm của những nhà triết học lớn người Italia thế

kỷ XV như Pico Mirandira và Lorenso Valla, những người đã lên tiếng đòi giải phóng con người khỏi chủ nghĩa khổ hạnh Ky tô giáo Các tác phẩm trong lĩnh vực nghệ thuật mang tính nhân đạo của các nhà tư tưởng thời Phục hưng đã có những ảnh hưởng rất sâu rộng về mặt văn hóa Trước hết phải kể đến những kiệt tác của Leonardo de Vinchi, Raphael, Mikelangelo… Cũng như ở thời Cổ đại, thời đại Phục hưng đã khôi phục lại địa vị của kiến trúc thế tục (cung điện, tượng đài…) Văn hoá Phục hưng đã đem lại cho châu Âu và thế giới những tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhân đạo như những bản nhạc của Petrarky, truyện ngắn của Boccachio (“Decameron”), bi kịch của Shakespeare, văn xuôi của Servantes (“Don Kihote), các tác phẩm châm biếm của Rabelais (1494 - 1553) [xem 138, 72-107] và của Rotterdamsky, các tác phẩm triết học - đạo đức đầy tư tưởng phóng khoáng hoài nghi của Montaigne (1533 - 1592) [xem 138, 108-159]

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Phục hưng là thời kỳ con người dần được coi là trung tâm của sự phát triển văn hóa thế giới Các nhà nhân văn chủ nghĩa theo thuyết con người là trung tâm trong khi xem con người là mục tiêu của sự tiến hoá

xã hội, đều đã tập trung chú ý vào giá trị tự thân của con người, bảo vệ các quyền tự

do và mưu cầu hạnh phúc cá nhân Đúng như Ăngghen nhận định trong Biện chứng

của tự nhiên, họ là những người khổng lồ xây dựng nền thống trị hiện đại của giai

cấp tư sản trong cuộc đảo lộn vĩ đại nhất, có tính chất tiến bộ mà lịch sử nhân loại chưa từng biết [xem 82, 459-460] Từ kho tàng văn hóa Cổ đại các nhà hoạt động Phục hưng rất đề cao tính người trong các quan điểm triết học của Socrates và Epicure Phát huy truyền thống văn hóa thời Cổ đại các nhà Phục hưng đã khơi dậy

từ đó hệ vấn đề con người, coi con người là đấng sáng tạo ra chính số phận của mình, là những vĩ nhân, đứng ngang hàng trên trần gian với Thượng đế Họ đã bảo

vệ được một luận điểm triết học văn hóa quan trọng rằng, không phải sự trực quan

giản đơn, mà hoạt động cải tạo, can thiệp vào tự nhiên, mới là phương thức tồn tại

của con người trong thế giới Có thể nói, chính xây dựng là đặc trưng của hoạt động

con người, nếu không có nó thì không có văn hóa

Trang 15

Những thành tựu của thời kỳ Phục hưng trong lĩnh vực nghệ thuật đã được các nhà triết học của thời này giải thích như là bằng chứng về việc gán cho cái đẹp một ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người và là cái hình thành nên nhân cách phát triển cao Những tư tưởng mới mẻ đó đã được N Machiavelli (1469 - 1527) đề ra trong lĩnh vực chế độ nhà nước và xã hội [xem 138, 49-53] Vào thời Phục hưng đã xuất hiện học thuyết về các quyền tự nhiên của con người Ước vọng dựng xây một môi trường sống xã hội - văn hóa cao đẹp mang tính người đã thể hiện trong việc xây nên các xã hội không tưởng (utopia) Sau quan niệm của Platon

từ thời Cổ đại về một nhà nước lý tưởng và hoàn hảo, vào thời gian này đã xuất hiện

Không tưởng của Thomas More (1478 - 1535) và Thành phố mặt trời của Tommazo

Campanella (1568-1639) [xem 50, 148-151]

Nếu như vào thời Trung cổ, văn hóa tôn giáo đã ngự trị ở châu Âu suốt thời gian dài và quyền lực của Nhà thờ mà đại diện là Thánh toà Vatican đã đóng vai trò hàng đầu, thì cuộc cải cách tôn giáo của M Luther (1483 - 1546) và J Calvin (1509

- 1564) đã dẫn tới việc xét lại căn bản những giáo lý và thiết chế cơ bản của Ky tô giáo Cuộc cải cách đó đã khẳng định rằng, con người cần phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Chúa trời chứ không phải là thông qua nhà thờ [xem 49, 72-73] Các cuộc chiến tranh tôn giáo khởi đầu ở châu Âu đã dẫn đến chỗ nhiều nước đã phải

mở rộng các quyền tự do chính trị và tôn giáo Uy tín của Nhà thờ đã dần nhường chỗ cho uy tín của quyền lực thế tục, của nhà nước Các cuộc cách mạng ở Hà Lan (thế kỷ XVI) và ở Anh (thế kỷ XVII) đã không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, mà cả về văn hóa - xã hội, thể hiện rõ một điều là, tự do, tính khoan dung tín ngưỡng dần dần được khẳng định Nhà thờ tách khỏi nhà nước [xem: 138, 167-181] Nhờ đó, văn hóa thế tục đã bắt đầu đóng vai trò chủ đạo ở các nước châu Âu

và cả ngoài biên giới của nó Cùng với khí thế cách mạng phản phong lên cao và việc thiết lập chế độ cộng hoà tư sản, thì nền văn hóa chính trị mới cũng từng bước được hình thành Những tư tưởng yêu chuộng tự do đặc trưng cho xã hội công dân

và nhà nước pháp quyền phát triển mạnh mẽ

Thời kỳ Phục hưng đã chuẩn bị những tiền đề cần thiết về mặt kinh tế - xã hội (mà trước hết là nền sản xuất công xưởng và những mối quan hệ lao động làm thuê gắn liền với nó) cho sự phát triển của sản xuất và các thị trường quốc gia và xét đến cùng là cho việc xác lập những nguyên tắc tự do kinh tế, nền văn hóa mới của

Trang 16

doanh nghiệp tư nhân và cạnh tranh Như vậy, vào thời Phục hưng, quan niệm triết học xã hội về văn hóa đã được cụ thể hoá thành lý luận và thực tiễn phát triển xã hội, trong quá trình tiến hoá của bản thân văn hóa, của học thuyết về con người, chính trị (nhà nước), tôn giáo (nhà thờ) và đời sống kinh tế Vào thời đó, các phát kiến địa lý vĩ đại, hay việc Copernic đưa ra thuyết nhật tâm, cũng như các thành tựu khoa học tự nhiên và y học… khác đã có ý nghĩa văn hóa chung

Trên cơ sở tư tưởng Phục hưng - một cơ sở có tầm ý nghĩa to lớn về các mặt thế giới quan, vào thời Cận đại đã bắt đầu hình thành các quan niệm khá hoàn chỉnh lấy văn hóa làm đối tượng của suy ngẫm triết học Trong phần này chúng tôi sẽ điểm lại các nghiên cứu chính về quan điểm của một số triết gia thời Cận đại về văn hóa, những gì liên quan đến nó và những biểu hiện của nó Nhiều học giả hiện đại

đã nhất trí rằng, khái niệm văn hóa và sự nghiên cứu nó đã hình thành trong lòng sâu tư tưởng triết học khi bàn đến vấn đề tính đặc thù và các cơ sở của nghiên cứu lịch sử về xã hội và con người [xem 114, 74] Do vậy, các tư tưởng triết học văn hóa bao gồm “các cách tiếp cận… nghiên cứu bản chất, mục đích và giá trị của văn hóa, các điều kiện và các hình thức biểu hiện của nó Có rất nhiều cách tiếp cận như vậy trong triết học và các khoa học xã hội nhân văn nói chung và triết học văn hóa

“thường hoá ra là đồng nhất với triết học lịch sử” [xem 114, 80] Theo V.M Mezhuev, “triết học làm sáng tỏ không phải quan hệ lý luận, mà là quan hệ thực tiễn của con người với văn hóa; vạch rõ không phải đơn giản điều kiện để con người có tri thức về văn hóa, mà là vạch rõ điều kiện để con người tồn tại trong văn hóa…” [trích theo: 114, 75] Con người trong trường hợp này được hiểu không phải là “con người nói chung”, mà là mô hình nhân cách, cá tính đang được toàn bộ nền văn hóa châu Âu hình thành, trở thành kẻ sáng tạo và tác nhân của nó

Đáng lưu ý quan điểm của giáo sư triết học Đại học Hắc Long Giang Trung Quốc - Y Tuấn Khanh Theo ông, từ thời Cổ đại Hy Lạp, chủ nghĩa duy lý luôn là một trong những tinh thần cơ bản của văn hoá phương Tây, các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại trên tầng diện bản thể luận “lý tính vũ trụ”, kiến tạo nên văn hoá duy lý của người phương Tây: thế giới là một kết cấu tồn tại hợp lý tính (logos), con người với tư cách là vật tồn tại của lý tính có thể thông qua lý tính để nắm bắt kết cấu của thế giới, từ đó khống chế và thao túng giới tự nhiên Trong thời cận hiện đại, chủ nghĩa duy lý này kết hợp với khoa học hiện đại, hình thành nên chủ nghĩa duy lý kỹ

Trang 17

thuật Một mặt, người ta tin rằng con người có thể dựa vào lý tính dùng kỹ thuật để khống chế và chinh phục vô độ giới tự nhiên mà không cần viện dẫn bất kỳ một thực thể hoặc lực lượng siêu nhiên nào; mặt khác, người ta tin rằng kết quả của việc con người bằng lý tính và chinh phục bằng kỹ thuật đối với giới tự nhiên tất nhiên

sẽ là sự tăng cường tự do và tính chủ thể của con người, và sẽ dẫn tới sự giải phóng

và hoàn thiện viên mãn cuối cùng của con người Chủ nghĩa duy lý kỹ thuật này trong mấy thế kỷ luôn là lực lượng chống đỡ chủ yếu về mặt văn hoá cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và nền văn minh công nghiệp phương Tây [xem 67]

Còn Mezhuev đã chỉ ra rằng, sau khi xuất hiện ở thế kỷ XVII “ý niệm về văn hóa” bởi các nhà duy lý và cả duy kinh nghiệm như Bacơn (1561 - 1626), Descartes (1596 - 1650), Hobbes (1588 - 1679), đến Xpinoza (1632 - 1677), Locke (1632 - 1704), Leibniz (1646 - 1716)…, thì văn hóa được các nhà Khai sáng hiểu là “cái đồng nghĩa với sự hoàn thiện con người về mặt đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, với nghĩa rộng là về lý tính, trong quá trình phát triển lịch sử của nó… ý niệm này đã đưa vào nhận thức lịch sử quan niệm về trật tự, tính ràng buộc với nhau và tính có trình tự của tiến trình lịch sử,… nó bao hàm trong mình quan niệm về các đặc điểm tồn tại

và phát triển của con người trước hết là trong khuôn khổ lịch sử châu Âu” [trích theo 114, 82] Điều này diễn ra lần đầu tiên vào thế kỷ XVIII, khi ở Pháp và nhiều nước châu Âu hình thành phong trào Khai sáng - một sự tổng hợp nhất định các tư tưởng triết học, xã hội, chính trị, các trào lưu văn hóa mang nội dung dân chủ chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, sự o ép của Nhà thờ Ky tô giáo

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, đối với I Kant (1724 - 1804), Khai sáng là thời đại phát triển lịch sử tất yếu của nhân loại, bản chất của nó là sử dụng rộng rãi lý tính con người để hiện thực hoá tiến bộ xã hội Chỉ có thể phát huy và vận dụng lý tính với điều kiện có tự do, thông qua việc vượt qua sự áp bức nô dịch, nhờ sự hoàn thiện đạo đức của con người để phát triển xã hội Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoàng đã điểm lại các lý giải theo nhiều cách khác nhau “vấn đề văn hóa trong hệ thống triết học của I Kant” [42, 39] và cho rằng Kant đã kế thừa từ các triết gia cổ đại quan niệm về đạo đức như là nội dung chung và tiêu chí của phát triển văn hóa Trong quan niệm của mình về mệnh lệnh tuyệt đối ông đã trình bày

tư tưởng cơ bản về đạo đức trong quan hệ của con người với nhau Về thực chất, Kant muốn nói về một nền văn hóa giao tiếp đích thực của con người, một nền văn

Trang 18

hóa phải trở thành quy luật có tính phổ biến Ý nghĩa của nó đối với Kant lớn đến mức ông đã so sánh quy luật đó với những điều kiện tồn tại loài người, bởi vậy ông thấy có hai thứ khiến tâm hồn ông tràn đầy cảm xúc ngạc nhiên thú vị - đó là bầu trời đầy sao và quy luật đạo đức trong ta Liên quan đến vai trò của các nội dung văn hóa, con người có thể có khả năng đối sánh các giá trị vĩnh hằng của văn hóa nằm rất xa ngoài giới hạn môi trường sống trực tiếp của mình [xem 130 và 132] Ở đây ý nghĩa của khoa học như một thành tố quan trọng của văn hóa là hết sức to lớn Nhưng như Migolatev đã ghi nhận, Kant lại không đồng tình với ý kiến của Socrate cho rằng cái thiện và tri thức là trùng hợp với nhau và thiếu hiểu biết là nguồn gốc

duy nhất của sự vô đạo đức Trong công trình Siêu hình học đạo đức Kant đã xác

nhận tính tự trị của đạo đức, tính độc lập về nguyên tắc và giá trị tự thân của các nguyên tắc đạo đức [91, 7] Rõ ràng, Kant đã cho rằng lý tính thực hành (đạo đức) đứng trên lý tính lý luận (tri thức), bởi ông gắn văn hóa trước hết với hành vi ứng xử của con người, còn tri thức vẫn là cái thứ yếu Cái chính yếu trong bản chất con người

là tự do, mà văn hóa hành xử lại bắt nguồn từ tự do đạo đức Còn bản thân tự do đó lại dựa trên cơ sở ý thức và việc thực hiện nghĩa vụ của con người trước chính mình

và những người khác Như vậy, quan niệm về văn hóa đạo đức của Kant đã vượt khỏi phạm vi chủ nghĩa duy lý Khai sáng của Socrate và những người cùng thời ở Pháp

Những tư tưởng của Kant về văn hóa, những quan điểm trong lĩnh vực này của các nhà tư tưởng nửa cuối thế kỷ XVII đến đầu XIX như Herder, Fishter, Shelling đã được vận dụng một cách sáng tạo và phát triển phong phú hơn trong quan niệm triết học văn hóa của Hegel (1770 - 1831) [xem 42, 67-78] Hegel đã

xem xét sâu sắc hệ vấn đề này trong các tác phẩm lớn như Hiện tượng học tinh

thần, Những bài giảng về lịch sử triết học, Những nguyên lý triết học pháp quyền,

Mỹ học, Khoa học lôgíc… Điểm đặc thù của quan niệm Hegel về văn hóa là, ông

kiến giải nó như là sự hiện thực hoá lý tính thế giới Sự tự thực hiện của ý niệm tuyệt đối trong lòng của lôgíc học, của tự nhiên, cái chủ thể, cái khách thể và tinh thần tuyệt đối được Hegel xét như một quá trình lịch sử mà trong đó, văn hóa là yếu

tố nội tại của cái tuyệt đối Mặc dù bị thần bí hoá, nhưng tư tưởng về sự phát triển

có tính phổ biến của văn hóa đã mang ý nghĩa nổi bật Nhờ cách tiếp cận đó, toàn

bộ sự tiến hoá của loài người đã được coi như một dòng văn hóa thống nhất, từ đó tách ra các hình thức mang tính lịch sử của từng khu vực và dân tộc như tôn giáo,

Trang 19

nghệ thuật, khoa học, pháp luật, đạo đức… Quan niệm triết học văn hóa của Hegel cũng đã nhấn mạnh rằng, văn hóa tinh thần của loài người dưới dạng ý niệm tuyệt đối có nguồn gốc bên trong, tự nhận thức và tự phát triển, còn các hình thức của nó thì không là các bản chất độc lập, mà chỉ là các biểu hiện cụ thể của lý tính thế giới

Như E.V Ilenkov nhận xét, ưu điểm của cách hiểu này là văn hóa được lý giải trên bình diện rộng nhất, nó như là phương thức hình thành sự tồn tại của con người và loài người, như là thực thể tinh thần toàn thế giới tự khai triển ra Tuy nhiên, cách hiểu này cũng có hạn chế là quá trừu tượng và không đánh giá đúng tính độc lập tương đối của các hình thức văn hóa của mỗi dân tộc và nhất là của từng cá nhân Thành thử, ở Hegel, các hình thức đó không mang giá trị tự thân, chúng là do

lý tính (tinh thần) thế giới gán cho con người từ bên ngoài, “bằng sự phát triển của văn hóa đã có từ trước khi có con người” [trích theo: 91, 8] Thế giới tinh thần của con người chỉ là sự sao lặp, tái hiện các giai đoạn, thời đoạn và hình thức phát triển của ý niệm tuyệt đối mà thôi Lịch sử của văn hóa tinh thần và bản chất của nó đã được Hegel trình bày như là sự chuyển hoá của tinh thần phi nhân cách, nhận thức mình trong quá trình thay thế tuần tự các hệ hình và hình thức văn hóa khác nhau Theo đó, cái tạo dựng nên nó và nhận thức nó không phải là chủ thể tổng hợp - loài người; đấng sáng tạo nên văn hóa là Lý tính độc lập với con người, mà xét cho cùng

là cái gì đó siêu nhiên, ở bên ngoài Trong sự hình dung cụ thể của Hegel, Lý tính

đó chính là Chúa trời Như thế chủ nghĩa duy lý bao trùm lên tất cả của Hegel cũng được áp cả sang lĩnh vực văn hóa Điều này dẫn đến việc văn hóa bị quy giản về tư duy lý luận, lôgíc học, hoạt động nhận thức, về khoa học, và do vậy giá trị tuyệt đối của văn hóa là phát triển tính phổ biến của tư duy [xem 131]

Như vậy, trong quan niệm của Hegel lý tính bắt nguồn không phải từ tư duy tổng hợp của con người, mà ở trên cá nhân, trên con người, nằm ngoài con người, tự tồn tại khách quan, siêu nghiệm Hegel đã đồng nhất khoa học với văn hóa Đành rằng, vai trò của khởi điểm duy lý trong văn hóa rất lớn, nhưng nếu xét về bản chất

và nội dung thực tế, thì văn hóa là một hiện tượng còn rộng lớn và hàm súc hơn rất nhiều so với khoa học Văn hóa là thành quả không chỉ của hoạt động tư duy, mà là của toàn bộ hoạt động cảm tính của con người Cho dù sau này Hegel có phân biệt văn hóa lý luận và văn hóa thực tiễn, thì điều đó cũng không giúp ông tránh được sự phê phán này Nghĩa là văn hóa không chỉ tuân theo cái logos, mà còn tuân theo

Trang 20

những sai khiến của trái tim đầy cảm xúc Lịch sử là sự thống nhất của ý niệm khách quan và sự đam mê chủ quan của con người Cách ghi nhận này của Hegel về

sự thống nhất giữa hai yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình lịch sử, trong

sự hình thành và phát triển của văn hóa là bắt nguồn từ quan niệm của ông về tính tất yếu lịch sử của việc con người hướng tới tự do Ít nhất là cũng đã nhấn mạnh rằng chính con người sáng tạo nên văn hóa, phát triển, làm giàu và hoàn thiện những giá trị vĩ đại của họ Song Hegel cũng ý thức được rằng, để làm chủ văn hóa con người cần phải có những nỗ lực rất lớn và biết tự kiềm chế bằng lý trí Theo định nghĩa tuyệt đối về văn hóa, nó là sự giải phóng và công việc giải phóng bậc cao Công cuộc này cần được dẫn dắt bởi tư duy biện chứng siêu vượt được nghiên cứu bởi lôgíc học với chữ L viết hoa (Lênin), lôgíc biện chứng, mà như đánh giá của Nguyễn Huy Hoàng, chính là Lôgíc văn hóa của nhân loại [42, 72] Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với sự đánh giá này

1.2 Những nghiên cứu tư tưởng của Mác về văn hóa

Tác giả Hồ Sĩ Quý cho rằng “chỉ có vài lần C Mác và Ph Ăngghen trực tiếp

nhắc đến thuật ngữ văn hóa” [108, 30] và Lê Thuý Hạnh cũng viết, Mác “rất hiếm

khi sử dụng khái niệm văn hóa” [29, 60], nhưng trong học thuyết của ông, tư tưởng

về văn hóa được thể hiện sinh động và sâu sắc mà có thể dựa vào đó để tìm ra nhiều chỉ dẫn lý luận và phương pháp luận hữu ích cho nghiên cứu và thực hành văn hóa, bởi nó là sự tiếp nối và phát triển các quan niệm về văn hóa từ toàn bộ truyền thống triết học trước đó với tư cách một hiện thực mang tính người rất gần nghĩa với quá trình đào luyện Nếu trong quan niệm của Kant, văn hóa được xem xét trước hết trong bối cảnh sự tiến bộ ý thức đạo đức của chủ thể, còn quan niệm triết học văn hóa của Hegel lại mang tính chất duy tâm khách quan, thì Mác đã giải thích nó trong khuôn khổ cách hiểu duy vật về lịch sử, đặt nó trong học thuyết hình thái kinh

tế - xã hội Dựa trên phương thức sản xuất khác nhau, mỗi hình thái đều sản sinh ra văn hóa mà dấu hiệu khu biệt của nó là đặc trưng giai cấp Nhưng không chỉ đơn giản có vậy, theo nhiều tác giả trong và ngoài nước, Mác kết hợp cách hiểu về văn hóa theo thuyết hình thái với quan niệm về nó như một chỉnh thể lịch sử xác định, bao gồm trong nó cả những thành tựu văn hóa kế thừa của các hình thái trước đó [Xem 134] Sự kết hợp này cho phép có được cái nhìn rộng hơn về văn hóa, bởi vì văn hóa, nguồn gốc của nó, sự tiến hoá và những kết quả của nó đã được thấy ra

Ngày đăng: 12/05/2017, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w